MÀU XANH TRÊN TRẢNG ĐẤT
KHÔNG QUÊN
gió nóng thổi hoài trên trảng đất mùa khô
bụi đỏ bay đi, sỏi nâu phơi nắng nỏ
hoang vu c̣n sẫm màu trong trí nhớ
làm sao ngờ đang bát ngát lá tươi non
đă hiện dần ra những con đường ṃn
từ bao xóm làng dẫn vào chân núi
(bên đồng lúa xanh, giữa ước mơ người,
có phải
măi tốt tươi nương sắn rẫy khoai xanh?)
mặt trời sớm mai mọc ở ruộng đồng
buổi chiều ngả về cho nương rẫy
làng ơi, đă làm cỏ chưa sau mùa gieo cấy
vui sao gặp nửa làng mang hương lúa lên đây
trao lại ấm no từ mùa trước đến mùa này
hom sắn giữ quanh ḿnh bao mắt lá
thời gian qua đi c̣n đọng vào ở đó
bao lo toan, chăm chút để chồi lên
ngọn khoai lang chia sẻ với làng bên
cũng là chia cho nhau ấm no ngày tới
bẻ củ khoai giữa ḷng tay nóng hổi
thơm mật đất bên này, t́nh đất bên kia
nồm gửi hương đi, nam dẫn hương về
gió ruộng, gió nương bốn bề bát ngát
thổi đi đâu những ngày giáp hạt
lại mang về làng xóm gió tin yêu
đi từ sớm mai cho đến tối chiều
dọc chân núi vẫn c̣n xanh hút mắt
vồng sắn luống khoai chạy dài tít tắp
tiếng hát bao làng trải rộng giữa mênh mông
như người đi xa tính nhẩm chặng đường
qua lá sắn thấy tơ tằm vàng óng
trên trảng đất này, nơi nào nhà máy dựng
cho bột trắng thơm gần, bánh ngọt thơm xa
và mập mạp đàn heo, chiêm chiếp trại gà
quanh thân sắn nở đầy mộc nhĩ...
người mở ra bao điều mới mẻ
từ dây khoai, gốc sắn ngh́n xưa
từ lá phủ rừng xa, từ rơm rạ vàng khô
ta vun gốc cho tương lai lớn dậy
treo câu hỏi giữa thiên nhiên, ta t́m thấy
ở bàn tay ta trăm cách trả lời
màu xanh ước mơ nhuộm thắm chân đồi
lá sắn lá khoai vẫn reo trong gió nóng
xanh đến vuông sân xanh cùng đồng ruộng
xanh tóc em thơ xanh tuổi mẹ già
bao màu xanh hạnh phúc quanh ta.
1977
MÙA THANH NIÊN
cát,
cát trắng, cát Miền Trung nóng rẩy
cây thần rừng cao ngă xuống quê hương
thành sông, cho cát thành đồng gieo cấy
bao xóm làng, ngọt bao nhánh yêu thương
(Sự tích ḍng sông, TXA.)
buổi sớm tháng giêng
hoa cải vàng trải sáng bờ kênh
bao nhiêu nắng đă phơi hồng mặt đất
bao lời chúc cũng là hoa trên bến nước
phấp phới cờ đỏ mui đ̣ ngược
sớm lên đường
rực rỡ mùa thanh niên
bến Trấm
vùng đất xưa chiến khu xanh thẳm
nguồn lửa tràn về thắp sáng những làng quê
mái chèo du kích loang loáng đêm khuya
những ḍng sông bắt nguồn từ ánh sáng
sông tỏa kênh mương, nước ngọt đồng
giải phóng
vẫn úng mạ non, đ̣ng đ̣ng khô trổ nghẹn
bao mái đầu phai sương, bạc nắng đi, về
nay vẫn trắng đêm, cũng trên ḍng
Thạch
Hăn
cho trăng sẽ cùng người, cầm mực nước
ruộng quê
đập Trấm - đập Đá Đứng
Nam Thạch Hăn
những con chữ nở sinh đầu mùa công nghiệp
lớn
từ nắng hồng máu thắm
từ màu sương tóc trắng
những cánh chim ríu rít mùa thanh niên
bao nhiêu bến đ̣ như mắt lá tháng giêng
đang nẩy chồi non trên cành Thạch Hăn
khắp quê nhà xanh lên nhờ đập Trấm
mùa thanh niên dâng lộc biếc sáng đất này
em là hoa thắp lửa giữa rừng cây
trổ ḍng thông, anh kéo sông về trước lán
dăy máy khoan vững vàng trên triền đá nắng
in lên nền trời những bức tranh xuân
dẫu quen đợi tiếng ḿn
cũng bồi hồi, thời mê pháo hồng sân
đẹp mùa thanh niên, đẹp rộn ràng dữ dội
tay đập đá vẫn dịu dàng bối rối
ngọn gió tương lai thổi mát nỗi nhọc nhằn
ḍng thác trắng đổ về nguồn sáng mới
giăng mắc kênh mương
khắp ruộng vàng làng ngói
ước mơ như quà mừng tuổi
Đảng trao mùa thanh niên
buổi sớm tháng giêng
từ bến nước quê nhà, sáng những chùm hoa
thơm ngát
mắt hướng về nguồn xa xưa,
nghe tương lai bừng tiếng
hát
đất nước đang vào mùa thanh niên.
1978
MÁI TRANH
dưới hai hàng cây xanh
tôi về thăm quê Bác
nắng dọc đường đi êm ả hiền lành
hiện dần trong tôi nho nhỏ mái nhà tranh
tôi đă thấy qua thơ qua tiếng hát
(khúc ca nào lắng sâu hóa nỗi niềm riêng)
tôi đă thấy qua bao xóm làng quê hương
thân thuộc
một nếp tranh vàng rất đỗi dân gian
dưới bóng tre xanh, xanh tự ngàn năm
lần đầu tiên ra thăm
sao như trở lại ḷng ḿnh
ngơ hóp chống cao, vạt lúa, đất phèn
hàng giậu xanh non dẫn vào nhà Ngoại
nếp nhà tranh lùi lại cuối góc vườn
ôi tiếng khóc sơ sinh của Bác Hồ cất lên
ở đấy
mảnh sân con tuổi thơ Người chật chội
bước chập chững vin vào khung cửi
giữa tiếng ngâm thơ và tiếng xa quay
dĩa đèn dầu dập dềnh bóng tối
khát vọng trăm miền nặng tiếng à ơi
nói tiếng đầu tiên
khi ánh đuốc nghĩa quân rực cháy
nên đất nước đau thương từ đấy có Người!
đứng lên! đồng bào ơi! -
ngân vang gió suốt chiều dài đất nước
ai hát trên rừng xưa, bây giờ tôi hát
bỗng thấy cả ṿm trời bao la
dưới mái tranh
nghèo
hiểu khung vải dệt thời gian
dệt tiếng
ru
trĩu nặng
hóa cờ bay phấp phới cả trời sao
từ dĩa đèn dầu hắt hiu ấu thơ Người đó
đến hừng đông cho bao dân tộc tôi đ̣i
từ mái tranh nho nhỏ
Bác Hồ ơi...
Miền Nam trong trái tim tôi -
Miền Nam ơi
nỗi khổ mỗi người
nỗi khổ mỗi nhà
thành nỗi đau trĩu nặng ḷng ai
nỗi cháy bỏng nhớ thương về Huế
cả Phan Thiết, Sài G̣n và trăm nơi
trái tim Người ấp
ủ...
tuổi trẻ Người đi qua dưới cơn mưa nô lệ
chưa nắng đủ ḷng vui, mưa Miền Nam
đă ướt lại áo
Người
rồi cơn đau cuối đời! Bác không về
được nữa
Di Chúc vẫn lên đường, phấp phới nắng trăm nơi
con đường Bác đi, từ mái tranh nho nhỏ
nơi dừng lại bao la là giữa loài người
con đường Việt Nam, từ bùn đen loang máu
đă bừng lên rạng rỡ đóa sen tươi
mái tranh nho nhỏ
trở thành nơi hội tụ ḷng người
tôi về thăm
gặp cả ṿm trời
thu lại rất sâu trong từng đôi mắt
ánh mắt nào cũng chan chứa yêu thương
sáng lên từ Bác -
nhân hậu mênh mang sâu thẳm ngàn năm
tôi về thăm
mái tranh vàng sắc nắng dân gian
bóng tre tỏa ḥa b́nh yêu thương lên
mặt đất
và ai rưng nước mắt
thấm nụ cười ấm áp sâu xa
khúc ca nào vọng về thầm lặng ngân nga...
tôi cảm nhận Cơi Người
qua hồn ông cha, Đất Nước
dưới ṿm trời xanh bao la
xanh sắc Quê Nhà.
1977
TÔI HIỂU TÔI ĐĂ YÊU EM
tôi hiểu tôi đă yêu em
yêu tự nhiên như cây rung đầu gió
gần nên thương, xa nên nhớ
không đành cấm ḿnh nhớ nhau chiều nay
công tác về, đạp xe dưới hàng cây
ngọn gió mát thổi yên sau nhẹ hẫng
sông cùng tôi đi chầm chậm
chuyện tṛ về em cùng sông
yêu sao giọng nói cao và trong
mái tóc dài, nụ cười hồn hậu
ḷng giản dị phơi ra màu áo
khỏe mạnh, dịu dàng, ung dung bước chân
em gắn đời ḿnh vào mơ ước nhân dân
tôi hiểu ước mơ qua đôi tay lam làm rắn rỏi
tính em th́ ít nói
cởi mở tin yêu nơi đài trán mồ hôi
gặp em như gặp niềm vui
c̣n tôi có tuổi ấu thơ buồn bă
thời mới lớn hiền lành cây lá
nước mắt ngậm hờn là mưa là sương
sinh ra lớn lên ở thành phố Miền Nam
nhà tôi chưa có ai đi làm cách mạng
dầm ḿnh trong quên lăng
buổi cờ bay, mới biết có nhân dân
đi cùng sông dưới hàng cây ngát xanh
nhớ em, nhớ lắm
nhớ về tôi, nhớ ân hận
quyết rẽ đời ḿnh qua lối tương lai
đă hiểu thế nào là tủi nhục đắng cay
nhân dân thương như đứa con vô tội
có quyền tự hào bước tới
em đặt tay em vào ḷng tay tôi
hạnh phúc ta, em ơi
cùng hạnh phúc mọi người
trĩu mùa hương trái chín
vẫn nhớ, ôi lần đưa nhau
em nh́n theo bịn rịn
như hôm nay, vầng trăng sau lưng.
1976
MỘT TUỔI H̉A B̀NH
dường như ai cũng là trẻ thơ
ḷng nôn nao khó ngủ
sông trôi nhanh đưa hai bờ thành phố
ngóng hừng đông ngoài khơi xa
thức giấc với chuông chùa ngân nga
sao mai treo đầu ngơ
đi bên ni trông sang bên nớ
hân hoan hồng sương bay
nụ cười là hoa lục b́nh mai nay
xuôi theo ḍng người dự hội
nắng lên phơi phới
tỏa ra từ tiếng chim
mặt trời nháng hồi chiêng
trống ran lồng ngực mở
người kéo cờ thắp lên búp lửa
rực Văn Lâu cây nến trắng reo vui
gió chuyền đưa lời chúc trăm nơi
cả đất nước về với Huế
Huế mai nay ngạo nghễ
nhớ một thời không làm sao quên
Huế mai nay đạp bóng tối đứng lên
từng mẩu gạch cũng ngời sức sống
trái chín hương lồng lộng
đất vun trồng bao nhà máy ước mơ
ôi Huế chúng ta và thơ
dẫu ḥa b́nh chưa đầy một tuổi
vững vàng đôi chân bước tới
bởi ḷng dân trong vắt nước sông Hương
Huế là Yêu Thương
sum vầy ngày hội lớn
khẩu hiệu như bàn tay trên nón
chỉ đường đi, đi lên.
1976
ANH BỘ ĐỘI GIỮA ĐẤT ĐỎ
RỰC RỠ
ngát xanh nông trường trên sườn đồi đất đỏ
đi giữa hừng đông rỡ ràng nắng gió
nghe giọng nói, nh́n nét mặt quê nhà
say hương lúa hương chè
tôi ngơ ngác nhận
không ra
em cứ hái chè nhanh nhanh với bạn bè
đi nghe
tôi thèm ngắm làng ta khắp hết bốn bề
kia là xóm làng dựa vào chân núi
lúa đông xuân mênh mông khỏa bằng g̣ băi
con suối rẽ ḷng thung kéo nước chảy về
lấp loáng xuôi ḍng xinh đến nhường kia
hương lúa hương chè, và em, làng mạc
giữa hừng đông rạng rỡ đến say mê
ùa vào tầm mắt
và giỏ chè em nắng thắm cũng vun cao
mai mốt về với anh em tôi biết kể từ đâu
từ những hàng chè song song
tơ non trắng biếc
từ đôi giày xanh xanh đi quanh từng gốc
hay từ dáng lẹ làng bàn tay ướt sương
và đôi môi cười ngó đến là thương
tôi sẽ kể về những lán tranh
rộn ràng tiếng cười tiếng nói
những nhà mới xây, ủ hương chè xông lên
mái
ngói
bao quanh là bốn mùa chè xanh
tôi sẽ kể về những khó khăn
khi xóm làng tạc theo dáng nông trường
mới
mọc
về nền làng xưa đă mênh mông cánh đồng
hợp tác
và kênh mương tỏa nhánh giữa mùa vàng
tôi sẽ kể về những mũi tên xanh
trên bản đồ sáng
măi
lao vào năm tháng những tầm cao
sân trường cờ bay trong tiếng máy mai sau
và sẽ cùng đồng đội
làm rực rỡ chiến khu xưa,
xây tầng cho cây rừng lá
núi
nông trường bay nắng mật ngọt ngào
tôi về phép mùa hoa lần sau
chắc cũng nhận không ra
bởi ruộng đồng lan xa và nông trường
phủ xanh khắp đồi khắp núi
e phải đứng ngẩn ở hiên ga
em có đón tôi th́ nhớ gọi!
vẫn ba lô năm nào, nhưng đầy quà của
đất và thơ.
1977
GIỌT MỰC, CÁNH ĐỒNG
VÀ VỞ KỊCH ĐIÊN
phần phụ lục một:
dăm phiến tâm linh
của núi sông trời
đất
(chuyển thể
và cảm b́nh thơ cổ)
THƠ NGỎ
I.
có những mảnh tâm hồn đă trở thành
tâm linh của núi sông
trời đất
nỗi niềm sâu thẳm mênh mông, cái tên
lớn lao và nhỏ bé vô
cùng!
trong văn tự “lạ”, thơ bật thành lục bát
nhân vật người t́nh của thơ tôi ơi,
cát trắng lặng rồi, hồn
cát băo bùng
đường luật g̣ bó
đă thênh thang tiếng hát
có chăng quăng cách muôn trùng dằng dặc?
phẫn chí và ngậm buồn, vạn thuở niềm chung?
03.01.1998
II.
lấy muội đèn chữa quyển thi,
phải chăng Cao tiếc tài kẻ sĩ?
thơ ca cất tiếng hỏi ư?
pháp luật nào tha thứ khoan dung?
Cao nổi loạn, giương ngọn cờ phù Lê rất ngụy,
ngọn cờ lịch sử đă vứt một giuộc
vào
g̣ Đống Đa điên khùng
máu xương thật mà chiêu bài lừa mị!
chỉ thương nỗi phẫn chí Đàng Ngoài,
một thuở đắm ch́m trong ư hệ
cuồng trung
trước Cao, những Nguyễn Du đă hoài Lê luyến Trịnh,
chống Tây Sơn,
và bất b́nh Gia Long,
nỗi ngậm buồn Đàng Ngoài
sao dằng dai than
ủ, củi bùng!
chỉ thương tấm ḷng liên tài, ái tài kẻ sĩ,
Tố Như, Chu Thần cùng xót xa
dưới
vó ngựa Đàng Trong
(dày xéo chăng?
hay trấn áp bi thương, kiêu hùng?)
không thể đồng nhất sông Gianh - Bến Hải,
nội chiến - ngoại xâm,
nhưng dẫu sao,
phẫn chí và ngậm buồn,
vạn thuở niềm chung!
Tưởng niệm sông
Gianh, sông Bến Hải, nhân kỉ niệm lần thứ hai mươi tám Ngày Thống nhất
Đất nước, 30.4.1975 - 30.4.2003 (29.3 Quư mùi, năm thứ ba công nguyên
Hoà B́nh [HB.3]).
BÀI HÁT NGẮN ĐI TRÊN CÁT
(*)
thơ chữ nho Cao Bá
Quát
cát, cát, lại cát, trải dài
mỗi bước, lùi, mỗi bước, nhoài
cát sôi!
mặt trời lặn, bước chưa thôi
người đi, nước mắt tuôn rơi ṛng ṛng
không học phép ngủ tiên ông
trèo non lội nước mênh mông oán đầy!
hạng người danh lợi xưa nay
lăng xăng chạy vạy quắt
quay giữa đường
men thơm trước quán đưa hương
tỉnh thường ít, rặt lũ cuồng ngây say!
cát, cát, trải dài, biết sao đây?
lối phẳng mờ, lối hiểm đầy!
bỗng dưng...
bỗng dưng
nghe ta
hát khúc Đường Cùng
- phía bắc núi bắc muôn trùng núi non
phía nam núi nam sóng dồn...
làm chi đứng sững, trơ cồn cát hoang?
(*) từ bản dịch
nghĩa Sa hành đoản ca.
THẤY NGƯỜI NGOÀI BẮC ĐẾN,
HỎI CHUYỆN QUÊ CŨ (*)
thơ chữ nho Cao Bá
Quát
hé cười tần ngần nh́n nhau
gạt ḍng nước mắt bạc màu long lanh
quê xa xa ngút xa xanh
th́ thầm không chán ngọn ngành làng thôn
may thầy vẫn khỏe, thương con
già nua, xa cách, mỏi ṃn ngóng xa
trẻ thơ nhỏ dại khóc ̣a
lại vui rạng rỡ, nghe cha đang c̣n
bản thảo cũ bụi vùi chôn
chất đầy bồ mục, héo hon góc nhà
chậu khô, khát gió, chưa hoa
ra vườn nắng, mai ngoi qua bờ tường!
dặm dài, ngoảnh niệm cố hương
thẳm xa phương bắc mây sương u hoài
mùa xuân nát bẫm tàn phai!
với người chưa chết, có ai chiêu hồn?
(*) Từ bản dịch
nghĩa Kiến Bắc nhân lai,
nhân thoại cố
hương tiêu tức.
ĐỌC TRUYỆN KÍ VỀ TIỂU
THANH (*)
thơ chữ nho Nguyễn
Du
đàn ông chớ đọc Phan Trần
đàn bà chớ đọc Thúy Vân Thúy Kiều!
(ca dao)
thương ai trắng tóc ba mươi
khóc Kiều cười được với môi úa tàn
(TXA., N. & M.)
vườn hoa hồ Tây mất rồi
hóa g̣ hoang lá tàn phơi mấy mùa
một ḿnh tưởng niệm, sương lùa
một tờ cảo trước song thưa, chờn vờn
hồn sâu son phấn có hồn
chết trong sầu oán tủi hờn, đời thương
sinh mệnh nào trong văn chương
xé ḷng, ai đốt, gió vương vấn đời!
hận xưa nay, cái đẹp ơi
trời đâu? khó gặng hỏi trời, trời xa!
oan ḱ lạ - nghiệp tài hoa
án Kiều ở sẵn trong ta bao giờ?
trắng tro mái tóc, lửa thơ
ba trăm năm nữa, hiên mờ, lá bay?
dưới trời, tiếng đứt ruột này
tài ai tâm đẹp t́nh đầy, khóc nhau?
(*) Từ bản dịch
nghĩa Độc Tiểu Thanh kí.
VỌNG ÂM KHI ĐỨNG TRÊN
BỤC GIẢNG:
ĐỘC TIỂU THANH KÍ
vườn hoa hồ Tây
tàn tạ hết
dàu dàu ngọn cỏ g̣ hoang
một ḿnh đọc sách tưởng niệm nàng
chợt xạc xào trang cảo thơm trước cửa
gió hiu hiu bay lay nhàu nát úa vàng
son phấn có hồn chăng?
người xưa thăm thẳm
gương mặt xa xăm khơi nước mắt ướt đầm
Cái Đẹp của đất trời, sóng Tiền Đường
làm sao phẳng lặng!
văn chương không sinh mệnh?!
ai ghen ghét đốt đi? vẫn c̣n vương vất
trần gian!
cam đành vướng lụy đến ngh́n năm
tức tưởi chút lẽ mọn bọt bèo thân thế?
ngón đàn tiếng thơ đâu đây đất Long Thành
dáng dung về chiều
bơ vơ nỗi niềm ca kỹ
một đời hoài rơi trong khắc khoải đăm đăm
cơn mưa đắng cay mang mang giọt lệ
việc gây hận ḷng xưa nay, người ơi
phận mỏng chẳng cách nào hỏi trời
trời lung linh sao biếc
''trời có nói ǵ đâu''!
bốn mùa vần trôi, mầm xuân găy chết!
oan uổng ḱ lạ của tài hoa
ám ảnh văn chương trong ta
nó tự đong đầy chứa chất
bao thân lươn nơi chốn quan trường
phải xin chừa chút ḷng trinh bạch
ngờ đâu, thiên cổ trong ta
cái nợ ḱ lạ của tài hoa
- tố bẩm trái tim vận vào day dứt
(thêm đời khinh vô loài cầm ca
khóc mướn thương vay)
như bù trừ tính trời - căn nghiệp!
(vẫn nhức nhói nỗi đời
lắng sâu vô thức
xót xa)
ba trăm năm sau vẫn ngậm ngùi số kiếp
dưới trời, vẫn nỗi đau đốt măi không tàn
khổ nhục cơi người ta
nó tự rót vào ḷng ta
âm thầm
từ lúc nào, thành tâm sự vẽ ra mờ nḥa
từng nét
bao người phải qua cầu Đoạn Trường
con đường trăm năm oan nghiệt
tài sắc là mối âu lo!
bao bất hạnh truân chuyên,
cho sắc tài lặn vào tâm,
phát tiết!
đâu Cái Đẹp thẳm sâu trong veo thơm ngát
dưới trời?
cũng chỉ gởi gắm tấc ḷng
với cơi dưới trời, người ơi!
trùng trùng, cùng hội cùng thuyền
vẫn ră riêng
chôn kín niềm lẻ loi da diết
tri âm vọng t́m
tháng năm
biền biệt
mai sau ai khóc nhau chăng?
mong trái tim khổ đau
vẫn long lanh tinh khiết
Thúy Kiều, Tiểu Thanh trong Tố Như này,
và cả một cành Xuân Hương,
sống như niềm thách thức
của tận cùng bi thiết
bỗng lỗ đỗ nốt bệnh thiên thời,
hằn lên Cái Đẹp!
Cái Đẹp sao măi là giấc mộng ngàn năm
vội vă tàn phai
trong tiếng thở dài?
lời đứt ruột vọng trầm
mặt nước hồ Tây
sẫm buồn biêng biếc
mai sau ai khóc nhau chăng?
khoảng khắc ch́m vào cơi chết
buột miệng câu thơ một đời băn khoăn?
thương sao
ánh mắt lặng câm
nḥa trong sương khói căm căm
rối ḷng!
(theo Nguyễn Du)
Một
chút tự bạch:
Giữa ṿng tay Tam Kỳ
và bè
bạn
bút kí
yêu
quá dáng người nết đất
nơi
nơi xa thành thiên thai
(Quê
quán,
trong
tập thơ Lặng lẽ ở phố, 1995)
Kính
tặng cha tôi,
một
người yêu quê hương, Đất nước,
theo
chủ nghĩa dân tộc Việt Nam,
được
miễn học tập cải tạo sau Ngày Thống nhất 30.04.1975.
Tặng: Nguyễn Đăng
Chín, Cao Văn Phi, Nguyễn Tấn Sĩ, Hoàng Thị Nhụy, Phạm Dương Nam, Vơ
Công Thảo, Nguyễn Ngọc Khôi, và cộng tác viên thân thiết của nhóm bút:
Huỳnh Ngọc Chiến, Trần Ngọc Thọ.
a
Học xong lớp đệ lục ở Quảng Trị, mười
hai tuổi rưỡi, Phan lần đầu đến Tam Kỳ và có một mùa hè thị xă. Nhưng
măi đến mùa hè năm sau, khi từ giă ngôi nhà mà Phan được chào đời, từ
giă Hàm Nghi – Quốc tử giám, mái trường cổ kính nhất Huế, cổ hơn cả
Quốc Học, chú bé này mới thật sự sống với mảnh đất trung tâm chia đều
đường sắt xuyên Việt.
Một năm học ở Huế với nỗi lẻ loi,
chất thơ của xứ sở trầm mặc đă ngấm vào, gọi dậy những rung cảm mơ hồ,
nhưng có khi da diết đến tức tưởi, dù rất vô cớ.
Những con đường xanh. Những khu vườn
xanh. Những rêu xanh trên thành quách và vàng son cũ với những vết
thương lở loét do bom đạn ...
Huế của chú bé Phan không chỉ thế,
Huế c̣n sinh động với nhiều nơi chốn khác.
Những lần lang thang đến nhạc viện,
trường kịch nghệ. Những pḥng tranh, rạp chiếu bóng. Những lần có giờ
trống, cùng bạn bè qua ṭa thượng thẩm xem xử án, bị mê hoặc bởi giọng
điệu hùng hồn của luật sư. Và những lần băi khóa, mít tinh, biểu t́nh,
Phan sửng sốt, khâm phục trước tiếng hát, lời cáo trạng chế độ từ lồng
ngực sinh viên, rồi ngỡ ngàng trước sự thăm hỏi của dân biểu quốc hội
ngụy ...
Huế của tuổi mới lớn trong Phan như
vậy. Huế ấy đă cùng anh vào Tam Kỳ.
Tam Kỳ nhỏ bé với một đường phố sầm
uất duy nhất mang vẻ khô khốc.
Nhưng chính ở nơi đây, chất thơ tiềm
tàng đâu đó trong nắng gắt và đất cằn đă tạo ra một quê hương của
nhiều thi sĩ và chí sĩ.
Bấy giờ, với một cảm thức non nớt,
Phan mơ hồ nhận được một điều ǵ đó không c̣n sương khói đến mềm ướt
hoặc ngỡ như bùng lửa trong không gian quanh ḿnh.
b
Nhớ măi một g̣ đất hoang chỉ có một
túp lều xiêu vẹo và một ngôi miếu cổ bên gốc cây thấp bốn mùa xanh
mướt. Đó là nơi tụ tập của lũ trẻ trong xóm. Đứa lớn nhất cũng là đàn
anh của nhóm. Anh ấy mồ côi, thuộc nhiều câu thơ bi thảm, u uất, và cả
thơ đầy hào khí nữa. Anh say truyện Kiều với rất nhiều bài thơ luận
chiến về Kiều.
Dưới bóng cây trưa, lũ trẻ ngồi nghe
anh đọc thơ, b́nh giảng. Mắt anh mờ đi, có khi gần như khóc, thỉnh
thoảng lại chói lên, gần như tóe lửa.
Em về điểm phấn tô son
lại
Ngạo với nhân gian một
nụ cười!
Dù là chàng trai quá nhiều mặc cảm
nhưng anh vẫn rất cảm khái với từ ''Ngạo'' của Thái Can. Giọng Quảng
của anh đọc thành ''Ngộ''. Lúc đầu, Phan cứ đinh ninh là anh đă ngộ
một chân lí, một triết lí sống để có thể sống được.
Anh là ''người thầy'' của Phan bên
ngoài lớp học.
Anh không phải là người đầu tiên dẫn
Phan đến cửa ngơ của văn triết. Tuổi ấu thơ Phan đă có những hai ''người
thầy'' bên ngoài lớp học như vậy. Nhưng anh vẫn là người đă đánh thức
cảm quan vần điệu thống thiết lẫn hùng tráng trong tâm hồn Phan.
Và Phan sau này mới biết g̣ đất hoang
ấy chỉ là một góc nhỏ của Tam Kỳ. Phan c̣n có ở thị xă này những ''người
thầy'' là bạn học cùng lớp, cùng trang lứa nữa.
c
Thầy giáo hướng dẫn năm lớp chín của
Phan là một tu sĩ dạy công dân giáo dục kiêm cả hai môn sử địa. Tấm áo
chùng trắng toát của Thầy với gương mặt khắc khổ của người ăn uống
theo lối tân dưỡng sinh, quanh năm gạo lứt muối mè, như măi khắc vào
trí nhớ Phan. Ấn tượng đậm nhất về Thầy c̣n đọng măi trong Phan là cái
nhếch môi cay đắng gần như cay cú. Có phải nơi Thầy có một tuổi trẻ
bừng sôi máu nóng nhưng thời cuộc đă dập tắt, nên Thầy t́m đến kinh kệ
và trường chay để nguôi quên hơn là t́m đường siêu thoát?
Những bài giảng về các thể chế chính
trị, về kinh tế với các h́nh thái, về lịch sử và các vùng địa lí, hầu
như bao giờ cũng đượm lẫn một tâm trạng u uẩn.
Khi Thầy đă nhập hồn vào bài giảng,
không ai c̣n nhớ đến tấm áo chùng trắng toát tu sĩ nữa. Thầy cực ḱ
cay đắng với lịch sử cận hiện đại và thời cuộc (1858 – 1973). Đặc biệt,
khi giảng về Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, hai nhà chí sĩ kiên
cường của quê hương Thầy, Thầy như bị thôi miên bởi chính ḿnh. Ngữ
điệu, h́nh ảnh trong lời văn giảng bài của Thầy vừa cường điệu tạo ấn
tượng mạnh, vừa biếm lộng đến chua chát, cay độc, khi chĩa thẳng vào
chế độ ngụy Miền Nam Việt Nam đương thời.
Lớp Phan vào dịp Tết năm ấy, có một
tờ báo tường rực rỡ dựng ngay trước cửa lớp. Lúc ấy Phan và bạn bè nào
biết, tâm trạng của Thầy đă phả vào những bài báo non nớt ấy.
Cảm thức thời cuộc đă được khơi dậy.
Và một ngày hội cổ truyền, cây nêu
dựng lên, học sinh mặc áo dài khăn đóng, bộ quốc phục ngàn năm, được
tổ chức riêng ở lớp Phan, như đánh thức một t́nh tự dân tộc bị ngủ vùi
trong nếp sống phảng phất chút híp-pi (hippy) hiện sinh của thị xă.
Thầy cũng ngạc nhiên, v́ Thầy không đề xướng cách tổ chức buổi tất
niên như vậy. Đấy là lớp tự động bàn với nhau. Khi lớp bàn bạc, Phan
có kể lại một ngày hội của trường Nguyễn Du ở Huế do nhà giáo cũng là
dịch giả thơ Đường, người Tiên Phước, Tam Kỳ, tổ chức. Và lớp hưởng
ứng như một mạch ngầm bùng dậy.
Lớp chín ấy đă tự h́nh thành một bút
nhóm từ bao giờ chẳng rơ. Những say mê toán học, ngoại ngữ đă bị văn
chương, báo chí lấn lướt.
Đặc san mùa hè năm đó có b́a in
ty-pô (typo), ruột rô-nê-ô (ronéo) trên giấy tốt. Những bài văn, thơ
chứa chan t́nh quê hương dân tộc. Người mẹ Việt Nam là h́nh tượng khơi
nhiều cảm xúc nhất. Phan viết về Mẹ ḿnh v́ Phan xa Mẹ. Phan viết về
Mẹ Việt Nam v́ Phan mơ hồ cảm nhận Mẹ đang đau xót trong cảnh đàn con
xâu xé nhau giữa một thế cuộc đau ḷng trên chính Tổ quốc ḿnh, mà căn
nguyên là bởi thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ và ''tả đạo''.
Ban báo chí lớp chín năm ấy gồm những
tấm ḷng, những nỗi niềm thao thức. Và trường t́m trường giao lưu, ''nối
ṿng tay lớn''.
Bạn bè cũ c̣n đó, và măi c̣n trong
tâm hồn nhau cả những năm tháng sau này:
Tam Kỳ, trời rất thơ ca
thoáng mưa non hạt cho già nắng non
phố phường gió rất trẻ con
reo mai ríu rít hát gịn tan đêm
Cây Tam Kỳ rất anh em
ch́a trăm nhánh biếc bao thềm nhà thân
nghe bối rối trước ân cần
như có lỗi giữa vô ngần mến thương
Mắt Tam Kỳ rất thật gương
tôi soi thấy thuở đến trường, bâng khuâng
bạn bè trẻ lại, quây quần
ngỡ đang mới lớn, lớn dần trong nhau!...
Bạn bè cũ c̣n đó, chắc chắn măi c̣n
đó một mùa hè dẫu b́nh thường trong một thời buổi đă xa.
Những nhận thức tuổi ấy c̣n non nớt
biết bao, nhưng những nhiệt t́nh dễ ǵ t́m gặp lại trong tâm hồn ḿnh,
bởi cuộc sống hôm nay đă khác...
Có một thời, tuổi mới lớn như thế...
Dẫu sao, không thể quên được người tu
sĩ với tấm áo chùng trắng toát, trường chay khắc khổ, mang một tâm
trạng thường xuyên chua chát, nặng nợ với Đất nước, xă hội hơn là đạo
pháp, đạo hữu.
d
Tam Kỳ đă thật sự dẫn dắt Phan và bạn
bè chí cốt của ḿnh đến với văn chương.
Ban C (văn chương – ngoại ngữ) năm
trước đă có một lớp và đă xuất hiện hai người thơ trẻ trên tập san văn
học lớn của cả Miền Nam (Nguyễn Nhật Ánh, và Nguyễn Văn Dũng, tức Luân
Vũ, về sau đổi là Ngữ Luân). Năm nay, lớp mười cấp trung học phân ban,
ban văn chương – ngoại ngữ có một bút nhóm gần như đông đủ từ lớp chín.
Đây là bút nhóm của khuynh hướng trữ t́nh phê phán với tâm nguyện v́
t́nh tự dân tộc.
Tên của bút nhóm nẩy sinh một cách
t́nh cờ nhưng không t́nh cờ chút nào từ bài dân ca xứ Quảng. Bắt đầu
là rung cảm trước vẻ đẹp của từ ngữ giản dị và làn điệu dân ca lạc
quan đùa nghịch. Khi tách riêng ra, thành một cái tên, lại đượm những
tâm trạng với nhiều ư nghĩa khác hẳn. Đó là Đất Mẹ, là Màu Da – biểu
tượng của Cao Quí Thiêng Liêng.
Bài dân ca ấy từ trong dĩ văng, trong
tiềm thức của quê hương ruộng rẫy đă cất vang lên giữa sân trường
trung học một đêm mưa lạnh, bập bùng tiếng đàn ghi ta thùng và bập
bùng ánh lửa. Nhóm sinh viên cứu trợ nạn nhân băo lụt Quảng Đà đang
t́m về với quê nhà, hong ấm lại t́nh quê, t́nh nước trong cơn đói rét.
Suốt một tuần lễ, tay ḱm, tay búa, cuốc và rựa, học sinh, sinh viên
t́m về với dân tộc. Chỉ ở nông thôn, với lũy tre xơ xác, mái rạ xiêu
vẹo, với bao người mẹ, người cha khốn khó, bao đứa trẻ bụng ỏng da ch́,
t́nh đồng bào ruột thịt, t́nh tự dân tộc mới thực sự được giữ ǵn và
c̣n măi ấm nóng. Đó là một ngoại khóa mà không bài giảng nào có thể
mang lại một chất lửa như thế.
Trong trái tim Phan và bạn bè, chừng
vang lên hành khúc, tiếng gọi, để trong những đêm sau đó, c̣n vọng lên
từ đáy ḷng ḿnh lời đáp: ''Tổ Quốc ơi, con đă nghe!'', c̣n
văng vẳng lời bài hát do Thầy hướng dẫn lớp sáng tác: Hành khúc
Trần Cao Vân.
Bút nhóm thực sự h́nh thành, đi vào
hoạt động. Có một người bạn gái cùng lớp xin gia nhập nữa. Không ai
bảo ban, chỉ vẽ. Như một cụm cây tự mọc, tự đâm rễ, bật chồi. Chỉ là
một cụm cây b́nh thường giữa những phong trào gây sóng gió trong ḷng
đất một cách cũng b́nh thường lúc bấy giờ. Phong trào du ca sinh hoạt
ở các chùa chiền. Phong trào viễn mơ như khát vọng trốn thoát thực tại.
''Đất Vàng'' (Đất nước – dân tộc da vàng) lại nh́n thẳng vào sự
thật của thời ḿnh sống, nh́n thẳng vào thao thức của chính tuổi học
tṛ đam mê văn chương của ḿnh...
Có một thời, tuổi mới lớn như thế...
Những trưa rất thơ ca cùng nhau lang
thang trên đường đê ngợp bóng hoa vàng, bên con sông lấp lóa cát và
nước.
Những chiều làm thơ trong vườn ổi An
Thổ xanh ngát, thơm lừng mùi mật mía từ các ḷ đường, mùi dầu phụng từ
các xưởng thủ công, tưởng chừng làm đôi khoảng không gian ven đường
làng đặc lại.
Những tứ thơ bất ngờ bật ra dưới bóng
rừng dương liễu nh́n ra chiếc cầu đường sắt han gỉ, trong những chiều
hôm sau ngày sinh hoạt hướng đạo.
Những đêm thức trắng bên bàn viết.
Nhà Nguyễn Tấn Sĩ như một trại sáng tác. Ông cụ
của Nguyễn Tấn Sĩ lại thấy tuổi học tṛ đam mê văn chương của ḿnh.
Những đêm đầy ắp hương thị vàng thơm
và tiếng lá xạc xào sau nhà ...
Bài vở nộp lại, t́m đến căn gác thầy
Nguyễn Văn Bổn (Tần Hoài Dạ Vũ) – một nhà thơ phản chiến, chống Mỹ,
yêu nước, nổi tiếng trên báo chí công khai lúc ấy. Có lẽ thầy Bổn ngạc
nhiên nhưng biết đó là tất nhiên, v́ bài giảng và thơ của thầy đọc
trong lớp luôn có lửa.
Có một thời, ngọn lửa dân tộc được
truyền đi như thế. Truyền, và biết chắc lửa sẽ được nối tiếp truyền đi.
Bởi từ lâu lắm rồi bối cảnh xă hội đă chuẩn bị cho những tấm ḷng...
Có một thời, tuổi mới lớn như thế...
''Tổ Quốc ơi, con đă nghe!'', một bản
nhạc của phong trào và những bài viết đă được in rô-nê-ô, b́a ty-pô.
Cảm ơn ông chủ nhà in, anh ruột của một người trong nhóm. Cảm ơn nhà
văn Xuân Tùng không kiểm duyệt dù chức năng bắt buộc như vậy.
- Khỏi. Cứ in đi!
Những bích chương với nhiều câu hỏi
xoáy vào ḷng người do thầy Bổn viết đă được dán đầy ở các cổng trường
trung học trong thị xă.
Báo được treo bán ở các quầy sách.
Những chuyến đi xa đến các trường
trung học ở các quận. Những phút hùng hồn đầy t́nh tự dân tộc và thao
thức xă hội trước các lớp bạn ở các trường.
Báo với gần 200 bản bán hết vèo trong
vài ngày.
Và số 2 là khát vọng ''Xuân thanh
b́nh''.
Lại những đêm thức trắng, viết, đánh
máy trên giấy sáp.
Đâu đó có những lời hăm dọa bóng gió,
ở các quầy sách, ở quán cà phê chị Được. Báo vẫn ra, số lượng bản
nhiều hơn, bài vở khá hơn (dù bây giờ có dịp đọc lại, chắc sẽ thấy quá
chừng thô vụng).
Và đột ngột Phan bị chặn đường, xúc
lên xe GMC., đưa vào trại tạm giam. Đêm đó, Phan cứ tin ḿnh chỉ bị
bắt v́ lí do vi cảnh. Chẳng hiểu sao, một thủ lĩnh học sinh rơ ràng có
màu sắc Việt Cộng lại ra nằm ở trại tạm giam, bên cạnh Phan.
Anh ta ngỡ Phan là Việt Cộng! Phan
chỉ trao đổi vu vơ rồi yên tâm ngủ. V́ lúc ấy, đối lập là chuyện b́nh
thường. Tính chất đối lập, đối trọng đă thành một nếp sống, ngay trong
các trường trung học tỉnh lẻ.
Có phải cảnh sát dàn cảnh để t́m
đường dây móc nối chăng?
đ
Nhiệt huyết bùng lên rồi tự lịm tắt,
không ai cấm, không ai trừng trị, dù ngay cả trong gia đ́nh mỗi thành
viên của nhóm. Cái chính là sự bế tắc về tư tưởng...
Tuổi mới lớn của một thời như thế...
Và ngọn gió t́nh yêu đầu đời, năm
mười bảy tuổi, lớp mười một, đă thổi dịu những ray rứt, trăn trở.
Dù trước đó, Phan rất ghét ''viễn mơ'',
nhưng khi yêu, Phan lại ''viễn mơ'' như một người không bước trên mặt
đất. Th́ ra, người ta không thể vượt quá lứa tuổi của ḿnh!
Phan lênh đênh trong mộng tưởng như
sương và khói.
Những bài thơ t́nh của Phan thậm chí
không phải viết cho người ḿnh đang thật yêu kia nữa. Chừng như Phan
có một tiền kiếp nào đó với một người yêu trong tiền kiếp ấy. Th́ hiện
tại được chia về th́ quá khứ xa xăm.
Trong những tháng năm trước, Phan đă
biết rung động với một t́nh cảm ''h́nh như là t́nh yêu''. Mơ hồ. Mong
manh. Dễ vỡ.
Chừng như mỗi người đều có một dáng
dung vô thức h́nh thành khi c̣n tấm bé từ những huyền tượng trong cổ
tích, từ những h́nh tượng trong văn chương, phim ảnh. Có phải đấy là
người trong mộng mà không mấy ai có thể gặp trên đời? Và đời người là
một hành tŕnh ngược vào sâu thẳm từng tầng lớp thời gian để nhận diện
một gương mặt mơ hồ đă kết tinh từ nhiều nguồn đâu đó, và cũng là hành
tŕnh phóng tới tương lai để t́m kiếm không nguôi?
Người yêu đầu đời của Phan chỉ là cái
cớ cho t́nh yêu ấy có một h́nh dáng thật. T́nh yêu ấy được đan dệt
bằng hàng trăm bức thư, mỗi bức như một tùy bút huyền ảo, có khi gần
như một loại tân truyện bay bổng không có một chút cơ sở hiện thực nào
trong đời sống.
Cây mộng tưởng ấy không thể sống v́
nó làm ǵ có đất thực tế!
T́nh yêu ấy như một giấc mộng dài gần
suốt cả năm học. Phan như một kẻ mộng du trong t́nh yêu, một t́nh yêu
chỉ làm nẩy nở trí tưởng tượng và làm đẹp câu thơ.
Đừng trách ǵ, hỡi niềm yêu dấu cũ,
v́ ai có thể sống hoài trong giấc mộng, cho dù là giấc mộng ngọt ngào!
Và t́nh yêu viễn mơ đến sớm vào tuổi học
tṛ trung học ấy, măi đến sau này, khi đă trưởng thành, Phan mới biết
đó là một sai lầm, không nên có.
e
Chừng như tuổi mới lớn nào cũng có
những cơn địa chấn. Phan c̣n có một trận băo lũ khỏa ngập cả đất trời.
Cơn đau của mối t́nh tuyệt vọng tưởng d́m anh vào cái chết. Phan đă
quằn người trong niềm đau.
Cũng mảnh đất Tam Kỳ đó!
Và may mắn thay, ở Phan chừng như có
sẵn tự bao giờ một sức bền chịu đựng. Phan không học kém đi. Học và
viết vẫn là phương châm được khắc lên bàn học.
Với một cách học ''tài tử'', Phan t́m
đọc rất nhiều sách, v́ học tŕnh ban C đối với Phan tự bao giờ đă quá
hẫng nhẹ. Từ lúc bùng dậy đam mê văn triết, trừ ngoại ngữ, Phan thường
ít học lại những ǵ đă nghe được ở lớp, kể cả môn toán.
Trong những cuốn sách t́m đọc, có một
cuốn t́nh cờ Phan mua được v́ rất mỏng nên giá rẻ:
''Kẻ Tuẫn Đạo'' của Unamuno (Ibk).
Hôm đó như một lạ thường, Phan từ nhà
Sĩ đi lên, bỗng dưng đâm thẳng qua đường đến tiệm tân dược Ngọc Lan,
quặt trái, chứ không quẹo phải như thường lệ. Tiệm sách này không địa
lợi lắm và hơi chật chội nên ít người vào.
Tần ngần trước nhiều cuốn sách nhưng
không thể mua v́ một lí do dễ hiểu, học sinh có bao giờ đầy túi.
Sau khi trả tiền cho cuốn sách mỏng
và rẻ ấy, Phan về nhà chúi mũi đọc.
Bàng hoàng như vỡ ra một lẽ thật.
Nhưng lạ lùng sao, không có thất vọng đau đớn nào xảy ra trong tâm hồn.
Chỉ một địa chấn nhỏ. Có rất nhiều điều người ta đă cảm nhận được
nhưng vô thức xua đi, quán tính vẫn ngự trị, và một tác phẩm nào đó
chỉ nói lên điều mà vô thức và quán tính bảo phải im lặng như mặc
nhiên thừa nhận. Từ mâu thuẫn thăm thẳm không thể nhận biết ấy, người
ta vẫn say sưa t́m ṭi khám phá khoa học, không chấp nhận một giả
thuyết nào chưa được thực nghiệm chứng minh và lô-gích học bảo là hợp
luận lí, nhưng vẫn sùng tín những huyền tượng như một thói quen hoặc
như một nhu cầu. Và cơ hồ mỗi người đều có riêng một h́nh ảnh về huyền
tượng từ sự tiếp nhận, tái tạo theo lí tưởng thẩm mĩ, lí tưởng sống
riêng của ḿnh một cách biện chứng tâm linh, có khi khác xa với nguyên
thủy đến không ngờ. Hầu như con người tôn thờ chính khát vọng thăng
hoa của ḿnh từ bi kịch của đời sống. Tôn giáo và văn chương nghệ
thuật phải chăng có chung cội rễ là Nỗi Đau và ước vọng Giải Thoát,
Cảm Thông.
Sách xác tín giúp Phan một điều c̣n
mơ hồ chưa dám nói và cũng không nên nói làm ǵ, dù sau này, sách vẫn
luôn luôn gợi cho anh sự tự tra vấn để tự giải đáp, như một
nỗi-niềm-hoài-nghi-khoa-học không nguôi, cho đến khi anh gặp Spinoza (IIbk).
Nhưng quả thực, từ lúc ấy, Phan đủ
can đảm để sống khác đi. Tâm hồn anh vẫn khát vọng chân lí và sự thật.
Ở đời, có ai thích dối trá, cho dẫu là dối trá lương thiện hoặc ''lẽ
thật'' qua ngàn năm đă thành dối trá! Đâu riêng ǵ Phan.
Phan thân với một tu sĩ Phật giáo.
Nhờ là bạn bè cùng lớp, Phan mạnh dạn trao đổi với người bạn tu sĩ ấy.
Th́ ra, từ rất lâu, Phật giáo đă biết thế nào là huyền thoại và thế
nào là ''thực nghiệm tâm linh'', như kết quả của sự tương tác xa xưa
giữa Lăo học và Thích học (IIIbk).
Vâng, tôn giáo, là một h́nh thái ư thức chưa thể
thay thế, và nó không thể chính-trị-hóa. Cũng không thể
tôn-giáo-hóa-chính-trị để thay thế tôn giáo (IVbk).
Không có tôn giáo chắc chắn loài
người không đạt đến mức nhân đạo như ngày hôm nay. Nhưng cũng không có
cái ǵ trưởng thành mà không có tuổi ấu thơ của nó, và ấu thơ th́ dĩ
nhiên, rất hay huyền thoại hoá!
Cơn địa chấn, trận băo lũ nào rồi
cũng qua đi.
Có điều, phải chăng v́ căn cơ (tạng
chất), Phan đau niềm đau t́nh yêu quá chừng đau đớn, mà sự khám phá
qua khải thị của Unamuno về ''Đạo'', dù mang lại sự choáng váng thất
vọng, vẫn chỉ là niềm đau xen lẫn với một nỗi niềm không hẳn là buồn!
Phan lại tự tin hơn trong nhận thức,
với một nhận thức nhân sinh, một vũ trụ quan không tôn giáo.
Có những vùng đất mà ở đó, diễn ra
những bước ngoặt của nhận thức, tâm hồn ḿnh, làm thay đổi cuộc đời
ḿnh, ngỡ chừng như sống một cuộc sống khác, th́ làm sao quên được!
Hầu như mỗi người có nhiều mảnh đất
chôn nhau cắt rốn khác nhau. Những lần sau không phải nhờ cha mẹ, chỉ
do chính ḿnh tự sinh nở và cắt chôn.
Con người tự làm nên chính ḿnh trong
điều kiện bất ḱ nào của hoàn cảnh. Con người phải có tự do, độc lập
của riêng nó, để trở thành Con Người. Anh học được điều này từ thể
nghiệm bản thân và cuộc sống bạn bè.
Phan vẫn xem Tam Kỳ là nơi anh đă
từng chết đi và tự tái sinh. Đó là Đất Thánh của riêng trái tim anh,
là Quê Hương của riêng tâm hồn anh.
g
T́nh yêu như cơn gió thoảng suốt năm.
T́nh yêu như trận băo làm găy đổ hết thân cành của một đam mê gần như
cơn say thơ ca ngây ngất, mănh liệt và đắm đuối. Nhưng thân cành c̣n
non và bộ rễ c̣n khỏe, cây lại đâm chồi nẩy lộc.
Bên cạnh t́nh yêu, một sự kiện chính
trị lớn xảy ra trên Đất nước: những ngày tháng trước và sau hiệp định
Paris 1973.
Sân trường được tổ chức như một diễn
đàn.
Cuộc đối thoại nẩy lửa giữa học sinh
và sinh viên sĩ quan Đà Lạt, khiến sự đơn điệu buồn tẻ trong nghiêm
trang nhường chỗ cho không khí sôi động, cởi mở.
Cũng vô thức, không hề chuẩn bị trước,
Phan đă ứng khẩu một bài phê phán kịch liệt chế độ với những câu hỏi
nhức nhối. Những điều này chưa ai nói cho anh: Nhà tù cưỡng bức và
thực chất chính quyền bù nh́n (Vbk).
Nhóm sinh viên sĩ quan Đà Lạt cực ḱ
trí thức và nghiêm túc đến khô cứng, dẫu đă được huấn luyện để đối phó
trước mọi t́nh huống bất ngờ, vẫn không che giấu xúc động. Những trí
thức mặc đồ lính ngụy ấy không bối rối mà xúc động, và lạ thay, lại
đồng cảm, chia sẻ cùng Phan những băn khoăn! Phan không thể chấp nhận
sự phi nhân và Phan không thể chấp nhận một tầng lớp lănh đạo Miền Nam
của Đất nước từng là sĩ quan của thực dân! Hầu như sinh viên sĩ quan
Đà Lạt cũng vậy. Bởi đó là một sự thật lịch sử không ai không thấy. Và
mọi người đành chấp nhận! Lịch sử bày ra một ván cờ trớ trêu. Giai
đoạn lịch sử này là một kẻ có đầu óc điên rồ, nếu có thể ví von như
vậy.
Hai mươi năm ấy phải chăng như một sự
thật oái oăm và một tấn tuồng bi hài, mà Phan, bạn bè Phan và cả nhóm
sinh viên sĩ quan ngụy kia chỉ là nạn nhân, lại là nạn nhân bi đát ''v́
ư thức được tính bi kịch'' (VIbk) trong hoàn cảnh lịch sử ḿnh đang
sống. Phải chăng, tận đáy ḷng, ai cũng có những khổ tâm riêng?
Lúc bấy giờ, tưởng chừng như vô thức
lên tiếng nói và cũng vô thức đồng cảm trong mấy trăm học sinh trước
sân trường.
Những tràng pháo tay biểu lộ sự đồng
cảm ấy.
Không chỉ Phan. Lên diễn đàn c̣n có
người bạn tu sĩ và một vài bạn khác với nhiều vấn đề buốt bỏng khác.
Phan quả là ''gă nghệ sĩ'' trẻ tuổi
liều lĩnh một cách chân thành. Quả thực, anh chỉ là gă con trai mới
lớn đa t́nh (với nhiều loại t́nh cảm) đến mê đắm, và không ngớt băn
khoăn trước những vấn nạn của cuộc sống tâm linh và xă hội. Phan vừa
đam mê vừa tỉnh táo, vừa nhút nhát vừa táo bạo, vừa sai lầm vừa sáng
suốt.
Dẫu mang một gương mặt trầm buồn,
trong anh vẫn sống động một người nghệ sĩ dám dấn thân, trải nghiệm
đến giới hạn của đức lí, với đôi mắt mở to luôn ngạc nhiên, hiếu ḱ
một cách hồn nhiên. Anh muốn dấn thân trên con đường sống thật để sáng
tạo.
Dẫu sao, anh vẫn chỉ là gă con trai
mới lớn!
h
Có một kỉ niệm không thể quên được.
Chẳng biết bây giờ người học tṛ rất nông dân mang dép cao su như ''Việt
Cộng'' thuở ấy c̣n sống hay đă chết. C̣n sống, anh ta đă leo lên đến
bậc ghế nào và cống hiến những ǵ.
Từ hôm đối thoại giữa sân trường bốc
lửa, có người học tṛ ở một lớp lớn hơn bỗng mang dép cao su lốp xe
t́m cách làm quen cùng Phan.
Anh ta chỉ vào đôi dép đang mang và
nh́n Phan mỉm cười.
Phan cũng chuyện tṛ vu vơ.
Những ám hiệu không cùng tần số như
chớp lóe rồi tắt lịm trong cuộc đời.
Măi sau này, Phan có dịp ngẫm lại,
cái tính chất bồng bột đến khờ khạo một cách chân t́nh ở tuổi thanh
niên thật dễ thương và cũng quá dễ để gặp tai họa. Tại sao anh học tṛ
Việt Cộng ấy dám bật tín hiệu với Phan trong khi quá biết Phan sống
trong một gia đ́nh không có ai dính líu ǵ với tổ chức của họ, thậm
chí, dù muốn dù không, cũng là đối phương của họ?
Sau lần ấy, thỉnh thoảng anh ta vẫn cười với Phan
mỗi khi thoáng gặp ở sân trường hay trước hiên nhà. Như một kỉ niệm
của tuổi trẻ, lắm khi nhớ lại, những lần gặp gỡ ấy gợi lên chút cảm
động nhẹ nhàng. Có phải nhờ vậy, sau này Phan đă ''bị'' thuyết phục (đúng
hơn, là được thuyết phục)?
Phan vẫn tin ở tấm ḷng tuổi trẻ. Khi
c̣n tuổi trẻ, dù với chính kiến, hàng ngũ nào, người ta vẫn c̣n nơi
tâm hồn ḿnh cả một trời trong sáng. Ṿm trời giữa tâm hồn tuổi trẻ
không hề có biên giới và rào gai. Và một khi sự thật lịch sử đă sáng
rơ, chỉ một ''địa chấn'', họ dễ dàng tiếp cận chân lí xă hội chủ nghĩa,
nhất là liên lập trong liên minh quốc tế (một vấn đề khắc khoải nhất!)
(VIIbk), nếu nhận thức được tính tương đối của chân lí! Không hề có
một thứ chân lí bất biến và tuyệt đối trên đời, nữa là chân lí chính
trị – xă hội, vốn là một thứ chân lí phải luôn linh hoạt co giăn theo
thực tiễn!
i
Rồi Phan lại xa Tam Kỳ. Chỉ ba niên
học ở thị xă nhỏ bé ấy nhưng chất chứa biết bao nhiêu kỉ niệm. Những
năm đầu bước vào lứa tuổi thanh niên là những năm xáo động dữ dội và,
phải chăng gần như có tính chất quyết định cho mỗi đời người?
Tam Kỳ – một thị xă chia đều đường
sắt xuyên Việt, bé nhỏ, duy nhất một đường phố sầm uất, khô khốc – lại
là nơi chất thơ tiềm ẩn giàu có trong hồn người.
Tam Kỳ, nơi ấy, có những nhà thơ lăng
mạn và hiện thực tên tuổi, có những tu sĩ, thầy giáo trăn trở, day dứt
không nguôi. Nơi ấy, thật sự đă có một khí hậu tinh thần riêng để lớp
trẻ nối nhau vươn dậy trong khát vọng ngấm ngầm mà cháy bỏng về chân
lí nghệ thuật và chân lí cuộc sống. Nơi ấy, cuộc sống ngỡ chừng đơn
điệu, buồn tẻ nhưng vô cùng sôi sục, với những tiếng nói vô thanh xao
xuyến tự mỗi trái tim thành khẩn, không giống nhau.
Nhà thơ Huy Tưởng lớn lên ở đó, với
rất nhiều đêm gục đầu trầm tư về thân phận con người trong niềm cô độc
cùng cực, đă ra đi, làm nên nhiều bài thơ tuyệt vời cho Nỗi Đau, thỉnh
thoảng trở về. Trong một đêm thơ nhạc do nhóm Đất Hứa tổ chức, anh đă
chống nạng quay mặt ra cửa sổ lập ḷe đom đóm như ma trơi oan khuất,
như bao nhiêu v́ sao trên đất tối, không thèm nh́n vào ánh đèn sáng,
đọc trầm thống bài ''Hồ trường'' + trời nghe.
kẻ trượng phu
không hay [ai?] mổ gan bẻ cật
phù cương thường
hà tất tiêu dao lưu lạc tha phương
trời Nam ngàn dặm thẳm!
non nước một màu sương!
chí chưa thành danh chưa đạt
trai trẻ bao năm mà đầu bạc
trăm năm thân thế bóng tà dương!
vỗ gươm mà hát
giốc bầu mà hỏi
thiên hạ mang mang ai người tri kỉ
lại đây cùng ta cạn một hồ trường!
hồ trường!
hồ trường!
ta biết rót về đâu?
rót về phương đông, nước biển đông sinh
cuồng loạn
rót về phương tây, mưa tây sơn từng trận
chứa chan
rót về bắc phương, ngọn bắc phong vi vút
đá chạy cát bươn [vươn?]
rót về nam phương, trời nam mù mịt thẳm
có người quá chén như điên như cuồng!
nào ai tỉnh nào ai say
chí ta ta biết, ḷng ta ta hay
nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ
hà tất tương phùng [cùng sầu?] với cỏ cây!
Nhà thơ Thành Tôn thành danh trên báo
chí cả Miền Nam vẫn âm thầm trong bộ quân phục. Anh sống và làm việc
với phận sự một người lính ngụy lặng lẽ. Anh đâu biết rằng chính sự
hiện hữu một cách câm nín của anh ở thị xă, quá đỗi câm nín, vẫn vang
vọng những làn sóng đến những trái tim trẻ về thơ ca.
Và nhà văn Xuân Tùng, thầy Nguyễn Văn
Bổn (nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ), thầy Trương Sư Xuyên và anh Nguyễn Hữu
Thâu...
(Xin được thắp ở đây một nén nhang tưởng
tiếc Ngữ Luân, một người thơ tài hoa c̣n quá trẻ).
Những trí thức ấy, những tấm ḷng ấy,
ở một nơi như Tam Kỳ thân yêu, chính họ, đă tạo ra một khí hậu cho
tuổi trẻ. Họ tạo ra một trường ảnh hưởng mà họ không hề hay biết.
Phan và bạn bè anh cũng không hề hay
biết về khí hậu ấy, dù đă thực sự sống trong tiếng động tương tác thầm
lặng của vùng khí hậu rất riêng ở thị xă của một thời đă xa kia.
Cuộc sống cứ măi hoài trôi đi một
cách vô thức. ''Người ta sống là để sống'', chứ không thể cứ măi chiêm
nghiệm về cuộc sống, phần lớn là mảnh vụn thường ngày. Muốn chiêm
nghiệm phải cần một độ lắng cần thiết của thời gian.
Phan đang ngoảnh lại đời ḿnh những
năm mới lớn và ngỡ ngàng bâng khuâng cho những vụng dại, những say mê
quá đỗi vô tư. Đúng hơn, là cả một đam mê cháy bỏng khát vọng sáng tạo
(đến mức chỉ với bức xúc vặt, Phan xin rời bỏ gia đ́nh để về ở chung
với bạn, những tháng cuối của năm học lớp mười một!).
Nỗi đam mê cháy bỏng về khám phá,
sáng tạo thơ ca dễ khiến người ta đến với t́nh yêu hơi sớm (để làm thơ
t́nh cho người lớn!), dễ xúi dại người ta tự trở thành đứa con hoang (chứ
không phải thoát li gia đ́nh để làm công tác cách mạng!)! Từ khí hậu
kia hay từ trái tim Phan, vang vọng lên tiếng gọi, bàng bạc mà tha
thiết, hướng tới chân trời là trang giấy trắng, lóng lánh nét chữ ghi
lại những câu thơ của ḷng ḿnh, chút ḷng ḿnh gửi đến cuộc đời.
Mỗi người đều có một tuổi mới lớn của
riêng ḿnh, và chắc chắn đều có lắm thú vị. Cuộc sống măi măi thú vị,
cho dù bi kịch đến mức nào, nếu ta thoát được và có dịp ngoảnh nh́n
lại bi kịch ấy. Vượt qua bi kịch, mắt sẽ sáng hơn, chân sẽ vững hơn
trên đất đai Tổ quốc. Phan cũng vậy. Xin được mỉm một nụ cười về những
năm tháng đă trở thành xa xưa. Tam Kỳ – Xa Xưa ấy đang không ngừng
chảy trong máu anh và trong máu bạn bè.
Ước chi măi là một hạt sương bé nhỏ
được lóng lánh khát vọng rất thơ ca và không chỉ cho riêng ḿnh – Phan
và mỗi bạn bè Phan có lẽ đều nghĩ thế.
TRẦN XUÂN AN
Viết ngày 28.X.1993
Sửa chữa, bổ sung ngày
04.VII.1995
tháng 10.1996 và tháng 05.2003 tại
TP. HCM.
(Bài đă đăng trong
Kỉ yếu Bốn mươi năm
thành lập Trường
Trần Cao Vân, Tam Kỳ,
Quảng Nam, 1955 –
1995).
Cước chú của bài
bút kí “Một chút tự bạch: Giữa ṿng tay Tam Kỳ và bè bạn”
(bút kí, viết tắt là bk):
(Ibk)
Trần Xuân Kiêm dịch, Quế Sơn - Vơ Tánh xb., Sài G̣n, 1971.
(IIbk)
Vượt qua hoàn cảnh bi kịch bằng óc phân tích và thái độ dũng cảm.
(IIIbk)
Nhất Hạnh, Đạo Phật đi vào cuộc đời, Lá Bối xb., Sài G̣n, 1966.
(IVbk)
Xin xem cuối bút kí này.
(Vbk)
''Không có th́ đánh cho có, có
th́ đánh cho chừa'' (''khẩu hiệu'' nhà tù Mỹ - ngụy).
(VIbk)
Vận dụng một nhận định văn chương.
(VIIbk)
Xin xem cuối bút kí này.
(VIIIbk)
Bài "Hồ trường" của Nguyễn Bá Trác (1881 - 1945). Đó là một kẻ sĩ đă
từng tham gia phong trào Duy Tân, Đông Du, sang Nhật. Đang học tập dở
dang, ông phải về Trung Quốc khi Nhật đă câu kết với Pháp, trục xuất
du học sinh Việt Nam. Sau đó, Nguyễn Bá Trác đành sống trong tâm trạng
u uất, bi phẫn, bế tắc, và rồi y lại phản bội, làm tay sai, ngụy quan
cho giặc Pháp. Cuối cùng, y phải đền tội. Cũng như Phạm Quỳnh, y bị
chính quyền Việt Minh xử bắn. Dẫu sao, bài thơ trên cũng đă thể hiện
hết tâm trạng của những người thuộc trường hợp như Nguyễn Bá Trác,
trong giai đoạn cực ḱ bế tắc hồi đầu thế kỉ.
Tuy nhiên,
một tác phẩm văn chương thông thường được cảm thụ theo tâm trạng của
người đọc hơn là v́ nhớ đến tác giả.
Đó là điều tôi
muốn nhấn mạnh, trước khi xin được nhấn nhạnh thêm điều cốt yếu sau
đây: Trong những năm bảy mươi của thế kỉ trước (XX) ở Miền Nam, bài "Hồ
trường" khá thịnh hành bởi tâm trạng bế tắc của vài thế hệ (từ tuổi
thanh niên đến tuổi lăo niên), và bởi dù muốn dù không, họ cũng đành
phải "thoả hiệp" với chế độ Mỹ - ngụy và "tả đạo".
Có tư liệu
cho rằng Nguyễn Bá Trác chỉ là dịch giả của bài thơ trên.
(IVbk)
H́nh thái ư thức tôn giáo thật
sự không có, trong thực tế văn hoá truyền thống của đại đa số nhân dân
ở một số nước châu Á, cụ thể là Việt Nam, mà chỉ là đạo lí thờ cúng
anh hùng, danh nhân dân tộc và tổ tiên. Nói chính xác hơn, bên cạnh
đại đa số nhân dân chỉ sống theo đạo lí dân tộc thuần tuư ấy, c̣n có
một bộ phận nhân dân theo Phật giáo, Lăo giáo, và có thể kể cả một bộ
phận khác theo học thuyết nhân sinh – xă hội, ấy là Nho giáo. Nho giáo
rất ít bàn về h́nh nhi thượng, từ chối việc suy tư về cơi siêu h́nh,
thần linh và ma quỷ. Về tác dụng cải hoá con người, xă hội của văn hoá,
hoặc của tôn giáo, xin khảo sát theo phương thức nghiên cứu khoa học
về quá tŕnh lịch sử và đời sống thực tại của các đối tượng nghiên cứu:
đại đa số nhân dân không theo một tôn giáo nào, mà chỉ sống theo đạo
lí dân tộc thuần tuư, và các bộ phận nhân dân dân ít hơn có theo một
tôn giáo, kể cả Nho giáo. Từ đó, đối sánh, rút ra kết luận. Và có thể
nói thêm: August Comte (1798 – 1857), một triết gia thực chứng xă hội
học người Pháp, ra đời muộn hơn Nho giáo đến hơn hai mươi thế kỉ; ông
thường được đề cập đến trong học phần triết học lớp 12 trước 1975 ở
Miền Nam Việt Nam. Mặc dù có những sai lầm của ông, August Comte cũng
chính xác trong việc phân định ra ba thời ḱ phát triển của phương
pháp tư duy và thế giới quan của nhân loại. Ba thời ḱ đó là: tư duy
thần thoại, tư duy tôn giáo, tư duy khoa học (thuần lí và thực nghiệm).
August Comte c̣n đề nghị băi bỏ tôn giáo nhất thần (như Thiên Chúa
giáo, Tin Lành ...), có thể băi bỏ cả tôn giáo đa thần, để chỉ tín
ngưỡng một thực thể siêu h́nh, trừu tượng, tối cao, tương tự như ư
niệm Trời của Nho giáo (Trời chỉ là lí – khí, ''thiên hà ngôn tai!” [Trời
có nói ǵ đâu!]). Theo tôi, căn cứ theo dự đoán tương lai của nhân
loại, tôn giáo sẽ được phát triển thành các triết thuyết thuần tuư,
không c̣n tính chất tôn giáo (không c̣n các h́nh thức thờ phụng, kinh
kệ, lễ bái như hiện c̣n tồn tại ở các chùa chiền, giáo đường, thánh
thất, nhà nguyện...); và h́nh thái ư thức văn hoá, bao gồm cả phong
tục (trong đó có mĩ tục thờ cúng anh hùng, danh nhân dân tộc và tổ
tiên, suy nghiệm về lịch sử nhân loại), bao gồm cả giáo dục, văn học
nghệ thuật (nhất là trên các phương tiện truyền thông đại chúng), sẽ
được lành mạnh hoá theo hướng ''văn dĩ tải đạo'' (đạo đức truyền thống,
đạo lí dân tộc) để thay thế h́nh thái ư thức tôn giáo. Nói gọn hơn,
trong tương lai của nhân loại, văn hoá lành mạnh sẽ đảm nhiệm trọn vẹn
chức năng của tôn giáo.
(VIIbk)
Tác giả xin tŕnh bày rơ hơn:
Niên khoá
1971 – 1972 trước đó, mặc dù chính nhân vật Phan đă chọn bài hát “Tổ
quốc ơi, ta đă nghe” của La Hữu Vang làm chủ đề cho số 1 của tập san (chỉ
đổi chữ ta, có nghĩa là tôi, thành chữ con),
nhưng sau đó Phan lại có một bước thụt lùi trong tư tưởng. Đúng như
biện chứng (''đường zíc zắc'', ''đường xoáy trôn ốc'') của quá tŕnh
trưởng thành, từ cảm tính thiên tả, anh đă nhận thức lại một cách lí
tính, ít thiên tả hơn! [...] ... Bấy giờ, năm 1973, chỉ mới có ư niệm
về chủ nghĩa xă hội khoa học, chưa nhận thức đủ về chủ nghĩa xă hội
hiện thực (trong thực tế lịch sử), nhân vật Phan trong bút kí lại được
hướng đến chủ nghĩa xă hội quốc gia theo kiểu Nam Tư, nhưng không phải
chịu sự độc tài như ách độc tài của Tito, lại hoàn toàn độc lập dân
tộc, hoàn toàn dân chủ, thoát khỏi sự khống chế, lệ thuộc vào Liên Xô
(gồm mười ba nước bị sáp nhập), Trung Quốc (gồm cả Tây Tạng ...) hoặc
một trong hai nước ''cộng sản bá quyền (đế quốc đỏ)'' ấy. Chủ nghĩa xă
hội quốc gia chỉ là một hướng mở, xuất phát từ ước vọng độc lập, tự
do, dân chủ thật sự, thoát khỏi hai gọng kềm lịch sử trên thế giới,
đứng đầu là đế quốc Mỹ và Nga, rồi sau đó là Mỹ và Nga – Trung. Bấy
giờ, vẫn vào năm 1973, hai chữ ''liên lập'' và cụm từ ''liên minh quốc
tế cộng sản'' chỉ được hiểu là bị khống chế, lệ thuộc như đă nói, chứ
không phải là liên minh trong tư thế b́nh đẳng quốc gia, dân tộc đích
thực! (Khoa học lịch sử đúng nghĩa không thể không khẳng định sự thật
lịch sử ''liên lập'' trong ngoặc kép nháy
nháy ấy!).
Dẫn đến nhận
thức đó c̣n do nguyên nhân khác, tạo nên sự khắc khoải, thao thức đồng
thời với nguyên nhân trên. Xin tŕnh bày cụ thể hơn:
''Trên tinh
thần hoà giải dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vững mạnh,
giữa hai miền Nam, Bắc, với niềm cảm thông chân thật, thiết tưởng cũng
cần phải nói rằng: Sở dĩ một bộ phận không ít người Miền Nam Việt Nam
không thể tham gia kháng chiến, hoặc vượt tuyến ra Miền Bắc, cũng v́
lẽ đó. Và cũng trên tinh thần ấy, xin mạnh dạn nói rơ hơn: Ngoài ảnh
tượng chân dung các ''giáo chủ'', lănh tụ ngoại quốc (chưa kể danh từ
''xô-viết'' trong cuộc khởi nghĩa Xô-viết Nghệ
– Tĩnh, 1930 – 1931), c̣n có
vấn đề là màu cờ đỏ, h́nh tượng sao vàng, búa liềm vàng. Từ các ảnh
tượng ấy, màu cờ và các biểu trưng ấy, không thể không nghĩ đến Miền
Bắc Việt Nam bị lệ thuộc vào Liên Xô, Trung Quốc, và thân phận Trung
Quốc cũng chẳng khác ǵ (Liên Xô sinh nở ra Trung Quốc!), mặc dù về
sau hai nước lớn ấy có ''bất hoà'' với nhau.
Cái được gọi là
nhận thức ấy chắc hẳn không phải bị chi phối bởi tâm lí giai cấp ở
miền trong của Đất nước, v́ cũng như Miền Bắc, tại Miền Nam đại đa số
vốn là nông dân (liềm), một phần khác là thợ thuyền (búa), có truyền
thống trọng thị chân lí và kẻ sĩ (ngôi sao). Có thể cái c̣n gọi là
thao thức kia chỉ là hậu quả của sự tuyên truyền. Tuy nhiên, thao thức
có thật ấy, trong giai đoạn lịch sử đó, quả thật cũng xuất phát từ sự
nhận thức khách quan của rất nhiều người, một nhận thức đă hoá thành
nỗi băn khoăn nhức nhối, đọng lại ở các câu hỏi: 1. Chủ quyền Miền
Bắc Việt Nam thuộc về ai? 2. Ở Miền Bắc, liệu truyền thống thờ kính
cội nguồn tổ tiên, thắp hương tại các đ́nh làng, chùa chiền có được
tồn tại? Và tại sao trong nhà sàn Bác Hồ không có bàn thờ gia tiên,
theo truyền thống đạo lí của dân tộc Việt Nam ta? Đó cũng là sự
thật lịch sử – sự thật về tuyên truyền của Mỹ – ngụy, nhưng cũng là sự
thật ở nội tâm một phần không ít nhân dân Miền Nam Việt Nam. Nhận thức
ấy, thao thức ấy, có lẽ chỉ tồn tại trước tháng 4 năm 1975; phải chăng
sau đó đă được giải toả; hay bị củng cố thêm bởi hiện thực hằng ngày
trước mắt?
Tất nhiên,
từ khi diễn ra công cuộc Đổi mới, t́nh h́nh đă khác.
Kính mong
hăy cảm thông, hoà giải, và đại đoàn kết. Chỉ có thể đại đoàn kết dân
tộc một cách bền vững trong tinh thần cảm thông, hoà giải ấy. Làm sao
có thể đại đoàn kết được nếu những mặc cảm trong chiến tranh không
được giải toả trên cơ sở sự thật lịch sử – sự thật lịch sử đúng như nó
đă diễn ra, không bị vo tṛn, bóp méo! Tuy nhiên, phải khẳng định và
phải khẳng định: Những người cầm súng, làm quan chức cho thực dân Pháp,
phát xít (fascisme) Nhật, đế quốc Mỹ và ''tả đạo'' Thiên Chúa giáo, ở
Miền Nam Việt Nam (không ít là dân Miền Bắc di cư vào Nam), rơ ràng là
bị đẩy vào t́nh cảnh phản quốc hay ít nhiều cũng tự ư phản quốc.
Trong số người bị đẩy vào t́nh cảnh phản quốc một cách hết sức đau
đớn ấy, có một phân số khá lớn là bị kẹt giữa hai gọng ḱm lịch sử (một
gọng ḱm là Pháp + Mỹ + "tả đạo", và, có thể kể thêm Nhật; một gọng
ḱm khác là Nga Sô + Trung Cộng + chủ nghĩa cộng sản vô thần). Số
người thuộc trường hợp này có ḷng yêu nước, căm hận Pháp + Mỹ + "tả
đạo", căm hận Nhật, và hơn thế nữa, họ cũng rất căm ghét bọn ngụy đích
thực, cam tâm làm tay sai đầu sỏ cho bốn loại giặc ngoại xâm ấy, nhưng
bị buộc phải cầm súng, làm quan chức cho chúng (hoặc chỉ cầm súng, làm
quan chức cho một trong bốn kẻ thù dân tộc vừa liệt kê). V́ vậy,
cho nên dẫu sao đi nữa, họ cũng không thể chính danh là một trong
những "lực lượng yêu nước", mà bị gọi chung là "ngụy". Nói cụ
thể hơn, đằng sau danh từ "ngụy", có nhiều loại người khác nhau, trong
đó không ít người thật sự yêu nước với chính kiến rơ rệt; bi kịch của
họ là đă dựa vào Pháp + Mỹ + "tả đạo", và Nhật để chống Nga Sô + Trung
Cộng + chủ nghĩa cộng sản vô thần với ư định sẽ lần lượt bẻ găy hai
gọng ḱm lịch sử ấy. Nhưng, chỉ là ảo vọng! Rốt cục, phải chịu
mang tiếng là ngụy. Danh đă không chính, th́ ngôn không thuận. Có
người ḷng dạ là rất yêu nước, nên rất khổ tâm, nhưng đă là ngụy quân,
ngụy quyền, họ không thể nói cho người khác thuận nghe được, cho dù
chỉ là giăi bày tâm sự. Đó là nỗi đau của họ. Vả lại, những người
thuộc dạng có ḷng yêu nước thật sự nói trên, bọn thực dân, phát xít,
đế quốc, "tả đạo" thường không sử dụng. Bất đắc dĩ chúng cũng sử dụng
tạm thời hoặc chỉ sử dụng ở những chức vụ thấp, ở cấp tỉnh, cấp quận,
không quan trọng, và ít nguy hiểm đối với chúng.
Xét về lực
lượng kháng chiến, từ các tổ chức cộng sản sơ khai (trước 1930), đến
Việt Minh (Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, từ tháng 8.1941), và
có lẽ sau 1954, ở Miền Nam thường gọi là Việt Cộng (Cộng sản Việt
Nam), nhận định chung là thế nào? Sau khi đám mây mù tuyên truyền của
ngoại xâm và ngụy tan đi, ai cũng thấy rơ sự thật lịch sử là: Hết sức
hiển nhiên, lực lượng nào đánh bại được Pháp, Nhật, Mỹ, ''tả đạo''
Thiên Chúa giáo, bá quyền Trung Quốc, đánh đổ được ngụy triều Huế
(1885 – 1945) (II.19), ngụy quyền Sài G̣n (1954 – 1975), chế độ diệt
chủng Khơ Me (Kh'mer) Đỏ, chính danh và chính nghĩa thuộc về lực lượng
ấy. Đó là đa số nhân dân Việt Nam dưới sự lănh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có một sự thật (tuy chỉ giới hạn nhất định
là qua báo chí, đài phát thanh, truyền h́nh trong nước), sự thật đó là,
mặc dù không một ai trên thế giới này có thể phủ nhận được chiến thắng
hiển hách, lừng lẫy của lực lượng kháng chiến Việt Minh, Việt Cộng,
nhưng vẫn có người, nhất là một số Việt kiều ở hải ngoại, vẫn không
chấp nhận Việt Minh, Việt Cộng là chính danh, chính nghĩa, thậm chí
c̣n chống Nhà nước xă hội chủ nghĩa Việt Nam một cách cuồng dại!''.
Ghi chú bổ
sung của tác giả:
Người đọc
có thể tự cắt bỏ (tự kiểm duyệt) hoặc lướt qua, hoặc tốt nhất là phản
biện, bác bỏ, nếu không đồng ư với tác giả. Tất nhiên, tôi vẫn bảo
lưu sự thật lịch sử đó cho nhân dân Miền Nam Việt Nam, nhất là sự thật
lịch sử đă đọng lại ở các câu hỏi đầy băn khoăn, thao thức, nhức nhối
đă ghi lại ở bên trên. Một lần nữa, tác giả xin thưa rằng: Tôi
viết để ghi nhận chính xác một khía cạnh sự thật lịch sử về một bộ
phận đông đảo nhân dân Miền Nam thuộc giai đoạn sau (1930 – 1975) của
cuộc chiến tranh 117 năm (1858 – 1975) hoặc đúng hơn là 131 năm (1858
– 1989), vốn đă trôi qua khá lâu, để góp phần xây dựng khối đại đoàn
kết dân tộc Việt Nam chúng ta và đoàn kết nhân loại, trên tinh thần
tôn trọng sự thật lịch sử, cảm thông, điều chỉnh (sửa sai) và hoà giải.
Xin cảm ơn.
TXA.
GIỌT
MỰC, CÁNH ĐỒNG
VÀ VỞ KỊCH ĐIÊN
tập thơ thứ tám
của Trần Xuân An
* PHẦN MỘT:
Nhật kí vào vai người điên
Đề tặng
(thay lời tựa) . 7
Thơ ngỏ
(bổ sung ''thay lời tựa'') . 9
1. Hát ru trong
vở kịch hoang tưởng . 11
2. Thơ và mưa, ba
mươi năm trước . 13
3. Ư nghĩ trong
những ngày chờ con ra đời . 15
4. Kẻ bị giết
chết sinh mệnh chính trị tự đùa . 19
5. Mẹ là cơi đời
. 21
6. Giật ḿnh . 23
7. Biết làm sao .
27
8 - 9. Huyền
tượng Búa và Liềm:
8. Quán Thế Âm, khát vọng từ ruộng đồng .
29
9. Đồng Trinh, niềm rất thiêng những Ma-ri-a
xóm thợ . 30
10. Xem phim đen
ở quán đèn mờ, phố biển . 31
11 - 12. Cúi
xuống:
11. Dán ở nhà hàng Hậu Chiến . 32
12. Thân tặng Rạn Vỡ . 33
13. Lại bắt đầu
từ chữ cái thứ nhất . 34
14. Đọc thơ chiều
cuối năm . 36
15. Sợ . 38
16. Đi trong vườn
phong lan . 39
17. Nhặt những
câu băo thổi . 42
18. Thật thà
chuyện tṛ với con khi c̣n phôi thai . 43
19. Nhặt những
câu băo thổi khác . 45
20. Trầm uất,
bàng hoàng lí giải về ḿnh, khi cái nh́n đă khác . 46
21 - 26. Những
câu bất chợt thở ra khi g̣ lưng vắt sổ:
21. Nét duyên và thơ . 55
22. Đáng sợ . 55
23. Nón lá . 56
24. Nghệ thuật và cứu rỗi . 56
25. Cơi thơ dân gian . 57
26. Thoảng hương ca dao . 57
27. Bởi bị xô vào
vở kịch ''hoang tưởng bị bức hiếp và bị bôi nhọ'' . 58
28. 1983, người
bị đánh thuốc kích động . 60
29. Những sợi
thần kinh . 61
30. Thơ và lửa .
63
31. Đừng lo cho
con mẹ ơi . 64
32 - 37. Thơ bốn
nhánh chữ:
32. Xa lạ với chính ḿnh . 65
33. T́nh ngây ngô non yểu . 65
34. Mở cửa . 66
35. ''Đoạn đường không vui'' . 66
36. Những đầy tớ của nhiều người c̣n
nghèo .67
37. Hít-le và tôn giáo . 67
38. Tự an ủi . 68
39 - 40. Tỉnh
giấc:
39. Thần tượng sụp đổ . 69
40. Thần thánh tự phê . 69
41. Đêm nh́n lại
. 70
42. Hương mùa cổ
ngày xuân mới
(tám cặp câu đối Tết) . 71
43. Chân dung một
gă làm thơ . 75
44. Pho tượng
người con gái có tên Phan Thiết... . 76
45. Truyện về
Kiều không phải Kiều . 79
46. Những vườn
trầu cau, những cánh rừng cao su .82
47. Tấm ḷng . 85
48. Với những
người bạn bông đùa bên hồ Hoàn Kiếm. 86
49. Ngẫm khổ đế,
tản mạn niềm viễn tưởng
quanh chùa Một Cột . 88
50. Vu vơ chiều
Văn Miếu, trường đại học ngh́n xưa . 92
51. Quảng Trị,
trăng Bàu Vịt .96
52. Một ư thu đă
cũ . 99
53. Nhà sao . 100
54. Cầu nối những
chân trời . 101
55. Định cư . 103
56. Ngồi ở quán
bia . 104
57. Chạm vào hư
không . 107
58. Cứ sống hết
ḿnh, ngày mai . 108
59. Ca dao trăng
và hẹn . 109
60. Đến với những
ngày tháng trong lành . 110
61. Thơ và hai
chữ T́nh Yêu viết hoa (thơ bạt ) . 111
62. Niềm tin vào
lương tri (thơ bạt) . 113
* PHẦN HAI:
Giọt mực xanh trên cánh đồng xanh
63. Ngụm nước
dưới chân cầu Tiên An . 119
64. Thơ t́nh của
người du kích . 120
65. Hồn hậu chút
niềm ca dao đất mới của người
lính ngụy thương mến . 122
66. Quê hương
trong giọt sữa mẹ . 123
67. Tạ ơn ca dao
. 125
68. Đến bao giờ .
126
69. Tập quân sự .
130
70. Bài thơ Đông
Hà . 131
71. Sáng tháng
giêng ở g̣ Đống Đa . 135
72. Màu xanh trên
trảng đất không quên . 142
73. Mùa thanh
niên . 145
74. Mái tranh .
148
75. Tôi hiểu tôi
đă yêu em . 152
76. Một tuổi ḥa
b́nh . 155
77. Anh bộ đội
giữa đất đỏ rực rỡ . 158
* PHẦN PHỤ
LỤC MỘT:
Dăm
phiến tâm linh của núi sông trời đất
(chuyển
thể và cảm b́nh thơ cổ)
Thơ ngỏ
. 163
1. Bài hát ngắn
đi trên cát (Cao Bá Quát) . 165
2. Thấy người
ngoài Bắc đến, hỏi chuyện quê cũ
(Cao
Bá Quát) . 167
3. Đọc truyện kí
về Tiểu Thanh (Nguyễn Du) . 168
4. Vọng âm khi
đứng trên bục giảng:
Độc
Tiểu Thanh Kí (cảm b́nh, thơ) . 169
* PHẦN PHỤ LỤC
HAI:
Bút kí
Giữa ṿng tay Tam Kỳ và bè bạn
* MỤC LỤC . 199
* VÀI NÉT VỀ TÁC
GIẢ . 204
VÀI NÉT VỀ
TÁC GIẢ
TRẦN XUÂN AN
- Lọt ḷng mẹ
ngày mười tháng mười một năm một chín
năm sáu, tại
Kinh Thành nội, Huế.
- Nhân tộc: Kinh (Việt Nam)
- Quê cha: Trúc
Lâm và Nhĩ Trung, Gio Linh (gốc
Nguyễn, An Cư,
Triệu Phong), Quảng Trị
- Quê mẹ: Thượng
Xá, Hải Lăng, Quảng Trị
- Cử nhân khoa sư
phạm ngữ văn tiếng Việt (ĐHSP.
Huế, 1974 -
1978)
-
Dạy học tại Lâm Đồng, 1978 - 1983;
-
Hiện nay, chuyên sáng tác, nghiên cứu,
tại Tp. HCM.
(hội viên Hội
Nhà văn TP. HCM.).
Đăng thơ và được diễn ngâm trên các
báo và tạp chí (in,
phát thanh);
Góp mặt trong nhiều tuyển thơ xuất bản
tại các tỉnh và
thành phố trong
nước.
Tác phẩm đă
xuất bản:
1.
Nắng và mưa, thơ, Hội VHNT. Quảng Trị,
1991.
2. Hát
chiêu hồn ḿnh, thơ, Nxb. Đồng Nai, 1992.
3. Tôi
vẫn ở trên đường, thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1993.
4. Lặng
lẽ ở phố, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
5. Kẻ
bị ném vào băo, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
6. Hát
với đời ơi thương mến, thơ, Nxb. Trẻ, 1996.
7. Quê
nhà yêu dấu, trường ca thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1998.
8. Có
một nơi lá măi xanh, tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 1999.
9. Ngôi
trường tháng giêng, tiểu thuyết, 1998; Nxb. Thanh Niên, 2003.
10. Sen
đỏ, bài thơ ḥa b́nh, tiểu thuyết, 1999; Nxb. Thanh Niên, 2003.
11.
Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường,
truyện sử kí, trọn bộ bốn tập, hai tập I & II, 2002, hai tập III & IV,
2003; Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 2004.
12. Ngẫu hứng
đọc thơ, 2004; Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 2005
Tác phẩm đă
hoàn tất bản thảo (*):
13.
Mùa hè bên sông, tiểu thuyết, 1997;
bản đă sửa chữa và bổ sung, 2001 & 2003.
Web Giao Điểm,
6-2005:
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm
14.
Thơ những mùa hương, thơ.
15.
Giọt mực, cánh đồng và vở kịch điên, thơ.
16.
Nước mắt có vị ngọt, tập truyện ngắn liên
hoàn, 1999.
Soạn phẩm biên
khảo đă hoàn tất bản thảo (*):
17.
Nguyễn Văn Tường (1824 - 1886), thơ -
Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng
(biên soạn, nghiên cứu, phản bác, và
tập hợp một số bản dịch, bàI nghiên cứu văn học, sử học về NVT.),
2000.
Web Giao Điểm,
8-2005:
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm
18.
Tiểu sử biên niên Ḱ Vĩ phụ chính đại
thần Nguyễn Văn Tường, ''kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp'',
(từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết,
phần I, 2001.
19.
Những trang Đại Nam thực lục về Ḱ Vĩ
phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 - 1886) và các sự kiện thời
ḱ đầu chống thực dân Pháp ...
(Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên
dịch Viện Sử học VN.), chọn lọc, phần II, 2001
20.
Nguyễn Văn Tường (1824 - 1886), ''những người trung nghĩa từ xưa,
tưởng không hơn được'',
khảo luận và phê b́nh sử học, 2002.
Web Giao Điểm,
5-2005:
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm
21. Suy nghĩ về
một số vấn đề trong lịch sử cổ đại nước ta, 2003.
Web Giao Điểm,
8-2005:
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm
22. Tiểu luận, Tạp
chí điện tử Giao Điểm, 2005
Tặng thưởng,
giải thưởng:
1. Báo
Văn nghệ giải phóng, 1975.
2. Giải
sáng tạo trẻ, 1991.
(*) Tất cả các
tác phẩm, soạn phẩm biên khảo đă được xếp chữ vi tính, ấn hành từ phạm
vi 10 đến 20 bản sách (gửi các nhà xuất bản, các nhà nghiên cứu, các
người bà con và một số bạn thân), trong khi chờ giấy phép và điều kiện
để có thể xuất bản rộng răi. TXA.
Tác giả giữ bản quyền
từng chữ, từng ư tưởng của ḿnh.
Trân trọng và thành thật biết ơn.
Xin t́m xem
tất cả các tác phẩm khác của tác giả.
Nhà Xuất bản:
2003
Chịu trách nhiệm
xuất bản:
Biên tập:
B́a:
Chữa bản in:
In 1.000 cuốn,
khổ 13x19 cm,
tại xí nghiệp in:
Số đăng kí kế
hoạch xuất bản:
do Cục Xuất bản
cấp ngày:
Quyết định xuất
bản số:
In xong và nộp
lưu chiểu trong tháng:
Giá:
Tập thơ này do anh Lê Kư Thương và chị
Cao Thị Kim Quy xếp chữ vi tính
từ bản thảo đánh máy chữ của Trần
Xuân An,
vốn theo hệ QuartXpress, font VnTimes,
vào tháng giêng 1998.
Tác giả tự chuyển qua hệ Word 2000, font
VnTimes,
vào tháng tư 2003 (tháng 3 Quư mùi HB.
3), để tiện dụng.
Số trang, vị trí từng đoạn thơ
y như bản thứ nhất.
Bản thứ hai này có sửa chữa lại một số
chữ.
Tháng 5-2005, chuyển sang hệ mă Unicode.