TRẦN
XUÂN AN
m ù
a
h è
b
ê n
s
ô n g
(nỗi đau hậu chiến)
tiểu thuyết
nnhà
xuất bản
1997 & 2003
CHƯƠNG
XIII
(phần
A)
Hiền Lương
gượng mỉm cười một mình. Cho dù chưa phải là lá thư tỏ tình như đã vội ngỡ
thế, nhưng cô không thể không thấy Hành rất quan tâm đến mình. Điều đó
khiến Hiền Lương cảm thấy không lạnh hẳn trái tim, trái tim mươi phút
trước đây gần như nóng bừng chất rượu.
Dưới bóng
râm cây trứng gà rợp mát, Hiền Lương đọc một bút kí của Trần Nguyễn Phan
(I.116), bài đã đăng ở tập san - kỉ yếu của một trường trung học, nhưng có
sửa chữa, bổ sung thêm, trong tâm trạng đã phần nào thanh thản. Bút kí như
một bài thơ văn xuôi, có nhiều câu chỉ là một ngữ.
TRẦN NGUYỄN PHAN
Một chút tự bạch:
Giữa vòng tay Tam
Kỳ
và bè bạn
bút kí
yêu quá dáng người
nết đất
nơi nơi xa thành
thiên thai
(Quê quán,
trong tập thơ “Lặng
lẽ ở phố”, 1995)
Kính tặng cha tôi,
một người yêu quê hương, Đất nước, theo
chủ nghĩa dân tộc Việt Nam,
được miễn học tập cải tạo sau Ngày Thống
nhất 30.04.1975.
Tặng: Nguyễn Đăng Chín, Cao Văn Phi,
Nguyễn Tấn Sĩ, Hoàng Thị Nhụy, Phạm Dương Nam, Võ Công Thảo, Nguyễn Ngọc
Khôi, và cộng tác viên thân thiết của nhóm bút: Huỳnh Ngọc Chiến, Trần
Ngọc Thọ.
a
Học xong lớp đệ lục ở
Quảng Trị, mười hai tuổi rưỡi, Phan lần đầu đến Tam Kỳ và có một mùa hè
thị xã. Nhưng mãi đến mùa hè năm sau, khi từ giã ngôi nhà mà Phan được
chào đời, từ giã Hàm Nghi - Quốc tử giám, mái trường cổ kính nhất Huế, cổ
hơn cả Quốc Học, chú bé này mới thật sự sống với mảnh đất trung tâm chia
đều đường sắt xuyên Việt.
Một năm
học ở Huế với nỗi lẻ loi, chất thơ của xứ sở trầm mặc đã ngấm vào, gọi dậy
những rung cảm mơ hồ, nhưng có khi da diết đến tức tưởi, dù rất vô cớ.
Những con đường xanh.
Những khu vườn xanh. Những rêu xanh trên thành quách và vàng son cũ với
những vết thương lở loét do bom đạn ...
Huế của chú bé Phan
không chỉ thế, Huế còn sinh động với nhiều nơi chốn khác.
Những lần lang thang
đến nhạc viện, trường kịch nghệ. Những phòng tranh, rạp chiếu bóng. Những
lần có giờ trống, cùng bạn bè qua tòa thượng thẩm xem xử án, bị mê hoặc
bởi giọng điệu hùng hồn của luật sư. Và những lần bãi khóa, mít tinh, biểu
tình, Phan sửng sốt, khâm phục trước tiếng hát, lời cáo trạng chế độ từ
lồng ngực sinh viên, rồi ngỡ ngàng trước sự thăm hỏi của dân biểu quốc hội
ngụy ...
Huế của
tuổi mới lớn trong Phan như vậy. Huế ấy đã cùng anh vào Tam Kỳ.
Tam Kỳ
nhỏ bé với một đường phố sầm uất duy nhất mang vẻ khô khốc.
Nhưng
chính ở nơi đây, chất thơ tiềm tàng đâu đó trong nắng gắt và đất cằn đã
tạo ra một quê hương của nhiều thi sĩ và chí sĩ.
Bấy giờ,
với một cảm thức non nớt, Phan mơ hồ nhận được một điều gì đó không còn
sương khói đến mềm ướt hoặc ngỡ như bùng lửa trong không gian quanh mình.
b
Nhớ mãi
một gò đất hoang chỉ có một túp lều xiêu vẹo và một ngôi miếu cổ bên gốc
cây thấp bốn mùa xanh mướt. Đó là nơi tụ tập của lũ trẻ trong xóm. Đứa lớn
nhất cũng là đàn anh của nhóm. Anh ấy mồ côi, thuộc nhiều câu thơ bi thảm,
u uất, và cả thơ đầy hào khí nữa. Anh say truyện Kiều với rất nhiều bài
thơ luận chiến về Kiều.
Dưới bóng
cây trưa, lũ trẻ ngồi nghe anh đọc thơ, bình giảng. Mắt anh mờ đi, có khi
gần như khóc, thỉnh thoảng lại chói lên, gần như tóe lửa.
Em về
điểm phấn tô son lại
Ngạo với nhân gian một nụ cười!
Dù là
chàng trai quá nhiều mặc cảm nhưng anh vẫn rất cảm khái với từ ''Ngạo''
của Thái Can. Giọng Quảng của anh đọc thành ''Ngộ''. Lúc đầu, Phan cứ đinh
ninh là anh đã ngộ một chân lí, một triết lí sống để có thể sống được.
Anh là ''người
thầy'' của Phan bên ngoài lớp học.
Anh không
phải là người đầu tiên dẫn Phan đến cửa ngõ của văn triết. Tuổi ấu thơ
Phan đã có những hai ''người thầy'' bên ngoài lớp học như vậy. Nhưng anh
vẫn là người đã đánh thức cảm quan vần điệu thống thiết lẫn hùng tráng
trong tâm hồn Phan.
Và Phan
sau này mới biết gò đất hoang ấy chỉ là một góc nhỏ của Tam Kỳ. Phan còn
có ở thị xã này những ''người thầy'' là bạn học cùng lớp, cùng trang lứa
nữa.
c
Thầy giáo
hướng dẫn năm lớp chín của Phan là một tu sĩ dạy công dân giáo dục kiêm cả
hai môn sử địa. Tấm áo chùng trắng toát của Thầy với gương mặt khắc khổ
của người ăn uống theo lối tân dưỡng sinh, quanh năm gạo lứt muối mè, như
mãi khắc vào trí nhớ Phan. Ấn tượng đậm nhất về Thầy còn đọng mãi trong
Phan là cái nhếch môi cay đắng gần như cay cú. Có phải nơi Thầy có một
tuổi trẻ bừng sôi máu nóng nhưng thời cuộc đã dập tắt, nên Thầy tìm đến
kinh kệ và trường chay để nguôi quên hơn là tìm đường siêu thoát?
Những bài
giảng về các thể chế chính trị, về kinh tế với các hình thái, về lịch sử
và các vùng địa lí, hầu như bao giờ cũng đượm lẫn một tâm trạng u uẩn.
Khi Thầy
đã nhập hồn vào bài giảng, không ai còn nhớ đến tấm áo chùng trắng toát tu
sĩ nữa. Thầy cực kì cay đắng với lịch sử cận hiện đại và thời cuộc (1858 -
1973). Đặc biệt, khi giảng về Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, hai nhà
chí sĩ kiên cường của quê hương Thầy, Thầy như bị thôi miên bởi chính mình.
Ngữ điệu, hình ảnh trong lời văn giảng bài của Thầy vừa cường điệu tạo ấn
tượng mạnh, vừa biếm lộng đến chua chát, cay độc, khi chĩa thẳng vào chế
độ ngụy Miền Nam Việt Nam đương thời.
Lớp Phan
vào dịp Tết năm ấy, có một tờ báo tường rực rỡ dựng ngay trước cửa lớp.
Lúc ấy Phan và bạn bè nào biết, tâm trạng của Thầy đã phả vào những bài
báo non nớt ấy.
Cảm thức
thời cuộc đã được khơi dậy.
Và một
ngày hội cổ truyền, cây nêu dựng lên, học sinh mặc áo dài khăn đóng, bộ
quốc phục ngàn năm, được tổ chức riêng ở lớp Phan, như đánh thức một tình
tự dân tộc bị ngủ vùi trong nếp sống phảng phất chút híp-pi (hippy) hiện
sinh của thị xã. Thầy cũng ngạc nhiên, vì Thầy không đề xướng cách tổ chức
buổi tất niên như vậy. Đấy là lớp tự động bàn với nhau. Khi lớp bàn bạc,
Phan có kể lại một ngày hội của trường Nguyễn Du ở Huế do nhà giáo cũng là
dịch giả thơ Đường, người Tiên Phước, Tam Kỳ, tổ chức. Và lớp hưởng ứng
như một mạch ngầm bùng dậy.
Lớp chín
ấy đã tự hình thành một bút nhóm từ bao
giờ chẳng rõ. Những say mê toán học, ngoại ngữ đã bị văn chương, báo chí
lấn lướt.
Đặc san
mùa hè năm đó có bìa in ty-pô (typo), ruột rô-nê-ô (ronéo) trên giấy tốt.
Những bài văn, thơ chứa chan tình quê hương dân tộc. Người mẹ Việt Nam là
hình tượng khơi nhiều cảm xúc nhất. Phan viết về Mẹ mình vì Phan xa Mẹ.
Phan viết về Mẹ Việt Nam vì Phan mơ hồ cảm nhận Mẹ đang đau xót trong cảnh
đàn con xâu xé nhau giữa một thế cuộc đau lòng trên chính Tổ quốc mình, mà
căn nguyên là bởi thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ và ''tả đạo''.
Ban báo
chí lớp chín năm ấy gồm những tấm lòng, những nỗi niềm thao thức. Và
trường tìm trường giao lưu, ''nối vòng tay lớn''.
Bạn bè cũ
còn đó, và mãi còn trong tâm hồn nhau cả những năm tháng sau này:
Tam Kỳ, trời rất thơ ca
thoáng mưa non hạt cho
già nắng non
phố phường gió rất trẻ
con
reo mai ríu rít hát giòn
tan đêm
Cây Tam Kỳ rất anh em
chìa trăm nhánh biếc bao
thềm nhà thân
nghe bối rối trước ân
cần
như có lỗi giữa vô ngần
mến thương
Mắt Tam Kỳ rất thật
gương
tôi soi thấy thuở đến
trường, bâng khuâng
bạn bè trẻ lại, quây
quần
ngỡ đang mới lớn, lớn
dần trong nhau!...
Bạn bè cũ
còn đó, chắc chắn mãi còn đó một mùa hè dẫu bình thường trong một thời
buổi đã xa.
Những
nhận thức tuổi ấy còn non nớt biết bao, nhưng những nhiệt tình dễ gì tìm
gặp lại trong tâm hồn mình, bởi cuộc sống hôm nay đã khác...
Có một
thời, tuổi mới lớn như thế...
Dẫu sao,
không thể quên được người tu sĩ với tấm áo chùng trắng toát, trường chay
khắc khổ, mang một tâm trạng thường xuyên chua chát, nặng nợ với Đất nước,
xã hội hơn là đạo pháp, đạo hữu.
d
Tam Kỳ đã
thật sự dẫn dắt Phan và bạn bè chí cốt của mình đến với văn chương.
Ban C (văn
chương - ngoại ngữ) năm trước đã có một lớp và đã xuất hiện hai người thơ
trẻ trên tập san văn học lớn của cả Miền Nam (Nguyễn Nhật Ánh, và Nguyễn
Văn Dũng, tức Luân Vũ, về sau đổi là Ngữ Luân). Năm nay, lớp mười cấp
trung học phân ban, ban văn chương - ngoại ngữ có một bút nhóm gần như
đông đủ từ lớp chín. Đây là bút nhóm của khuynh hướng trữ tình phê phán
với tâm nguyện vì tình tự dân tộc.
Tên của
bút nhóm nẩy sinh một cách tình cờ nhưng không tình cờ chút nào từ bài dân
ca xứ Quảng. Bắt đầu là rung cảm trước vẻ đẹp của từ ngữ giản dị và làn
điệu dân ca lạc quan đùa nghịch. Khi tách riêng ra, thành một cái tên, lại
đượm những tâm trạng với nhiều ý nghĩa khác hẳn. Đó là Đất Mẹ, là Màu Da -
biểu tượng của Cao Quí Thiêng Liêng.
Bài dân
ca ấy từ trong dĩ vãng, trong tiềm thức của quê hương ruộng rẫy đã cất
vang lên giữa sân trường trung học một đêm mưa lạnh, bập bùng tiếng đàn
ghi ta thùng và bập bùng ánh lửa. Nhóm sinh viên cứu trợ nạn nhân bão lụt
Quảng Đà đang tìm về với quê nhà, hong ấm lại tình quê, tình nước trong
cơn đói rét. Suốt một tuần lễ, tay kìm, tay búa, cuốc và rựa, học sinh,
sinh viên tìm về với dân tộc. Chỉ ở nông thôn, với lũy tre xơ xác, mái rạ
xiêu vẹo, với bao người mẹ, người cha khốn khó, bao đứa trẻ bụng ỏng da
chì, tình đồng bào ruột thịt, tình tự dân tộc mới thực sự được giữ gìn và
còn mãi ấm nóng. Đó là một ngoại khóa mà không bài giảng nào có thể mang
lại một chất lửa như thế.
Trong
trái tim Phan và bạn bè, chừng vang lên hành khúc, tiếng gọi, để trong
những đêm sau đó, còn vọng lên từ đáy lòng mình lời đáp: ''Tổ Quốc ơi, con
đã nghe!'', còn văng vẳng lời bài hát do Thầy hướng dẫn lớp sáng tác: Hành
khúc Trần Cao Vân.
Bút nhóm
thực sự hình thành, đi vào hoạt động. Có một người bạn gái cùng lớp xin
gia nhập nữa. Không ai bảo ban, chỉ vẽ. Như một cụm cây tự mọc, tự đâm rễ,
bật chồi. Chỉ là một cụm cây bình thường giữa những phong trào gây sóng
gió trong lòng đất một cách cũng bình thường lúc bấy giờ. Phong trào du ca
sinh hoạt ở các chùa chiền. Phong trào viễn mơ như khát vọng trốn thoát
thực tại. ''Đất Vàng'' (Đất nước - dân tộc da vàng) lại nhìn thẳng vào sự
thật của thời mình sống, nhìn thẳng vào thao thức của chính tuổi học trò
đam mê văn chương của mình...
Có một thời, tuổi mới
lớn như thế...
Những
trưa rất thơ ca cùng nhau lang thang trên đường đê ngợp bóng hoa vàng, bên
con sông lấp lóa cát và nước.
Những
chiều làm thơ trong vườn ổi An Thổ xanh ngát, thơm lừng mùi mật mía từ các
lò đường, mùi dầu phụng từ các xưởng thủ công, tưởng chừng làm đôi khoảng
không gian ven đường làng đặc lại.
Những tứ
thơ bất ngờ bật ra dưới bóng rừng dương liễu nhìn ra chiếc cầu đường sắt
han gỉ, trong những chiều hôm sau ngày sinh hoạt hướng đạo.
Những đêm
thức trắng bên bàn viết.
Nhà Nguyễn Tấn Sĩ như
một trại sáng tác. Ông cụ của Nguyễn Tấn Sĩ lại thấy tuổi học trò đam mê
văn chương của mình.
Những đêm
đầy ắp hương thị vàng thơm và tiếng lá xạc xào sau nhà ...
Bài vở
nộp lại, tìm đến căn gác thầy Nguyễn Văn Bổn (Tần Hoài Dạ Vũ) - một nhà
thơ phản chiến, chống Mỹ, yêu nước, nổi tiếng trên báo chí công khai lúc
ấy. Có lẽ thầy Bổn ngạc nhiên nhưng biết đó là tất nhiên, vì bài giảng và
thơ của thầy đọc trong lớp luôn có lửa.
Có một
thời, ngọn lửa dân tộc được truyền đi như thế. Truyền, và biết chắc lửa sẽ
được nối tiếp truyền đi. Bởi từ lâu lắm rồi bối cảnh xã hội đã chuẩn bị
cho những tấm lòng...
Có một
thời, tuổi mới lớn như thế...
''Tổ Quốc
ơi, con đã nghe!'', một bản nhạc của phong trào và những bài viết đã được
in rô-nê-ô, bìa ty-pô. Cảm ơn ông chủ nhà in, anh ruột của một người trong
nhóm. Cảm ơn nhà văn Xuân Tùng không kiểm duyệt dù chức năng bắt buộc như
vậy.
- Khỏi.
Cứ in đi!
Những
bích chương với nhiều câu hỏi xoáy vào lòng người do thầy Bổn viết đã được
dán đầy ở các cổng trường trung học trong thị xã.
Báo được
treo bán ở các quầy sách.
Những
chuyến đi xa đến các trường trung học ở các quận. Những phút hùng hồn đầy
tình tự dân tộc và thao thức xã hội trước các lớp bạn ở các trường.
Báo với
gần 200 bản bán hết vèo trong vài ngày.
Và số 2
là khát vọng ''Xuân thanh bình''.
Lại những
đêm thức trắng, viết, đánh máy trên giấy sáp.
Đâu đó
có những lời hăm dọa bóng gió, ở các quầy sách, ở quán cà phê chị Được.
Báo vẫn ra, số lượng bản nhiều hơn, bài vở khá hơn (dù bây giờ có dịp đọc
lại, chắc sẽ thấy quá chừng thô vụng).
Và đột
ngột Phan bị chặn đường, xúc lên xe GMC., đưa vào trại tạm giam. Đêm đó,
Phan cứ tin mình chỉ bị bắt vì lí do vi cảnh. Chẳng hiểu sao, một thủ lĩnh
học sinh rõ ràng có màu sắc Việt Cộng lại ra nằm ở trại tạm giam, bên cạnh
Phan.
Anh ta
ngỡ Phan là Việt Cộng! Phan chỉ trao đổi vu vơ rồi yên tâm ngủ. Vì lúc ấy,
đối lập là chuyện bình thường. Tính chất đối lập, đối trọng đã thành một
nếp sống, ngay trong các trường trung học tỉnh lẻ.
Có phải
cảnh sát dàn cảnh để tìm đường dây móc nối chăng?
đ
Nhiệt
huyết bùng lên rồi tự lịm tắt, không ai cấm, không ai trừng trị, dù ngay
cả trong gia đình mỗi thành viên của nhóm. Cái chính là sự bế tắc về tư
tưởng...
Tuổi mới
lớn của một thời như thế...
Và ngọn
gió tình yêu đầu đời, năm mười bảy tuổi, lớp mười một, đã thổi dịu những
ray rứt, trăn trở.
Dù trước
đó, Phan rất ghét ''viễn mơ'', nhưng khi yêu, Phan lại ''viễn mơ'' như một
người không bước trên mặt đất. Thì ra, người ta không thể vượt quá lứa
tuổi của mình!
Phan lênh
đênh trong mộng tưởng như sương và khói.
Những bài
thơ tình của Phan thậm chí không phải viết cho người mình đang thật yêu
kia nữa. Chừng như Phan có một tiền kiếp nào đó với một người yêu trong
tiền kiếp ấy. Thì hiện tại được chia về thì quá khứ xa xăm.
Trong
những tháng năm trước, Phan đã biết rung động với một tình cảm ''hình như
là tình yêu''. Mơ hồ. Mong manh. Dễ vỡ.
Chừng như
mỗi người đều có một dáng dung vô thức hình thành khi còn tấm bé từ những
huyền tượng trong cổ tích, từ những hình tượng trong văn chương, phim ảnh.
Có phải đấy là người trong mộng mà không mấy ai có thể gặp trên đời? Và
đời người là một hành trình ngược vào sâu thẳm từng tầng lớp thời gian để
nhận diện một gương mặt mơ hồ đã kết tinh từ nhiều nguồn đâu đó, và cũng
là hành trình phóng tới tương lai để tìm kiếm không nguôi?
Người yêu
đầu đời của Phan chỉ là cái cớ cho tình yêu ấy có một hình dáng thật. Tình
yêu ấy được đan dệt bằng hàng trăm bức thư, mỗi bức như một tùy bút huyền
ảo, có khi gần như một loại tân truyện bay bổng không có một chút cơ sở
hiện thực nào trong đời sống.
Cây mộng
tưởng ấy không thể sống vì nó làm gì có đất thực tế!
Tình yêu
ấy như một giấc mộng dài gần suốt cả năm học. Phan như một kẻ mộng du
trong tình yêu, một tình yêu chỉ làm nẩy nở trí tưởng tượng và làm đẹp câu
thơ.
Đừng
trách gì, hỡi niềm yêu dấu cũ, vì ai có thể sống hoài trong giấc mộng, cho
dù là giấc mộng ngọt ngào!
Và tình
yêu viễn mơ đến sớm vào tuổi học trò trung học ấy, mãi đến sau này, khi đã
trưởng thành, Phan mới biết đó là một sai lầm, không nên có.
e
Chừng như
tuổi mới lớn nào cũng có những cơn địa chấn. Phan còn có một trận bão lũ
khỏa ngập cả đất trời. Cơn đau của mối tình tuyệt vọng tưởng dìm anh vào
cái chết. Phan đã quằn người trong niềm đau.
Cũng mảnh
đất Tam Kỳ đó!
Và may
mắn thay, ở Phan chừng như có sẵn tự bao giờ một sức bền chịu đựng. Phan
không học kém đi. Học và viết vẫn là phương châm được khắc lên bàn học.
Với một
cách học ''tài tử'', Phan tìm đọc rất nhiều sách, vì học trình ban C đối
với Phan tự bao giờ đã quá hẫng nhẹ. Từ lúc bùng dậy đam mê văn triết, trừ
ngoại ngữ, Phan thường ít học lại những gì đã nghe được ở lớp, kể cả môn
toán.
Trong
những cuốn sách tìm đọc, có một cuốn tình cờ Phan mua được vì rất mỏng nên
giá rẻ:
''Kẻ Tuẫn
Đạo'' của Unamuno (Ibk).
Hôm đó
như một lạ thường, Phan từ nhà Sĩ đi lên, bỗng dưng đâm thẳng qua đường
đến tiệm tân dược Ngọc Lan, quặt trái, chứ không quẹo phải như thường lệ.
Tiệm sách này không địa lợi lắm và hơi chật chội nên ít người vào.
Tần ngần
trước nhiều cuốn sách nhưng không thể mua vì một lí do dễ hiểu, học sinh
có bao giờ đầy túi.
Sau khi
trả tiền cho cuốn sách mỏng và rẻ ấy, Phan về nhà chúi mũi đọc.
Bàng
hoàng như vỡ ra một lẽ thật. Nhưng lạ lùng sao, không có thất vọng đau đớn
nào xảy ra trong tâm hồn. Chỉ một địa chấn nhỏ. Có rất nhiều điều người ta
đã cảm nhận được nhưng vô thức xua đi, quán tính vẫn ngự trị, và một tác
phẩm nào đó chỉ nói lên điều mà vô thức và quán tính bảo phải im lặng như
mặc nhiên thừa nhận. Từ mâu thuẫn thăm thẳm không thể nhận biết ấy, người
ta vẫn say sưa tìm tòi khám phá khoa học, không chấp nhận một giả thuyết
nào chưa được thực nghiệm chứng minh và lô-gích học bảo là hợp luận lí,
nhưng vẫn sùng tín những huyền tượng như một thói quen hoặc như một nhu
cầu. Và cơ hồ mỗi người đều có riêng một hình ảnh về huyền tượng từ sự
tiếp nhận, tái tạo theo lí tưởng thẩm mĩ, lí tưởng sống riêng của mình một
cách biện chứng tâm linh, có khi khác xa với nguyên thủy đến không ngờ.
Hầu như con người tôn thờ chính khát vọng thăng hoa của mình từ bi kịch
của đời sống. Tôn giáo và văn chương nghệ thuật phải chăng có chung cội rễ
là Nỗi Đau và ước vọng Giải Thoát, Cảm Thông.
Sách xác
tín giúp Phan một điều còn mơ hồ chưa dám nói và cũng không nên nói làm gì,
dù sau này, sách vẫn luôn luôn gợi cho anh sự tự tra vấn để tự giải đáp,
như một nỗi-niềm-hoài-nghi-khoa-học không nguôi, cho đến khi anh gặp
Spinoza (IIbk).
Nhưng quả
thực, từ lúc ấy, Phan đủ can đảm để sống khác đi. Tâm hồn anh vẫn khát
vọng chân lí và sự thật. Ở đời, có ai thích dối trá, cho dẫu là dối trá
lương thiện hoặc ''lẽ thật'' qua ngàn năm đã thành dối trá! Đâu riêng gì
Phan.
Phan thân
với một tu sĩ Phật giáo. Nhờ là bạn bè cùng lớp, Phan mạnh dạn trao đổi
với người bạn tu sĩ ấy. Thì ra, từ rất lâu, Phật giáo đã biết thế nào là
huyền thoại và thế nào là ''thực nghiệm tâm linh'', như kết quả của sự
tương tác xa xưa giữa Lão học và Thích học (IIIbk).
Vâng, tôn giáo, là
một hình thái ý thức chưa thể thay thế, và nó không thể chính-trị-hóa.
Cũng không thể tôn-giáo-hóa-chính-trị để thay thế tôn giáo (IVbk).
Không có
tôn giáo chắc chắn loài người không đạt đến mức nhân đạo như ngày hôm nay.
Nhưng cũng không có cái gì trưởng thành mà không có tuổi ấu thơ của nó, và
ấu thơ thì dĩ nhiên, rất hay huyền thoại hoá!
Cơn địa
chấn, trận bão lũ nào rồi cũng qua đi.
Có điều,
phải chăng vì căn cơ (tạng chất), Phan đau niềm đau tình yêu quá chừng đau
đớn, mà sự khám phá qua khải thị của Unamuno về '' Đạo'', dù mang lại sự
choáng váng thất vọng, vẫn chỉ là niềm đau xen lẫn với một nỗi niềm không
hẳn là buồn!
Phan lại
tự tin hơn trong nhận thức, với một nhận thức nhân sinh, một vũ trụ quan
không tôn giáo.
Có những
vùng đất mà ở đó, diễn ra những bước ngoặt của nhận thức, tâm hồn mình,
làm thay đổi cuộc đời mình, ngỡ chừng như sống một cuộc sống khác, thì làm
sao quên được!
Hầu như
mỗi người có nhiều mảnh đất chôn nhau cắt rốn khác nhau. Những lần sau
không phải nhờ cha mẹ, chỉ do chính mình tự sinh nở và cắt chôn.
Con người
tự làm nên chính mình trong điều kiện bất kì nào của hoàn cảnh. Con người
phải có tự do, độc lập của riêng nó, để trở thành Con Người. Anh học được
điều này từ thể nghiệm bản thân và cuộc sống bạn bè.
Phan vẫn
xem Tam Kỳ là nơi anh đã từng chết đi và tự tái sinh. Đó là Đất Thánh của
riêng trái tim anh, là Quê Hương của riêng tâm hồn anh.
g
Tình yêu
như cơn gió thoảng suốt năm. Tình yêu như trận bão làm gãy đổ hết thân
cành của một đam mê gần như cơn say thơ ca ngây ngất, mãnh liệt và đắm
đuối. Nhưng thân cành còn non và bộ rễ còn khỏe, cây lại đâm chồi nẩy lộc.
Bên cạnh
tình yêu, một sự kiện chính trị lớn xảy ra trên Đất nước: những ngày tháng
trước và sau hiệp định Paris 1973.
Sân
trường được tổ chức như một diễn đàn.
Cuộc đối
thoại nẩy lửa giữa học sinh và sinh viên sĩ quan Đà Lạt, khiến sự đơn điệu
buồn tẻ trong nghiêm trang nhường chỗ cho không khí sôi động, cởi mở.
Cũng vô
thức, không hề chuẩn bị trước, Phan đã ứng khẩu một bài phê phán kịch liệt
chế độ với những câu hỏi nhức nhối. Những điều này chưa ai nói cho anh:
Nhà tù cưỡng bức và thực chất chính quyền bù nhìn (Vbk).
Nhóm sinh
viên sĩ quan Đà Lạt cực kì trí thức và nghiêm túc đến khô cứng, dẫu đã
được huấn luyện để đối phó trước mọi tình huống bất ngờ, vẫn không che
giấu xúc động. Những trí thức mặc đồ lính ngụy ấy không bối rối mà xúc
động, và lạ thay, lại đồng cảm, chia sẻ cùng Phan những băn khoăn! Phan
không thể chấp nhận sự phi nhân và Phan không thể chấp nhận một tầng lớp
lãnh đạo Miền Nam của Đất nước từng
là sĩ quan của thực dân! Hầu như sinh viên sĩ quan Đà Lạt cũng vậy. Bởi đó là một sự thật lịch sử không ai không thấy.
Và mọi người đành chấp nhận! Lịch sử bày ra một ván cờ trớ trêu. Giai đoạn
lịch sử này là một kẻ có đầu óc điên rồ, nếu có thể ví von như vậy.
Hai mươi
năm ấy phải chăng như một sự thật oái oăm và một tấn tuồng bi hài, mà Phan,
bạn bè Phan và cả nhóm sinh viên sĩ quan ngụy kia chỉ là nạn nhân, lại là
nạn nhân bi đát ''vì ý thức được tính bi kịch'' (VIbk) trong hoàn cảnh
lịch sử mình đang sống. Phải chăng, tận đáy lòng, ai cũng có những khổ tâm
riêng?
Lúc bấy
giờ, tưởng chừng như vô thức lên tiếng nói và cũng vô thức đồng cảm trong
mấy trăm học sinh trước sân trường.
Những
tràng pháo tay biểu lộ sự đồng cảm ấy.
Không chỉ
Phan. Lên diễn đàn còn có người bạn tu sĩ và một vài bạn khác với nhiều
vấn đề buốt bỏng khác.
Phan quả
là ''gã nghệ sĩ'' trẻ tuổi liều lĩnh một cách chân thành. Quả thực, anh
chỉ là gã con trai mới lớn đa tình (với nhiều loại tình cảm) đến mê đắm,
và không ngớt băn khoăn trước những vấn nạn của cuộc sống tâm linh và xã
hội. Phan vừa đam mê vừa tỉnh táo, vừa nhút nhát vừa táo bạo, vừa sai lầm
vừa sáng suốt.
Dẫu mang
một gương mặt trầm buồn, trong anh vẫn sống động một người nghệ sĩ dám dấn
thân, trải nghiệm đến giới hạn của đức lí, với đôi mắt mở to luôn ngạc
nhiên, hiếu kì một cách hồn nhiên. Anh muốn dấn thân trên con đường sống
thật để sáng tạo.
Dẫu sao,
anh vẫn chỉ là gã con trai mới lớn!
h
Có một kỉ
niệm không thể quên được. Chẳng biết bây giờ người học trò rất nông dân
mang dép cao su như ''Việt Cộng'' thuở ấy còn sống hay đã chết. Còn sống,
anh ta đã leo lên đến bậc ghế nào và cống hiến những gì.
Từ hôm
đối thoại giữa sân trường bốc lửa, có người học trò ở một lớp lớn hơn bỗng
mang dép cao su lốp xe tìm cách làm quen cùng Phan.
Anh ta
chỉ vào đôi dép đang mang và nhìn Phan mỉm cười.
Phan cũng
chuyện trò vu vơ.
Những ám
hiệu không cùng tần số như chớp lóe rồi tắt lịm trong cuộc đời.
Mãi sau
này, Phan có dịp ngẫm lại, cái tính chất bồng bột đến khờ khạo một cách
chân tình ở tuổi thanh niên thật dễ thương và cũng quá dễ để gặp tai họa.
Tại sao anh học trò Việt Cộng ấy dám bật tín hiệu với Phan trong khi quá
biết Phan sống trong một gia đình không có ai dính líu gì với tổ chức của
họ, thậm chí, dù muốn dù không, cũng là đối phương của họ?
Sau lần ấy, thỉnh
thoảng anh ta vẫn cười với Phan mỗi khi thoáng gặp ở sân trường hay trước
hiên nhà. Như một kỉ niệm của tuổi trẻ, lắm khi nhớ lại, những lần gặp gỡ
ấy gợi lên chút cảm động nhẹ nhàng. Có phải nhờ vậy, sau này Phan đã ''bị''
thuyết phục (đúng hơn, là được thuyết phục)?
Phan vẫn tin ở tấm
lòng tuổi trẻ. Khi còn tuổi trẻ, dù với chính kiến, hàng ngũ nào, người ta
vẫn còn nơi tâm hồn mình cả một trời trong sáng. Vòm trời giữa tâm hồn
tuổi trẻ không hề có biên giới và rào gai. Và một khi sự thật lịch sử đã
sáng rõ, chỉ một ''địa chấn'', họ dễ dàng tiếp cận chân lí xã hội chủ
nghĩa, nhất là liên lập trong liên minh quốc tế (một vấn đề khắc khoải
nhất!) (VIIbk), nếu nhận thức được tính tương đối của chân lí! Không hề có
một thứ chân lí bất biến và tuyệt đối trên đời, nữa là chân lí chính trị -
xã hội, vốn là một thứ chân lí phải luôn linh hoạt co giãn theo thực tiễn!
i
Rồi Phan
lại xa Tam Kỳ. Chỉ ba niên học ở thị xã nhỏ bé ấy nhưng chất chứa biết bao
nhiêu kỉ niệm. Những năm đầu bước vào lứa tuổi thanh niên là những năm xáo
động dữ dội và, phải chăng gần như có tính chất quyết định cho mỗi đời
người?
Tam Kỳ -
một thị xã chia đều đường sắt xuyên Việt, bé nhỏ, duy nhất một đường phố
sầm uất, khô khốc - lại là nơi chất thơ tiềm ẩn giàu có trong hồn người.
Tam Kỳ,
nơi ấy, có những nhà thơ lãng mạn và hiện thực tên tuổi, có những tu sĩ,
thầy giáo trăn trở, day dứt không nguôi. Nơi ấy, thật sự đã có một khí hậu
tinh thần riêng để lớp trẻ nối nhau vươn dậy trong khát vọng ngấm ngầm mà
cháy bỏng về chân lí nghệ thuật và chân lí cuộc sống. Nơi ấy, cuộc sống
ngỡ chừng đơn điệu, buồn tẻ nhưng vô cùng sôi sục, với những tiếng nói vô
thanh xao xuyến tự mỗi trái tim thành khẩn, không giống nhau.
Nhà thơ Huy
Tưởng lớn lên ở đó, với rất nhiều đêm gục đầu trầm tư về thân phận con
người trong niềm cô độc cùng cực, đã ra đi, làm nên nhiều bài thơ tuyệt
vời cho Nỗi Đau, thỉnh thoảng trở về. Trong một đêm thơ nhạc do nhóm Đất
Hứa tổ chức, anh đã chống nạng quay mặt ra cửa sổ lập lòe đom đóm như ma
trơi oan khuất, như bao nhiêu vì sao trên đất tối, không thèm nhìn vào ánh
đèn sáng, đọc trầm thống bài ''Hồ trường''
trời nghe.
kẻ trượng phu
không hay [ai?] mổ gan
bẻ cật
phù cương thường
hà tất tiêu dao lưu lạc
tha phương
trời Nam ngàn dặm thẳm!
non nước một màu sương!
chí chưa thành danh chưa
đạt
trai trẻ bao năm mà đầu
bạc
trăm năm thân thế bóng
tà dương!
vỗ gươm mà hát
giốc bầu mà hỏi
thiên hạ mang mang ai
người tri kỉ
lại đây cùng ta cạn một
hồ trường!
hồ trường!
hồ trường!
ta biết rót về đâu?
rót về phương đông, nước
biển đông sinh
cuồng loạn
rót về phương tây, mưa
tây sơn từng trận
chứa chan
rót về bắc phương, ngọn
bắc phong vi vút
đá chạy cát bươn [vươn?]
rót về nam phương, trời
nam mù mịt thẳm
có người quá chén như
điên như cuồng!
nào ai tỉnh nào ai say
chí ta ta biết, lòng ta
ta hay
nam nhi sự nghiệp ư hồ
thỉ
hà tất tương phùng [cùng
sầu?] với cỏ cây!
Nhà thơ Thành Tôn
thành danh trên báo chí cả Miền Nam vẫn âm thầm trong bộ quân phục. Anh
sống và làm việc với phận sự một người lính ngụy lặng lẽ. Anh đâu biết
rằng chính sự hiện hữu một cách câm nín của anh ở thị xã, quá đỗi câm nín,
vẫn vang vọng những làn sóng đến những trái tim trẻ về thơ ca.
Và nhà
văn Xuân Tùng, thầy Nguyễn Văn Bổn (nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ), thầy Trương
Sư Xuyên và anh Nguyễn Hữu Thâu...
(Xin được
thắp ở đây một nén nhang tưởng tiếc Ngữ Luân, một người thơ tài hoa còn
quá trẻ).
Những trí
thức ấy, những tấm lòng ấy, ở một nơi như Tam Kỳ thân yêu, chính họ, đã
tạo ra một khí hậu cho tuổi trẻ. Họ tạo ra một trường ảnh hưởng mà họ
không hề hay biết.
Phan và
bạn bè anh cũng không hề hay biết về khí hậu ấy, dù đã thực sự sống trong
tiếng động tương tác thầm lặng của vùng khí hậu rất riêng ở thị xã của một
thời đã xa kia.
Cuộc sống
cứ mãi hoài trôi đi một cách vô thức. ''Người ta sống là để sống'', chứ
không thể cứ mãi chiêm nghiệm về cuộc sống, phần lớn là mảnh vụn thường
ngày. Muốn chiêm nghiệm phải cần một độ lắng cần thiết của thời gian.
Phan đang
ngoảnh lại đời mình những năm mới lớn và ngỡ ngàng bâng khuâng cho những
vụng dại, những say mê quá đỗi vô tư. Đúng hơn, là cả một đam mê cháy bỏng
khát vọng sáng tạo (đến mức chỉ với bức xúc vặt, Phan xin rời bỏ gia đình
để về ở chung với bạn, những tháng cuối của năm học lớp mười một!).
Nỗi đam
mê cháy bỏng về khám phá, sáng tạo thơ ca dễ khiến người ta đến với tình
yêu hơi sớm (để làm thơ tình cho người lớn!), dễ xúi dại người ta tự trở
thành đứa con hoang (chứ không phải thoát li gia đình để làm công tác cách
mạng!)! Từ khí hậu kia hay từ trái tim Phan, vang vọng lên tiếng gọi, bàng
bạc mà tha thiết, hướng tới chân trời là trang giấy trắng, lóng lánh nét
chữ ghi lại những câu thơ của lòng mình, chút lòng mình gửi đến cuộc đời.
Mỗi người
đều có một tuổi mới lớn của riêng mình, và chắc chắn đều có lắm thú vị.
Cuộc sống mãi mãi thú vị, cho dù bi kịch đến mức nào, nếu ta thoát được và
có dịp ngoảnh nhìn lại bi kịch ấy. Vượt qua bi kịch, mắt sẽ sáng hơn, chân
sẽ vững hơn trên đất đai Tổ quốc. Phan cũng vậy. Xin được mỉm một nụ cười
về những năm tháng đã trở thành xa xưa. Tam Kỳ - Xa Xưa ấy đang không
ngừng chảy trong máu anh và trong máu bạn bè.
Ước chi
mãi là một hạt sương bé nhỏ được lóng lánh khát vọng rất thơ ca và không
chỉ cho riêng mình - Phan và mỗi bạn bè Phan có lẽ đều nghĩ thế.
TRẦN NGUYỄN PHAN
Viết ngày 28.X.1993
Sửa
chữa, bổ sung ngày 04.VII.1995
tháng
10.1996 và tháng 05.2003 tại TP. HCM.
(Bài đã đăng trong Kỉ yếu Bốn mươi năm
thành lập Trường Trần Cao Vân, Tam Kỳ,
Quảng Nam, 1955 - 1995).
Chú thích:
(IVbk) Hình thái ý thức
tôn giáo thật sự không có, trong thực tế văn hoá truyền thống của đại đa
số nhân dân ở một số nước châu Á, cụ thể là Việt Nam, mà chỉ là đạo lí thờ
cúng anh hùng, danh nhân dân tộc và tổ tiên. Nói chính xác hơn, bên cạnh
đại đa số nhân dân chỉ sống theo đạo lí dân tộc thuần tuý ấy, còn có một
bộ phận nhân dân theo Phật giáo, Lão giáo, và có thể kể cả một bộ phận
khác theo học thuyết nhân sinh - xã hội, ấy là Nho giáo. Nho giáo rất ít
bàn về hình nhi thượng, từ chối việc suy tư về cõi siêu hình, thần linh và
ma quỷ. Về tác dụng cải hoá con người, xã hội của văn hoá, hoặc của tôn
giáo, xin khảo sát theo phương thức nghiên cứu khoa học về quá trình lịch
sử và đời sống thực tại của các đối tượng nghiên cứu: đại đa số nhân dân
không theo một tôn giáo nào, mà chỉ sống theo đạo lí dân tộc thuần tuý, và
các bộ phận nhân dân dân ít hơn có theo một tôn giáo, kể cả Nho giáo. Từ
đó, đối sánh, rút ra kết luận. Và có thể nói thêm: August Comte (1798 -
1857), một triết gia thực chứng xã hội học người Pháp, ra đời muộn hơn Nho
giáo đến hơn hai mươi thế kỉ; ông thường được đề cập đến trong học phần
triết học lớp 12 trước 1975 ở Miền Nam Việt Nam. Mặc dù có những sai lầm
của ông, August Comte cũng chính xác trong việc phân định ra ba thời kì
phát triển của phương pháp tư duy và thế giới quan của nhân loại. Ba thời
kì đó là: tư duy thần thoại, tư duy tôn giáo, tư duy khoa học (thuần lí và
thực nghiệm). August Comte còn đề nghị bãi bỏ tôn giáo nhất thần (như
Thiên Chúa giáo, Tin Lành ...), có thể bãi bỏ cả tôn giáo đa thần, để chỉ
tín ngưỡng một thực thể siêu hình, trừu tượng, tối cao, tương tự như ý
niệm Trời của Nho giáo (Trời chỉ là lí - khí, ''thiên hà ngôn tai!” [Trời
có nói gì đâu!]). Theo tôi, căn cứ theo dự đoán tương lai của nhân loại,
tôn giáo sẽ được phát triển thành các triết thuyết thuần tuý, không còn
tính chất tôn giáo (không còn các hình thức thờ phụng, kinh kệ, lễ bái như
hiện còn tồn tại ở các chùa chiền, giáo đường, thánh thất, nhà nguyện...);
và hình thái ý thức văn hoá, bao gồm cả phong tục (trong đó có mĩ tục thờ
cúng anh hùng, danh nhân dân tộc và tổ tiên, suy nghiệm về lịch sử nhân
loại), bao gồm cả giáo dục, văn học nghệ thuật (nhất là trên các phương
tiện truyền thông đại chúng), sẽ được lành mạnh hoá theo hướng ''văn dĩ
tải đạo'' (đạo đức truyền thống, đạo lí dân tộc) để thay thế hình thái ý
thức tôn giáo. Nói gọn hơn, trong tương lai của nhân loại, văn hoá lành
mạnh sẽ đảm nhiệm trọn vẹn chức năng của tôn giáo.
(VIIbk) Tác giả xin
trình bày rõ hơn:
Niên khoá 1971 -
1972 trước đó, mặc dù chính nhân vật Phan đã chọn bài hát Tổ quốc ơi, ta
đã nghe của La Hữu Vang làm chủ đề cho số 1 của tập san (chỉ đổi chữ ta,
có nghĩa là tôi, thành chữ con), nhưng sau đó Phan lại có một bước thụt
lùi trong tư tưởng. Đúng như biện chứng (''đường zíc zắc'', ''đường xoáy
trôn ốc'') của quá trình trưởng thành, từ cảm tính thiên tả, anh đã nhận
thức lại một cách lí tính, ít thiên tả hơn! [...] ... Bấy giờ, năm 1973,
chỉ mới có ý niệm về chủ nghĩa xã hội khoa học, chưa nhận thức đủ về chủ
nghĩa xã hội hiện thực (trong thực tế lịch sử), nhân vật Phan trong bút kí
lại được hướng đến chủ nghĩa xã hội quốc gia theo kiểu Nam Tư, nhưng không
phải chịu sự độc tài như ách độc tài của Tito, lại hoàn toàn độc lập dân
tộc, hoàn toàn dân chủ, thoát khỏi sự khống chế, lệ thuộc vào Liên Xô (gồm
mười ba nước bị sáp nhập), Trung Quốc (gồm cả Tây Tạng ...) hoặc một trong
hai nước ''cộng sản bá quyền (đế quốc đỏ)'' ấy. Chủ nghĩa xã hội quốc gia
chỉ là một hướng mở, xuất phát từ ước vọng độc lập, tự do, dân chủ thật sự,
thoát khỏi hai gọng kềm lịch sử trên thế giới, đứng đầu là đế quốc Mỹ và
Nga, rồi sau đó là Mỹ và Nga - Trung. Bấy giờ, vẫn vào năm 1973, hai chữ
''liên lập'' và cụm từ ''liên minh quốc tế cộng sản'' chỉ được hiểu là bị
khống chế, lệ thuộc như đã nói, chứ không phải là liên minh trong tư thế
bình đẳng quốc gia, dân tộc đích thực! (Khoa học lịch sử đúng nghĩa không
thể không khẳng định sự thật lịch sử ''liên lập'' trong ngoặc kép ấy!).
Dẫn đến nhận thức
đó còn do nguyên nhân khác, tạo nên sự khắc khoải, thao thức đồng thời với
nguyên nhân trên. Xin trình bày cụ thể hơn:
''Trên tinh thần hoà
giải dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vững mạnh, giữa hai miền
Nam, Bắc, với niềm cảm thông chân thật, thiết tưởng cũng cần phải nói rằng:
Sở dĩ một bộ phận không ít người Miền Nam Việt Nam không thể tham gia
kháng chiến, hoặc vượt tuyến ra Miền Bắc, cũng vì lẽ đó. Và cũng trên tinh
thần ấy, xin mạnh dạn nói rõ hơn: Ngoài ảnh tượng chân dung các ''giáo chủ'',
lãnh tụ ngoại quốc (chưa kể danh từ ''xô-viết'' trong cuộc khởi nghĩa
Xô-viết Nghệ - Tĩnh, 1930 - 1931), còn có vấn đề là màu cờ đỏ, hình tượng
sao vàng, búa liềm vàng. Từ các ảnh tượng ấy, màu cờ và các biểu trưng ấy,
không thể không nghĩ đến Miền Bắc Việt Nam bị lệ thuộc vào Liên Xô, Trung
Quốc, và thân phận Trung Quốc cũng chẳng khác gì (Liên Xô sinh nở ra Trung
Quốc!), mặc dù về sau hai nước lớn ấy có ''bất hoà'' với nhau.
Cái được gọi là nhận
thức ấy chắc hẳn không phải bị chi phối bởi tâm lí giai cấp ở miền trong
của Đất nước, vì cũng như Miền Bắc, tại Miền Nam đại đa số vốn là nông dân
(liềm), một phần khác là thợ thuyền (búa), có truyền thống trọng thị chân
lí và kẻ sĩ (ngôi sao). Có thể cái còn gọi là thao thức kia chỉ là hậu quả
của sự tuyên truyền. Tuy nhiên, thao thức có thật ấy, trong giai đoạn lịch
sử đó, quả thật cũng xuất phát từ sự nhận thức khách quan của rất nhiều
người, một nhận thức đã hoá thành nỗi băn khoăn nhức nhối, đọng lại ở các
câu hỏi: 1. Chủ quyền Miền Bắc Việt Nam thuộc về ai? 2. Ở Miền Bắc, liệu
truyền thống thờ kính cội nguồn tổ tiên, thắp hương tại các đình làng,
chùa chiền có được tồn tại? Và tại sao trong nhà sàn Bác Hồ không có bàn
thờ gia tiên, theo truyền thống đạo lí của dân tộc Việt Nam ta? Đó cũng là
sự thật lịch sử - sự thật về tuyên truyền của Mỹ - ngụy, nhưng cũng là sự
thật ở nội tâm một phần không ít nhân dân Miền Nam Việt
Nam. Nhận thức ấy, thao thức ấy, có lẽ chỉ tồn tại trước tháng 4 năm 1975;
phải chăng sau đó đã được giải toả; hay bị củng cố thêm bởi hiện thực hằng
ngày trước mắt?
Tất nhiên, từ khi diễn
ra công cuộc Đổi mới, tình hình đã khác.
Kính mong hãy cảm thông,
hoà giải, và đại đoàn kết. Chỉ có thể đại đoàn kết dân tộc một cách bền
vững trong tinh thần cảm thông, hoà giải ấy. Làm sao có thể đại đoàn kết
được nếu những mặc cảm trong chiến tranh không được giải toả trên cơ sở sự
thật lịch sử - sự thật lịch sử đúng như nó đã diễn ra, không bị vo tròn,
bóp méo! Tuy nhiên, phải khẳng định và phải khẳng định: Những người cầm
súng, làm quan chức cho thực dân Pháp, phát xít (fascisme) Nhật, đế quốc
Mỹ và ''tả đạo'' Thiên Chúa giáo, ở Miền Nam Việt Nam (không ít là dân
Miền Bắc di cư vào Nam), rõ ràng là bị đẩy vào tình cảnh phản quốc hay ít
nhiều cũng tự ý phản quốc. Trong số người bị đẩy vào tình cảnh phản quốc
một cách hết sức đau đớn ấy, có một phân số khá lớn là bị kẹt giữa hai
gọng kìm lịch sử (một gọng kìm là Pháp + Mỹ + "tả đạo", và, có thể kể thêm
Nhật; một gọng kìm khác là Nga Sô + Trung Cộng + chủ nghĩa cộng sản vô
thần). Số người thuộc trường hợp này có lòng yêu nước, căm hận Pháp + Mỹ +
"tả đạo", căm hận Nhật, và hơn thế nữa, họ cũng rất căm ghét bọn ngụy đích
thực, cam tâm làm tay sai đầu sỏ cho bốn loại giặc ngoại xâm ấy, nhưng bị
buộc phải cầm súng, làm quan chức cho chúng (hoặc chỉ cầm súng, làm quan
chức cho một trong bốn kẻ thù dân tộc vừa liệt kê). Vì vậy, cho nên dẫu
sao đi nữa, họ cũng không thể chính danh là một trong những "lực lượng yêu
nước", mà bị gọi chung là "ngụy". Nói cụ thể hơn, đằng sau danh từ "ngụy",
có nhiều loại người khác nhau, trong đó không ít người thật sự yêu nước
với chính kiến rõ rệt; bi kịch của họ là đã dựa vào Pháp + Mỹ + "tả đạo",
và Nhật để chống Nga Sô + Trung Cộng + chủ nghĩa cộng sản vô thần với ý
định sẽ lần lượt bẻ gãy hai gọng kìm lịch sử ấy. Nhưng, chỉ là ảo vọng!
Rốt cục, phải chịu mang tiếng là ngụy. Danh đã không chính, thì ngôn không
thuận. Có người lòng dạ là rất yêu nước, nên rất khổ tâm, nhưng đã là ngụy
quân, ngụy quyền, họ không thể nói cho người khác thuận nghe được, cho dù
chỉ là giãi bày tâm sự. Đó là nỗi đau của họ. Vả lại, những người thuộc
dạng có lòng yêu nước thật sự nói trên, bọn thực dân, phát xít, đế quốc, "tả
đạo" thường không sử dụng. Bất đắc dĩ chúng cũng sử dụng tạm thời hoặc chỉ
sử dụng ở những chức vụ thấp, ở cấp tỉnh, cấp quận, không quan trọng, và
ít nguy hiểm đối với chúng.
Xét về lực lượng kháng
chiến, từ các tổ chức cộng sản sơ khai (trước 1930), đến Việt Minh (Mặt
trận Việt Nam độc lập đồng minh, từ tháng 8.1941), và có lẽ sau 1954, ở
Miền Nam thường gọi là Việt Cộng (Cộng sản Việt Nam), nhận định chung là
thế nào? Sau khi đám mây mù tuyên truyền của ngoại xâm và ngụy tan đi, ai
cũng thấy rõ sự thật lịch sử là: Hết sức hiển nhiên, lực lượng nào đánh
bại được Pháp, Nhật, Mỹ, ''tả đạo'' Thiên Chúa giáo, bá quyền Trung Quốc,
đánh đổ được ngụy triều Huế (1885 - 1945) (II.19), ngụy quyền Sài Gòn
(1954 - 1975), chế độ diệt chủng Khơ Me (Kh'mer) Đỏ, chính danh và chính
nghĩa thuộc về lực lượng ấy. Đó là đa số nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có một sự thật (tuy chỉ
giới hạn nhất định là qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình trong nước),
sự thật đó là, mặc dù không một ai trên thế giới này có thể phủ nhận được
chiến thắng hiển hách, lừng lẫy của lực lượng kháng chiến Việt Minh, Việt
Cộng, nhưng vẫn có người, nhất là một số Việt kiều ở hải ngoại, vẫn không
chấp nhận Việt Minh, Việt Cộng là chính danh, chính nghĩa, thậm chí còn
chống Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam một cách cuồng dại!''.
Ghi chú bổ sung của
tác giả:
Người đọc có thể tự cắt
bỏ (tự kiểm duyệt) hoặc lướt qua, hoặc tốt nhất là phản biện, bác bỏ, nếu
không đồng ý với tác giả. Tất nhiên, tôi vẫn bảo lưu sự thật lịch sử đó
cho nhân dân Miền Nam Việt Nam, nhất là sự thật lịch sử đã đọng lại ở các
câu hỏi đầy băn khoăn, thao thức, nhức nhối đã ghi lại ở bên trên. Một lần
nữa, tác giả xin thưa rằng: Tôi viết để ghi nhận chính xác một khía cạnh
sự thật lịch sử về một bộ phận đông đảo nhân dân Miền Nam thuộc giai đoạn
sau (1930 - 1975) của cuộc chiến tranh 117 năm (1858 - 1975) hoặc đúng hơn
là 131 năm (1858 - 1989), vốn đã trôi qua khá lâu, để góp phần xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam chúng ta và đoàn kết nhân loại, trên
tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử, cảm thông, điều chỉnh (sửa sai) và
hoà giải. Xin cảm ơn. TXA.
Bài bút kí ghi lại kỉ
niệm một thời mới lớn của Trần Nguyễn Phan cơ chừng mở ra trong Hiền Lương
một khoảng trời xưa cũ với một cái nhìn sáng rõ hơn. Cô đọc lại, và lại
đọc thêm một lần nữa...
Hiền Lương cảm thấy Trần
Nguyễn Phan hình như quá khiêm tốn, cung cách khiêm tốn của một người luôn
luôn thực sự cầu thị, hay đúng hơn là để khỏi chối tai, cay mắt, buốt tim
một số người nào đó, anh ấy đã tự hạ thấp mình để có thể nói lên những
điều rất to tát, nghiêm trọng, những gì đã gây nên nỗi đau của cả một thời
đã xa nhưng “vết thương chiến tranh - cách mạng” vẫn còn nhức nhối?
Bài bút kí khiến Hiền
Lương chợt nhớ mẩu chuyện trò hôm nào giữa cô và anh Hành, bên bờ sông gần
chiếc cầu Hiền Lương, vết thương chia cắt Đất nước ấy.
... Tất cả, bị hay được,
đặt trước sự chọn lựa, chọn lựa trong thao thức, trăn trở, giằng xé, đến
mức nổ súng vào nhau, vào cả chính mình, kể cả “bình tâm” chọn lựa. Em
muốn nói đến sự đấu tranh tư tưởng, cấp độ toàn cầu và cấp độ cá nhân,
chiến tranh ý thức hệ và tự sát do xung đột ý thức hệ, người này chửi rủa
người kia ở từng góc phố, đường làng cũng vì ý thức hệ.
- Vấn đề giải phóng dân
tộc để giành độc lập dân tộc, quyền tự quyết dân tộc, có lẽ đã khá rõ.
Chính danh, chính nghĩa, và ngược lại đã rõ. Vấn đề còn lại là duy vật hay
duy tâm, chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản. Hai vấn đề ấy đã dính lẫn
vào nhau mới từ những năm hai mươi, ba mươi. - Anh nuốt nước bọt, có vẻ
băn khoăn -. Đấy chính là lúc sự phân hóa của người Việt
yêu nước đã diễn ra. Anh nói đến những người yêu nước không thỏa hiệp với
Pháp. Sự phân hóa của những người đó trước ngã ba lịch sử: con đường nào?
Sự giằng xé, thao thức, trăn trở như Hiền Lương nói là vậy. - Hành lặng im,
anh chợt thấy mình mới phác họa bối cảnh, vấn đề còn quá rộng và sâu, mặc
dù anh cố không mở rộng ra trên bình diện toàn cầu.
- Những người yêu nước
vốn không thỏa hiệp với Pháp, và sau một chín bốn lăm, không thỏa hiệp cả
với Mỹ, không còn chỗ dựa nào khác là Liên Xô. Và sau nữa, từ một chín bốn
chín, chỗ dựa đồng thời của họ, ấy là Trung Quốc. Vấn đề đã quá rõ. Nhưng
yêu nước, không thỏa hiệp với Pháp,
Mỹ, họ cũng không cộng sản, những người ấy dựa vào đâu?...
Hiền Lương bỗng càng
thấm thía bi kịch của những người Miền Nam chống Pháp, chống Nhật, chống
Mỹ và tất nhiên chống cả ngụy, ''tả đạo'' Thiên Chúa giáo, nhưng không thể
đi theo Đảng Nhân dân Cách mạng (19)!
Hiền Lương ngẫm nghĩ và
đọc tiếp:
Quả thật, anh hùng dân
tộc Hồ Chí Minh có những hạn chế cụ thể - lịch sử, cần thiết phải chỉ ra
nguyên nhân (sức ép tam vô chủ nghĩa của Quốc tế Cộng sản) và cần phải phê
phán vì những mục đích yêu cầu trên (lí giải lịch sử, rút kinh nghiệm lịch
sử, đặc biệt là để đoàn kết dân tộc, và nhất là để bảo vệ truyền thống văn
hoá nghìn đời của dân tộc). Cho dẫu đáng tiếc như thế, Hồ Chí Minh vẫn là
nhân vật lịch sử vĩ đại của dân tộc và của nhân loại trong công cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ và chống "tả đạo"
Thiên Chúa giáo...
TRẦN NGUYỄN PHAN
Thơ TRẦN NGUYỄN PHAN
trích từ tập “Lặng
lẽ ở phố”
Nxb. Trẻ, 1995
Triết nhân đánh thức
"từ bi hỉ xả là sợi dây nối liền loài người
không có đẳng cấp trong nước mắt cùng mặn
không có đẳng cấp trong máu cùng đỏ"
(Phật Thích Ca)
1.
Đi-ô-gen "Xy-nich"
(Diogène "Cynique")
...
rách tuơ bước giữa ban ngày
ngọn đèn thắp sáng trên tay tìm người
con
người đâu? con người ơi!
phố
phương thú lạ nhe cười ngu ngơ.
2.
Tất Đạt Đa
(Siddhartha)
...
rời cung cấm buồn sững sờ
đời
chia cao thấp bậc bờ, khổ đau
thương lệ mặn, máu một màu
ăn
mày lòng thiện vá nhàu cà sa.
3.
Thiền sư
...
sợ đau cỏ dại sương nhoà
con
sâu cái kiến kiếp xa luân hồi
héo
gầy thiền sáng đôi môi
mắt
nhìn, tay khẽ quét rồi đặt chân!
4.
Nhà ẩn tu
...
tự quất roi nát xác thân
quỳ
trong hốc núi mục dần xương rêu
mót
lúa đồng lạnh tiếng kêu
xin
như Chúa với mái lều trần ai?
5.
Giê-su Cơ-rít (Jésus Christ)
...
niềm đau Do Thái chưa phai
nước thiên đàng trong và ngoài mung lung
ngóng ngày phán xử cuối cùng
xê-da giết, giết rồi dùng, lệch sai.
5.
Đạo đời
...
nghìn năm trái đất thở dài
biển tràn nước mắt vỗ hoài đông tây
nỗi
vĩnh hằng quá đoạ đày
đạo
vốn đời, đạo giờ đây rất đời.
TRẦN NGUYỄN PHAN
Tản mạn với một
người em
"mọi lí thuyết đều màu xám
và cây đời mãi mãi xanh tươi"
(Gớt - Goethe)
cánh chim vành khuyên bé bỏng
nở
từ bài ca thuở nào
chập chùng tháng năm
chập chùng sương khói
nắng bất ngờ
biếc xanh tiếng hát
nao nao
kết
tổ dưới vực sâu hay chóp đỉnh đồi cao
cũng chỉ vành khuyên của nắng mưa cây cỏ
ôi
vàng rơm xé ra,
từ
giẫy giụa với hư vô
trái tim bung vỡ
cơn
tủi giận thiên tài
quỳ
sụp bên đường
hỡi
bùn, máu, sương, sao!
tôi
nhớ Tố Như siết kiếm ngó cờ đào
mấy
lần cáo quan
thương Kiều, viết Phản chiêu hồn
tóc
càng thêm bạc
viếng mộ ông
gò
hoang
mưa
bụi đầm nước mắt
dám
trách gì nắm cốt tàn đã thuộc về vạn thuở
muôn nơi
hai
trăm năm rồi
bao
người đau cùng ông
niềm đau ngoại xâm nội chiến
thiên tài trầm tư dằn vặt suốt đời
hồn
thi sĩ xoáy lốc ngả nghiêng vật vờ bão táp
bị
nỗi nghìn năm níu chặt,
ông
chẳng sinh ra cho cái nhất thời?
phải chăng,
"kẻ
phản động có lời thơ tao nhã" (1thơ)?
Tố
Như "chọn lựa phân vân
rồi
hối hận biết bao
những chọn lựa xót lòng" (2thơ)
hiện thực hùng vĩ nào
hiện thực ảm đạm nào
"đã
cưỡng bức âm thầm vô thức" (3thơ)
chẳng nuối gì Lê mạt!
nhưng lánh về xa xưa,
khi
cửa ngõ kia
giặc sắp nghênh ngang súng thép tàu đồng!
vẫn
dân tộc nhất, hoá hồn thơ đất nước
thế
trận chữ nhân
lại
mọc lên từ lục bát cha ông
đành phổ mượn phận Kiều
từ
ưu uất siêu hình kiếp người quằn quại...
tôi
hiểu Tố Như tự sát trong cơn bệnh
cuối đời. Ông buồn biết bao nhiêu!
ôi xương máu thiêng liêng
nỡ
quy ra quyền chức!
chiến công kia đâu chỉ của một thời
kẻ
bán nước im lìm,
con
hát cung đình câm bặt
lầm
lạc nào theo vận nước nổi trôi
tôi
kính chào nỗi khổ tâm lịch sử
cả
những vênh vang, nông cạn, thiên tài!
thương Đất nước bốn ngàn năm
phải miệt mài đánh giặc
mái
rạ xiêu gầy xơ xác đến hôm nay!
tất
cả khổ nhục đều khởi đầu từ lòng tham đế quốc
nát
ruột nhìn Tàu,
xé
ruột nhìn Tây! và Nhật!
người nhức buốt giữa gọng kìm.
Người thắng Mỹ.
Những "nóng vội" rụng rơi trên luống cày
cằn xói
Bành Trướng lộ nguyên hình. Hòn Đá Tảng bạc màu,
tan
rã. Từng đất nước đứng kề vai (4thơ)
ơi
chất xám nở hoa
chất xám xưa sau kết ngọc
ta
lại nhìn ta nước mắt dâng đầy
mực
tôi pha máu mồ hôi bùn đen và dầu mỡ
vẫn
đặt hi vọng vào kẻ sĩ
với
ngọn bút trĩu tay
ơi
cánh chim vành khuyên hồn mở cửa
em
hát lên ngân vang bài hát tự đời
hãy
chân thành vút cao
nốt
chữ đẫm mồ hôi lao nhọc
mỗi
người tự sinh nở chính mình,
như
đích thực con người
giọt sương ngọt vùng quê mưa dầm bụi đỏ
kết
đính chát cay
trên rêu xanh đàn đá u trầm
bỗng bật mầm khi gặp tiếng khèn rừng lạ
em
ngổ ngáo phố phường
lại
hát tinh ròng
trong veo chất giọng miền nam?
mỗi
người đều là kẻ "mồ côi" (5thơ). Hãy "mồ côi"
cho
lời ca tự đáy lòng thơm ngát
xao
xuyến nao nao ngoảnh tận xa vời
chút lãng mạn bâng quơ
chạm vào xưa thẳm
thiên tài Tố Như
trong thời buổi ấy, chơi vơi.
TRẦN NGUYỄN PHAN
Bâng
quơ,
chép
tặng một chuyện tình
đến
từ ngàn xưa vô ngần Hà Nội
đôi
bạn yêu ơi, duyên của thuở nào
thủ
đô mắt, Đông Đô môi, Thăng Long giọng nói
cùng rất Quảng trái tim
rót
nắng tuổi chiêm bao
...
tôi cát trắng, biếc dòng Hương, gập ghềnh núi
xa
ngái Đàng Trong răng rứa mô tê
ơn
Huyền Trân,
say
dáng múa đội vò Chiêm nữ...
mang vết cứa sông Gianh đứt ruột ngoảnh về...
Bến
Hải lau tranh trắng phơ hồn tấm bé
đặt
chân lên bờ bắc
lòng rúng triệu tấn bom
khuya thông cầu Tiên An
búa
dội rền giấc mỏi
chảy trên xương sống nối liền...
tôi
cùng được mặn ngời
trong đầu máy nắng hồng
như
giọt mồ hôi thơm...
...
khi không rất Huế, rất Sài Gòn, tha thiết
nhìn ai nắm tay ai,
nghẹn hoang vu Thăng Long
đẫm
niềm Hà Nội rực mũ rơm vàng
đã
tìm thấy một nửa mình
hỡi
trống đồng chim Lạc
cho
hạnh phúc chạm vào hồn,
ngân nga trầm vang
thân thương ơi, tình yêu như cơn lốc
đôi
bạn đắm say trong bùng xoáy nỗi đời
và
mặc tâm bão tự quả đất tròn
bao
lần suýt vỡ
cày
xuống những cuộc tình
từng chia biệt đôi nơi.
TRẦN NGUYỄN PHAN
(6thơ)
CƯỚC CHÚ: Xem cuối chương XIII (ở cuối phần
XII-B).
(
xem tiếp chương
XIII-B )