TRẦN
XUÂN AN
m ù
a
h è
b
ê n
s
ô n g
(nỗi đau hậu chiến)
tiểu thuyết
nnhà
xuất bản
1997 & 2003
CHƯƠNG XII
1
Về đến nhà, Hiền Lương đọc lại bài “Truyền
Thuyết Về Khát Vọng Cứu Rỗi” một lần nữa. Cô ngẫm nghĩ, lại đọc lướt qua
nhiều bài thơ khác viết về các tôn giáo, triết thuyết khác, và thấy tất cả
đều được viết với quan điểm vô thần, xă hội chủ nghĩa, một cách rất Việt
Nam, theo hướng tiếp cận trực tiếp vào kinh điển, với nhăn quan văn hóa
học, với cách cảm nhận có sáng tạo riêng, một cách rất thơ ca. Rồi Hiền
Lương không thể không đọc lại bài thơ về Giê-su, đọc đến hàng chục lần.
Thơ của Trần Nguyễn Phan.
Cơm nước xong, dọn rửa xong, Hiền Lương lại
ra chái đầu hồi dưới gốc trứng gà rợp bóng mát, lặng lẽ mắc vơng.
Hiền Lương tự gợi nhớ, xáo tung kí ức để
t́m lại những ǵ cô đă trao đổi, bàn luận với cha cô. Hiền Lương lại suy
ngẫm những ǵ Hành với cô đă bàn chuyện về Giê-su mới đây (II.15).
Tại sao thế nhỉ! Dẫu vấn đề cũ rích, Hiền
Lương không phải mới lần đầu xới lật vấn đề này, nhưng cô vẫn ngẩn ngơ tự
hỏi tại sao. Trong một tháng về quê nội, hai chữ tại sao lần này như vang
lên trong cô, khi đọc thơ người đồng hương.
Một hôm, lâu lắm rồi, lúc cô mới học năm
thứ nhất đại học, chú Nông nh́n thẳng vào mắt cô, khẽ nói:
- Dạo này, ba thấy báo chí có cởi mở, dân
chủ hơn. Đó là điều đáng mừng, rất đáng mừng. Văn học cũng cần cởi mở, dân
chủ. Trên sách báo, thực tế đă có một phong trào văn chương tâm linh, tôn
giáo. Có lẽ nên và chỉ nên xem tôn giáo như một h́nh thái văn hóa, triết
học, không nên thần bí, siêu h́nh, duy tâm.
Chú Nông chỉ lên bàn thờ trong gia đ́nh.
Trên một tấm bê tông mỏng, tượng Đức Mẹ Ma-ri-a, Thánh Giu-se đứng hai bên
Thánh giá Chúa Giê-su. Thoáng ch́m vào hồi tưởng, chú nói:
- Năm bảy mốt, linh mục rửa tội cho ba đă
nói điều nhức nhối là Thiên Chúa giáo đă góp phần đẩy dân tộc Do Thái vào
chỗ mất nước hai ngàn năm nay, và điều nhức nhối nhất, ấy là về lịch sử
giáo hội Việt Nam với sự mất nước của dân tộc ḿnh vào tay Pháp và Mỹ, mặc
dù giáo dân nào cũng “yêu nước”(!), yêu nước nhưng cam tâm làm nô lệ.
Chú Nông lại chỉ tay vào tủ sách, ở nơi
hàng trên cùng là những cuốn sách sử học. Lại nh́n vào mắt của cô con gái
út, chú Nông nói:
- Tủ sách của nhà ḿnh có nhiều cuốn về sử
học, ít nhiều con đă đọc. Ba cũng đă thảo luận với con về vấn đề Thiên
Chúa giáo ở nước ḿnh, nhất là trong thời “b́nh Tây sát tả” của cuộc chiến
tranh một trăm mười bảy năm (1858 - 1875). Thật ra, từ một bốn năm tư
(1454), giáo hoàng Ni-cô-la V (Nicolas V), từ một bốn chín ba (1493), giáo
hoàng A-lếch-xăng VI (Alexandre VI) đă ra sắc chỉ xâm lược... Sự kiện
“b́nh Tây sát tả” đă diễn ra từ năm một sáu tám sáu (1686) ở nước ḿnh,
nhưng ba chỉ giới hạn lại như thế. Theo con, những bộ sách nào đáng đọc và
đáng suy nghĩ nhất? Bộ sách nào có giá trị khoa học nhất?
Hiền Lương mỉm cười thưa:
- Dạ, thưa ba, “Đại Nam Thực Lục”,
từ kỉ đệ tứ đến đệ lục (I.103, II.19), vẫn là tư liệu chuẩn cứ, đáng tin
cậy nhất, kế đó là cuốn “Nước Đại Nam Đối Diện Với Pháp Và Trung Hoa”
của giáo sư tiến sĩ Nhật Bản T-su-boi (Yoshiharu Tsuboi), trong đó có
những tư liệu chưa công bố của Pháp. Nhưng con thấy đa số người không
chuyên nghiên cứu vẫn tin tưởng vào “Việt
Nam Sử Lược”
của Trần Trọng Kim! Có lẽ, ở Miền Nam
trước đây, Trần Trọng Kim có uy tín học giả quá lớn! Thực chất, ông ta
cũng sa-đích ít nhiều.
Chú Nông cười:
- Đọc Việt Nam Sử Lược, phải biết
cách đọc. Quan điểm của Trần Trọng Kim rất sai ở những chỗ mạt sát sĩ phu
Văn thân, lại thỏa hiệp việc truyền bá Thiên Chúa giáo chăng? Và ông ta
bôi nhọ Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết về nhân cách đạo đức quá đáng!
Dẫu vậy, Trần Trọng Kim vẫn không thể phủ nhận ḷng yêu nước và tinh thần
chủ chiến của hai nhân vật lịch sử này, và nhất là không thể phủ nhận
Nguyễn Văn Tường vẫn kiên định lập trường không chịu bị “bảo hộ”, không
chịu làm tay sai cho giặc Pháp như Nguyễn Hữu Độ, Phan Đ́nh B́nh, ngay khi
kinh đô Huế đă thất thủ. Nói cho đúng sự thật lịch sử, tội ác của Thiên
Chúa giáo là không thể bào chữa, ngụy biện được. Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết vẫn là hai anh hùng bi tráng. Thôi, gác lại chuyện đó. Ba muốn
nói về bản chất Kinh Thánh...
Bấy giờ, Hiền Lương thưa với ba của cô:
- Con xin nhờ ba giải thích rơ hơn.
Chú Nông trầm tư, và nói:
- Do Thái mất nước có nhiều lí do. Theo Cựu
ước, Đức Chúa Trời hứa hẹn là sẽ có một Cứu Chúa, con một của Ngài, xuống
thế để cứu chuộc dân tộc Do Thái với cả nhân loại. Thật ra, đấy chỉ là
khát vọng của dân tộc Do Thái phản ánh vào tôn giáo, thành lời tiên tri,
mặc khải, thế thôi. Và đă có nhiều Cứu Chúa, nhưng chỉ có Giê-su là được
nhiều người công nhận, tin tưởng là Cứu Chúa thật. Giê-su thực hiện đúng
theo Cựu ước. Điều đó ai cũng biết, nhưng phải nh́n nhận Giê-su đồng thời
là nhà cải cách tôn giáo nữa. Chính cuộc cải cách Do Thái giáo đă tạo ra
sự phân hóa trong dân tộc Do Thái. Một số bảo thủ chống lại Giê-su. Một
số khác từ Do Thái giáo lập ra Ki-tô giáo. Phái bảo thủ đàn áp phái cải
cách. Hai bên chống nhau, do đó, mất đoàn kết. - Chú Nông nói tiếp -. Dân
tộc Do Thái vốn gốc I-rắc di cư sang, khởi từ A-b-ra-ham, thủy tổ, đến
Đa-vít, vua thông tuệ, mới lập quốc được, sau đó bị chia rẽ Bắc,
Nam. Đến thời Chúa Giê-su, dân tộc Do Thái đang nằm dưới ách La Mă. Đang bị
nô lệ, lại phân liệt ra làm hai phái, nên Do Thái suy yếu càng suy yếu.
Trong sách Công vụ các sứ đồ, có đoạn, một tông đồ trong một giấc mơ, hỏi
Chúa Giê-su, Chúa có ư định phục hồi nước Ít-x-ra-en không, Chúa bảo, hăy
truyền bá Tin mừng Phúc âm khắp trái đất đă, rồi hẵng phục hồi. Đấy có lẽ
là giấc mơ hồi ức. Lời đáp của Giê-su trong giấc mơ ấy là một nguyên nhân
khiến đa số người Ki-tô giáo bỏ nước ra đi. Nguyên nhân thứ hai, dân tộc
Do Thái vốn rất mê tín vào Kinh Thánh. Di dân, lập quốc, phiêu tán, họ đều
tin vào sự “mặc khải”. Sự mặc khải, tiên tri, vốn như sấm Trạng Tŕnh của
người Việt. Nhà Mạc, nhà Nguyễn tin và thực hiện theo sấm: ... “Cao
Bằng tuy nhỏ, nhưng cũng nương thân được vài đời”, “Hoành Sơn một dải, [ở
phía nam,] vạn đời là chốn dung thân...”. Trong Kinh Thánh, có một dự
cảm trầm uất, bi quan thế này: “Khi mà dân tộc Ít-x-ra-en bị trục xuất
ra khỏi xứ th́ xứ sẽ bị hoang phế, không có dân cư”. Đó là dự cảm
chính trị đầy tính chất bất hạnh. Cả dân tộc Do Thái tin theo, nhất là do
sức mạnh của thần quyền... Chúa Giê-hô-va nói, sai được sao! Lời “tiên
tri” ấy trở thành Định mệnh của dân tộc Do Thái. Từ đó, có người Do Thái
lưu vong, truyền đạo, khởi đầu mầm mống để h́nh thành nên các nước khác
theo Ki-tô giáo... Đế quốc La Mă độc ác với họ đă đành, c̣n chính họ vô
thức hay ư thức phiêu tán theo Định mệnh ấy nữa... Hồi trẻ, ba có đọc một
cuốn sách của Nguyễn Hiến Lê... - Chú Nông lại nói tiếp -. Ba cần nói rơ
hơn điều này: Sự h́nh thành của các nước theo Ki-tô giáo, ngoài lẽ đó,
c̣n v́ một lẽ khác quan trọng hơn, đó là hoàng đế La Mă đă sử dụng Ki-tô
giáo, sau khi sa-đích, để làm công cụ tâm linh - chính trị, trong quá
tŕnh xâm lược và củng cố đế quốc La Mă ở Âu - Trung Á...
Hiền Lương suy nghĩ. Cô lại hỏi ba:
- Thưa ba, mê tín vào sự bất hạnh dẫn đến
hậu quả thê thảm đến vậy. Nhưng cũng nhờ Cựu ước, dân tộc Do Thái không
mất gốc. Họ lai máu huyết nhưng vẫn giữ được truyền thống dân tộc?
- Đúng. Hai mặt, tích cực và tiêu cực.
- Ba chống đối cải cách?
Chú Nông cười to:
- Ba khao khát Đổi mới thế nào con đă biết.
Đổi mới hay Cải cách cũng là một nghĩa. Sao con hỏi vậy?! Vấn đề là Cải
cách trên một nền tảng vững chắc, ấy là “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”...
Cải cách mà không đoàn kết, sẽ phân hóa, chia rẽ và suy vong. Dẫu sao,
cuộc cải cách nào cũng dẫn đến sự phân hóa. Giê-su nói: “Ta đến, không
phải mang đến b́nh an, mà mang tới gươm giáo. Ta đến để chia rẽ con trai
với cha, con gái với mẹ, con dâu với bà gia... Người ta đều có kẻ thù
nghịch là người trong gia đ́nh của ḿnh... Ai yêu cha mẹ hơn ta, th́ không
xứng đáng để theo ta, ai yêu con trai, con gái hơn ta, th́ không xứng đáng
để theo ta... Ai tin ta th́ vác thập giá của ḿnh mà theo ta” (Ma-thi-ơ:
10 : 34 - 38). Đại để như vậy. Và, “kẻ đứng đầu sẽ trở thành kẻ sau
rốt, kẻ sau rốt sẽ đứng đầu”. Câu thứ nhất là đấu tranh ư hệ trong
từng gia đ́nh: mới, cũ; tiến bộ, lạc hậu. Câu thứ hai là cách mạng xă hội:
vua thành nô lệ, nô lệ thành vua... Trở lại vấn đề, Đổi mới không phải là
để suy đồi, học mót trụy lạc Phương Tây!
Hiền Lương thấy táo bạo quá, cô khẽ rùng
ḿnh.
- Đă nghe nhiều lần trong nhà thờ, nhưng
giờ nghe ba giảng, con nổi da gà. Cứ như chuyện sử kí!
Chú Nông cười buồn:
- Giê-su hơi quá khích, do đó, chết v́ quá
khích. H́nh như ông ta cố t́nh quá khích để chết cho đúng lời Cựu ước.
Phi-la-tô giết ông ta một cách rất khéo, rất chính trị. Y khử được một nhà
cách mạng như thể chiều theo ư nhân dân bị trị, th́ khéo thật, rất thâm
độc mà quá khôn! Phi-la-tô lại rửa tay chối bỏ trách nhiệm. Sau khi bọn
giả h́nh, tức là bọn ngụy Do Thái, sỉ nhục Chúa bằng cách đóng trên đầu
Chúa vương miện hoàng đế bằng gai nhọn, y cho đóng cả tấm biển “Vua
Ít-x-ra-en” trên đầu thập giá! Đạo diễn một phiên ṭa tử h́nh rất mực
thực dân, khôn khéo! Nhưng bản thân Giê-su cũng muốn “tự sát” bằng cách
quá khích để đúng kịch bản Cựu ước!... Ḍng dơi vua Đa-vít! (...). Hài
hóa bi kịch, rất đau.
Hiền Lương thấy hăi hùng với những thủ đoạn
chính trị.
- Nhưng như ba đă nói vừa rồi, có thể Tân
ước đă bị sa-đích, thưa ba.
- Đúng. Sau đó một vài thập niên, nhà thờ
Ki-tô giáo đă được xây dựng ở thủ đô La Mă, và sau vài ba thế kỉ, chính
các hoàng đế đế quốc La Mă lại theo Ki-tô giáo. Họ nắm lấy một sức mạnh,
và sa-đích! Hiện nay, Kinh Thánh có dấu vết sa-đích rất rơ. Có đoạn, có
câu mới phục hồi từ bản gốc, trong dấu móc vuông: [ ], như đoạn “Người
Đàn Bà Ngoại T́nh” chẳng hạn. Bản cũ nhất được lưu hành không có,
nhưng bản gốc th́ có.
- C̣n ai tin ǵ nữa mà bảo đức tin! - Hiền
Lương buột miệng, thở dài.
Chú Nông cười, lắc đầu:
- Kinh điển tôn giáo nào cũng thế. Cái ǵ
đọc thấy có lí th́ tin, vô lí th́ vứt. Kinh Thánh là pho sách cổ có nhiều
điều hay, vẫn có thể đăi cát t́m vàng được. “Tận tín thư bất như vô thư”
mà.
Chú Nông bật lửa, châm thuốc. Chú ngă người
tựa vào vách nhà, lơ đễnh nh́n khói thuốc bay ra khung cửa mở.
- Con rùng ḿnh nhất là mê tín vào lời tiên
tri bất hạnh. Xem ra, dân tộc Do Thái giống nàng Kiều nước ḿnh quá. Kiều
là một cô Tàu đă được Việt hóa bởi Nguyễn Du. Nguyễn Du “lách”, mượn
chuyện kĩ nữ nước ngoài để nói lên số phận của kẻ sĩ trong nước, giữa và
sau thời băo táp, Trịnh - Nguyễn, Tây Sơn - Lê, Trịnh phân tranh...
Chú Nông giật ḿnh, ngồi thẳng người:
- Con liên tưởng rất hay. Đúng như vậy thật...
Ồ, cụ thể là “hồng nhan bạc mệnh”, “tài mệnh tương đố”; hai ngạn ngữ ấy có
cơ sở xă hội của nó. Nhưng dẫu sao cũng phải nuôi dưỡng ḷng lạc quan,
đừng để tư tưởng bi quan định mệnh, những lời bói toán quàng xiên d́m chết
đời ḿnh, một cách vô thức hoặc có ư thức... Ờ, Kiều, là tiếng kêu đ̣i
nhân phẩm, không phải số phận dân tộc.
Hiền Lương cứ luôn gồng ḿnh chống chỏi với
tư tưởng định mệnh bi quan ấy. Nhưng hôm ấy, nghe ba ḿnh lại nhắc, cô mỉm
cười, tự bảo, sao cứ măi sợ một “ám ảnh sợ” rất sách vở, luôn luôn sợ một
“nguy cơ”! Biết vậy, cô vẫn nghĩ, hăy cảnh giác với tư tưởng bi quan,
nhưng cố điều chỉnh sao cho sự cảnh giác đừng biến thành “ám ảnh sợ” khôn
nguôi, thành một loại bệnh tâm lí.
Đang liên tưởng, nghĩ ngợi, Hiền Lương lại
chợt nghe tiếng chú Nông:
- Con có biết v́ sao Ki-tô giáo ở châu Âu
tàn sát Do Thái giáo không?
- Ba giải thích thêm cho con, thưa ba.
- V́ Do Thái giáo bị xúi giục, bị kích động,
đ̣i giết Giê-su. Dân Ki-tô giáo châu Âu muốn giết hết dân Do Thái giáo và
có thể mọi người có tí chút máu huyết Do Thái, cho dù theo tôn giáo nào,
để chỉ c̣n lại mỗi một gia đ́nh Giê-su với bộ Cựu ước - Tân ước. Dân tộc
ấy được vinh quang sinh ra Giê-su, chính dân tộc ấy phải bị đọa đày, bị
tiêu diệt!? Điều đó cũng “ứng” bởi Kinh Thánh, kể cả phúc âm bí truyền:
“Bao giờ dân Do Thái trở về từ khắp nơi trên thế giới để lại lập quốc trên
Đất hứa, sẽ đến Ngày Phán xử cuối cùng”, “tận thế”. Nếu hiểu một khía
cạnh của câu ấy, th́ đó là “định mệnh” phiêu tán để bị đánh đuổi, bị tiêu
diệt, phải trở về cố quốc của dân tộc Do Thái. “Ngày ấy... sẽ chẳng đủ
hai ngàn năm”. Năm nay, đă là năm một ngàn chín trăm chín ba rồi, sao
chưa thấy “tận thế”? Ngày Phán xử cuối cùng cũng chẳng thấy? Sao Giáo hội,
thực quyền là ở Ṭa thánh Va-ti-căng, không đạo diễn một Cuộc Phán xử cuối
cùng cho “linh ứng” nhỉ?! Trước mắt là chủ nghĩa thực dân cũ, đế quốc mới
của tư bản phải bị xử!
- Theo con biết, người châu Âu tàn sát
người Do Thái là v́ dân tộc Do Thái thông minh nhất thế giới chứ ba? C̣n
thuyết “tận thế”, Ngày Phán xử cuối cùng, có thể hiểu là bước sang
kỉ nguyên mới...? Và... tận thế, trong Tân ước, rơ là Chúa cứ bảo “sắp
đến ngày”, cứ “sắp” măi! May chẳng đến. Trái đất vỡ tan th́ buồn quá.
- Bởi v́ người Do Thái cực nhục quá, nên họ
phải rất keo kiệt và phải thông minh. Chưa có dân tộc nào bi thảm như vậy.
Có lẽ hoàn cảnh buộc họ phải cố làm giàu, học thật giỏi để tồn tại. Và
chính càng cho vay nặng lăi, càng giàu, càng học, càng giỏi, họ lại càng
bị ghen ghét. Bi thảm là ở chỗ đó. Chính Các Mác cũng gốc Do Thái, người
Đức gốc Do Thái, h́nh như đạo Chúa nữa.
- Kinh Thánh có nhiều yếu tố của cuộc cách
mạng vô sản, xă hội chủ nghĩa. Con đă biết điều đó... Nếu chỉ căn cứ trên
văn bản Kinh Thánh và giáo lí theo thần học La Mă, rơ là Chúa Giê-su thỏa
hiệp với đế quốc và chỉ tử v́ đạo, v́ Nước Chúa trên trời mà thôi. Nhưng
tại sao Chúa Giê-su thỏa hiệp với đế quốc lại được tôn sùng khắp thế giới
như thế? Tiểu sử và tư tưởng cũng thường thôi, lại dung tục, quá khích
nữa.
Chú Nông ném mạnh mẩu thuốc tàn, nhưng vội
nhặt lên gí vào chiếc b́nh gạt nhỏ đặt trên bàn. Chú thấy h́nh tượng đa
nghĩa nên dễ mâu thuẫn.
- Nhu cầu tín ngưỡng! Thần quyền được thế
quyền, chính quyền đế quốc hỗ trợ, bởi sự cần thiết của ảo tưởng tôn giáo
cho mỗi người, cho xă hội, cho sự chuyên chính của nhà nước phong kiến, tư
sản, đế quốc. Vả lại, h́nh như người Phương Tây không nhạy cảm lắm về vấn
đề độc lập dân tộc, và v́ công cụ tâm linh - chính trị này rất tinh vi. Cả
thế giới mù quáng. Ba cũng thế, v́ nó quá tinh vi... Đặc biệt là mẹ của
con... Nhưng, ba muốn nói đến khía cạnh khác: Giê-su là người vô gia đ́nh.
Giê-su phủ nhận Ma-ri-a là mẹ, không gọi là mẹ, mà gọi là “người đàn
bà”, và chỉ xem các tông đồ là mẹ, là anh em của ḿnh. Có lẽ Giê-su
nghĩ ḿnh là Thiên Chúa, và đă là thiên tử thật, không thể có mẹ là người
phàm! Cũng có thể Giê-su đă thoát li gia đ́nh một cách quyết liệt v́ mặc
cảm... gia đ́nh. Nhưng xét ở mặt nào đó, ông ta có tư tưởng vừa rất phong
kiến, vừa quá dân chủ, đến thế kỉ này vẫn c̣n làm kinh ngạc nhiều người.
Đúng, hiểu một cách hiện đại, người mẹ đích thực của Giê-su là nhân dân
cùng khổ, nhân dân cùng khổ là anh em của Ngài. Đấy không phải là tư tưởng
tầm thường... Không phải Chúa mặc cảm nghèo...
Hiền Lương mỉm cười. Cô nhơng nhẽo, không
hiểu hết ư chú Nông:
- Ba có cho con thoát li gia đ́nh không?
Chú Nông cười đến sặc. Nghỉ mệt một lúc,
chú vờ nghiêm giọng:
- Xin mời con gái của ba ra khỏi nhà tức
khắc! Cửa nhà này luôn luôn mở cho những ai muốn ra đi, nhân danh độc lập,
tự do cho mỗi người. Nhưng, liệu con có đủ bản lĩnh chưa? Cạm bẫy giăng
đầy!
Hiền Lương cũng cười thật gịn. Cô biết ba
đang đùa. Hiền Lương hiểu, trong gia đ́nh ḿnh, ba là người thương cô nhất
mặc dù ông luôn luôn tỏ ra công bằng với hai người chị của cô.
Chú Nông chợt cười mỉm :
- Bộ con ưa đi lấy chồng rồi sao?
Lần này, câu hỏi của ba làm cô đỏ mặt.
- Ba ác quá, đuổi con sớm thế?
- Th́ con xin! Nói chung, con cái lấy
chồng, lấy vợ là đă thoát li rồi.
Hiền Lương sau phút mắc cỡ, cô nói:
- Không. Con muốn vừa đi làm, vừa đi học,
vừa thuê nhà ở nơi khác, và không bao giờ gặp lại ba mẹ, hai chị, không
bao giờ đi xem lễ ở nhà thờ nữa, bỏ đạo dứt khoát, nghĩa là thoát li tuyệt
đối.
Chú Nông sững người, tṛn mắt kinh ngạc.
Chú im lặng, nghĩ ngợi một lúc khá lâu.
- Oằc tự lực như thế rất tốt. Nhưng... con
mặc cảm về ba à? - Giọng chú Nông chùng xuống -. Ba không xứng đáng là cha
của con sao?! V́ thời cuộc, đâu phải v́ ba! - Chú Nông nói một ḿnh, nói
với chính ḿnh.
Hiền Lương biết cô vô t́nh chạm vào nỗi đau
đời của ông... Thời cuộc đă làm nhỡ cả một đời người, và bao nhiêu đời
người như ông! Có lẽ không nỗi nhục nào lớn hơn là bị làm giặc ngay chính
trên quê hương, Tổ quốc ḿnh. Hiền Lương hiểu điều đó v́ đă bao lần cô
nghe tiếng thở dài, nh́n thấy nếp hằn trên trán ba, chứng kiến những chén
rượu suông hoặc các cuộc nhậu cay đắng của ba với bạn bè ba... Hiền Lương
bỗng hối hận, chẳng ngờ cô thốt ra một ư tưởng chẳng hiểu từ đâu h́nh
thành trong tâm tư ḿnh như ước vọng, đă khiến chú Nông buồn đến vậy. Chú
Nông lại bật lửa, châm thuốc, lặng thinh, và bỗng dưng cười một ḿnh, chua
chát. Hiền Lương cảm thấy hoảng sợ trước tiếng cười ấy. Cô mấp máy môi
định nói, cô chỉ nhơng nhẽo thôi, nhưng chú Nông nh́n thẳng vào con gái
ḿnh:
- Ba nhất trí, nếu quả thật con thấy thoát
li tuyệt đối như thế là tốt.
Hiền Lương thấy giọng ḿnh nghẹn lại, cô đỏ
bừng mặt, lúng túng.
Chú Nông nói nhanh :
- Con đi lo việc của con đi!
Hiền Lương bước đi như cái máy đă được ra
lệnh. Chú Nông chợt thấy giọng nói ḿnh gay gắt quá.
- Ba xin lỗi con... - Chú hơi sững sờ nh́n
theo Hiền Lương.
Cô bước vào pḥng, chẳng buồn bật đèn, ngă
người, lại trở ḿnh úp mặt vào gối. Hiền Lương khóc, như một đứa trẻ bị
đ̣n oan.
Một lúc, cô chợt ḱm lại những giọt nước
mắt, rời khỏi giường, bật đèn, t́m chiếc khăn lau vội và ngồi vào bàn học.
Hiền Lương ngồi sững.
Bây giờ, nhớ lại, cô không thể không tự mỉm
cười. Hiền Lương khẽ đong đưa chiếc vơng, ngước mắt nh́n tán lá trứng gà
xanh thẫm đang lay đập trong gió nam nóng. C̣n một chiều hôm nay, một ngày
mai, một ngày mốt nữa, cô và mẹ sẽ rời quê nội với chuyến tàu khuya, rồi
ba mươi mấy tiếng đồng hồ nữa, Hiền Lương sẽ gặp lại ba và Thủ Dầu Một.
Hiền Lương bâng khuâng nhớ nhà, nhớ bạn bè, lối xóm.
Hiền Lương đâm ra ngán ngẫm cho đầu óc cô
quá. Chẳng hiểu sao, như ma ám, ra với ḍng sông Bến Hải này, cô tự thấy
ḿnh hành hạ chính ḿnh quá đáng. Xới lật bao vấn đề đă cũ rích để làm ǵ!
Hiền Lương uể oải, nằm thừ người, kéo nhẹ sợi dây buộc vào cột hàng hiên
cho vơng đong đưa từng nhịp ru. Đang lim dim trong trạng thái ră rời,
trống rỗng, cô lại hoảng hốt giật ḿnh. Hai giọt nước mắt ứa ra. Chẳng lẽ
mười mấy bức tranh và bao nhiêu phác thảo đành phải đốt cháy? Hiền Lương
nấc lên khi h́nh dung ngọn lửa bùng với khói sơn dầu khét lẹt. Đống tro
than lăng quên! Ờ, đúng rồi, bao nhiêu người đă lăng quên. Biết lăng quên
là biết sống? Hiện tại và tương lai! Tất cả cho hiện tại và tương lai?
Không phải không có lịch sử. Không phải không có quá khứ của một đời
người. Kẻ chết đă chết. Kẻ già đă già. Chỉ có kẻ già, bước thêm dăm bước
là đến huyệt, là chẳng c̣n tương lai nữa? Chính họ là quá khứ. Hăy để quá
khứ lên tiếng. Vinh quang hoặc tủi nhục thuộc về họ và vết thương Bến Hải
này. Tại sao y bác sĩ kia chịu khổ h́nh? Tại sao cô và Hành, Bông Bưởi và
Nàng Hương chịu khổ h́nh? Quằn quại, cuồng điên đau đớn. Hồn nhiên, lắng
trầm đau đớn. Bỗng dưng, cô buồn quá về sự im lặng của quá khứ. Gỡ gạc,
biện minh một cách thiếu trung thực cũng tầm thường. Ông Nộp nói đúng: Đă
trót một đời sai lầm, cam tâm làm giặc cho Pháp và Mỹ, hăy chấp nhận sự
thật đời ḿnh, sự thật lịch sử. Đó là liêm sỉ cuối cùng. Hiền Lương thấy
ông Nộp là người mù chữ sáng suốt nhất, sáng suốt hơn bao kẻ vênh vang
tiến sĩ này, thạc sĩ nọ. Bất giác, Hiền Lương thở dài.
Có một điều Hiền Lương không biết, hay đă
nghe thím Cận kể rồi, đó là về nỗi bệnh ngoan cố.
Có vài câu ông Nộp thường xuyên nói, khi
th́ như quát lên cho con cháu, xóm làng nghe, nhưng không dám quát to, và
chỉ quát lúc một ḿnh, thành ra không ai nghe thấy cả, khi lại lầm thầm
một ḿnh như tự nhủ. H́nh như đó là những câu thần chú cứu khổ cứu nạn cho
đời ông: "Phản phong, phản đế, phản thần! Chống quân chủ, phong kiến;
chống thực dân, đế quốc; chống duy tâm, hữu thần! Tui thua Cách mạng lâu
rồi, thua ông Hiền, chú Học lâu rồi. Suốt cả cuộc đời thằng ngụy Nộp ni
theo giặc Pháp, giặc Mỹ thiệt, cũng có chịu lụy cố đạo "thập ác" cho qua
thời, qua buổi thiệt. Bởi v́ theo hai thằng giặc Pháp, giặc Mỹ nớ cũng như
theo hai thằng giặc Nga Sô, giặc Trung Cộng thôi. Phía mô cũng giặc. Bởi
v́ chịu lụy "tả đạo" th́ c̣n đ́nh, c̣n chùa, c̣n lư hương, bát nước thờ
cúng ông bà, tổ tiên, chứ theo Đảng vô thần, giặc vô thần th́ mất sạch
sành sanh, mất nước mất non, ruộng đất th́ chung chạ sinh bậy bạ, lại mất
cả hồn cả vía, ông bà không nhang không khói, lại đặt mấy thằng mắt xanh
mũi lơ với mấy thằng chệt Mác - Lê - Mao trên đầu trên cổ của cả dân tộc,
nhục đến rứa làm răng sống nổi! Xóm làng ai hiểu cho thằng ngụy Nộp ni th́
hiểu, con cháu đứa mô hiểu cho thằng cha ngụy, thằng ôông ngụy của bây th́
hiểu". Mỗi lần quát một ḿnh, không dám quát to v́ sợ bị tù, mặc dù rất
muốn cho xóm làng, cháu con nghe thấy để thông cảm, hoặc khi lầm thầm
trong miệng như niệm thần chú, ông Nộp thường trào nước mắt, đôi lúc khóc
ồ ồ rất thảm. Tuy vậy, cán bộ xă cũng biết! Có lắm lần chú Tập, bí thư xă,
trách ông Nộp già rồi mà c̣n bệnh ngoan cố! Nhưng chú Tập hiểu đó là nỗi
bệnh đâu chỉ riêng ở ông Nộp, mà của cả một cuộc chiến tranh dài dằng dặc,
từ Xô-viết Nghệ - Tĩnh (1930 - 1931) cho đến măi sau này. Chú Tập ôn tồn
bảo: "Chừ đ́nh làng, chùa chiền, ban thờ tổ tiên với lư nhang bát nước,
mọi thứ chi của ôông cũng đều có cả rồi. Rứa mà ôông c̣n nói ri, nói tê,
tui không chịu trách nhiệm mô nghe. Ôông c̣n quát một ḿnh, c̣n lầm bầm
trong miệng như rứa nữa, th́ chính ôông phải lên công an huyện để tự chịu
trách nhiệm trước pháp luật đó!". Nói vậy, có điều chú bí thư Đảng uỷ xă
cũng biết ông Nộp tuy sai điểm này, nhưng không phải không đúng điểm nọ,
nên chú Tập không khỏi cảm thấy đau đứt cả ruột. Đau đứt cả ruột, nhưng
chú Tập cũng bực bội không kém. Chú rủa ông Nộp trong bụng: Lăo ngụy cứ
ngụy biện!
Có lẽ Hiền Lương không biết nỗi bệnh đó của
ông Nộp thật, hay cô cho rằng cái chính là ông Nộp đă thừa nhận sự thật
lịch sử ở khía cạnh chủ yếu, cơ bản của nó, như cô vừa cả quyết khẳng định
trong chuỗi suy tư: Ông Nộp nói đúng. Đă trót một đời sai lầm, cam tâm làm
giặc cho Pháp và Mỹ, hăy chấp nhận sự thật đời ḿnh, sự thật lịch sử. Đó
là liêm sỉ cuối cùng.
2
Hiền Lương c̣n nhớ, năm chín lăm, bấy giờ
cô đang học năm thứ tư đại học, một buổi chiều, chú Nông và Hiền Lương đến
thăm gia đ́nh của vị cựu linh mục Quảng B́nh. Chiếc xe gắn máy bon qua
những đường phố rồi dừng lại trước cổng căn nhà quen thuộc, trong một con
hẻm ở Tân B́nh, một quận rộng nhất nh́ ở thành phố Hồ Chí Minh.
Thầy giáo Tiếng đă hơn bảy mươi tuổi. Thầy
đă cởi áo linh mục, lập gia đ́nh với một d́ phước cũng đă cởi áo nữ tu
(II.10), sau một thời gian t́nh cờ họ quen biết nhau ở đất Sài G̣n. Từ độ
đó, thầy Tiếng thuần dạy học, suốt hơn hai mươi năm nay. Thầy dạy tiếng
Pháp và quốc văn. Đă về hưu hơn mười năm rồi nhưng thầy vẫn tiếp tục dạy
cho một lớp đêm. D́ Lan cũng là nhà giáo, mới nghỉ hưu một năm, và vẫn dạy
kèm chương tŕnh tiểu học cho lũ trẻ hàng xóm. Ba người con của hai thầy
cô đă trưởng thành. Bây giờ, chỉ c̣n người con gái út ở với thầy cô - chị
Vân. Chị ấy đang làm ở một xí nghiệp dệt.
Hôm nay, ngày nghỉ cuối tuần, chị Vân ở
nhà. Chị nghe tiếng chuông, bước ra với một nụ cười thật tươi.
Dắt xe vào sân, dựng bên cạnh mấy chiếc gắn
máy khác, chú Nông hỏi thay một lời chào thân mật:
- Khách của thầy cô đến rồi hở Vân?
Đứng bên ḥn non bộ róc rách nước chảy, Vân
cười thật sáng:
- Dạ, thưa chú, khách quen thân cả. Cũng
mới đến cả ạ.
Thầy Tiếng đă đón sẵn ở cửa:
- Vào đây, anh Nông, Hiền Lương.
Bắt tay thân mật với những bạn trẻ và già
xong, chú Nông xin phép lui sau bếp chào cô giáo Lan. Cô giáo Lan vui lắm.
Giọng Cần Thơ của cô vẫn ngọt như đường:
-Vâng, vâng. Xin chào. Anh Nông cứ lên nhà
trên lai rai chút rượu với mấy ổng. Lát nữa cô sẽ lên.
Bàn rượu cũng chỉ là bàn trà pḥng khách.
Một tủ lạnh nhỏ bằng cái truyền h́nh đặt bên cạnh.
Thầy Tiếng mở tủ lạnh, lấy ra bốn lon bia,
một lon cô ca.
- Chúng ta bắt đầu nhé. Uả, Hiền Lương đâu
rồi? Hiền Lương ơi...
- Dạ, thưa thầy, để cháu
nó phụ một tay với chị Vân và cô. - Chú Nông nói.
Hiền Lương nghe gọi, chạy lên, xin phép
được ở sau bếp cho vui. Nhưng thầy Tiếng dứt khoát buộc Hiền Lương ngồi
đó.
- Bọn đàn ông ḿnh từ thời A-đam đến nay cứ
giành hết mọi ưu tiên! - Thầy Tiếng cười, nói trong tiếng bật miệng lon.
Thầy đẩy từng lon đến mỗi người. Chị Vân
cũng mang mấy dĩa thức nhấm lên. Tất cả chén bát cũng đă sẵn trên khay.
- Lâu lắm mới lại gặp nhau. Nào, xin nâng
li chúc sức khỏe.
Hai người khách, một cỡ bốn mươi lăm tuổi,
một cũng đă trên sáu mươi. Anh trẻ là nhà văn, vốn sinh viên tranh đấu, đă
thất sủng thành phó thường dân. Chú già, nguyên hiệu trưởng trường cũ của
thầy Tiếng, gốc Quảng B́nh, từng có huy hiệu Bốn mươi tuổi Đảng, đă hưu
trí. Toàn là dân nhà giáo cả.
- Chương tŕnh hôm ni ra răng đây? - Thầy
Rơm cười, hỏi đùa.
Thầy Quyển bật cười to, nói giọng Sài G̣n:
- Ngỡ như họp liên tịch!
Mọi người cười vui vẻ. Thầy Tiếng cũng đùa:
- Chương tŕnh gồm: phần một, lai rai, phần
hai, “chữa cháy” bằng bún mọc, chỉ có rứa, và chuyện “trong nhà ngoài
phố”, “nắng mưa dưa lúa” chi cũng được, chủ yếu là vui. Đời có chi mà
buồn cho thêm bệnh. - Rồi thầy gợi chuyện -. Báo chí dạo ni có chi lạ
không, nhà văn?
- Thấy rặt ảnh người mẫu, khỏa thân, kích
dục. Xem ra thiên hạ thèm chuyện phiếm vụ án giật gân. - Thầy Quyển cười.
- Đổi mới theo kiểu Mẽo. - Thầy Rơm bỗng
chua chát.
- Phim đánh đấm, khiêu vũ đèn mờ, quảng cáo
đú đởn, thời trang dâm ô, tham nhũng gần tận nóc, ma túy tận Bộ Công an...
Thời được tổ chức đấu tranh học đường, chống Mẽo là v́ vậy, bây giờ có lẽ
cũng lại chống Mẽo. Tổng thống Nga mà cũng người của Mẽo là hết rồi! Mẽo
đưa “Ăn-xin” lên, báo Tuổi Trẻ có đăng bài rơ ràng. Hết... Báo chí
cũng kinh doanh mông, đùi, vú...
- Khiêu vũ là một tṛ vô luân, xâm phạm
thuần phong mĩ tục. Phải bắt chước người Thượng, nhảy đơn, nhảy tập thể
thôi. Cấm nhảy cặp, từng đôi nam nữ. Và đèn phải sáng. Cấm nhạc giựt gân,
tóc xù. - Chú Nông nói, nghiêm túc một cách rất quân sự.
- Đừng “cấm”, chỉ nói “không nên”, nhưng
thật kiên quyết, triệt để. - Thầy Tiếng ôn tồn -. Mọi thứ khác cũng vậy,
nếu đồi trụy. Phải “binh phạt, tâm công”, “tâm công” là chính, rồi mới
“binh phạt”, tức là công an phải ra tay. Nên khuyến khích thể thao, vơ
thuật, phát triển các môn thể thao dân tộc, cổ truyền và vơ B́nh Định của
ḿnh. Phim ảnh phải chú trọng tính giáo dục, trong đó có giáo dục thẩm mĩ,
chú trọng vẻ đẹp của nghị lực, tâm hồn, trí tuệ, nhân cách, cái đẹp bên
trong, c̣n cái đẹp trời cho bên ngoài không nên đề cao quá lắm. Cái đẹp
của cái tốt, cái thật! Văn hóa văn nghệ là một mặt trận mà! - Thầy Tiếng
uống một ngụm bia, cười.
Thầy Tiếng cười, nụ cười của một người cảm
thấy bất lực trước thời thế, hơn nữa, thừa hiểu ư tưởng vừa nói cũng chỉ
là những điều tuy đă cũ nhưng vẫn ngời ngời giá trị dài lâu, nói cũng thừa
nhưng không nói hóa ra đồng lơa.
- Cách đây mấy năm, hồi chưa về hưu, có
người cho tôi một bộ vét tông. Tôi hoảng hồn. Trời nóng bỏng người, người
người chỉ thích mặc vải sợi cô tông, ḿnh mặc vét dày cộp, hệt như Tú
Xương than nghèo, mùa nực phải mặc áo bông, hay như anh chàng điên mất ư
niệm và cảm giác thời tiết. - Thầy Rơm nói -. Các vị lănh đạo dạo này cũng
thế. Lạ thật! Đổi mới đến mức tâm thần phân liệt! Đại để cũng như trước
đây, chuyện “ôm hôn thắm thiết t́nh hữu nghị” tôi thấy chướng lắm. Cách xă
giao, bày tỏ t́nh cảm ruột thịt, thương mến của người Á Đông, người Việt
ḿnh không có khoản “ôm”!
Mọi người cười ngúc ngắc, sặc sụa. Hiền
Lương nhấp nhổm định rút lui nhà bếp. Thấy Tiếng cười, đưa tay tỏ ư ngăn:
- Ngồi đó, ngồi đó. Phải biết tất. Thanh
niên, dẫu nữ, cũng phải mạnh dạn lên! Này, Hiền Lương, áo dài, áo tứ thân,
áo các nhân tộc đồng bào đẹp chứ, sao cứ theo Tây, làm nghèo văn hóa ḿnh
đi vậy, và rứa cũng là làm nghèo văn hóa nhân loại mất! - Thầy Tiếng đưa
tay găi gáy.
- Phải cách tân, nhưng phải lưu giữ nét kín
đáo rất người, rất văn minh, rất Á Đông... Tôi suưt bị xe tông mấy lần v́
sự hở hang của các cô! Các cô gián tiếp khuyến khích măi dâm bằng cách ăn
mặc kích dục như thế. Phải đánh măi dâm tận gốc. Ăn mặc kích dục và bán
dâm là chị em sinh đôi! - Thầy Quyển cường điệu.
Tiếng cười vỡ cả nhà. Hiền Lương sượng chín
người.
- Từ Hải là khách mua dâm, Thúc Sinh cũng
vậy, sao cụ Tố Như ưu ái quá. Từ Hải được thần tượng hóa nữa chứ. Chắc
phải chấp nhận... - Thầy Quyển cười, ngưng câu nói giữa chừng.
Thầy Tiếng bàn lướt về sự vĩ đại của kẻ dám
quên quá khứ Kiều, và nói:
- Nhưng nghĩ kĩ cũng lạ. Nếu truyện Kiều là
tiếng kêu đ̣i nhân phẩm, sao cụ Nguyễn Du không lên án tội phạm nhỉ? Chấp
nhận thế nào được cái chuyện mua dâm ấy. Tự biến hoặc bị biến thành đồ
chơi cho thiên hạ thật quá nhục nhă, đau xót, “mua đồ chơi” cũng quá ác
độc... Ma-ri-a Ma-đa-len-na là đĩ thành Thánh đấy... Chỉ chấp nhận cho bọn
con trai thủ dâm thôi (tất nhiên không để đến mức thành một thứ bệnh rất
nguy hại!), để cứu bọn con gái nhà lành... Phải trinh nguyên, tim trinh,
mắt trinh, môi trinh...
- Đúng vậy. - Chú Nông nói giọng nghiêm túc
-. Đạo đức cũng có tính lịch sử - cụ thể. Tôi đồng ư với thầy. Phải tự kỉ
ám thị điều thiện để chống lại sự ám thị điều xấu. Lẽ ra, UNESCO. phải
đánh tận gốc, tại Mỹ và các nước Tây Âu, nơi tung ra các sản phẩm văn hóa
đồi trụy. Thật ra, mỗi người rất dễ sa chước cám dỗ, và làm sao giữ khỏi
sự dữ đây? Là công dân, mỗi người phải tự phê và phải phê phán. Không thể
ch́a má phải cho người ta tát, hoặc trát, nếu họ tát hoặc trát má trái
được. Nhà văn như thầy Quyển cần phải thế, phê và tự phê, tự vấn sâu sắc,
thành khẩn, như nhà văn lớn Nam Cao vốn gốc Đạo Chúa ấy!
- Tôi mới há miệng chúng đă bôi tôi rồi,
bịt miệng và diệt khẩu. - Thầy Quyển rùng ḿnh -. Bọn ma-phi-a ghê lắm.
Thậm chí chúng c̣n xúi tụi làm báo b́nh thường hóa tội lỗi. Đại để là
ḿnh đồi trụy, tham nhũng, phải biến mọi người cũng tham nhũng, đồi trụy,
cho huề ḥa, xí xóa. Không hiểu như vậy có phải vô h́nh trung rơi vào hố
thẳm hạ bệ Con Người của Phương Tây và Mẽo không? Thậm chí, hiện nay, nghe
đâu c̣n cho phép bọn nước ngoài mở trường học! Chúng sẽ giáo dục chủ nghĩa
cá nhân cực đoan để tiến lên chủ nghĩa tư bản! Buông giáo dục là nát tiền
đồ dân tộc. Người ta nhân nhượng, thỏa hiệp đến mức đó là tận cùng. Hay
“lùi một bước để tiến hai bước”? Tôi điên cái đầu mất.
- Bây giờ hết phong trào vô sản hóa rồi.
Các lănh đạo quư tộc hóa hết. Con em ruột thịt họ hết chất cộng sản rồi!
Đâu rồi những mùa hè nông thôn, những năm học ở xóm lao động, ở nhà máy? -
Thầy Rơm cười lặng lẽ sau câu nói, lắc đầu.
Bỗng dưng thầy như chồm ra trước, nói tiếp:
- Tôi cũng thuộc loại gọi cho oai là “tham
gia cách mạng” sau hai mươi bảy tháng bảy, năm tư ở Bắc vĩ tuyến mười bảy.
Trong Nam có ngữ “cách mạng ba mươi tháng tư”, tôi thuộc loại “cách mạng
hai mươi tháng bảy”, thứ “chạy theo” khi chuyện đă rồi! Tôi cũng xin tự
kiểm điểm và tự vấn như vậy... Theo tôi, tự vấn mới quan trọng, thành khẩn
tự ḷng ḿnh chứ không đối phó... Con cái tôi chỉ biết lí thuyết cộng sản
chứ bảo nó “vô sản hóa” một ngày nó cũng chả chịu. Thực chất bọn con cái
tôi nó khinh nông dân nhà quê và công nhân ít học ít tiền. Phải giáo dục
bằng thực tiễn kia! Chúng nó nhục khi viết lí lịch về ông bà nội của
chúng, vốn các cụ là nông dân mù chữ - nạn nhân của các nền giáo dục cũ!
Thế mới biết giáo dục bằng cái mồm là vô nghĩa, nước chảy lá môn! Nhà
trường thực chất là cái chợ bán chữ và bằng cấp. Chắc người ta muốn đạo
đức chỉ có trong chùa, chỉ trong chùa với các thầy tu thôi... Ồ, có chùa
cũng chỉ làm “dịch vụ tâm linh”, buôn Thần bán Phật! Buồn thật.
Mọi người chợt rơi vào khoảng lặng. Lát
sau, thầy Tiếng nói:
- Xin cứ tùy hỉ lai rai cho vui. Chuyện
đời, chuyện phiếm mà. - Ngừng lại, có vẻ dè dặt, ngẫm nghĩ, thầy Tiếng nói
tiếp -. Tôi vốn là linh mục chống cộng khét tiếng ở Quảng B́nh, Quảng Trị.
Nhưng may là từ đầu những năm bảy mươi, hiểu ra sự thể, tôi bỏ nhà thờ,
cởi áo ḍng, về dạy học. Để tránh tiếng, tôi vào Sài G̣n từ bảy mốt đến
nay. Tôi không mặc cảm ǵ cả. Sau bảy lăm, cách mạng cho vợ chồng tôi tiếp
tục dạy hay không, chẳng cần. Lúc ấy, tôi bằng tuổi anh Nông bây giờ...
Nhưng vẫn được dạy, th́ cứ dạy, và dạy tốt... Có lẽ nhờ tôi biết khắc phục
một nhược điểm ngỡ đă ăn sâu của Đạo Chúa, ấy là cảm thức tội lỗi. Mới nứt
mắt là phải rửa tội và dăm bảy tuổi, đă phải xưng tội, chỉ rặt xưng tội
suốt đời. Theo Kinh Thánh, loài người là sản phẩm sai lầm của Thượng đế
Giê-hô-va, và sống có nghĩa là tội lỗi. Thực ra không ai hoàn toàn tốt
hoặc hoàn toàn xấu. Vậy th́ phải biết tự hào nữa. Biết tự hào là một ưu
điểm bên cạnh biết sám hối. Thiên Chúa giáo không dạy tín đồ tự hào, kể
cũng lạ. Có lẽ cũng nhờ tạng chất riêng của tôi, trung thực, không lừa
ḿnh dối người, thấy đời ḿnh sai th́ sửa, và tiến bước. Nhà nước không
cho dạy, tôi viết sách, không cho in, tôi gửi vào cơ quan lưu trữ bản
thảo, thậm chí có lúc tôi đă viết đơn xin ở tù...
Mọi người kinh ngạc. Hiền Lương buột miệng:
- Thưa ông, sao vậy ạ?
- Ở tù thật, với điều kiện cho tôi được
viết sách. Viết được cuốn nào nộp bản thảo cho Nhà nước cuốn ấy, nhưng tất
nhiên tôi phải giữ bản quyền. Hai bề yên tâm. - Thầy Tiếng bật cười -.
Thật rứa đó. Nhưng rồi vẫn đi dạy, vẫn viết sách. Đổi mới, in được vài
cuốn rồi.
- Em đă học tập ở thầy, viết về dân tộc
ḿnh là chẳng ai làm ǵ được, và giá trị lâu dài, vĩnh hằng. Từ mảnh đất
Tổ quốc, định hướng suy nghĩ ra cả nhân loại, để đóng góp cho nhân loại,
và học tập ở nhân loại một cách khoa học. Đấy cũng v́ dân tộc mà cũng v́
nhân loại. Em chỉ sợ “lực bất ṭng tâm”.
- Vâng, phải phát huy ra và phải tiếp thu
vào. Các Mác là ǵ? Với tôi, Mác chỉ là nhà khoa học xă hội. Tôi vận dụng
Mác như vận dụng Ta-lét, Pi-ta-go, Pha-ra-đây, Ác-si-mét... trong khoa học
tự nhiên. Mác cũng vận dụng Hê-ghen và Đác-uyn, với các nguyên lí công xă
nguyên thủy, với chủ nghĩa xă hội không tưởng Tô-mát Mo-ơ... Ta không thể
không vận dụng phát minh của Men-đen, vị linh mục di truyền học, cũng như
không thể không vận dụng phép biện chứng duy vật của Mác... hoặc của Kinh
Dịch... Tôi chả mặc cảm ǵ cả. Cái ǵ sai th́ vứt, cái ǵ dùng được mà
không dùng chỉ thiệt thân thôi, chẳng hạn, thiệt tḥi như kĩ sư điện không
hiểu định lí Ăm-pe...
Chú Nông gật gù và hỏi:
- Vâng, phải phát huy ra và phải tiếp thu
vào. Thưa thầy, thầy đang viết về đề tài cụ thể nào ạ?
- Đề tài này tôi nghiên cứu đă một đời. Tôi
lật ngược, lật xuôi, cũng đă lâu. Đấy là Kinh Thánh (II.15).
- Nghĩa là...
- Nhan đề cuốn sách là: “Kinh Thánh Đạo
Chúa Dưới Đôi Mắt Khoa Học Hiện Đại, phê phán và khẳng định”. Nhưng
phê phán th́ nhiều quá, khẳng định được rất ít.
- Hồi năy thầy đùa vậy, chứ ai lại viết đơn
xin ở tù! - Thầy Quyển cười và nói -. Chẳng lẽ “Tầng Địa Ngục Thứ Nhất”,
trong tác phẩm cùng tên của Xon-den-nít-xưn?
- Đấy là ḿnh sợ chết. Ḿnh muốn sống để
làm việc có ích nên mới viết đơn xin ở tù cho yên tâm đôi bên, giữa ḿnh
với công an. Tâm trạng hồi ấy cũng bi đát thật.
- Đời có nhiều chuyện lạ thiệt! - Thầy Rơm
cảm thán.
- Xin thầy nói khái quát, sơ sơ... - Chú
Nông nh́n thấy Tiếng, tỏ ư chờ đợi.
Cả năm người rơi vào từ trường của vết
thương chung.
Trầm ngâm một lát, thầy Tiếng nói:
- Thứ nhất, ḿnh đặt vấn đề từ vấn đề nền
tảng nhất, ấy là “Nguồn gốc vũ trụ và sự sống”. Phần này chú trọng
vào Sáng thế kí. Thứ nh́, “Tư tưởng và hành trạng Giê-su”. Đây là
cốt tủy của Đạo Ki-tô, Đạo Tin lành. Phần thứ nh́ này, ḿnh sẽ minh định
Đức Mẹ Ma-ri-a là người đàn bà nghèo khổ yêu nước, yêu độc lập, tự do, có
ư thức cách mạng, chống xâm lược. C̣n khía cạnh Đức Mẹ đồng trinh trọn đời
hay bị phỉnh gạt nên có hoang thai, không thành vấn đề, đối với nhà nghiên
cứu khoa học. Tư duy thần thoại, tôn giáo trung đại mà! Không nên quan
trọng hóa sự đồng trinh hay ngây thơ dại dột trong niềm tin tôn giáo của
Người, mặc dù việc giữ ǵn sự đồng trinh của người nữ cho đến ngày lấy
chồng là giá trị đạo đức măi măi cao quư. Vả lại, theo cách tư duy khoa
học, cũng như đối với đạo Tin lành, h́nh tượng độc nhất, tập trung nhất là
Giê-su, chứ không phải là Ma-ri-a, Giu-se. Thứ ba, “Kinh Cựu Ước - Tân
ước chỉ là pho sách về văn hóa, lịch sử của dân tộc Do Thái”. Cựu ước
là dă sử, sử kí, kí sự chính trị, hành chính, pháp luật, văn học, tín
ngưỡng riêng của Do Thái. Tân ước là các kí sự về cuộc phân hóa, cải cách
một bộ phận Do Thái giáo thành Giáo hội Ki-tô giáo và về quá tŕnh truyền
bá Ki-tô giáo của các môn đồ cùng thời với Giê-su Cờ-rít. Thực sự, nội
dung tổng quát của Kinh Thánh chỉ vậy thôi. Ḿnh quá nực cười cho ḿnh
thời mê tín Kinh Thánh. Cả mấy tỉ người,... không, hai ngàn năm nay, tỉ tỉ
và tỉ tỉ người mê tín! Chả hiểu sao văn hóa - lịch sử nói chung của một
dân tộc lại trở thành tôn giáo bao trùm đến tuyệt đối ở châu Âu, châu Mỹ
và của triệu triệu người châu Phi, châu Á. Hóa ra sự u mê của nhân loại
lâu đến thế. Kinh Thánh đặc sệt đất và người cùng văn hóa - lịch sử Do
Thái chứ có ǵ đâu! Rơ là vô duyên, vô lối. Ḿnh sẽ lí giải vấn đề ḱ quặc
này!
- Nghe thầy nói em há hốc mồm! Nhân loại
sao buồn cười thế! - Thầy Quyển nói, rung đùi như một cố tật.
- Thầy lí giải ra răng ạ? - Chú Nông hỏi
với vẻ ngạc nhiên.
- Ḿnh có nói sơ sơ với cậu chưa nhỉ? Hồi
bảy mốt, với ngôn ngữ nói, có thể ḿnh nói thiếu chính xác và chặt chẽ. Vả
lại, Kinh Thánh có chỗ hơi mù mờ, do diễn đạt tù mù thiếu lô-gích. Nói
chung, văn thuộc loại văn cổ, lại qua bản dịch, mặc dù bản dịch đă được
Giáo hội Va-ti-căng, Giáo hội Tin lành kiểm định, hiệu đính, nhuận sắc. Đó
là văn thuở thế kỉ mười ba trước Tây lịch đến thế kỉ thứ nhất sau Tây lịch
cơ mà! Nghiên cứu văn bản cổ phải có phương pháp... Ḿnh rất cẩn thận, dè
dặt... Trở lại vấn đề, tại sao vô duyên, vô lối đến mức đem văn hóa - lịch
sử của một dân tộc truyền bá ra khắp thế giới, với những ưu, nhược, khuyết
điểm được xem là ưu cả, như là tôn giáo chung của nhân loại? Ki-tô, Tin
lành, Chính thống, Hồi hồi đều lấy Kinh Thánh làm kinh điển chính, hoặc
một phần, hoặc những cốt lơi, tinh túy... Tất cả đều khởi từ Do Thái
giáo... Nhưng xin lưu ư là Do Thái giáo lại thu hút tinh hoa, kể cả những
ǵ không tốt của các tôn giáo cổ đại... Và cũng xin lưu ư thêm, vai tṛ
truyền bá, áp đặt đức tin, chủ yếu là do Thiên Chúa giáo, chứ không phải
do Do Thái giáo. Tại sao Thiên Chúa giáo truyền bá Kinh Thánh và áp đặt
đức tin được rộng khắp đến thế? Đó là một câu hỏi phải trả lời bằng cả một
cuốn sách về lĩnh vực sử học. Xin nói vắn tắt: Đó là do nhu cầu tín
ngưỡng! Đó là do sự độc đoán, cực ḱ độc đoán, độc đoán bằng bạo lực thập
tự chinh, pháp đ́nh Thiên Chúa giáo, bằng mọi thủ đoạn, và bằng sự câu kết
chặt chẽ của Giáo hội với chính quyền, thế quyền thực dân, đế quốc trong
các thế kỉ, các thời đại! Tôn giáo kiểu Thiên Chúa giáo trở thành công cụ
tâm-linh-chính-trị của chuyên chính nhà nước, của thực dân, đế quốc. Có
thể lấy quy luật duy lợi để giải thích sự câu kết và truyền bá này. Tất
nhiên, người ta phải sa-đích Kinh Thánh.
Thầy Tiếng cười buồn, lại vẫn chậm răi nói,
cố giấu niềm ân hận:
- Tại Việt Nam ḿnh, sự truyền bá Thiên
Chúa giáo của các linh mục, giám mục thực dân là để tạo lực lượng nội
phản, nhằm mục đích dùng người Việt đánh người Việt, trên các mặt trận, từ
quân sự đến văn hóa... như Tạ Văn Phụng, Trần Lục, Trương Vĩnh Kư, Nguyễn
Trường Tộ, Nguyễn Hữu Cư (Thơ), Nguyễn Hoằng, Ngô Đ́nh Diệm... Các nước
châu Âu thời đế quốc La Mă trung đại cũng ở trường hợp tương tự như vậy.
Các nước Á - Phi - Mỹ la tinh trong cùng thời gian bị xâm lược như Việt
Nam cũng không khác hơn. Điều này, sách lịch sử đă đề cập đến rất nhiều,
theo nhiều quan điểm khác nhau, kể cả quan điểm ngụy biện cho Thiên Chúa
giáo. Sách sử học, ngoài Đại Nam Thực Lục, Việt Nam Sử Lược, Hạnh Thục
Ca, tạp chí Những Người Bạn Cố Đô Huế (Bulletin Des Amis Du Vieux Huế),
Thiên Chúa Giáo Và Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp Tại Việt Nam. 1857 - 1914
(Cao Huy Thuần), c̣n có cuốn Nước Đại Nam Đối Diện Với Pháp Và Trung
Hoa của giáo sư tiến sĩ Nhật Bản T-su-boi (Yoshiharu Tsuboi), đặc biệt
là cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm của linh mục Trần Tam Tỉnh, lẽ ra
phải dịch chính xác là Thiên Chúa Và Xê-da tức là Thiên Chúa và hoàng đế
của đế quốc La Mă, có nghĩa bóng là Thiên Chúa giáo và chủ nghĩa thực dân,
đế quốc. Ngoài ra, có thể tham khảo thêm Vè Thất Thủ Kinh Đô. -
Thầy Tiếng cúi đầu, nén tiếng thở dài -. Trong loại sách sử học giai đoạn
“b́nh Tây sát tả” và sau đó, cần kể thêm bộ Chống Xâm Lăng, hai
cuốn nghiên cứu Hệ Ư Thức, tập một là về Phong Kiến, tập hai
là về Tư Sản, Và Sự Thất Bại Của chúng Trước Nhiệm Vụ Lịch Sử, của
giáo sư Trần Văn Giàu... Chúng ta ai cũng đọc rồi mà...
Thầy Tiếng ngừng lại, chiêu một ngụm bia.
Ba người khách đàn ông, gương mặt hồng lên hoặc tái đi v́ men, cùng Hiền
Lương ngồi chờ thầy nói tiếp. Thầy Tiếng đưa tay chỉ lên bàn thờ. Trên một
tấm bê tông gắn nằm ngang thẳng góc với vách tường chỉ là ảnh hai cụ thân
sinh của thầy, lư hương với ba cây nhang, hai chân đèn có cắm đôi cây nến.
Lửa nến và nhang là bóng đèn vài oát. Những sợi tung ten hay kim loại khác
làm điện trở, bóng đèn sáng lên ánh lửa lay động ngỡ như lửa nhang nến
thật.
- Từ năm bảy mốt đến nay, tôi tuyệt đối
không liên hệ ǵ với nhà thờ và Đạo Chúa. Dứt khoát là dứt khoát hẳn, như
người cai á phiện, không lưu luyến, vấn vương ǵ nữa, không thể làm hỏng
cuộc đời ḿnh thêm nữa. Tôi đặt hết cả phần đời c̣n lại, tính từ dạo ấy,
vào văn hóa dân tộc Việt Nam ḿnh
với những giá trị suốt bốn ngàn năm đă được đăi lọc bằng khoa học hiện
đại. Tôi tin vào điều ấy. Tất cả rồi
sẽ trôi qua, dân tộc và các giá trị văn hóa - lịch sử dân tộc là vĩnh
hằng, với những giá trị vốn rất riêng khác của các cộng đồng dân tộc khác
trên hành tinh này, đă được đăi lọc, khúc xạ qua tâm thức Việt. Không ai
giết được tôi.
- Thầy nói nghe ghê quá! - Nhà văn nhà giáo
Quyển vừa bật cười, vừa xúc động, nhưng vẫn rung đùi.
- Hồi năy tôi chưa nói phần thứ tư của cuốn
sách, ấy là “Từ các giá trị của bản sắc Việt
Nam, thử định giá những giá trị văn hóa Do
Thái giáo và Ki-tô giáo qua Kinh Thánh”.
Phần này cũng có nhiều chương... Có một
điểm cần xác định rơ là văn hóa Do Thái, văn hóa Do Thái giáo, văn hóa
Ki-tô giáo với văn hóa do các tông phái từ Ki-tô giáo tạo ảnh hưởng, h́nh
thành nên, có những dị biệt.
- Xin đề nghị thầy cụ thể hơn .- Chú Nông
nói.
- Xin công bố với sự lưu ư bản quyền như
sau... - Thầy Tiếng có vẻ trịnh trọng cho vui -. Thứ nhất, đối chiếu gia
phả Giê-su với Sáng thế kí, thấy rơ là A-đam, E-va chỉ là thủy tổ của Do
Thái chứ không phải của toàn nhân loại. A-đam được nặn thành người vào
ngày nghỉ, thứ bảy, sa-bát, và được đặt vào mảnh đất riêng là Ê-đen. Thủy
tổ các dân tộc khác được dựng vào ngày trước đó, thứ sáu. A-đam sinh ra
E-va theo cách sinh sản vô tính nhờ Giê-hô-va. Bấy giờ, luật hôn nhân đă
có. Vợ của Ca-in là người ngoài Địa đàng. Có điều này là quái thật: Chả
hiểu sao Đức Chúa Trời lại cấm loài người ăn quả sự sống và quả phân biệt
thiện-ác. A-đam và E-va chưa mở mắt, như cặp chó con mới đẻ, mặc dầu h́nh
dong là người, và nếu không phạm “tội” ăn trái-cấm-tham-si ấy, họ không có
mắt luôn. Có mắt, không được mở, có làm ǵ! Đúng là mù tối, u mê. Không
biện biệt, nghĩa là nhất nguyên, bất nhị của Thiền tông, là không khổ đau
cũng chẳng hạnh phúc. Về khái niệm nhị nguyên đối đăi, xin ví dụ: không có
xấu làm sao có đẹp, không có thấp làm sao có cao, không có ư niệm về thiện
làm sao có ư niệm về ác... Tuy vậy, khởi thủy đă có nam, có nữ, có quỷ, có
Trời..., nhưng A-đam, E-va mù và ngu, họ không sa vào nhị nguyên đối đăi
nên không có khổ đau lẫn hạnh phúc. Tâm hồn họ hồn nhiên, hư vô, bất nhị,
không thị chẳng phi, không bỉ chẳng thử. Đấy là cảnh giới niết bàn...? Tội
tổ tông thực chất là tội khao khát và chiếm hữu trí tuệ, muốn mở mắt ra
nh́n hiện thực quanh ḿnh và chính ḿnh - năng lực nhận thức. Aăy là “tội”
không muốn ngu và mù. Trái-cấm-tham-si là tham sự hiểu, sự thấy, là si mê
sự biện biệt: hạnh phúc - khổ đau, thiện - ác... Tội tổ tông sau Nô-ê mới
là tội loạn luân... - Thầy Tiếng nói tiếp -. Cần lưu ư là Sáng thế kí được
một tác giả là Môi-se sưu tầm, sáng tác lại mà phần hư cấu là nhiều.
Môi-se sống vào thứ kỉ thứ mười ba trước Tây lịch. Sáng thế kí được sáng
tác vào thời điểm đó nên không c̣n dấu vết chế độ mẫu hệ, thậm chí, ư chí
phụ hệ mạnh đến mức hư cấu ra ư niệm: đàn bà chỉ là cái xương sườn của đàn
ông - đàn bà từ đàn ông mà ra. Giê-hô-va cũng là đàn ông có nhiều con trai
lắm! - Mỉm cười, thầy Tiếng lại nói -. Là một dân tộc mà mỗi thành viên
chỉ có tên, không có họ (Chúa Giê-su cũng không có họ), như các bộ lạc
khác, nhưng theo Sáng thế kí, Do Thái là dân tộc đặc biệt, dân tộc thượng
đẳng được sinh ra từ mảnh đất thượng đẳng là Địa đàng Ê-đen. Môi-se rất
quốc xă, kiểu Hít-le! Cho nên, phải chăng bởi vậy mà Do Thái bị anh Đức
thợ sơn này tiêu diệt, tiêu diệt suưt tuyệt chủng Do Thái, v́ Đức quốc xă
vốn rất tự tôn, tự tôn đến cuồng điên, cho rằng không thể có hai dân tộc
thượng đẳng! Môi-se trong lịch sử đă cứu dân tộc Do Thái nhưng đă gián
tiếp giết dân tộc này bằng Sáng thế kí!...- Thầy Tiếng ngừng lại, nh́n
lướt qua những gương mặt quen thuộc, và nói tiếp -. Đức Chúa Trời c̣n là
kẻ diệt chủng, diệt loài người bằng hồng thủy... Trong một đoạn Sáng thế
kí, Đức Chúa Trời c̣n xúi dại A-b-ra-ham (Ap-ham) đưa cả dân tộc vào ṿng
nô lệ, chịu nô lệ để kiếm lợi: chấp nhận bị ngoại bang cai trị bốn trăm
năm để sau đó giàu có. Một dân tộc chịu làm thuê, làm nô lệ! (STK : 14 :
13 - 15)... Và Chúa Trời, theo Môi-se, rất phàm tục... A-b-ra-ham có nghĩa
là “cha các dân tộc”!...
- Chuyện thần thoại cổ đại ấy mà! - Nhà văn
Quyển cười.
Thầy Tiếng nói:
- Dân tộc tính có trong ấy. Thần thoại Do
Thái phản ánh ít nhiều dân tộc tính Do Thái. Nhưng chính Môi-se chịu trách
nhiệm. Đó là thần thoại của riêng tác giả Môi-se bởi Môi-se đă “tái
chế”!... Xin trở lại nguồn gốc vũ trụ và sự sống! Vấn đề này, đă có nhiều
giả thuyết khoa học. Tiến hóa luận đă chứng minh các nguyên tố vật chất
tự-nó-có, bởi v́ tự nó có, chứ chẳng nhờ ai mà có, như thể Trời có, v́
tự-nó-có, chẳng ai sinh ra. Các nguyên tố vật chất sau một quá tŕnh tự
phối kết hợp, một cách ngẫu nhiên, nếu không thành th́ tan, nếu không tan
v́ hợp nhau th́ thành, ổn định, rồi tự phát triển, tiến hóa trong nhiều
điều kiện, môi trường. Và quả đất là môi trường có thể h́nh thành, tồn
tại, phát triển sự sống. Qua tỉ tỉ sự kết phối, suốt cả quá tŕnh dài đến
tỉ tỉ năm, mới có sự sống đơn bào, rồi đa bào, rồi muôn vật, trong đó có
loài vượn-người. Quá tŕnh truyền giống, theo từng giai đoạn lịch sử loài
người, là qua các h́nh thái tạp hôn rồi quần hôn như chó mèo lợn gà, trong
cùng thị tộc... Giống cái phải đẻ rồi nuôi con và không thể biết cha của
đứa bé là ai, v́ đâu phải hôn nhân một vợ một chồng. Người ta mang họ mẹ
theo mẫu hệ, là do vậy. Rồi do cơ chế sinh lí giống đực vốn khỏe hơn giống
cái, do óc gia trưởng của phái mạnh, phái chủ yếu làm ra sản phẩm, nên
sinh ra phụ hệ, theo họ cha... Thứ kiến thức phổ thông này đă được kiểm
chứng khoa học...
- Về trái-cấm-tham-si nghe thầy giải thích
sao chưa thỏa đáng... - Chú Nông ngập ngừng.
- Có thể hiểu thêm về si của E-va, ấy là “u
mê, mê đắm”. E-va nghe lời ma quỷ Rắn, muốn bằng Chúa Trời. Chúa Trời
không muốn “con hơn cha là nhà có phúc”! (Chất lănh tụ gia trưởng của
Môi-se thể hiện rơ!). Và...
- Rứa “bào tộc”, hay “đồng bào” th́ răng? -
Thầy Rơm cười, tỏ vẻ đă hiểu ư.
- Ai mà chả biết mỗi dân tộc thường cùng
một ḍng máu, “cùng một bào thai” mà ra! Nhưng hai chữ “đồng bào” hiện đại
có nghĩa tượng trưng: thân thiết. “Bà con” cả mà! “Ruột thịt” tất!
- Mặc cảm Ơ-đíp của Phơ-rớt có lí chứ nhỉ?
Mặc cảm lưu cữu của
loài-người-mặc-dù-đă-tiến-hóa-thoát-khỏi-loài-trâu-chó-gà-mèo-tạp-hôn-quần-hôn,
hay c̣n gọi là bản-năng-giới-tính-sinh-vật ấy mà! - Chú Nông nói.
- Có thể hiểu như vậy. Lưu ư siêu ngă, và
siêu ngă hiện hữu ngay trong vô thức, kể cả vô thức của cộng đồng lẫn vô
thức cá nhân. Vạn năm rồi vẫn c̣n mặc cảm, loài người ơi! - Thầy Quyển pha
tṛ, vẫn rung đùi!
- Thưa thầy, c̣n Giê-su?
- Giê-su? Nhiều người nói rồi. Ông ta có
nhiều tư tưởng hay, rất phong kiến nhưng rất dân chủ, có yếu tố xă hội chủ
nghĩa, nhưng phong kiến là chính. “... Song ai lớn hơn hết trong các ngươi
sẽ làm đầy tớ các ngươi” (Ma-thi-ơ: 23: 11), là một câu thể hiện tư tưởng
dân chủ. C̣n ai “đứng đầu sẽ thành sau rốt”, theo riêng Ma-thi-ơ,
có nghĩa là không phân biệt đối xử, kẻ giác ngộ đức tin sau rốt lại được
ưu ái ngang với hoặc được ưu ái hơn kẻ được Chúa chọn, được Chúa kêu gọi
mà đến trước. Có lẽ câu đó chỉ có tính chất động viên chăng? Nhưng ư tưởng
này, “v́ con Người đến không phải để người ta hầu việc ḿnh, song để
hầu việc người ta...”, cũng như câu thể hiện tư tưởng dân chủ ở trên,
là khá dân chủ, ít ra trong ư hướng tôn giáo. Và ngược lại, xin lưu ư
cái-biểu-hiện lẫn cái-được-biểu-hiện trong ẩn dụ, sẽ thấy Giê-su xem quan
hệ chủ - tớ, địa chủ - tá điền, chủ tiền - người làm thuê... rất phong
kiến, tư sản bóc lột. Sự mâu thuẫn giữa thực tại với tư tưởng, mâu thuẫn
ngay trong tư tưởng... của một người là sự thường thấy. Bây giờ, - Thầy
Tiếng nói -, chỉ xin bàn lướt vài khía cạnh thôi... Ngôn ngữ Giê-su hơi
cực đoan, ác khẩu... Và Giê-su có thỏa hiệp thật, với xê-da... Đồng tiền
trong miệng con cá là để đóng thuế cho đền thờ... Nghĩa vụ b́nh đẳng...
Giê-su có ư thức tự nguyện chết thật. Ồ,... ư thức “tự sát”... Phép lạ
Giê-su là chữa bệnh, đa số là chữa bệnh... Thế mới biết nhu cầu được chữa
bệnh lớn dường nào! Đấy là nhu cầu rất bức bách và thiết thân của con
người... Cách chữa bệnh cũng như các thầy phù thủy, bói toán chữa bệnh
bằng ma thuật!... - Thầy Tiếng ngừng lại, tự chiêu một ngụm bia cho đỡ
khản giọng, lại chậm răi nói -. Giê-su có ư thức phục hồi nước Y-sơ-ra-en
thật. Sách Công vụ các sứ đồ có chép: “Lạy Chúa, có phải trong lúc nầy
Chúa sẽ lập lại nước Y-sơ-ra-en chăng? Ngài đáp rằng: Kỳ-hạn và ngày-giờ
mà Cha đă tự quyền định lấy, ấy là việc các người chẳng nên biết. Nhưng
khi Đức Thánh-linh giáng trên các ngươi, th́ các ngươi sẽ nhận lấy
quyền-phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ
Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” (CVCSĐ. 1: 6-8)... Giê-su chết v́ “tự
sát” và v́ dân ngụy trong dân tộc Do Thái thật. Đấy là phái bảo thủ, cam
tâm làm nô lệ cho xê-da La Mă... Giê-su “tự sát”, mặc dù không muốn uống
“chén đắng”. “Chén đắng” được hiểu như cái chết, nhục h́nh, dù dưới
h́nh thức nào, ở đây là bị đóng đinh. Giê-su đă có một tâm trạng rất thật
của người tự sát: bản năng sống và ư định chết đấu tranh với nhau. Giê-su
tự nguyện chết với một ư thức về tất định của sự cứu rỗi, theo kịch bản
của Định mệnh. - Thầy Tiếng nhận xét -. Bi kịch của Cái mới được nhận thức
một cách siêu h́nh, thần bí! - Thầy Tiếng lại xoáy sâu vấn đề “tự sát” của
Chúa Giê-su -. Thất bại chủ nghĩa! Tư tưởng chủ “ḥa”!
Thầy Tiếng t́m cuốn Kinh Thánh dưới gầm bàn
nhậu (II.11). Ông rút kính mắt trong túi áo đeo vào, rồi lật t́m trang cần
thiết. Thầy Tiếng đọc:
- “... Phi-lát kiếm cách để tha Ngài;
nhưng dân Giu-đa kêu lên rằng: Ví bằng quan tha người này, th́ quan không
phải là trung thần của sê-sa [xê-da] vậy!” (Giăng:
19: 12)... (...) ... “Phi-lát nói với chúng
rằng: Ta sẽ đóng đinh Vua các người lên thập-tự-giá hay sao? Các thầy
tế-lễ cả thưa rằng: Chúng tôi không có vua khác, chỉ sê-sa [xê-da] mà
thôi”. (Giăng: 19: 15).
Thầy Tiếng gấp sách lại, nhưng chẳng cúi
hôn lên sách Thánh như ngày xưa c̣n là linh mục làm lễ trong nhà thờ ở
Quảng Trị.
- Đấy là tiếng kêu đ̣i của bọn ngụy tặc Do
Thái cam tâm làm nô lệ cho đế quốc La Mă, dưới sự đạo diễn đầy thủ đoạn
chính trị của Phi-la-tô và Hê-rô-đê. - Thầy Tiếng nói.
Ông lại lật thêm những trang Kinh Thánh
khác.
- Khi đă đến tuổi độ ba mươi, bắt đầu đi
giảng đạo, Giê-su đọc sách tiên tri Ê-sai như thể một tuyên ngôn:
... “V́ Ngài đă xức dầu cho ta đặng
truyền tin lành cho kẻ nghèo;
Ngài đă sai ta để rao cho kẻ bị cầm
được tha,
Kẻ mù được sáng,
Kẻ bị hà hiếp được tự do...”.
(Ê-sai: 61: 1, Lu-ca: 4:18-19).
Nhưng, đây là lời cuối cùng trước ṭa án đế
quốc: ... “Đức Chúa Giê-su đáp lại rằng: Nước của ta chẳng phải thuộc
về thế-gian nầy. Ví bằng nước của ta thuộc về thế-gian nầy, th́ tôi-tớ của
ta sẽ đánh trận, đặng ta khỏi phải nộp cho dân Giu-đa; nhưng hiện nay nước
ta chẳng thuộc về hạ giới. Phi-lát bèn nói rằng: Thế th́ ngươi là vua sao?
Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Thật như lời, ta là vua”... (Giăng:
19: 36-37).
Xin lưu ư hai chữ “hiện nay”.
Thầy Tiếng lại lật đến trang khác.
- Đây là bài ca do Đức Mẹ sáng tác (đúng
hơn là thơ tự do!):
... V́ Ngài đă đoái đến sự hèn hạ của
tôi tớ Ngài.
(...) Ngài đă cách người có quyền khỏi
ngôi họ,
Và nhắc kẻ khiêm-nhường lên
Ngài đă làm cho kẻ đói được đầy thức
ngon,
Và đuổi kẻ giàu về tay không.
Ngài đă vùa-giúp Y-sơ-ra-en, tôi tớ
Ngài...”.
(Lu -ca: 1: 48 và 52-54).
Và với ngày lễ lá, tung hô vạn tuế
Con-cái-ḍng-dơi-vua-Đa-vít, nhân dân khát vọng độc lập, tự do đă bày tỏ ư
chí của họ rất rơ. Nhưng chẳng hiểu v́ sao Giê-su lại được báo mộng bởi
Môi-se, Ê-li, rằng sứ mệnh của Giê-su là phải tự nguyện đi đến cái chết tử
h́nh khổ và nhục. Giê-su quả thật đă “tự sát” theo kịch bản đă định trước
của Chúa Cha! Chính Giê-su, trong lúc hấp hối trên thập giá, ông đă nói
một câu mà hầu như ai cũng biết : “Lạy Cha, xin tha cho họ, v́ họ không
biết ḿnh làm điều ǵ” (Lu-ca :
23 : 34). “Dầu vậy, xin ư Cha được nên, chớ
không theo ư tôi” (Lu-ca : 22 : 38).
Như thế, bọn đế quốc xâm lược và tử
h́nh Giê-su, là theo ư chí của Giê-hô-va sao? Chúng xâm lược nhưng không
có ư thức xâm lược? Và tử h́nh Giê-su nhưng vô ư thức? Giê-su lại xin tha
cho bọn đế quốc đang xâm lược và thống trị nữa! Bác ái ư?! Thật ḱ quặc!
Và kết quả dân tộc Do Thái phải như thế nào, mọi người đă biết! Rất nhiều
đoạn Kinh Thánh nói ông ta điên!... Yêu nước, cứu nước là điên? Nhận ḿnh
là Chúa, hẳn là điên mới dám thế? (...) Thật là một tôn giáo ḱ dị! Hẳn đă
bị sa-đích! Mà quả thật là anh hùng của Do Thái đi nữa, th́ chỉ của Do
Thái thôi! Chẳng cần ai dạy dân tộc Việt
Nam này yêu nước! - Vị cựu linh mục bật
cười thật to -. Cũng xin lưu ư rằng
cả Giê-su lẫn Thích Ca đều không lưu lại bút tích, văn tự. Thần học ngày
xưa bảo Chúa không hề biết chữ (II.11)... Các tông đồ, các Thánh, các đệ
tử của hai ngài chép lại, kể lại, có thể không hiểu hết ư... Có tư liệu
cho rằng Ma-hô-mét của Đạo Hồi cũng vốn là người mù chữ!
- Thầy có dùng hai chữ “ngụy tặc”... - Chú
Nông nói.
- Ai sùng bái lănh tụ của bọn nước ngoài
xâm lược nước ta đều là ngụy tặc. Dân Do Thái ngu trung, sùng bái xê-da,
chẳng ngụy tặc là ǵ!... Nhưng... Thiệu Trị, Tự Đức diệt Thiên Chúa giáo
v́ Chúa “chịu chết”..., v́ giáo dân lại bị cố đạo lợi dụng, làm tay sai
cho Pháp...
- Nếu hiểu về khía cạnh chính trị, Hai Bà
Trưng, Mai Hắc đế... của chúng ta hào hùng hơn nhiều, vĩ đại hơn nhiều. -
Thầy Rơm cười, góp chuyện, gật gù -. ... “B́nh Tây sát tả” c̣n v́ phong
tục... (II.12).
- Chúng ta chỉ bàn chuyện chính trị, thậm
chí có thể trở thành nhà chính trị học như Khổng, Lăo, nhưng làm chính trị
mệt lắm! Em thấy tôn giáo pha mùi chính trị hơi nhiều. - Thầy Quyển rùn
vai -. Nhưng viết văn, dạy học cần hiểu chính trị lắm..., đặc biệt là viết
văn, rất cần tự do, dân chủ, và “vô chính phủ” tí chút cũng khoái. - Thầy
Quyển cười, nốc một ngụm bia lớn, lại rung đùi!
- Ai chả thích tự do, dân chủ. Tự do tư
tưởng, ngôn luận, bày tỏ ư kiến chính trị..., ồ, rất quư báu và rất thích!
“Vô chính phủ” rất cần kinh tế cá thể. Nhà nước nắm lấy bao tử ắt nắm lấy
trái tim, khối óc. - Chú Nông nói -. Tôi thấy lưỡng đảng vẫn hay hơn độc
đảng. Nước ḿnh cần có lưỡng đảng nhưng phải là hai đảng cộng sản cả hai.
Mác có nói về phạm trù mâu thuẫn, và ai cũng biết, bất ḱ sự vật, hiện
tượng nào không mâu thuẫn, th́ không vận động, và thế là tŕ trệ. Các sự
vật, hiện tượng đều phải mâu thuẫn trong chính nó, trong tính thống nhất
của nó để phát triển. Độc đảng chỉ tŕ trệ thôi. Mâu thuẫn đối kháng th́
phân liệt, suy yếu và có thể dẫn đến nội chiến, chia cắt Đất nước hoặc mất
nước. Nước ḿnh nhỏ, c̣n nghèo...
- Buồn cười! Anh Nông định lập đảng chăng?
- Chợt thấy hơi trực tính, thầy Tiếng vội khỏa lấp -. Anh Nông sắc bén
lắm, tuy nhiên, bọn ḿnh chỉ bàn chuyện thời sự, văn hóa thôi, nhiều lắm
là bàn chính trị học, kinh tế học... - Và thầy cười, mong chú Nông thông
cảm, kiêng dè cho, rồi thầy nói -. Chỉ là phiếm đàm lung tung thôi!
- Tôi, cách mạng “hai mươi” trong ngoặc kép
nháy nháy đây. Loại tôi với cách mạng “ăn theo” đều giống nhau. Tôi chỉ
phục các cụ hoạt động cách mạng thời trước ba mươi, trước bốn lăm, ít ra
cũng trước năm tư. Đấy mới là cách mạng thứ thiệt. Mong các cụ trên Trung
ương lưỡng đảng cho và chỉ lưỡng đảng trong Ban Chấp hành Trung ương thôi;
nói từ khác, là lưỡng đầu th́ đúng hơn, không, hai bán cầu năo... - Thầy
Rơm cười hinh hích v́ cách chơi chữ một cách minh bạch, lối ví von đầy ấn
tượng của ḿnh -. Đúng, hai bán cầu năo bộ!
- Nguy cơ “hữu khuynh”, tức là nịnh dân,
nuông chiều thị hiếu thấp hèn, thói đồi trụy, nịnh thực dân, đế quốc, tư
sản... - Nhà văn Quyển buột miệng -. Ngày xưa Phật giáo chia hai phe, Aăn
Quang và Việt Nam quốc tự, chả ra ǵ! Phật giáo Việt Nam thời Lư - Trần
rất tốt, nhưng có lẽ hiện nay và sau này các sư chỉ lănh đạo đạo hữu về
tâm linh thôi, cho đúng tôn chỉ của Đức Phật: Đức Phật rời bỏ ngai vàng để
cứu đời. Tôi cũng như thầy Tiếng, ghét lợi dụng thần quyền vào chính
quyền. Tôn giáo là nơi thanh tẩy tâm hồn, gạt bỏ trần tục để hồi phục
thiện tâm. Tôn giáo như Thiên Chúa giáo rất chính trị và lại là chính trị
thất bại chủ nghĩa, thỏa hiệp với đế quốc đến mức “tự sát” và mất nước như
thế, thật là nguy hiểm!
- Đảng Đại Việt ngày xưa ở Quảng Trị khá
mạnh, mạnh hơn Quốc dân đảng nhưng hơi lạc hậu đến mức sa vào sự câu kết
với thần quyền hạng bét, là vơ phái Thần quyền bùa chú. - Thầy Tiếng sực
nhớ, nói thêm.
- A hà... Thần quyền, ồ, chính trị câu kết
với thần quyền... lại thêm một dạng khác là thần quyền hóa như thiên tử
hóa... Thôi, đừng chính trị kiểu suy tôn lănh tụ nữa. Kẻ có quyền, mà suy
tôn... ḱ quá! Đấy là một dạng thần quyền hóa lănh tụ... -. Thầy Quyển bật
lửa, rít một hơi thuốc lá đầy phổi, từ từ phả ra những sợi khói trắng -.
Tôi rất thèm tự do!... Tự do, dân chủ cũng phải có cơ chế chứ nhỉ? Vừa
rồi, anh Nông có nói, tôi xin nói lại cho rơ: Độc đảng chỉ tŕ trệ thôi,
và hệ quả là lạc hậu, nghèo nàn về tinh thần lẫn vật chất, xă hội bức bối,
ngột ngạt, cuối cùng là chế độ sụp đổ, như Liên Xô cùng các nước Đông Âu
mới đây! Tôi chỉ sợ rằng, cứ vin cớ nước ta nhỏ, phải thực hiện chuyên
chính bằng chế độ độc đảng, để rồi bọn đế quốc tư sản nắm lấy chuyên chính
độc đảng ấy mà thao túng. Nói cách khác, chúng lợi dụng chuyên chính vô
sản ở nước ta để thực thi chuyên chính tư sản! Chúng chẳng mong ǵ hơn!
Trong thâm tâm bọn tư sản như bọn tài phiệt ở Mỹ chẳng hạn, chúng cũng
muốn độc đảng lắm, nhưng ở nước chúng, nhân dân Mỹ không chịu đó thôi! Ôi,
độc lập, tự do, dân chủ... Để đạt được các mục tiêu ấy, sao khó khăn quá
vậy! - Nhà văn Quyển trầm ngâm -. Tất nhiên không phải tự do kinh doanh
mông, đùi, vú phụ nữ trên sách báo, phim ảnh, truyền h́nh... với các thứ
triết học sa đọa, bạc nhược..., đàn bà gắn liền với quảng cáo...
- Này, nhà văn Quyển, các anh bôi chúng tôi
trong thơ, trong truyện của các anh quá cỡ thợ mộc! Lính ngụy chúng tôi
đâu phải ghê tởm, phi nhân tính đến thế! Chỉ vài con sâu làm rầu nồi canh.
Hăy cụng li với tôi, và giải thích tại sao. - Chú Nông nói vui, nhưng cũng
có phân nửa tâm trạng thực trong lời nói vui ấy, mặc dù biết Quyển chỉ là
nhà văn trưởng thành từ phong trào tranh đấu ở đô thị, chưa bôi nhọ lính
ngụy bao giờ.
- Aăy, sao lại choảng tôi một quả lạc đề
đến thế, thưa ông anh ? Anh vu oan cho tôi! Xin cụng li cái nào.
Hai người uống sạch hai li đầy bia ướp
lạnh, nh́n nhau cười.
- Đấy là văn chương tuyên truyền thời
chiến tranh. Sau này các nhà văn thời ấy sẽ nhuận sắc lại chính tác phẩm
của họ tí chút cho chân thực. Có ǵ đâu!... Này, trở lại vấn đề sùng bái
cá nhân lănh tụ, tôi thấy thời Ngô Đ́nh Diệm rởm lắm. Đấy là thủ thuật
chính trị hơi lạc hậu rồi, tàn dư của phong kiến, thần quyền... như thơ
“Thần” của Lư Thường Kiệt, “lá chấm mỡ heo” của Nguyễn Trăi, “mâm đồng đốt
lửa giả mặt trời” của Quang Trung... Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh phong
kiến, thủ thuật ấy có giá trị của nó. Thời dân chủ, rơ là khác rồi... Ồ,
cái phỉnh xem ra cũng là ma-ki-a-ven-lít ("cứu cánh biện minh cho
phương tiện" = "vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn"!). Nhưng Diệm th́ vẫn
Diệm thôi, không đánh đồng với Lư Thường Kiệt phá Tống b́nh Chiêm, Lê Lợi
nằm gai nếm mật, Quang Trung đại phá quân Thanh, thống nhất Tổ quốc hai
Đàng làm một, lại toan thu hồi Lưỡng Quảng được... A à... Tôi thương mấy
anh lính ngụy lắm. Khi không họ bị phỉnh, mang tiếng làm giặc! Bản thân
tôi là cách mạng “ba mươi”, nhưng tôi vẫn coi thường các anh cách mạng
“hai mươi” ngoài Bắc, và cách mạng “ăn theo” dạng “học sinh Miền Nam ra
Bắc học”, hoặc “ăn theo” lí lịch... Lố bịch và thiếu tự trọng! Nhưng lỡ
rồi, lịch sử ơi! Ngụy cứ phải mang tiếng ngụy, cách mạng “hai mươi”, “ăn
theo” th́ cứ... cách mạng! Người ta bảo ḿnh ghen với họ mất công! Giá trị
văn chương, hội họa thuộc về thời gian! Chưa muộn đâu, anh Nông thân mến
ơi! - Nhà văn Quyển hơi ngà ngà, ra chiều suồng să.
Hiền Lương từ lúc ba giờ chiều đến giờ, đă
gần bốn tiếng đồng hồ, ngồi nghe, lặng lẽ. Cô chợt mỉm cười.
- “Con người là tổng ḥa các quan hệ xă hội
trong tính hiện thực của nó”. - Nhà văn Quyển lè nhè nói tiếp -. Mấy ông
nhà triết cứ hay trích dẫn Các Mác, tôi chưa kịp tra cứu, xem nó nằm đoạn
nào, văn cảnh, ngữ cảnh nào. Nhưng câu đó, tôi ngẫm nghĩ tạm thời, thấy cụ
Mác đồng nhất quan hệ gia đ́nh với quan hệ xă hội; đúng hơn, xếp quan hệ
gia đ́nh vào quan hệ xă hội luôn. Nếu không thế, câu ấy... không “triết”
ǵ cả! Và thế th́, rơ là cụ Mác này chỉ thừa nhận hai cấp độ sống: cá nhân
(cá-thể-người) và xă hội (cộng-đồng-người-khác). Nói cho thuần nôm là: mỗi
người với mọi người thôi! Mác cũng “vô gia đ́nh” như Giê-su chăng? Và nếu
là “vô gia đ́nh” được xem như một nhận thức triết học, một giá trị
triết học th́ lí lịch gia đ́nh chỉ là xiềng xích của định kiến phong kiến,
dùng để áp bức con người mà thôi! Chủ nghĩa lí lịch là sự tru di!
- Này, ông có say không đó... Nói chuyện ǵ
như ổ líp xe đạp trật cóc! - Chú Nông cười, vỗ vai Quyển.
Quyển cũng cười và mọi người cười ầm.
- Câu văn, ủa, đoạn văn này chưa “ngoắt cần
câu” lại mà. Bàn ra xa rồi mới quẹo lại chớ! Anh làm tôi cụt hứng!
- Quẹo với ngoắt ra sao, cứ quẹo với ngoắt!
- Thầy Tiếng nói trong tiếng cười - ... Ôi, cái sự tru di tam tộc kiểu
mới!
- Xem ra, mấy cụ rất thích độc lập, tự do
cho mỗi người, đặt giá trị bản thân độc lập với giá trị tha nhân, kể cả
gia đ́nh, cộng đồng! Ở khía cạnh nào đó, giá trị do cái tôi tự thân làm ra
rất được các cụ nhấn mạnh, xem là “oách”. Tâm lí người có tài là chả thèm
“ăn theo”... Hăy tự khẳng định chính ḿnh!... Nói như vậy, không phải là
sa vào chủ nghĩa cá nhân. Tôi muốn nói rơ thêm hai cấp độ sống. Một, mỗi
người sống với ư thức về cái tôi cá thể. Hai, cái-tôi-cá-thể-người ấy sống
với ư thức xă hội, sống trong và sống với xă hội trong quan hệ tương tác
biện chứng. Tôi sống trong và sống với xă hội (gồm gia đ́nh) nhưng tôi có
thể bất đồng, chống lại, đạp đổ, hoặc tuân theo. Quan hệ vừa nói đến bao
gồm quan hệ sản xuất, quan hệ phong tục, vân vân... Sự chống lại hoặc
thuận theo ấy nhào nặn lại tôi, tạo nên một cái tôi thống nhất của các
mặt, các loại quan hệ. Tôi, một chỉnh thể hài ḥa của các mâu thuẫn, các
quan hệ chồng chéo, chằng chịt... Tôi không tự điều ḥa, vô thức hay hữu
thức điều ḥa, tôi sẽ rơi vào trạng huống bị giằng xé, tự thân phân liệt,
tự thân tan hoang, tan tác... A à... Xin nhớ cho rằng các quan hệ đều có
tính lịch sử - cụ thể của xă hội... Tính hiện thực th́ phải cụ thể và rất
đa dạng... Không có cá nhân nào giống hệt cá nhân nào, không có gia đ́nh
nào giống hệt gia đ́nh nào, không có giai đoạn lịch sử nào giống hệt giai
đoạn lịch sử nào... Rất đa dạng..., v́ “..., trong tính hiện thực của
nó” cơ mà!
- Này, nhà văn gàn, anh say rồi đấy... -
Chú Nông lay lay cánh tay ngấm men mềm oặt trên thành ghế của Quyển.
Quyển cười mơ màng, ch́m đắm trong suy
tưởng, vụt thẳng lưng lại, cười khùng khục rồi cười vỡ ra, sặc sụa, ngặt
nghẽo. Thật ra, nhà văn Quyển chỉ ưa đùa tếu cho vui, chứ đă uống bao
nhiêu đâu. Không chừng anh Quyển này giả bộ để được chị Vân và Hiền Lương
chăm sóc cũng nên!
Chú Nông ngờ ngợ:
- Chưa say th́ cứ “phán” tiếp!
- Xin “phán” tiếp! - Nhà văn Quyển ra vẻ
nghiêm trọng -. Nhưng tôi cũng có đọc một câu trích từ Mác - Ăng-ghen toàn
tập, trong một cuốn sách nào đó về thân sinh Bác Hồ, như thế này: "Lịch
sử của từng cá nhân hoàn toàn không tách rời mà là bị quy định bởi lịch sử
của các cá nhân tiền bối hoặc cùng thời với họ"! "Các cá nhân tiền
bối hoặc cùng thời" là ǵ? - Nhà văn Quyển thật ḷng cũng không rơ câu
này của Mác hay của Ăng-ghen, nhưng thầm nghĩ Mác hay Ăng-ghen ǵ cũng
thế, một người là con trai luật sư tư sản có cơ ngơi là lâu đài đồ sộ, c̣n
người kia th́... Trong một loé chớp, anh bỏ dở ư nghĩ thầm trong đầu và
nói tiếp -. Sao Ăng-ghen không nói quách là cha mẹ, ông bà, cố, văi hoặc
anh chị em cho trong sáng, minh xác ngôn từ? Ai cũng biết Ăng-ghen là con
trai một lăo tư sản công nghiệp dệt giàu sụ thuộc loại bậc nhất ở Đức. Thế
th́ vị lănh tụ vô sản thế giới này là bản sao phô-tô-cóp-pi của lăo tư sản
bóc lột kia ư? Anh chị em của Ăng-ghen thế nào, tôi chưa biết, nhưng lăo
tư sản thân sinh của Ăng-ghen ai cũng rơ! Thế th́ thế nào nhỉ! - Nhà văn
Quyển lại rung đùi một cách dữ dội như lên kinh phong, khiến mọi người đều
bật cười -. Chắc là bản sao chụp phô-tô-cóp-pi về gen di truyền nhưng lại
nhuộm màu khác! Về gen di truyền phải có phả hệ dăm bảy đời để nghiên cứu
mới đủ dữ kiện để kết luận. Cũng có thể... Ví như cái ǵ nhỉ? Như khuôn
dấu, chữ khắc ngược, h́nh khắc ngược, nhưng ịn xuống mặt giấy, chữ và h́nh
kia thành xuôi? Thật ra, nói một cách triết học, một con người cụ thể với
mă gen di truyền đồng biến, dị biến - đột biến, c̣n chịu sự tác động của
môi trường, điều kiện học tập, xă hội, các yếu tố thời đại nữa, và đồng
thời con người ấy tác động ngược lại các thực thể ấy. Biện chứng là thế!
Vả lại, người có lúc, sông có khúc! Một người, một sông c̣n thế, nữa là
bản sao chụp gen di truyền từ lăo tư sản thân sinh đến con trai là
Ăng-ghen, lănh tụ vô sản. Cha và con dẫu sao cũng hai người, chưa kể người
thứ ba mang nặng đẻ đau là mẹ. Biện chứng ở đâu, nếu rập khuôn? - Nhà văn
Quyển cười mơ màng trong men say -. Cái chốt của câu trích từ Mác -
Ăng-ghen toàn tập là ở chỗ Ăng-ghen dùng từ ngữ chung chung, mơ hồ:
"các cá nhân tiền bối hoặc cùng thời"! Theo tôi, rơ ràng Ăng-ghen là
con trai đích thực của Đác-uyn (nhà sinh vật học, cha đẻ của thuyết vạn
vật cạnh tranh sinh tồn), đồng thời là con cháu đích tôn của Xanh Xi-mông,
Phu-ri-ê, Ô-oen (những nhà kế thừa, sáng tạo thêm chủ nghĩa xă hội) và đặc
biệt là con trai đích thực của nhà biện chứng pháp lộn ngược: Hê-ghen! Rơ
ràng anh em ruột của Ăng-ghen là Mác! Đó, tiền bối và người cùng thời của
Ăng-ghen đó! - Nhà văn Quyển đắc chí cười và càng rung đùi một cách rất
tức cười -. Ăng-ghen là đứa con tinh thần của nhiều huyết hệ, dân tộc!...
Cái chốt c̣n ở chữ "hoặc". Ăng-ghen có thể không giống các tiền bối
kia mà chỉ giống Mác! Mác cũng vậy, không giống ai... không giống ai...
trong các tiền bối mà chỉ giống Ăng-ghen!
- Giỏi!
- Trời đất! Tôi đâu phải học tṛ ông anh,
sao ông anh thán phục tôi như khen con nít vậy!
Chú Nông cười, nâng li bia bằng hai tay,
rất cung kính trao cho Quyển với nụ cười:
- Xin lỗi triết gia kiêm văn hào Quyển!
Kính mời ngài dùng thêm bia.
- Được! - Nhà văn Quyển trả miếng với vẻ
mặt quan lớn -. Khá khen!
Mọi người lại bật cười vui vẻ.
Lúc đó, chị Vân và cô giáo Lan xin phép
thầy Tiếng cùng các vị khách được bưng bún mọc lên. V́ bàn nhậu nhỏ, nên
các lon bia, nước ngọt được gom lại để dọn đi. Chị Vân nói:
- Ba và các chú vẫn như thường lệ, chả ai
uống được nhiều.
- Tùy hỉ thôi. Nhưng mỗi người uống một đến
hai lon cho có hơi men, để thêm rôm rả thôi, Vân à! - Nhà văn Quyển lẳng
lơ nói, nh́n đôi bàn tay rất đẹp của chị Vân.
- Xin lỗi trước, tôi nói hơi vô phép, là
dạo này chúng ta như những kẻ mắc bệnh tâm thần, thể hoang tưởng cải cách,
hay sao ấy! - Thầy Tiếng cười gịn, tiếng cười làm nhẹ và vui câu nói.
- Không khí chung của thời Đổi mới, dân chủ
hóa mà! Em hay la cà các quán, thấy đâu cũng vậy. Chẳng lẽ cứ măi “khép
nép” trong tư tưởng và “lí nhí” cái mồm. Nhưng chẳng ai điên cả, chững
chạc, lịch sự hơn th́ có. Người dân có tư cách công dân hơn. - Nhà văn
Quyển nói, lại quay qua chú Nông - Anh Nông, đến “tiết mục chữa cháy” rồi
mặc dù chưa ai muốn “cháy” bao tử. Tôi vẫn xin hẹn dịp khác để xin thưa
với anh là hôm nay chuyện tṛ chưa “đă”, có cái c̣n chưa công bằng và thỏa
đáng.
- Tư cách công dân đâu phải là bợm nhậu
oang oang trong quán rượu! Tư cách công dân đâu phải tản mạn, lan man
trong “Nhật Kí Người Điên”! - Chú Nông “sờ gáy” nhà văn Quyển.
Quyển cười, đan tay xá chú Nông :
- Xin thua ông anh!
Mọi người cười. Chị Vân và cô giáo Lan ngồi
cạnh Hiền Lương để vừa tiếp thêm bún vừa góp thêm chuyện.
- Trước mắt là bất công với bà nhà và Vân!
- Thầy Tiếng cười, mời khách bạn dùng bún cho nóng sốt.
Sau buổi gặp mặt ngẫu hứng đó, Hiền Lương
và chú Nông về nhà, với niềm băn khoăn trên đường phố ngập ánh đèn và xe
cộ. Dọc đường về Thủ Dầu Một, chú Nông nói với con gái trong tiếng gió bạt
nhẹ theo tốc độ chậm của xe gắn máy:
- Mừng là thầy Tiếng vẫn nhiệt t́nh một
cách lặng lẽ trong công việc. Đôi khi ba phải thẹn với ổng. Ổng bản lĩnh,
dũng cảm quá, và trung thực đến tận cùng với khoa học. Nhận thức của ổng
về Thiên Chúa giáo khác với thời ông c̣n là linh mục đến một trời một vực.
Thời thầy Tiếng c̣n ở Quảng Trị, ổng nhận thức hoàn toàn theo thần học La
Mă (Rome).
- Đâu phải ai cũng nghiên cứu khoa học được
như ổng! Con muốn ứa nước mắt khi nghe thầy Tiếng nói, đại để là mỗi người
chỉ có cơ may được sống một lần duy nhất, chết rồi th́ chẳng ai phục sinh,
sống lại ở nghĩa đen, nghĩa thật, không ai dại làm hỏng ḿnh, lừa ḿnh dối
người.
Chạy xe chậm, chú Nông căng mắt nh́n mặt
đường nhựa trong ánh đèn đường. Chú nói, khi xe máy đă đến đoạn Lái Thiêu:
- Ba đă t́m mua ở hiệu sách cũ cuốn “Kẻ
Tuẫn Đạo” của Uy-na-muy-nô, một tác giả lớn người Tây Ban Nha, và đă
đưa con đọc từ lâu. Thầy Tiếng muốn được phong thánh với công việc của
ḿnh - “thánh” là nhà nghiên cứu khoa học hết ḿnh, chứ không phải “thánh”
của Kẻ Tuẫn Đạo... Nhưng... nhà văn Quyển nhầm rồi. Ngày xưa, hồi
c̣n làm linh mục, thầy Tiếng đă sử dụng thần quyền Thiên Chúa giáo để
chống cộng đấy! Ổng mới ghét sự câu kết tôn giáo với chính quyền từ năm
bảy mốt đây thôi. Sở dĩ ba lưu ư cho con điều đó là để con có sự so sánh
giữa giáo lí xưa nay ở nhà thờ giáo xứ cũng như ở khắp thế giới với nhận
thức riêng của thầy Tiếng. Nói cho đúng, thầy Tiếng nhận thức về Kinh
Thánh, gần giống với linh mục Mai Lăo Bạng trong Duy Tân hội của Phan Bội
Châu, nhưng với quan điểm duy vật.
- Có dịp nào mời các vị hôm nay họp mặt
chuyện tṛ ở nhà ḿnh cho vui ba nhỉ? Nhận thức của ba về Kinh Thánh có
khác với ông Tiếng, tất nhiên cũng khác với Va-ti-căng.
- Ờ, để có dịp... Cũng phải bàn thêm cho
công bằng, thỏa đáng!... Con c̣n nhớ nội dung của Kẻ Tuẫn Đạo không?
- Dạ, làm sao con quên được. Đó là truyện
về một giám mục quản hạt tại Tây Ban Nha, không tin có sự tồn tại của Đức
Chúa Trời, cũng không tin vào "sự phục sinh", thế giới siêu h́nh, thiên
đường, địa ngục, nhưng vẫn suốt đời phụng sự cho giáo hội Thiên Chúa giáo,
bởi giám mục ấy nghĩ rằng, các tín đồ vẫn cần có ảo tưởng, một thứ thuốc
phiện tâm linh, để có thể tiếp tục sống ở trần gian này. Giám mục ấy được
Toà thánh La Mă phong thánh, nhưng thực chất ông ta là một người vô thần.
Chú Nông cười khẽ:
- Giám mục ấy là một kẻ lừa người dối ḿnh,
mặc dù rất đạo hạnh trong nghiệp vụ, kiếm sống bằng nghề giám mục (hẳn mức
sống cũng đạm bạc thôi), đồng thời ông ta là một kẻ chống lại sự tiến bộ,
cách mạng, lại buồn bă mỉa mai phong trào công nhân. - Chú Nông nói tiếp,
mắt vẫn nh́n mặt đường đêm loáng ánh đèn -. Sự thành thật duy nhất của
giám mục ấy là ông ta không bao giờ đọc câu kinh quan trọng nhất trong bài
kinh "Tin kính". Bi kịch nội tâm của giám mục ấy là vậy đó.
- Dạ, con hiểu chứ. - Hiền Lương đáp -. Dẫu
sao, giám mục ấy cũng rất đáng bị phê phán.
Bây giờ, ở làng nội bên bờ sông Bến Hải
này, đong đưa nhịp vơng dưới tàn cây trứng gà mùa hè xanh thẫm, Hiền Lương
nhớ ba, nhớ nhà, nhớ B́nh Dương và Sài G̣n. C̣n mai một ngày, mốt một ngày
nữa, Hiền Lương và mẹ sẽ vào lại hai nơi ấy! Cô chợt nghĩ, làm sao mỗi
người không có dĩ văng của ḿnh được nhỉ? Người không có quá khứ là người
phi thực. Đắm ch́m trong quá khứ đen tối, lỡ lầm là sống bệnh, cũng rất
bệnh nếu măi say mê quá khứ huy hoàng, hào hùng, đức hạnh của ḿnh. Một
khóe mắt ở thời điểm hiện tại, trên đôi mắt ai đó, làm sao không c̣n dấu
vết quá khứ của chính người đó, và hơn thế, c̣n thể hiện cả tín hiệu tương
lai trong dự định, dự cảm cũng của chính người đó nữa. Ờ, chỉ có than,
từng vỉa than trầm tích đen tối mới kết tinh kim cương. Đúng. Nhưng có
những cuộc đời rạng rỡ như mặt trời hay ít ra như tia nắng, như ngọn lửa.
Những định giá chỉ là ước lệ xă hội. Ờ, dẫu sao, con người vẫn cần lửa và
nắng hơn. C̣n những đầm lầy bốc hơi kết đọng thành mưa nữa. Giọt mưa đẹp,
đơn sơ, b́nh thường đến tầm thường mà cần thiết biết bao. Tất cả đều tự
kết tinh, bật sáng, tỏa sáng, kết đọng, cho ḿnh và cho đời, nhưng phải tự
thân trước hết, rồi mới cần đến tác nhân. Ờ, nghệ sĩ, sứ mệnh của họ là ǵ
nhỉ? Hiền Lương muốn bật cười to v́ cô mệt mỏi đến ră rời, toan làm ḿnh
làm mẩy vô cớ với chính ḿnh. Với bao miệt mài vẽ, cô mơ ước được làm nghệ
sĩ tạo h́nh biết bao... Cô đang đào mỏ, khai thác trục lợi từ vết nhục, từ
huân chương chăng. Cô cám ơn chiến tranh chăng. Hiền Lương rùng ḿnh với
tiếng vang của ngôn từ, lảnh lói, xé ruột, trong chuỗi suy tưởng. Không,
trừ những kẻ độc ác, chẳng ai muốn lịch sử đau thương đến vậy, mặc dù biết
rằng “từ trong đau thương mới thấy rơ gương mặt của Tổ quốc rạng ngời”.
Hiền Lương không thích hỗn xược với bất ḱ ai, không muốn làm ḿnh làm mẩy
với bản thân ḿnh. Cô cũng chẳng muốn vu oan cho ḿnh. Cô muốn sống tận
cùng ư nghĩa của động từ “sống”, đấy là điều trước tiên trong ư thức sáng
tạo. Cho dù không sáng tạo nghệ thuật, là thanh niên, là con người, cô
phải sống sâu sắc. Cô phải sống với lịch sử đang sống, một giai đoạn lịch
sử chưa tĩnh tại, chưa chết cứng. Nghĩ cho cùng, có giai đoạn lịch sử nào,
mặc dù đă quá xa xưa, đă và măi măi chết cứng, không c̣n phập phồng mạch
máu nối với hiện tại và tương lai, nữa là cô đang sống với giai đoạn lịch
sử chưa khô vết máu, chưa lành nỗi đau, chưa sáng hết độ sáng của nụ cười
sâu thẳm hào hùng. Cô biết, cô đang sống trong âm hưởng hậu chiến với
tiếng cười, tiếng khóc của nó.
Gio Linh - Bến Hải ơi, chỉ c̣n mai và mốt
nữa...
TXA.
CƯỚC CHÚ chương XII: không có cước chú.
(
xem tiếp chương XIII-A )