TRẦN
XUÂN AN
m ù
a
h è
b
ê n
s
ô n g
(nỗi đau hậu chiến)
tiểu thuyết
nnhà
xuất bản
1997 & 2003
CHƯƠNG XIII
(phần
B)
Tiểu luận của
TRẦN NGUYỄN PHAN (TXA.)
Đọc lại "Tuyên
ngôn Đảng Cộng sản" (1847 - 1848)
của Mác và
Ăng-ghen (K. Marx & F. Engels)
1.
Hơn hai mươi bốn năm
sau khi bản "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" được khởi viết (từ khoảng tháng một,
tháng chạp 1847) và xuất bản lần thứ nhất (vào tháng hai 1848), ngày 24
tháng sáu, năm 1872, Mác và Ăng-ghen lại đề tựa cho lần xuất bản bằng
tiếng Đức, thứ ngôn ngữ nguyên bản:
"Mặc dầu hoàn cảnh
đă thay đổi nhiều trong hai mươi lăm năm qua, nhưng cho đến nay, xét về
đại thể, những nguyên lí tổng quát tŕnh bày trong Tuyên ngôn này hoàn
toàn đúng. Ở đôi chỗ, có một vài chi tiết phải xem lại. Chính ngay Tuyên
ngôn cũng đă giải thích rơ ràng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp
dụng những nguyên lí đó cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử đương thời,
và do đấy, không nên quá câu nệ những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối
chương II. Đoạn này, ngày nay mà viết lại th́ về nhiều mặt cũng phải viết
khác đi. [[...]: Trần Nguyễn Phan (TNP.) lược bớt]" (sđd., tr. 8 - 9 và
tr. 21 - 22).
Về nền đại công nghiệp
đă có sự tiến bộ vượt bậc và về giai cấp công nhân đă có chính đảng, tích
luỹ được kinh nghiệm đấu tranh và nắm chính quyền (Công xă Paris 1871),
Mác và Ăng-ghen viết tiếp lời tựa: "cho nên hiện nay cương lĩnh này có
một số điểm đă cũ rồi" (sđd., tr. 8 - 9 và tr. 21 - 22).
" [...] Việc phê
phán những văn phẩm xă hội chủ nghĩa chưa được đầy đủ [...]. Và cũng hiển
nhiên là những nhận định về thái độ của người cộng sản đối với các đảng
đối lập (chương IV) [các đảng đối lập của chế độ tư bản - TNP. chua thêm
(ct.)], nếu cho đến nay vẫn c̣n đúng trên những nét cơ bản, th́ trong chi
tiết những nhận định ấy đă cũ rồi, v́ t́nh h́nh chính trị đă hoàn toàn
thay đổi và sự tiến triển lịch sử đă làm tiêu tan phần lớn những đảng được
kể ra trong đó.
Tuy nhiên, Tuyên
ngôn là một tài liệu lịch sử mà chúng tôi không có quyền sửa lại" (sđd.,
tr. 8 - 9 và tr. 21 - 22).
Mác và Ăng-ghen khẳng
định: những nguyên lí tổng quát vẫn hoàn toàn đúng; phải linh hoạt áp dụng
những nguyên lí ấy tuỳ hoàn cảnh cụ thể; không câu nệ vào biện pháp cách
mạng đă nêu ra một cách máy móc...
Trên tinh thần đó,
Lê-nin (Lênine) nhận định về bản "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" (1847 - 1848):
"Cuốn sách mỏng đó có giá trị bằng nhiều pho sách dày: toàn thể giai
cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh, cho đến
ngày nay, sống và hoạt động nhờ có tinh thần của cuốn sách đó" (dẫn theo
sđd., tr. 102).
Quả thật, đó là một
cuốn sách mỏng. Với bản in tiếng Việt, xuất bản lần thứ tám, của Nhà Xuất
bản Sự Thật - Hà Nội, 1974, nguyên trọn nội dung thực sự của Tuyên ngôn
chỉ vỏn vẹn sáu mươi trang sách, cỡ 13 cm x 18,8 cm, từ trang 41 đến trang
101. Phần trước và phần sau các trang đó là các lời tựa của những lần xuất
bản và các chú thích của Nhà Xuất bản Sự Thật. Phần mục lục của Tuyên ngôn
đă tŕnh bày khái quát về nội dung của nó. Xin trích nguyên văn:
"I. [Chương I: - TNP.
ct.] Tư sản và vô sản [tr.] 42
II. [Chương II:]
Những người vô sản và những người cộng sản [tr.] 66
III. [Chương III:]
Văn học xă hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa [tr.] 81
1. Chủ nghĩa xă hội
phản động: [tr.] 81
a) Chủ nghĩa xă hội
phong kiến [tr.] 81
b) Chủ nghĩa xă hội
tiểu tư sản [tr.] 84
c) Chủ nghĩa xă hội
Đức hay chủ nghĩa xă hội "chân chính" [tr.] 86
2. Chủ nghĩa xă hội
bảo thủ hay chủ nghĩa xă hội tư sản [tr.] 91
3. Chủ nghĩa xă hội
không tưởng phê phán và chủ nghĩa cộng sản không tưởng phê phán [tr.] 94
IV. [Chương IV:]
Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập [tr.] 99" (sđd.,
tr. 117 - 118).
Trong các chương mục
trên, hai chương Tư sản và vô sản, Những người vô sản và những người cộng
sản là cốt tuỷ nhất.
2.
Điều tôi quan tâm nhất
là chủ nghĩa thực dân của giai cấp tư sản và quá tŕnh kháng chiến, phong
trào giành độc lập dân tộc ở các nước bị xâm lược.
Sự xâm lược, cướp bóc,
chiếm đóng, bành trướng lănh thổ và đồng hoá dân tộc về mặt huyết thống
lẫn văn hoá (gồm cả tôn giáo) không phải mới xuất hiện vào các thế kỉ từ
XVI đến giữa thế kỉ XIX, thời điểm Mác và Ăng ghen viết Tuyên ngôn Đảng
Cộng sản (1847). Xâm lược, thực dân (kể cả chiếm đất, bóc lột, tiêu diệt
dân tộc bản xứ, di dân chính quốc đến vùng đất mới xâm chiếm) vốn xuất
phát từ dục vọng tham tàn của sinh vật con người (cũng như t́nh trạng di
thực của mọi sinh vật cấp thấp khác), kể từ khởi thuỷ đến nay, và dĩ nhiên
dục vọng tham tàn ấy, ở con người, có tính giai cấp (bấy giờ là tư sản) và
tính thời đại (bấy giờ là công nghiệp). Nhưng vào cuối năm 1847, lúc Mác
và Ăng-ghen viết ḍng thứ nhất bản thảo Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, giai cấp
phong kiến quân chủ và giai cấp tư sản Âu Mỹ đă và đang tiến hành xâm lược
tàn bạo các nước châu Phi, châu Mỹ và các nước Phương Đông một cách khốc
liệt (riêng ở cảng Sơn Trà, Đà Nẵng của nước ta, thực dân Pháp vừa gây hấn
bằng cách bắn ch́m mấy chiến thuyền của quan quân triều Thiệu Trị rồi bỏ
chạy), bấy giờ, Mác và Ăng-ghen có những suy nghĩ, thái độ và chủ trương
chính trị ǵ?
Hầu như mối bận tâm
nhất của Mác và Ăng-ghen là tŕnh bày luận điểm "lịch sử tất cả các xă hội
cho đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp" (sđd., tr. 42). Kế đó,
là sự h́nh thành giai cấp tư sản trong ḷng xă hội phong kiến châu Âu và
quá tŕnh tích luỹ tư bản của nó, gồm cả việc xâm lược, cướp bóc tài
nguyên, sức lao động ở các nước châu Phi, châu Mỹ và các nước Phương Đông:
"Việc t́m ra châu Mỹ
và con đường biển ṿng châu Phi đă đem lại một địa bàn hoạt động mới cho
giai cấp tư sản vừa mới ra đời. Những thị trường Đông Ấn và Trung Quốc,
việc thực dân hoá châu Mỹ, việc buôn bán với thuộc địa, việc tăng thêm
nhiều phương tiện trao đổi và nói chung, tăng thêm nhiều hàng hoá, đă đem
lại cho thương nghiệp, cho hàng hải, cho công nghiệp một sự phát triển
chưa từng có, và do đấy đă đem lại một sự phát triển mau chóng cho yếu tố
cách mạng trong xă hội phong kiến đang tan ră" (sđd., tr. 44).
... "Nó đă tiến hành
những cuộc viễn chinh khác hẳn những cuộc xâm lăng và những chiến tranh
thập tự 42" (sđd., tr. 48).
... "V́ luôn luôn bị
thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ mới, giai cấp tư sản xâm lấn
khắp hoàn cầu. Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, khai thác khắp nơi và thiết
lập những mối liên hệ ở khắp nơi" (sđd., tr. 49).
... "Thay cho những
nhu cầu cũ được thoả măn trong nước, th́ nảy sinh ra những nhu cầu mới,
đ̣i hỏi được thoả măn bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi
nhất về" (sđd., tr. 49).
... "Mặt khác, bằng
cách chiếm những thị trường mới và bóc lột triệt để hơn nữa những thị
trường cũ" (sđd., tr. 53).
Cũng về t́nh trạng thực
dân ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa, hai lănh tụ vô sản đă viết với tư
duy và cảm xúc châu Âu, gây cho người đọc vốn là nhân dân các nước bị xâm
lược cảm giác khó chịu, nếu không muốn nói là bất b́nh, mặc dù rất đồng
cảm khi thấy đồng thời Mác và Ăng-ghen hướng mũi dùi công kích chủ yếu vào
giai cấp tư sản, bọn thực dân viễn chinh:
"Nhờ cải tiến mau
chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô
cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dă man nhất
vào trào lưu văn minh. Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng
pháo bắn thủng tất cả những bức vạn lí trường thành và buộc những người dă
man bài ngoại một cách ngoan cường nhất phải hàng phục. Nó buộc tất cả các
dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản, nếu không sẽ bị tiêu
diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa
là phải thành tư sản. Nói tóm lại nó tạo cho nó một thế giới theo h́nh ảnh
của nó" (sđd., tr. 50).
"Cũng như nó đă bắt
nông thôn phụ thuộc vào thành thị, bắt những nước dă man hay nửa dă man
phải phụ thuộc vào các nước văn minh, nó bắt những dân tộc nông dân phải
phụ thuộc vào những dân tộc tư sản, bắt Phương Đông phải phụ thuộc vào
Phương Tây" (sđd., tr. 50).
Nói chung, hầu như mối
quan tâm nhất của Mác và Ăng-ghen, như đă nói, là tŕnh bày về quá tŕnh
tích luỹ tư bản của tư sản châu Âu, và vừa công kích, vừa thừa nhận sự
phát triển nhanh chóng không thể tưởng của giai cấp tư sản da trắng; đồng
thời tŕnh bày sự h́nh thành của giai cấp công nhân vô sản, nói theo cách
của Tuyên ngôn, là giai cấp được sinh ra từ nền sản xuất tư bản, đồng thời
cũng chính là giai cấp sẽ "đào huyệt chôn" giai cấp thân sinh ḿnh (sđd.,
tr. 65), và cũng không thể không nói đến sự tha hoá, vong thân của giai
cấp công nhân trong quan hệ sản suất tư bản chủ nghĩa. Khái niệm và thực
chất của hai từ "dă man", "văn minh", Mác và Ăng-ghen cũng hiểu theo kiểu
"châu Âu là trung tâm", là cái rốn của vũ trụ! Và lạ thay, nhưng xét cho
cùng cũng không có ǵ lạ, khi Mác và Ăng-ghen không hề bày tỏ niềm chia sẻ
khổ đau và tủi nhục cùng những dân tộc bị xâm lược, thậm chí bị diệt chủng
bởi thực dân da trắng.
Tuy vậy, Mác và
Ăng-ghen vẫn có đề cập đến sự bóc lột giữa các dân tộc, nhưng chỉ được hai
câu:
"Hăy xoá bỏ nạn
người bóc lột người th́ nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị
xoá bỏ.
Khi mà sự đối kháng
giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không c̣n nữa th́ sự thù địch giữa
các dân tộc cũng đồng thời mất theo" (sđd., tr. 76).
Phải chăng hai câu ấy
không phải đề cập đến độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước? Ai cũng hiểu
rằng, "nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác" chưa diễn đạt đầy đủ nội hàm
của hai thuật ngữ độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước. Một dân tộc này
có thể thống trị một dân tộc khác, sáp nhập đất nước của dân tộc bị trị
vào lănh thổ của nước thống trị, nhưng vẫn b́nh đẳng về kinh tế. Dân tộc
Hán ở Trung Hoa sáp nhập cả mươi nước khác, vừa cả đất nước, vừa cả dân
tộc vào tay ḿnh là một ví dụ. Liên Xô gồm nước Nga với mười hai nước cộng
hoà trước đây (vừa tuyên bố độc lập vào năm 1991) là một ví dụ khác.
Công xă Paris 1871, đă
thực sự nắm chính quyền ở Pháp, mặc dù ngắn ngủi về thời gian, nhưng cũng
kịp để trao trả Nam Ḱ cho Đại Nam nước ta, tuy nhiên Công xă Paris cũng
không hề có nghĩa cử hợp với công lí ấy!
Bốn mươi tư năm trôi
qua, kể từ ngày Tuyên ngôn ra đời, măi cho đến ngày 10 tháng hai 1892, sau
khi cung cấp một thông tin về sự vong bản ḱ quặc và bi thảm của công nhân
Ba Lan là "họ thiết tha muốn Nga hoá tất cả mọi người Ba Lan" (sđd., tr.
34) v́ quyền lợi kinh tế (trong sự cạnh tranh giữa giới chủ Ba Lan và giới
chủ Nga), Ăng-ghen viết:
"Nhưng sự phục hồi
nước Ba Lan tự trị hùng mạnh là điều tất cả chúng ta đều mong muốn chứ
không phải riêng ǵ người Ba Lan. Chỉ có thể có được sự hợp tác quốc tế
thành thực giữa các dân tộc châu Âu khi nào mỗi dân tộc đó là người chủ
tuyệt đối trong nhà ḿnh" (sđd., tr. 34 - 35).
Ngày 01 tháng hai,
1893, trong một lời tựa cho lần xuất bản Tuyên ngôn bằng tiếng Ư vào năm
đó, Ăng-ghen viết:
"Không khôi phục lại
độc lập và thống nhất cho từng dân tộc th́ về phương diện quốc tế, không
thể thực hiện được sự đoàn kết của giai cấp vô sản và sự hợp tác hoà b́nh
và tự giác giữa các dân tộc đó để đạt tới những mục đích chung" (sđd., tr.
38).
Tuy có nói đến việc
"khôi phục lại độc lập và thống nhất cho từng dân tộc" nhưng Ăng-ghen
vẫn xem đó chỉ là việc phải thực thi để tạo được điều kiện cần thiết, mà
điều kiện cần thiết ấy cũng chỉ nhằm phục vụ cho mục tiêu tối thượng là
cách mạng vô sản trên toàn thế giới! Nói cách khác, cách mạng vô sản mới
là chủ trương chính, là mục đích chủ yếu và nhiệm vụ trọng tâm, nhưng
không thể thực thi và đạt được nếu không tạo ra điều kiện tiên quyết, đó
là "khôi phục lại độc lập và thống nhất cho từng dân tộc". Mặc dù
Ăng-ghen đă thấy ra điều ấy, nhưng cũng chỉ giới hạn tầm nh́n vào việc
khôi phục độc lập dân tộc, thống nhất đất nước cho các nước châu Âu mà
thôi!
Mác cũng có nói về cái
nhục của Ư lệ thuộc vào Áo, Đức lệ thuộc vào Nga. Cũng theo Ăng-ghen trong
lời tựa trên, về ư kiến ấy của Mác:
"Hai dân tộc lớn đó
được phục hồi và có thể thu hồi bằng cách này hay cách khác nền độc lập
của ḿnh th́ theo ư kiến của Mác, đó là do chính ngay những kẻ đàn áp cuộc
cách mạng 1848 [Louis Bonaparte, Pháp; Bismark, Đức - TNP. ct.] đă trở
thành những người chấp hành di chúc của cuộc cách mạng đó, bất chấp ư muốn
của họ là thế nào" (sđd., tr. 36 - 37).
Nhăn quan của Mác và
Ăng-ghen cho dù sáng suốt cũng chỉ là nhăn quan của người châu Âu với tâm
lí "châu Âu là trung tâm"!
3.
Điều quan tâm lớn thứ
hai của tôi: chủ nghĩa tam vô (vô Tổ quốc, vô gia đ́nh và vô tôn giáo). Có
thật Mác và Ăng-ghen chủ trương như thế?
Chương II của "Tuyên
ngôn Đảng cộng sản" (1847 - 1848) có nhiều đoạn viết về vấn đề này, sau
vấn đề lớn nhất là vô sản hoá hay công hữu hoá nền sản xuất để người công
nhân vô sản thành người cộng sản vừa nắm chính quyền, vừa quản lí nền sản
xuất và điều hành tất cả mọi lĩnh vực xă hội khác. Chủ nghĩa tam vô cũng
được đặt sau các vấn đề cực ḱ to lớn khác: tính độc lập cá nhân và cá
tính, tự do, thương nghiệp, tư hữu, cái cá nhân, văn hoá, pháp quyền. Tất
nhiên, biện pháp tiên quyết của cách mạng vô sản là giành chính quyền bằng
bạo lực cách mạng, nhưng trong chương II này, biện pháp ấy lại được đặt
sau cái thường gọi là chủ nghĩa tam vô.
Mác và Ăng-ghen miêu tả
thực trạng của giai cấp vô sản công nghiệp Âu Mỹ dưới sự bóc lột của giai
cấp tư sản ở hai châu lục đó, sau khi đă khu biệt với bộ phận "vô sản lưu
manh" (sđd., tr. 60):
"Điều kiện sinh hoạt
của xă hội cũ đă bị xoá bỏ trong những điều kiện sinh hoạt của giai cấp vô
sản. Người vô sản không có tài sản; [về gia đ́nh, TNP. nhấn mạnh] quan hệ
giữa anh ta với vợ con không c̣n giống một chút nào với những quan hệ gia
đ́nh tư sản; [về dân tộc, TNP. nhấn mạnh] lao động công nghiệp hiện đại,
t́nh trạng người công nhân làm nô lệ cho tư bản, ở Anh cũng như ở Pháp, ở
Mỹ cũng như ở Đức, làm cho người vô sản mất hết tính chất dân tộc. [Về tôn
giáo v.v., TNP. nhấn mạnh] Luật pháp, đạo đức, tôn giáo đều bị người vô
sản coi là những thành kiến tư sản che giấu những lợi ích tư sản" (sđd.,
tr. 60 - 61).
Đó là thực trạng biến
đổi về quan hệ gia đ́nh (chưa xác lập vững chắc quan hệ gia đ́nh kiểu mới,
vợ chồng đều làm công ăn lương); thực trạng bị tha hoá, vong thân về tính
chất dân tộc; và cũng là thực trạng, nhưng ở khía cạnh khác, về luật pháp,
đạo đức, nhất là về Thiên Chúa giáo, Tin Lành giáo, lại là sự nhận thức
sáng suốt của giai cấp vô sản - công nhân Âu Mỹ, thuở bấy giờ. Thực trạng
đó đă được hai lănh tụ vô sản nh́n thẳng vào sự thật. Nhưng c̣n ư thức hệ
và chủ trương?
Về vô gia đ́nh?
Trong "Tuyên ngôn Đảng
cộng sản" (1847 - 1848), vấn đề này thực sự là những lời tranh luận của
hai lănh tụ vô sản với các giai cấp, thành phần phản động:
"Xoá bỏ gia đ́nh!
Ngay những người cấp tiến nhất cũng phẫn nộ về cái ư định xấu xa ấy của
những người cộng sản.
Gia đ́nh tư sản hiện
nay dựa trên cơ sở nào? Dựa trên tư bản, trên lợi nhuận cá nhân. Gia đ́nh,
dưới h́nh thái hoàn toàn phát triển của nó, chỉ tồn tại đối với giai cấp
tư sản thôi, nhưng nó lại kèm theo sự bắt buộc phải thủ tiêu mọi gia đ́nh
đối với người vô sản và kèm theo nạn măi dâm công khai.
Gia đ́nh tư sản dĩ
nhiên là sẽ tiêu tan cùng với cái kèm theo nó, và cả hai cái đó [gia đ́nh
kiểu tư sản, lợi nhuận cá nhân (hoặc sự thủ tiêu tính gia đ́nh tạm bợ kiểu
vô sản, nạn măi dâm công khai) - TNP. ct.] đều mất đi cùng với tư bản.
Các ông trách chúng
tôi là muốn xoá bỏ hiện tượng cha mẹ bóc lột con cái chăng? Tội ấy, chúng
tôi xin nhận.
Nhưng các ông lại
bảo rằng chúng tôi đập tan những mối liên hệ thân thiết nhất bằng cách đem
giáo dục xă hội thay cho giáo dục gia đ́nh.
Thế nền giáo dục của
các ông, há chẳng phải cũng do xă hội quyết định đó sao? Há chẳng phải do
điều kiện xă hội trong đó các ông nuôi dạy con cái các ông, do sự can
thiệp trực tiếp hay không trực tiếp của xă hội, do nhà trường v.v. quyết
định là ǵ? Người cộng sản không bịa ra tác động xă hội đối với giáo dục;
họ chỉ thay đổi tính chất của tác động ấy và kéo giáo dục ra khỏi ảnh
hưởng của giai cấp thống trị mà thôi.
Đại công nghiệp càng
phá huỷ mọi liên hệ gia đ́nh trong giai cấp vô sản và càng biến các trẻ em
thành chỉ là những món hàng mua bán, chỉ là những công cụ lao động, th́
những lời huênh hoang của giai cấp tư sản về gia đ́nh và giáo dục, về
những mối liên hệ thân thiết gắn bó con cái với cha mẹ, lại càng trở nên
ghê tởm.
Nhưng bọn cộng sản
các anh, muốn thực hành chế độ cộng thê [vợ chung - TNP. ct.]. - Toàn thể
giai cấp tư sản đồng thanh tru tréo lên như vậy.
Đối với người tư sản,
vợ hắn chẳng qua chỉ là một công cụ sản xuất. Cho nên nghe nói công cụ sản
xuất phải được đem dùng chung th́ tự nhiên là hắn kết luận rằng chính đàn
bà rồi cũng phải chịu cái số phận chung là bị xă hội hoá.
Hắn không ngờ rằng
vấn đề ở đây chính là kéo đàn bà ra khỏi vai tṛ hiện nay của họ là một
công cụ sản xuất đơn thuần.
Vả lại, không có ǵ
lố bịch bằng sự ghê sợ quá ư đạo đức của những nhà tư sản đối với cái gọi
là cộng thê chính thức mà h́nh như những người cộng sản sẽ chủ trương.
Những người cộng sản không cần phải du nhập chế độ cộng thê; chế độ ấy hầu
như đă luôn luôn tồn tại.
Các ngài tư sản chưa
thoả măn là đă sẵn có vợ và con gái của vô sản để dùng, đó là chưa kể chế
độ măi dâm công khai, các ngài ấy c̣n lấy việc cắm sừng lẫn nhau làm một
thú vui đặc biệt.
Hôn nhân của giai
cấp tư sản thật ra là chế độ cộng thê. Quá lắm th́ người ta có thể buộc
tội những người cộng sản là muốn đem một chế độ cộng thê công khai và
chính thức thay cho chế độ cộng thê che đậy một cách giả nhân giả nghĩa mà
thôi. Nhưng với sự xoá bỏ chế độ sản xuất hiện tại [nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa - TNP. ct.] th́ dĩ nhiên là chế độ cộng thê do chế độ sản xuất
ấy đẻ ra, tức là chế độ măi dâm chính thức và không chính thức, cũng sẽ
biến mất" (sđd., tr. 73 - 75).
Quả thật, Mác và
Ăng-ghen khi bàn đến tự do, hai ông viết trong Tuyên ngôn một cách rất mỉa
mai về cá tính, tính độc lập và tự do cá nhân tư sản, sau đó, lại viết
tiếp:
"... Trong những
điều kiện hiện tại của sản xuất tư sản th́ tự do có nghĩa là tự do buôn
bán, tự do mua và bán.
[...]
... những luận điệu
và lời nói đó không c̣n ư nghĩa ǵ nữa, khi vấn đề đặt ra là chủ nghĩa
cộng sản phải xoá bỏ buôn bán, xoá bỏ chế độ sản xuất tư sản và xoá bỏ
ngay cả giai cấp tư sản nữa" (sđd., tr. 70).
Cách viết đầy tính
tranh luận với thủ pháp mỉa mai thường thấy (phủ định bằng cách khẳng định
với cấu trúc câu tuy b́nh thường nhưng ngữ nghĩa "nghịch lí", đặt trong
một văn cảnh nhất định), khiến nhiều người có thể liên hệ là chủ nghĩa
cộng sản sẽ lấy "chế độ cộng thê công khai và chính thức" (xă hội
thừa nhận vợ chung một cách công khai trong đời sống và chính thức trên
pháp luật) để thay thế "chế độ măi dâm chính thức và không chính thức"
do chính nền sản xuất tư bản - buôn bán đẻ ra, một khi mua dâm và bán dâm
"cũng sẽ biến mất" (bởi "chủ nghĩa cộng sản phải xoá bỏ buôn bán",
kể cả buôn bán t́nh dục, nghĩa là không c̣n có gái đĩ bán dâm lấy tiền,
các tú bà buôn thịt bán người). Nói cách khác, "quan hệ sản xuất tư bản -
buôn bán" vốn phản ánh vào các quan hệ xă hội của xă hội tư bản chủ nghĩa,
ngay trong việc mại dâm và măi dâm; c̣n "quan hệ sản xuất xă hội chủ nghĩa
- xoá bỏ buôn bán" th́ phản ánh vào các quan hệ xă hội của xă hội xă hội
chủ nghĩa, nên trong lĩnh vực t́nh dục ngoại hôn dâm dăng cũng sẽ cho
không biếu không, hoặc được phân phối theo tem phiếu! Nói vắn tắt, như thế
là cách mạng t́nh dục đến mức "thả giàn [thả ràn]", do đó xă hội không c̣n
đĩ điếm nữa! Thật là một sự hiểu lầm hoặc xuyên tạc khủng khiếp và nguy
hại?!? Chẳng lẽ sau mấy chục ngàn năm tiến hoá và tự xây dựng nên những
nền văn hiến của ḿnh, loài người lại trở về với đời sống t́nh dục bầy đàn,
quần hôn, tạp hôn, thời công xă nguyên thuỷ?!?
Nếu đọc kĩ những ǵ Mác
và Ăng-ghen đă viết về vấn đề gia đ́nh dưới h́nh thức tranh luận trong
Tuyên ngôn, ta thấy: Một mặt, kết án chủ nghĩa tư bản đă thủ tiêu gia đ́nh
của người vô sản. Mặt khác, khẳng định dưới chủ nghĩa cộng sản người phụ
nữ sẽ được giải phóng để tham gia vào hoạt động xă hội chứ không chỉ làm
chức năng sinh đẻ (máy đẻ); cha mẹ giai cấp công nhân sẽ không bóc lột sức
lao động của con cái; chủ nghĩa cộng sản xem giáo dục của nhà trường là
chính, so với giáo dục gia đ́nh, "kéo giáo dục ra khỏi ảnh hưởng của giai
cấp thống trị". Tuy nhiên, gia đ́nh chỉ được đề cập đến với ba đối tượng:
vợ, chồng và con. Đó là kiểu gia đ́nh "hạt nhân" (h́nh thức gia đ́nh chỉ
gồm các thành viên chính, không phải h́nh thức gia đ́nh tam hoặc tứ đại
đồng đường, không phải đại gia đ́nh gồm nhiều gia đ́nh "hạt nhân" thúc bá
trực hệ quây quần).
Có lẽ cần nói rơ hơn về
khía cạnh vô gia đ́nh. Bởi lẽ giai cấp công nhân châu Âu vốn là nông dân
bị bứt khỏi ruộng đất và đồng cỏ chăn nuôi của họ để lang thang kiếm sống
ở các thành thị đang mở mang nhà máy, xí nghiệp công nghiệp, v́ vậy đa số
trong họ đều rơi vào t́nh cảnh vô gia đ́nh, với nghĩa độc thân. Bởi lẽ
khác, nếu có gia đ́nh, cả hai vợ chồng và cả con cái chưa đến tuổi lao
động cũng đều phải đi làm cho giới chủ công nghiệp, mỗi ngày phải lao động
đến 16 hoặc 18 tiếng đồng hồ, cho nên có gia đ́nh cũng như vô gia đ́nh (chẳng
c̣n chút th́ giờ nào dành cho các quan hệ thân mật!).
... mỗi gốc cây, một
xác người công nhân!...
... mỗi ngày hai bữa
cơm đèn
lấy ǵ má phấn răng
đen hỡi chàng!
Đó là t́nh cảnh gia
đ́nh người công nhân Việt Nam bị bóc lột ngày công lao động, ba giờ sáng
đă dậy thổi cơm, chín giờ tối mới ăn bữa cơm chiều! T́nh trạng bị giới chủ
tư sản bóc lột thậm tệ của công nhân Mỹ cũng rất ghê gớm. Thiên tài điện
ảnh câm Charlie Chaplin (Charlot), qua một số đoạn phim Thời đại tân ḱ
(Modern times), đă miêu tả đời sống giai cấp công nhân Mỹ đầu thế kỉ XX,
để nói lên t́nh cảnh tủi nhục của họ, đồng thời nhằm lên án giai cấp tư
sản: con cái thất học, trộm cắp; bản thân cùng đồng nghiệp như một bầy súc
vật mỗi ngày bị lùa vào nhà máy theo tiếng c̣i tầm, và cũng theo tiếng c̣i
tầm, khi nhà máy nhả ra, thân thể công nhân ră rời héo rũ; có người lại bị
hệ thống sản xuất dây chuyền hành hạ đến mức rối loạn tâm thần, nh́n hạt
nút trên áo phụ nữ cũng ngỡ là chiếc bù loong! Tuy vậy, với hạn chế của
bản thân Charlie Chaplin và của người công nhân ấy, anh ta và cô gái khốn
khổ vẫn không giác ngộ giai cấp để đấu tranh cách mạng, cuối cùng dắt tay
nhau đến một thiên đường huyễn hoặc xa xăm hay một vùng đất địa đàng hoang
vu nào đó! Rất đáng tiếc, với họ bấy giờ, ở trần gian này, dưới Gót sắt tư
sản, gia đ́nh là cả một gánh nặng bi thảm, không lối thoát.
Vả lại, gia đ́nh kiểu "hạt
nhân" chỉ gồm ba thành phần chính này h́nh thành là bởi t́nh trạng người
vô sản bị bứt gốc, bật gốc khỏi quê quán, không thể có các thành phần khác:
cha chồng (ông), mẹ chồng (bà), anh em của chồng (chú, bác, cô), cho nên
vô gia đ́nh ở đây là t́nh cảnh không có bà con họ hàng thân thuộc... Vô
gia đ́nh được hiểu với các nghĩa như thế.
Nói một cách khái quát,
nếu bản thân giai cấp công nhân châu Âu, thuộc địa Viễn Đông và các châu
lục khác, ở thế kỉ XIX, vừa mang trong ḿnh một tính cách ưu việt do
phương thức sản suất công nghiệp quy định, th́ cũng bởi điều kiện sống tăm
tối, tồi tệ do bị bóc lột đó, họ cũng đồng thời bị h́nh thành một nếp cảm
nghĩ kiểu vô gia đ́nh! Không chỉ là cảm nghĩ, bởi theo Mác và Ăng-ghen,
hai vị lănh tụ vô sản này đă đọc "những tài liệu rất có giá trị để soi
sáng ư thức công nhân", mà "xoá bỏ gia đ́nh" là một trong những đề
nghị tích cực tuy c̣n không rơ rệt và lờ mờ nên trở thành không tưởng (sđd.,
tr. 96).
Về sau, qua sự cọ xát
nếp cảm nghĩ đă thành ư thức ấy vào thực tiễn đấu tranh, và một khi chủ
nghĩa xă hội đă thành hiện thực, cuộc sống giai cấp công nhân thực sự được
cải thiện và nâng cao, ở Liên Xô dần dần h́nh thành một quan điểm về nạn
măi dâm và hôn nhân - gia đ́nh cụ thể hơn. Nếu ở xă hội tư bản, "sự măi
dâm được hợp pháp hoá trở thành cái bổ sung cho hôn nhân" (1Tng), th́
ở xă hội xă hội chủ nghĩa "quan hệ hôn nhân - gia đ́nh không có sự đồi bại
đó [TNP. nhấn mạnh], quan hệ dựa trên t́nh yêu, t́nh bạn và ḷng tin cậy
lẫn nhau, đă nảy sinh và phát triển trong giai cấp vô sản"; "t́nh yêu, sự
tôn trọng lẫn nhau, sự chăm lo giáo dục con cái, sự săn sóc của con cái đă
trưởng thành đối với cha mẹ [TNP. nhấn mạnh] - đó là những nguyên tắc đạo
đức quan trọng nhất của gia đ́nh trong xă hội xă hội chủ nghĩa" (1Tng).
Về vô Tổ quốc, vô
dân tộc?
Tuyên ngôn Đảng cộng
sản (1847 - 1848) được Mác và Ăng-ghen viết tiếp, nhưng không phải là phủ
nhận lời cáo buộc của những giai cấp, thành phần đối lập:
"Ngoài ra, người ta
c̣n buộc tội những người cộng sản là muốn xoá bỏ Tổ quốc, xoá bỏ dân tộc.
Công nhân không có
Tổ quốc. Người ta không thể cướp cái mà họ không có. V́ giai cấp vô sản
mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một
giai cấp dân tộc 1*, phải tự ḿnh trở thành dân tộc, cho nên do đấy họ vẫn
c̣n có tính chất dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai
cấp tư sản hiểu.
Với sự phát triển
của giai cấp tư sản, tự do buôn bán, thị trường thế giới, sự đồng đều của
sản xuất công nghiệp và những điều kiện sinh hoạt thích ứng với sản xuất
ấy th́ những sự cách biệt dân tộc và những sự đối lập giữa nhân dân các
nước [TNP. nhấn mạnh] cũng đă ngày càng mất đi.
Giai cấp vô sản nắm
chính quyền sẽ càng làm cho những sự cách biệt và những sự đối lập ấy mất
đi nhanh hơn [TNP. nhấn mạnh]. Hành động chung của giai cấp vô sản, ít ra
là ở những nước văn minh, là một trong những điều kiện đầu tiên cho sự
giải phóng của họ [46]
Hăy xoá bỏ nạn người
bóc lột người th́ nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ.
Khi mà sự đối kháng
giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không c̣n nữa th́ sự thù địch giữa
các dân tộc cũng đồng thời mất theo" (sđd., tr. 75 - 76).
Tổ quốc và dân tộc là
hai vấn đề thường được và phải được kết hợp làm một, nhưng vẫn là hai vấn
đề khác nhau! (Tôi cũng phân biệt hai khái niệm dân tộc và nhân tộc; một
dân tộc thường là gồm nhiều nhân tộc hợp lại). Khái niệm giai cấp với nội
hàm do Mác và Ăng-ghen định nghĩa, lại được hai ông đặt cao hơn cả dân tộc,
trong khi giới thuyết rơ sự khác nhau giữa người vô sản với người cộng sản:
"Những người cộng
sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: một là, trong các
cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ [tức
là những người cộng sản - TNP. ct.] đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi
ích không phụ thuộc vào dân tộc [TNP. nhấn mạnh] và chung cho toàn thể
giai cấp vô sản; hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh
giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong
trào" (sđd., tr. 66 - 67).
Ở một đoạn trước, trong
chương I, Mác và Ăng-ghen viết rơ hơn:
"Cuộc đấu tranh của
giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là
một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng
lúc đầu lại mang h́nh thức đấu tranh dân tộc [TNP. in đậm]" (sđd., tr.
62).
Nói cụ thể hơn, lợi ích
giai cấp vô sản thế giới là tất cả và trên hết!
Do đó, ta không lạ ǵ
về câu khẩu hiệu nổi tiếng cuối bản Tuyên ngôn, thường được xem như đặc
trưng, tiêu biểu cho chủ nghĩa Mác là: "Vô sản tất cả các nước, đoàn
kết lại!" (sđd., tr. 101). Sự thiếu sót về độc lập đất nước của các
dân tộc (gồm nhiều nhân tộc) bị áp bức là rất rơ ràng.
Vô Tổ quốc và vô dân
tộc trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (1847 - 1848) là hai vấn đề nhức nhối
đối với người theo Tổ quốc luận, chủ nghĩa yêu nước. Ngay ở Liên Xô, đến
năm 1975, Từ điển triết học c̣n có đoạn viết:
"Trong xă hội tư sản,
giai cấp công nhân không có Tổ quốc, nhưng xét về bản tính xă hội của ḿnh
th́ nó là giai cấp tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước chân chính. Trong tiến
tŕnh cách mạng xă hội chủ nghĩa, bản chất xă hội của Tổ quốc cũng thay
đổi, chủ nghĩa xă hội - đối tượng của niềm tự hào dân tộc và là Tổ quốc
chân chính của những người lao động
[TNP. in đậm] - trở thành yếu tố chủ yếu của nó, chủ nghĩa yêu nước xă hội
chủ nghĩa có tính chất toàn dân được h́nh thành, gắn chặt với chủ nghĩa
quốc tế" (2Tng).
Trong đoạn trích dẫn từ
Từ điển triết học trên, tôi lưu ư đến bốn chữ "chủ nghĩa xă hội" và
định ngữ của nó, được đặt trong hai dấu gạch ngang: "- đối tượng của
niềm tự hào dân tộc và là Tổ quốc chân chính của những người lao động -".
Nói cách khác, Tổ quốc chính là chủ nghĩa xă hội; chủ nghĩa xă hội là
đối tượng hướng đến của niềm tự hào dân tộc. Hoặc có thể lược bớt định ngữ
để hiểu đúng:
"... bản chất xă hội
của Tổ quốc cũng thay đổi, chủ nghĩa xă hội [...] trở thành yếu tố chủ yếu
của nó... [TNP. in đậm]".
Đó là quan niệm của
Liên Xô. Liên Xô là một liên bang gồm mười ba nước, hầu hết mỗi nước đều
vốn là một quốc gia độc lập, đều có truyền thống lâu đời, đều có lịch sử
riêng, nay gộp chung lại thành một liên bang, tất nhiên đứng đầu vẫn là
Nga. Do đó, quan niệm về Tổ quốc của Nhà nước Liên bang Xô-viết phải trừu
tượng, mơ hồ và đầy tính chất quan phương như thế.
Về vấn đề dân tộc, Từ
điển triết học của Liên Xô viết:
"... ở Liên Xô đă
h́nh thành một cộng đồng lịch sử mới - nhân dân xô-viết. Đó không phải là
một cộng đồng dân tộc, mà là cộng đồng quốc tế [TNP. in đậm], và việc h́nh
thành nó là sự toàn thắng của các nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế xă hội
chủ nghĩa" (3Tng).
"Sau khi chủ nghĩa
cộng sản hoàn toàn thắng lợi, sự xích lại gần nhau một cách toàn diện của
các dân tộc sẽ làm cho những khác biệt dân tộc dần dần biến mất. Tiêu biểu
cho xă hội cộng sản phát triển sẽ là một h́nh thức cộng đồng người mới [TNP.
nhấn mạnh] trong lịch sử, rộng hơn so với dân tộc, hợp nhất toàn bộ loài
người thành một gia đ́nh [TNP. nhấn mạnh]" (4Tng).
Như vậy là trong viễn
tưởng (chứ không phải viễn cảnh!) sẽ diễn ra sự đồng hoá dân tộc để đi đến
sự đồng nhất dân tộc. Bấy giờ, không c̣n khái niệm Tổ quốc, quốc gia, dân
tộc, mà chỉ c̣n là thế giới và loài người mà thôi!
Tuy nhiên, phải trở về
với thực tế. Hăy nhớ lại rằng, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) chỉ trở thành
người cộng sản khi Lê-nin đă bổ sung vào câu khẩu hiệu vốn đặc trưng cho
chủ nghĩa Mác: "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức [TNP.
nhấn mạnh], đoàn kết lại!".
Về vô tôn giáo?
Điều này hẳn khỏi phải
bàn, bởi không một ai không biết Mác và Ăng-ghen cũng như phong trào cách
mạng vô sản mác-xít - lê-nin-nít đều chủ trương vô thần luận một cách công
khai, minh bạch. Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (1847 - 1848) có đoạn phê phán
các giai cấp, thành phần phản động như sau:
"Những tư tưởng về
tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo chẳng qua chỉ nói lên thời ḱ thống trị
của cạnh tranh tự do trong lĩnh vực tri thức mà thôi" (sđd., tr. 77).
"Cách mạng cộng sản
chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ sở hữu cổ truyền;
không có ǵ đáng lấy làm lạ khi thấy rằng trong tiến tŕnh phát triển của
nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng cổ truyền [TNP.
nhấn mạnh].
Nhưng hăy gác lại
những lời giai cấp tư sản phản đối chủ nghĩa cộng sản" (sđd., tr. 78).
Từ điển triết học của
Liên Xô có đoạn viết về tôn giáo:
"Chỉ trong xă hội
cộng sản chủ nghĩa phát triển th́ tôn giáo mới có thể hoàn toàn biến mất
và bị xoá bỏ khỏi đời sống con người. Nhưng việc tôn giáo mất đi không
phải là một quá tŕnh tự động; nó đ̣i hỏi phải kiên tŕ hoạt động giáo dục
quần chúng, tuyên truyền rộng răi những hiểu biết khoa học tự nhiên, xă
hội và thế giới quan mác-xít" (5Tng).
Như thế, về bản chất,
giai cấp vô sản đại công nghiệp mang trong ḿnh tính ưu việt của phương
thức sản xuất mới, hiện đại nhất, đồng thời cách mạng nhất:
"Những người cộng
sản không tự hạ ḿnh mà đi giấu giếm những ư kiến và dự định của ḿnh. Họ
công khai tuyến bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng
bạo lực lật đổ hoàn toàn trật tự xă hội hiện có. Mặc cho các giai cấp
thống trị run sợ khi nghĩ đến một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa! Trong
cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất ǵ hết, ngoài những xiềng
xích trói buộc họ [TNP. nhấn mạnh]. Trong cuộc cách mạng ấy, họ giành được
cả một thế giới cho ḿnh" (sđd., tr. 101).
Nói cách khác, bởi thực
trạng tam vô hoặc đa vô, giai cấp vô sản đại công nghiệp dưới chế độ tư
bản bóc lột không có ǵ để mất, kể cả gia đ́nh, dân tộc, Tổ quốc, tôn giáo,
nhân phẩm, nên họ kiên quyết cách mạng đến cùng, v́ nếu thất bại, th́ chỉ
mất xiềng xích mà thôi! Nói gọn hơn, được th́ được cả thế giới, mất th́
chỉ mất xiềng xích nô lệ!
Hạn chế của Mác và
Ăng-ghen, như một số nhà nghiên cứu đă chỉ ra, là tư duy theo kinh tế luận,
chứ không phải theo Tổ quốc luận như Hồ Chí Minh. Phong trào cộng sản do
Mác và Ăng-ghen lănh đạo đấu tranh, trước hết và trên hết là v́ quyền lợi
giai cấp. Bản Quốc tế ca đă thể hiện điều đó:
"Chế độ xưa, ta mau
phá sạch tan tành! Toàn nô lệ, hăy đứng lên đi! Nay mai, cuộc đời sẽ khác
xưa, bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay ḿnh [TNP. nhấn mạnh]!".
Đối với người Việt Nam
chúng ta, sẵn sàng hi sinh tất cả quyền lợi bản thân, cá nhân, gia đ́nh,
v́ sự tồn vong của dân tộc và danh dự Tổ quốc, th́ cũng như Bác Hồ, đó là
một điều rất trăn trở. Nhưng Bác Hồ vĩ đại hơn nhiều người là ở chỗ, trong
khi có người không thể chấp nhận Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (1847 - 1848) và
các tổ chức Quốc tế Cộng sản, th́ Bác gia nhập Quốc tế Cộng sản đệ tam do
Lê-nin sáng lập, và đồng thời đồng sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, là để đấu
tranh nhằm hướng mục tiêu giải phóng dân tộc thành mục tiêu trọng tâm của
tổ chức Quốc tế Cộng sản ấy và Đảng ấy. Hồ Chí Minh vẫn đặt quyền lợi,
danh dự Tổ quốc, dân tộc lên trên quyền lợi, danh dự giai cấp công nhân.
Tôi biết, có người đến hiện nay, vẫn c̣n đặt câu hỏi thao thức về vấn đề
này: Phải chăng là thế?
Về biện pháp cách
mạng?
Cũng trong chương II
này, Mác và Ăng-ghen viết về biện pháp cách mạng: "bằng cách xâm phạm
một cách chuyên chế vào quyền sở hữu và chế độ sản xuất tư sản" (sđd., tr.
78). Nói trắng ra là bằng bạo lực cách mạng, bằng chuyên chế vô sản (xin
lưu ư: tôi dùng lại hai chữ "chuyên chế" trong bản dịch Tuyên ngôn
- TNP.).
Về các biện pháp chuyên
chế vô sản sẽ thực hiện ở các nước tiên tiến, xin trích nguyên văn:
"...
-
Tước đoạt sở hữu ruộng đất và bỏ địa tô
vào quỹ chi tiêu của Nhà nước.
-
Đánh thuế theo mức độ luỹ tiến thật cao.
-
Xoá bỏ quyền thừa kế.
-
Tịch thu tài sản của tất cả những kẻ lưu
vong và của tất cả những kẻ phiến loạn.
-
Tập trung tín dụng vào tay Nhà nước,
bằng một ngân hàng quốc gia mà vốn liếng sẽ thuộc về Nhà nước, và ngân
hàng này sẽ nắm độc quyền hoàn toàn.
-
Tập trung các phương tiện vận tải vào
tay Nhà nước.
-
Tăng thêm số công xưởng quốc doanh và
công cụ sản xuất; vỡ đất hoang và cải tạo đất trồng trọt, theo một kế
hoạch chung.
-
Thực hành nghĩa vụ lao động đối với tất
cả mọi người; tổ chức các đạo quân công nghiệp, đặc biệt là cho nông
nghiệp.
-
Kết hợp lao động nông nghiệp với lao
động công nghiệp; thi hành những biện pháp nhằm làm mất dần sự khác biệt
giữa thành thị và nông thôn 1*.
-
Giáo dục công cộng và không mất tiền cho
tất cả trẻ em. Xoá bỏ việc dùng trẻ em làm trong các công xưởng như hiện
nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất..." (sđd., tr. 79 - 80).
Tuyên ngôn c̣n viết
thêm về quyền lực chính trị:
"Quyền lực chính trị,
theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp
một giai cấp khác" (sđd., tr. 80).
Sau khi dùng biện pháp
"bạo lực tiêu diệt chế độ sản xuất cũ, th́ đồng thời với việc tiêu diệt
chế độ sản xuất ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện của sự đối
kháng giai cấp, nó tiêu diệt các giai cấp nói chung và cũng do đấy, tiêu
diệt cả sự thống trị của chính ngay giai cấp ḿnh" (sđd., tr. 80).
Tôi đặt câu hỏi từ mệnh
đề khẳng định này: "... và cũng do đấy, tiêu diệt cả sự thống trị của
chính ngay giai cấp ḿnh"? Như thế là thiên đường cộng sản chủ nghĩa
sẽ không c̣n sự thống trị mang tính giai cấp, có nghĩa là trước đó đă
không c̣n tồn tại nhà nước nào, chính đảng nào thuộc các giai cấp phi vô
sản, đến lượt Nhà nước chuyên chính vô sản cũng không c̣n, không c̣n cả
Đảng Cộng sản (đều hoàn tất vai tṛ, nhiệm vụ lịch sử và đều tuyên bố giải
thể). Bởi lẽ, một khi xă hội đại đồng trên toàn thế giới (L'Internationale)
h́nh thành, "trong đó, sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho
sự phát triển tự do của tất cả mọi người" (sđd., tr. 81), th́ tất nhiên
bấy giờ đă không c̣n giai cấp (vô giai cấp), do đó không c̣n đối kháng
giai cấp, cho nên cũng không c̣n quyền lực chính trị theo định nghĩa trên.
Kế tục, Nhà nước L'Internationale xuất hiện. Đó là một h́nh thức Nhà nước
tự quản, tự điều hành của toàn nhân loại đại đồng, tất cả công dân thế
giới đều giác ngộ về thiên đường cộng sản chủ nghĩa, và đang vừa xây dựng
tiếp tục, vừa thụ hưởng thành quả cộng sản chủ nghĩa ấy, với một tầm dân
trí tuyệt vời (tối thiểu mặt bằng dân trí toàn thế giới cũng là tiến sĩ
chẳng hạn), và dứt khoát phải vươn tới được cái tâm trong sáng (phải đấu
tranh để triệt tiêu tham-vọng-đế-quốc-đỏ hay c̣n gọi là
dục-vọng-cộng-sản-đế-quốc-chủ-nghĩa,
chủ-nghĩa-đế-quốc-trá-h́nh-thành-l'internationale).
Nhận xét về cuốn "Đường
kách mệnh", nhà nghiên cứu Phan Ngọc viết:
"Công tŕnh giáo dục
của Nguyễn Ái Quốc không nói đến tam vô (vô Tổ quốc, vô gia đ́nh, vô tôn
giáo), không nói đến nhị các (ai cũng được làm theo năng lực, hưởng theo
nhu cầu (6Tng)), không tŕnh bày chủ nghĩa cộng sản như một thiên đường,
điều mà ta thấy sau này trong các sách huấn luyện. Nếu như có một người
cách mạng không lăng mạn th́ người đó là Hồ Chí Minh".
4.
Như vậy, không chỉ tam
vô (vô Tổ quốc, vô gia đ́nh và vô tôn giáo), Tuyên ngôn Đảng Cộng sản
(1847 - 1848) đă tŕnh bày một cách công khai là rất nhiều vô. Phải kể
thêm: vô sản (vô sở hữu tư liệu sản xuất); vô dân tộc (chứ không chỉ là vô
Tổ quốc); vô giai cấp; vô quyền lực chính trị... Dĩ nhiên, có cái vô thực
hiện ngay sau khi giành được chính quyền, có cái vô phải tiến hành từng
bước một, thuộc về tương lai xa, rất xa, và có thể đó chỉ là những mục
tiêu trong khoa học viễn tưởng hoặc, như có những kẻ tư sản, phản động đă
nói: hoang tưởng. Nói là khoa học viễn tưởng cũng đă là vô phép, nhưng ai
quả quyết được những điều mới chỉ là sản phẩm của khát vọng cao đẹp hăy
c̣n thuộc lĩnh vực lí tưởng (mặc dù có cái phải bàn thêm), là sản phẩm của
quá tŕnh nghiên cứu khoa học, hoạt động thực tiễn nhưng không phải không
ít nhiều xuất phát từ sách vở, tư duy tư biện, trí tưởng tượng vẽ vời; và
trên thực tế, sau khi Liên Xô tan ră, sụp đổ, người ta có thể nói là chưa
có một nước nào xây dựng thành công chủ nghĩa xă hội cả.
Tuyên ngôn Đảng Cộng
sản (1847 - 1848) rất có giá trị ở những trang tố cáo bản chất giai cấp tư
sản trong quá tŕnh tích luỹ tư bản, nhất là trong quá tŕnh viễn chinh di
thực (xâm lược, chiếm đóng, bóc lột, diệt chủng và di dân chính quốc đến
cư trú tại thuộc địa).
Tuy nhiên, mọi người
thuộc các thế hệ sau đều hiểu thời điểm xuất hiện Tuyên ngôn Đảng Cộng sản
là ở trong bối cảnh ấy. Đó là bối cảnh trên đôi tay, mồm miệng tư sản -
thực dân tàn khốc, ghê tởm đầy máu và bùn của công nhân (đa số xuất thân
từ nông dân). Do đó, Tuyên ngôn không thể không chan chứa những yếu tố cực
"tả", sục sôi ḷng căm thù giai cấp bóc lột, vang rền tiếng thét đấu tranh
cách mạng. Ngoài ra, không kể những hạn chế cụ thể - lịch sử, Tuyên ngôn
Đảng Cộng sản (1847 - 1848) có những tư tưởng nhân văn chủ nghĩa rất tiến
bộ và cao đẹp. Ngay những mục tiêu tạm gọi là thuộc về khoa học viễn tưởng
cũng có tác dụng kích thích loài người hướng tới lí tưởng thiên đường cộng
sản, theo cách nh́n của mỗi thế hệ phù hợp với thời đại ḿnh.
Có một điều hết sức
ngạc nhiên và thú vị, ấy là khi tôi đọc được một sự kiện đă được Đại
Nam thực lục chính biên (7Tng) ghi chép lại: Ngay từ những năm năm
mươi của thế kỉ XIX, chính xác là 1857 (tháng mười một âm lịch, năm Tự Đức
thứ mười), tại hai làng Tiên Lễ, Lệ Sơn, huyện Minh Chính, thuộc tỉnh
Quảng B́nh, có hai người học tṛ, kẻ sĩ, đă phát hiện ra chủ nghĩa xă hội
b́nh quân nông dân để tâu lên vua Tự Đức nhằm chống lại "tả đạo" Thiên
Chúa giáo, nhưng không được vua và triều đ́nh thấu hiểu, thậm chí c̣n bị
phạt trượng và tội đồ. Đó là Lương Trợ Lư và Hoàng Hữu Phu.
Phải chăng, không nghi
ngờ ǵ nữa, đó là lần đầu tiên người Việt nước Đại Nam đă phát hiện ra sự
kết hợp giữa biện pháp cải cách kinh tế về ruộng đất theo hướng xă hội chủ
nghĩa (tuy c̣n b́nh quân chủ nghĩa kiểu nông dân) và ư thức độc lập dân
tộc cũng như phong trào giải phóng dân tộc, chống ngoại xâm (cho dù đến
một năm sau, 1858, thực dân Pháp mới chính thức xâm lược)?
Chủ nghĩa xă hội Phương
Tây trước Mác và chủ nghĩa Mác - Ăng-ghen, liệu có đến nước ta (Đại Nam,
triều Tự Đức) từ những năm xa xưa ấy hay chỉ là trường hợp "tư tưởng lớn
gặp nhau" mà người thầy chính là thực trạng xă hội, chứ không phải sách vở?
Tôi tin chắc chắn chỉ là tư tưởng riêng của Lương Trợ Lư và Hoàng Hữu Phu.
Đă đúng 146 năm (từ
1857 đến nay, non một thế kỉ rưỡi) trôi qua...
Về tác động của Tuyên
ngôn Đảng Cộng sản (1847 - 1848), ở đầu thế kỉ XX, nhất là sau Cách mạng
Tháng mười Nga 1917, nói chung là vô cùng to lớn. Cho đến thời đoạn thoái
trào cách mạng vô sản trên thế giới hiện nay (cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ
XXI), ít ra Tuyên ngôn cũng c̣n có tác dụng khơi dậy, thúc đẩy phong trào
đấu tranh của giai cấp công nhân tại các nước tư bản chủ nghĩa, buộc các
nước tư bản phải tự điều chỉnh.
Dẫu sao, tôi cũng chỉ
học tập theo Bác Hồ: "yêu Tổ quốc, yêu đồng bào"; "không có ǵ quư hơn
độc lập, tự do [bao hàm tất cả các quyền dân chủ]"; "tôi chỉ có một ham
muốn, ham muốn tột bậc, là đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, ai
cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"... Chủ nghĩa xă hội, về
mặt kinh tế, cũng phải hội đủ năm thành phần kinh tế, như tổng bí thư Lê
Duẩn đă vạch ra.
Trong những tác phẩm đă
xuất bản, tôi đă thể hiện rơ tư tưởng của ḿnh về những vấn đề này, và cả
vấn đề bản sắc văn hoá dân tộc... (8Tng).
Tôi là một người sáng
tác văn chương, không hề có một chút tham vọng chính trị, nhưng không thể
không nghiên cứu, suy tư về sử học, chính trị, triết học cách mạng... Tôi
tin rằng chúng ta vẫn c̣n thao thức t́m cho ra một mô h́nh, cơ chế xă hội
và nhà nước xă hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc,
thật sự tự do - nhân quyền, thật sự dân chủ - dân quyền. Xin đừng bó hẹp
nhân quyền vào độc nhất một từ: tôn giáo. Việc đó chỉ phù hợp với người
khác, vốn theo các tôn giáo có một lịch sử yêu nước, chống ngoại xâm, như
Phật giáo chẳng hạn. Không! Không phải cứ nói đến nhân quyền là nói đến
tôn giáo, nhất là loại tôn giáo phản quốc. Không có một quyền nào gọi là
quyền phản quốc trong nhân quyền cả. Ngược lại, quyền tự do không tôn giáo,
quyền tự do yêu nước, dựng nước, giữ nước (gồm cả quyền giữ ǵn, phát huy,
cách tân bản sắc văn hoá dân tộc) phải được tôn trọng và bảo vệ (9Tng).
Nhân quyền gồm tất cả các quyền tự do cơ bản và chính đáng của con người:
quyền được tự do học tập, nghiên cứu, tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự
do xuất bản, tự do tư tưởng, tự do hội họp và lập hội, và hàng chục quyền
tự do cơ bản, chính đáng, rất cụ thể khác của con người đă được ghi vào
Hiến chương Liên hiệp quốc cũng như Hiến pháp xă hội chủ nghĩa nước ta.
Chủ nghĩa xă hội với
những cải cách cần thiết, không thể không có, về mô h́nh và cơ chế, trong
thao thức của nhiều người, như vừa đề cập, là khát vọng có thật. Tuy nhiên,
xin phải hết sức cẩn trọng, không thể lăng mạn về kinh tế, càng không thể
phiêu lưu thí nghiệm xă hội trên quy mô toàn Đất nước như mấy thập niên
trước, cho dẫu nước ta, dân tộc Việt Nam ta vốn lấy Tổ quốc luận làm trọng,
và chủ nghĩa yêu nước thương ṇi đă ngh́n đời là truyền thống, sức mạnh
chống ngoại xâm và đề kháng đối với mọi mưu toan đồng hoá dân tộc, là sức
sống, sức bật của dân tộc Việt Nam ta (gồm nhiều nhân tộc) trên mọi lĩnh
vực, và đặc biệt cần nhấn mạnh ở đây, đó là khả năng Việt hoá tất cả mọi
giáo thuyết ngoại nhập, sau khi đă đăi lọc, loại trừ các thành tố độc hại
trong các giáo thuyết ấy, kể cả chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Tuy phải cẩn trọng
trong Đổi mới, nhưng cũng không thể để muộn hơn được nữa, nhất là về cơ
chế tự do, dân chủ (nhân quyền và dân quyền)!
TRẦN NGUYỄN PHAN
Tán cây trứng gà lúc này
vẫn như những buổi trưa khác, cứ măi xao xác trong gió nam nóng, luồng nối
luồng tưởng không bao giờ dứt. Và vẫn thế, thỉnh thoảng, có chỗ lá bị gió
thổi thưa ra, lọt xuống phía bóng râm dưới gốc, chỗ Hiền Lương đang nằm
vơng, những loé chớp khiến cô chói mắt, sực tỉnh, tâm trí mới thoáng rời
khỏi những ḍng chữ vi tính ở mấy trang giấy trắng trên tay. Măi từ trưa
cho đến lúc nắng đă ngả chiều này, Hiền Lương mê mải đọc, nghiền ngẫm,
nghĩ ngợi. Cô cứ ngỡ những loé chớp ấy từ trái tim và khối năo cô bật ra,
mặc dù thừa hiểu đó chỉ là sự cộng hưởng.
Đúng là những loé chớp
cộng hưởng. Cảm giác nhân lên, dội lại, vang vọng, không phải chỉ của âm
thanh, mà c̣n là ánh sáng, như tiếng gió và màu nắng quê nhà bên bờ sông
Bến Hải này. Cảm giác đồng hương chăng? Hiền Lương không rơ. Bất chợt cô
ngỡ t́m được một h́nh ảnh chính xác nhất để diễn đạt cảm tưởng của ḿnh.
Đúng rồi, đó là những gợn sóng lấp loáng trong tiếng gió lướt lồng lộng
trên sông Bến Hải? Không, cũng không phải hoàn toàn như vậy. Nhưng có lẽ
là thế đấy, lấp loáng nối liền lấp loáng, lồng lộng một cách vô thanh, và
thật sự c̣n có những loé chớp bất chợt. Cuối cùng, cô thấy chỉ có thể diễn
đạt một cách nửa trừu tượng như bốn chữ "cảm giác đồng hương" vừa rồi, có
điều dứt khoát phải thêm một địa danh làm định ngữ, đó là "Bến Hải", chứ
không thể là địa danh nào khác. Máu lửa sông Gianh đă lên tiếng bằng chính
máu lửa Bến Hải, bằng một cuộc lặp lại lịch sử với chiều kích khác? Hoàn
toàn không phải vậy. Không phải chiều dài, bề rộng của sông. Không phải
ngắn ngủi hay đằng đẵng thời gian. Và cũng không phải lặp lại tính chất
lịch sử ở độ sâu, tầm cao. Nhưng quả thật ít nhiều, chỉ ít nhiều thôi, có
tiếng hồn lịch sử sông Gianh trong đậm đặc tiếng hồn lịch sử của sông Bến
Hải. Hiền Lương cơ chừng lắng nghe được những ǵ Trần Nguyễn Phan đă viết
thành chữ, bằng chính cảm giác đồng hương Bến Hải, gọi là một linh giác
đồng hương Bến Hải có lẽ đúng hơn. Đó là thứ linh giác từ vết thương lịch
sử cô mới thực sự được khai mở trong những ngày của lần đầu tiên ra thăm
quê nội này, những ngày tṛ chuyện với Hành và bao người thương mến khác.
Có điều, hăy thử xuất
phát từ một điểm nh́n khác để nh́n lại cho thật kĩ những điều cô cảm nhận
và t́m cách tự diễn đạt cảm nhận ấy. Hiền Lương tự bảo, cô có hạ thấp Trần
Nguyễn Phan lắm không trong hai chữ đồng hương, trong khi sông Bến Hải
thực sự là vết thương thế giới? Trần Nguyễn Phan chưa đủ tầm cỡ, trước hết
là chiều kích nội tâm, để viết lên cho đạt nỗi đau sâu thẳm và lớn lao
nhường ấy? Không. Không nên khiêm tốn, nhún nhường giùm người khác! Hiền
Lương muốn nói, chính nhờ trong cô có một chất Bến Hải... Bằng cảm thức
lịch sử, văn chương? Chưa đủ. C̣n bằng chất Bến Hải ấy, chất Bến Hải vốn
có, cộng những ngày ra thăm quê nội với những gương mặt khắc sâu vào trái
tim Hiền Lương, đă khai mở cho Hiền Lương một linh giác đồng hương Bến Hải,
giúp cô thấu hiểu được những trang thơ văn của Trần Nguyễn Phan với nỗi
đau quê nhà và thế giới ở Vĩ tuyến Mười bảy này.
Nhưng có ư thơ nào khiến
Hiền Lương tâm đắc nhất, sau những nỗi niềm, tâm trạng, những chọn lựa
thái độ của những thế hệ trước? Quả thật, cô đă thao thức, đă trăn trở, đă
nghiền ngẫm từ lâu, và đến lúc này cô bàng hoàng như thể bị chói loá bởi
nắng, bị lay vỗ bởi gió, trước những thức ngộ về lịch sử qua các thể tài
văn sử. Có một điều Hiền Lương suy nghĩ măi. Đó là câu thơ hết sức b́nh
thường ở bài thơ "Tản mạn với một người em". Với cấu trúc đồng hiện, ngày
xưa và hôm nay xen lẫn, bài thơ gợi nên nhiều liên tưởng, từ quá khứ đến
hiện tại. Đang viết về hiện tại, tác giả để tứ thơ ngoảnh một cái nh́n xa
hun hút về nỗi đau của Nguyễn Du xa xưa, và đột ngột tứ thơ lại hướng về
hiện tại. Có tầm thường lắm không, khi Hiền Lương neo dấu hỏi riêng ḿnh
vào câu thơ vốn là một mệnh đề khẳng định: chiến công kia đâu chỉ của một
thời. Có phải "kẻ phản động có lời thơ tao nhă" Nguyễn Du đă từ cái đau
nhất thời phóng tầm nh́n về thiên cổ và về ngh́n thu sau, để cái đau ấy
trở thành nỗi đau muôn thuở về bi kịch con người, bi kịch loài người? Và
với "mắt nh́n thấu suốt ngh́n đời" ấy, Kiều đâu chỉ là Kiều hồng nhan bạc
phận, tài mệnh tương đố, là nạn nhân oan khốc của bao tham tàn từ thời kia
sang thời nọ, chưa bao giờ dứt. Kiều như một điển h́nh cho tất cả mọi kẻ
sĩ mày râu gươm bút, cho bất ḱ người nông dân rơm rạ ruộng đất, người
buôn thúng bán bưng chợ quê lề phố nào, khi họ đích thực là con người gặp
phải bất hạnh, bị giày xéo, chà đạp. "Kẻ phản động có lời thơ tao nhă"
Nguyễn Du đă khắc đậm vào ḷng dân tộc và loài người muôn kiếp, vạn đời
một chủ nghĩa nhân đạo. Và Gia Long, cho đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức
có ngờ đâu hay đă quá thấu hiểu "tiếng kêu đứt ruột [của thời đại] mới" ấy
đă làm cho nhân dân người hơn, quan lại người hơn, triều đ́nh người hơn.
Không phải Truyện Kiều làm t́nh h́nh Bắc Ḱ thêm phản loạn? Không phải
Truyện Kiều đẩy triều Nguyễn đến cảnh suy vi, cuối cùng là sụp đổ vào tay
thực dân Pháp và tả đạo Thiên Chúa giáo? Hẳn không phải vậy chăng, bởi sự
thật là câu trả lời đă đặt trước hai câu hỏi này?
Nhưng rơ rệt hơn, chiến
công kia đâu chỉ của một thời, phải chăng c̣n là nhờ bao xương máu quan
quân triều Nguyễn, từ Tự Đức đến Hàm Nghi, đă đổ ra cho Đất nước trong
cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Tây Ban Nha, chống tả đạo thực dân, mặc
dù xương máu ấy đă bị khuất ch́m trong quên lăng. Đó là chưa kể xương máu
của phong trào Cần vương vẫn tiếp diễn sau khi Hàm Nghi đă bị bắt, bị lưu
đày và nhiều phong trào yêu nước, chống Pháp khác nữa...
Ở một khía cạnh nào đó,
ai bảo quan quân từ thời Tự Đức đến thời Hàm Nghi không trong sạch hơn,
khí thế hơn trong mấy mươi năm chống thực dân, tả đạo (chống cái ác nói
chung) là nhờ chủ nghĩa nhân đạo (cho dù phần nào vẫn c̣n là nhân đạo siêu
h́nh) trong Truyện Kiều và thơ chữ Hán Nguyễn Du?
Hoá ra, cuối cùng phải
chăng là "kẻ phản động" Nguyễn Du (mặc dù Nguyễn Du không phải như Phạm
Thái đối với Quang Trung, không phải như Cao Bá Quát đối với Tự Đức (20)),
ông đă giàn thế trận chữ nhân đánh giặc ngoại xâm bằng thơ lục bát ngh́n
xưa, một khi Truyện Kiều cùng bao bài thơ khác của ông đă và măi măi khơi
sâu, giương cao chủ nghĩa nhân đạo. Cho dù phê phán triều đại nào đi nữa,
phê phán kẻ nắm quyền lực nào đi nữa, thơ Nguyễn Du cũng là ḍng suối rửa
sạch dục vọng, đố kị trong ḷng người, cũng là ngọn lửa thắp sáng chính
nghĩa, làm bừng dậy khí thế tiến công vào cái ác thực dân, phát xít, cái
ác đế quốc, bá quyền của loài người.
Phải chăng v́ thế, vua
Tự Đức rất yêu thích Truyện Kiều và thi sĩ Nguyễn Du tài hoa, sâu sắc,
nhưng cũng vua Tự Đức ấy lại bảo, sẽ phạt trượng quan đại thần, hữu tham
tri Bộ Lễ, chánh sứ, Cần Chánh điện đại học sĩ Nguyễn Du, chỉ bởi lí do vị
quan được thăng đến hàm tứ trụ này cứ "dạ dạ vâng vâng", cứ xin cáo quan,
cứ xin nghỉ giả hạn, nếu Nguyễn Du c̣n sống? Hay Tự Đức yêu thương Kiều
đến xót xa nhưng muốn phạt tác giả đă đề cao Từ Hải, "dọc ngang nào biết
trên đầu có ai"?
Thử nghĩ về đoạn kết xem.
- Hiền Lương tự nhủ, và dẫn dắt cảm nghĩ của ḿnh vào t́nh tiết cụ thể
trong Truyện Kiều -. Cuối cùng, ai cứu được số phận Kiều? Anh hùng nổi dậy
Từ Hải? Hồ Tôn Hiến? Hay các sư cô, bà văi và vị quan mẫu mực Kim Trọng?
Quả thật, Truyện Kiều là tấm gương phản ánh chân thật hiện thực, Từ Hải là
h́nh bóng Quang Trung (hoặc những người "phù Lê" giai đoạn đầu như Phạm
Thái (21)?) ở cao trào, đỉnh điểm của mâu thuẫn bi kịch trong ḷng hiện
thực ấy, để kết thúc là cảnh đoàn viên như thuở ban đầu, gia đ́nh sum vầy,
hạnh phúc, "bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng". "Hiện thực hùng vĩ
nào, hiện thực ảm đạm nào đă "cưỡng bức âm thầm vô thức"" Nguyễn Du, hay
ông thực sự có ư thức rơ rệt trong việc sáng tạo Truyện Kiều và những bài
thơ khác, trong đó nổi bật lên h́nh tượng Kiều và Từ Hải, cô đào Cầm và
Khuất Nguyên?
Có điều, Nguyễn Du đă lí
giải hiện thực theo thế giới quan siêu h́nh:
Đau đớn thay phận đàn
bà
Lời rằng bạc mệnh
cũng là lời chung
Cũng như ở “Văn tế thập
loại chúng sinh”:
Đau đớn thay phận đàn
bà
Kiếp sinh ra thế biết
là tại đâu!
Và kết thúc của “Truyện
Kiều” càng đậm đặc sương khói siêu h́nh:
Cho hay muốn sự tại
Trời
Trời kia đă bắt làm
người có thân
Bắt phong trần phải
phong trần
Cho thanh cao mới
được phần thanh cao
Có đâu thiên vị người
nào
Chữ tài chữ mệnh dồi
dào cả hai
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ
tai một vần
Đă mang lấy nghiệp
vào thân
Cũng đừng trách lẫn
Trời gần Trời xa
Thiện căn ở tại ḷng
ta
Chữ tâm kia mới bằng
ba chữ tài
Tại đâu? Tại Trời! Tại
luật bù trừ! Tại luật nhân quả siêu h́nh! Và chung quy chỉ tại cái tâm.
Phải giữ cho được gốc rễ của cái thiện vốn có trong ḷng mỗi người bằng
cái tâm tự tu dưỡng và được giáo huấn, chứ không phải bằng cái tài, hoặc
không chỉ bằng cái tài, bởi cái tâm có tác dụng cho ḷng người, cho t́nh
đời gấp ba lần tác dụng của cái tài. Cái tài không chỉ kém thua cái tâm về
tác dụng mà c̣n là nguyên nhân của tai hoạ!
Sương khói siêu h́nh
thêm lung linh hay che lấp chữ tâm? Mờ khuất cả chữ tài? Dẫn đến hậu quả
là sợ hăi chữ tài?
Một chủ nghĩa hiện thực
của nhăn quan siêu h́nh! Nhăn quan siêu h́nh thể hiện ngay trong chủ nghĩa
nhân đạo!
Tuy nhiên, nh́n với nhăn
quan hiện thực sáng rơ, với quan điểm nhân đạo chủ nghĩa thiết thực,
Truyện Kiều phải chăng đă ngầm chứa lời kêu đ̣i trách nhiệm của phía cá
nhân người phụ nữ và phía xă hội (hoặc phía kẻ sĩ và phía triều đ́nh)? Dẫu
sao, đoạn kết cũng có hậu và phù hợp với quan điểm chính thống của triều
Nguyễn. V́ thế, số lần và số lượng xuất bản Truyện Kiều dưới thời Tự Đức
là cao nhất, có lẽ vậy. Cũng chưa có triều nào như triều Tự Đức, chiếu cầu
hiền với biện pháp cụ thể và mạnh mẽ, "tiến cử người hiền sẽ được trọng
thưởng, d́m lấp người hiền sẽ bị tử h́nh", được liên tục ban bố.
Nh́n lên tán cây trứng
gà đang xao xác gió, Hiền Lương tiếp tục mạch cảm nghĩ của ḿnh. Cô biết,
dẫu sao, Truyện Kiều cũng đă tạo ra nhiều hướng cảm thụ, nhiều cuộc tranh
luận. Hiền Lương vẫn c̣n nhớ, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh
Trinh và cả Tản Đà đă b́nh phẩm về Truyện Kiều, với những giọng điệu khác
nhau. Nguyễn Công Trứ lên án Kiều rất gay gắt, thậm chí nguyền rủa Kiều:
... Chiếc kim thoa
[?]
đành phụ nghĩa với
Kim lang (22)
Nặng v́ hiếu, nhẹ v́
t́nh, thời cũng phải
Từ Mă Giám Sinh cho
đến chàng Từ Hải
Cánh hoa tàn đem bán
chốn thanh lâu
Bấy giờ c̣n hiếu vào
đâu
Mà bướm chán ong
chường cho đến thế
Bạc mệnh chẳng lầm
người tiết nghĩa
Đoạn trường cho đáng
kiếp tà dâm
Bán ḿnh trong bấy
nhiêu năm
Đố đem chữ hiếu mà
lầm được ai!
Tản Đà thâm thuư, sâu
cay:
Đôi ḍng nước mắt,
đôi làn sóng
Nửa đám ma chồng, nửa
tiệc quan
Tổng đốc có thương
người mệnh bạc
Tiền Đường chưa chắc
mộ hồng nhan!
Chu Mạnh Trinh lại yêu
thương đắm đuối Kiều, thông cảm với Kiều bằng tất cả tấm ḷng. Ông có một
câu văn, đọc lên muốn khóc:
Cánh hoa rụng c̣n
chọn ǵ đất sạch!
Nguyễn Khuyến lại chê
trách Kiều một cách nhân hậu hơn, tuy tận đáy ḷng, hẳn ông không thể
không phê phán Kiều. Ông cũng cười chua chát về bọn quan lại sâu mọt, thời
nào cũng có:
Đời trước làm quan
cũng thế a?
Với Tố Hữu, ông viết
những câu thơ xúc động nhất của đời thơ ḿnh về Truyện Kiều và tác giả,
sau khi đă có lần khóc, "Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều":
Tiếng thơ ai động đất
trời
Nghe như non nước
vọng lời ngh́n thu
Ngh́n năm sau nhớ
Nguyễn Du
Tiếng thơ như tiếng
mẹ ru những ngày
Hỡi người xưa của ta
nay
Khúc vui xin lại so
dây cùng Người...
Không những thế, Chế Lan
Viên ca ngợi Truyện Kiều đến mức, "Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá
thành văn"!
Hiền Lương hiểu khi so
sánh Truyện Kiều, chứ không phải nàng Kiều, với lời Non nước, Đất nước, Tố
Hữu và Chế Lan Viên không hề và không dám có ư xúc phạm hồn thiêng Sông
núi, xúc phạm Tổ quốc. Tác phẩm Truyện Kiều là chủ nghĩa nhân đạo, là tấm
ḷng bao dung của nhân dân, của Đất nước, c̣n nhân vật nàng Kiều là đối
tượng thương cảm của chủ nghĩa nhân đạo ấy, tấm ḷng bao dung ấy. Ở khía
cạnh khác, Tố Hữu và Chế Lan Viên cũng phớt lờ cho "kẻ phản động" Nguyễn
Du với tâm sự "hoài Lê" chăng? Hoặc, hai nhà thơ lớn này không phải là
không có hạn chế? Hay họ vốn quen với cách cảm thụ, phê b́nh tác phẩm theo
ấn tượng chủ quan và theo quan niệm đồng sáng tạo, đến mức tái tạo lại tác
phẩm?
Mỗi người, mỗi thời có
một cách cảm thụ khác nhau về một tác phẩm và khác nhau về quan niệm văn
chương.
Có thể Hiền Lương đă cảm
nhận khác với Trần Nguyễn Phan, tác giả của bài thơ ấy? Hay cô chưa kịp
hiểu và chưa thật sự thấu hiểu? Nhưng rơ ràng bằng ngôn ngữ thơ, Trần
Nguyễn Phan gợi mở trong cô một cách cảm thụ khác với sách giáo khoa nhà
trường.
Hiền Lương cũng đă tản
mạn rồi, như một cô bé học sinh trung học đang tập làm văn! Cảm nhận chỉ
tạm dừng ở một điểm, liên tưởng lại tự đẩy đi xa. Cô biến bài thơ của Trần
Nguyễn Phan như một gợi ư để rời thoát quá xa h́nh tượng, ngôn từ của bài
thơ, rơi hẳn vào thế giới của Truyện Kiều? (23).
Cô muốn quay lại với câu
thơ như một mệnh đề khẳng định, một câu thơ chẳng là ǵ cả nếu không đặt
trong tổng thể bài thơ: chiến công kia đâu chỉ của một thời. Chiến công
nào vậy? Chiến công ấy có ngọn lửa của văn chương muôn thuở với chủ nghĩa
hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo! Chiến công ấy có đóng góp của xương máu
nhân dân, quan binh các triều Tự Đức - Hàm Nghi chống tả đạo, chống Pháp
và của các phong trào khác về sau cùng chung một mục tiêu...
Hiền Lương lại thấy ḿnh
rơi vào sử, chứ không phải cảm thụ thơ!
Đúng là suốt cả mấy
tiếng đồng hồ từ trưa đến lúc ngả chiều, lan man, tản mạn! Hiền Lương tự
bảo ḿnh phải cảm nhận thơ tốt hơn, bởi cô hiểu hai chữ "tản mạn" của Trần
Nguyễn Phan thật ra không tản mạn chút nào. Đúng hơn, "tản mạn" như một
thủ pháp nghệ thuật.
Tán cây trứng gà xào xạc,
lay đập theo luồng gió liên tu bất tận, bỗng dưng lại thưa lá ra ở phía
nhánh kia. Nắng xế chiều loé chớp. Và lại loé chớp ánh sáng trong tâm trí
Hiền Lương. Một loé chớp trong những loé chớp cộng hưởng, giữa thơ văn
người viết với trái tim người đọc.
C̣n những trang văn thơ
khác? Hiền Lương chỉ ngẫm nghĩ măi mấy ḍng, sau tất cả những ǵ đă đọc:
"Có thể cái c̣n gọi là thao thức kia chỉ là hậu quả của sự tuyên truyền.
Tuy nhiên, thao thức có thật ấy, trong giai đoạn lịch sử đó, quả thật cũng
xuất phát từ sự nhận thức khách quan của rất nhiều người, một nhận thức đă
hoá thành nỗi băn khoăn nhức nhối, đọng lại ở các câu hỏi: 1. Chủ quyền
Miền Bắc Việt Nam thuộc về ai? 2. Ở Miền Bắc, liệu truyền thống thờ kính
cội nguồn tổ tiên, thắp hương tại các đ́nh làng, chùa chiền có được tồn
tại? Và tại sao trong nhà sàn Bác Hồ không có bàn thờ gia tiên, theo
truyền thống đạo lí của dân tộc Việt Nam ta? Đó cũng là sự thật lịch sử -
sự thật về tuyên truyền của Mỹ - ngụy, nhưng cũng là sự thật ở nội tâm một
phần không ít nhân dân Miền Nam Việt Nam. Nhận thức ấy, thao thức ấy, có
lẽ chỉ tồn tại trước tháng 4 năm 1975; phải chăng sau đó đă được giải toả;
hay bị củng cố thêm bởi hiện thực hằng ngày trước mắt?
Tất nhiên, từ khi diễn ra công cuộc Đổi mới, t́nh h́nh đă khác.
Kính mong hăy cảm thông, hoà giải, và đại đoàn kết. Chỉ có thể đại đoàn
kết dân tộc một cách bền vững trong tinh thần cảm thông, hoà giải ấy. Làm
sao có thể đại đoàn kết được nếu những mặc cảm trong chiến tranh không
được giải toả trên cơ sở sự thật lịch sử - sự thật lịch sử đúng như nó đă
diễn ra, không bị vo tṛn, bóp méo! Tuy nhiên, phải khẳng định và phải
khẳng định: Những người cầm súng cho thực dân Pháp, phát xít (fascisme)
Nhật, đế quốc Mỹ và ''tả đạo'' Thiên Chúa giáo, ở Miền Nam Việt Nam (không
ít là dân Miền Bắc di cư vào Nam), rơ ràng là bị đẩy vào t́nh cảnh phản
quốc hay ít nhiều cũng tự ư phản quốc. Trong số người bị đẩy vào t́nh cảnh
phản quốc một cách hết sức đau đớn ấy, có một phân số khá lớn là bị kẹt
giữa hai gọng ḱm lịch sử (một gọng ḱm là Pháp + Mỹ + "tả đạo", và, có
thể kể thêm Nhật; một gọng ḱm khác là Nga Sô + Trung Cộng + chủ nghĩa
cộng sản vô thần). Số người thuộc trường hợp này có ḷng yêu nước, căm hận
Pháp + Mỹ + "tả đạo", căm hận Nhật, và hơn thế nữa, họ cũng rất căm ghét
bọn ngụy đích thực, cam tâm làm tay sai đầu sỏ cho bốn loại giặc ngoại xâm
ấy, nhưng bị buộc phải cầm súng, làm quan chức cho chúng (hoặc chỉ cầm
súng, làm quan chức cho một trong bốn kẻ thù dân tộc vừa liệt kê). V́ vậy,
cho nên dẫu sao đi nữa, họ cũng không thể chính danh là một trong những "lực
lượng yêu nước", mà bị gọi chung là "ngụy"! Nói cụ thể hơn, đằng sau danh
từ "ngụy", có nhiều loại người khác nhau, trong đó không ít người thật sự
yêu nước với chính kiến rơ rệt; bi kịch của họ là đă dựa vào Pháp + Mỹ + "tả
đạo", và Nhật để chống Nga Sô + Trung Cộng + chủ nghĩa cộng sản vô thần
với ư định sẽ lần lượt bẻ găy hai gọng ḱm lịch sử ấy. Nhưng, chỉ là ảo
vọng! Rốt cục, phải chịu mang tiếng là ngụy. Danh đă không chính, th́ ngôn
không thuận. Có người ḷng dạ là rất yêu nước, nên rất khổ tâm, nhưng đă
là ngụy quân, ngụy quyền, họ không thể nói cho người khác thuận nghe được,
cho dù chỉ là giăi bày tâm sự. Đó là nỗi đau của họ. Vả lại, những người
thuộc dạng có ḷng yêu nước thật sự nói trên, bọn thực dân, phát xít, đế
quốc, "tả đạo" thường không sử dụng. Bất đắc dĩ chúng cũng sử dụng tạm
thời hoặc chỉ sử dụng ở những chức vụ thấp, ở cấp tỉnh, cấp quận, không
quan trọng, và ít nguy hiểm đối với chúng.
Xét về lực lượng kháng chiến, từ các tổ chức cộng sản sơ khai (trước
1930), đến Việt Minh (Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, từ tháng
8.1941), và có lẽ sau 1954, ở Miền Nam thường gọi là Việt Cộng (Cộng sản
Việt Nam), nhận định chung là thế nào? Sau khi đám mây mù tuyên truyền của
ngoại xâm và ngụy tan đi, ai cũng thấy rơ sự thật lịch sử là: Hết sức hiển
nhiên, lực lượng nào đánh bại được Pháp, Nhật, Mỹ, ''tả đạo'' Thiên Chúa
giáo, bá quyền Trung Quốc, đánh đổ được ngụy triều Huế (1885 - 1945)
(II.19), ngụy quyền Sài G̣n (1954 - 1975), chế độ diệt chủng Khơ Me (Kh'mer)
Đỏ, chính danh và chính nghĩa thuộc về lực lượng ấy. Đó là đa số nhân dân
Việt Nam dưới sự lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có
một sự thật (tuy chỉ giới hạn nhất định là qua báo chí, đài phát thanh,
truyền h́nh trong nước), sự thật đó là, mặc dù không một ai trên thế giới
này có thể phủ nhận được chiến thắng hiển hách, lừng lẫy của lực lượng
kháng chiến Việt Minh, Việt Cộng, nhưng vẫn có người, nhất là một số Việt
kiều ở hải ngoại, vẫn không chấp nhận Việt Minh, Việt Cộng là chính danh,
chính nghĩa, thậm chí c̣n chống Nhà nước xă hội chủ nghĩa Việt Nam một
cách cuồng dại! (24)".
Hiền Lương thật ḷng
không biết nghĩ ngợi thế nào! Rơ ràng Trần Nguyễn Phan rất muốn làm sáng
tỏ sự thật lịch sử và kiểm nghiệm chân lí, đồng thời góp phần nhỏ vào việc
thúc đẩy sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, đại đoàn kết nhân loại, hàn gắn
vết thương chiến tranh trên cơ sở đó. Nhưng cũng rơ ràng là anh ấy không
muốn ḿnh mê cuồng chút nào, cũng không đại ngôn chút nào. Rơ ràng Trần
Nguyễn Phan đă viết văn, nghiên cứu như một cách đối thoại, hay như một
cách đấu tranh ở các diễn đàn ngôn luận học thuật và văn chương, một cụm
từ ngữ thường dùng thuở nào. Liệu có sự đối thoại nghiêm túc, chân thành,
cởi mở trong tinh thần tự do, dân chủ phù hợp với nhân quyền và hiến pháp
chăng?
Hiền Lương nhớ anh Hành
có lần bảo: "Trần Nguyễn Phan khao khát được đăng tải trên báo, được xuất
bản thành sách những ǵ anh ấy đă viết. Trần Nguyễn Phan cũng rất kính yêu
câu văn của Nguyễn Trăi, đại để: Kính mong bệ hạ làm thế nào cho tận thôn
cùng xóm vắng, không c̣n tiếng hờn giận oán sầu". Không những Trần Nguyễn
Phan mà cả anh Quyển, ba của cô (chú Nông), không hẹn nhau nhưng ai cũng
thích câu văn ấy của Nguyễn Trăi. Thực chất đó là nền tảng đồng thời là sứ
mệnh của văn nghệ, học thuật. Liệu quyền tự do báo chí, quyền tự do xuất
bản có được Nhà nước, xă hội tôn trọng, bảo vệ và tạo thuận lợi chăng?
Trần Nguyễn Phan có ảo tưởng chăng? Ngay cách viết với giọng điệu, ngôn từ
khách quan, thẳng thừng của anh ấy phải chăng đă là một sự dại dột?
Hiền Lương nh́n sững lên
tán cây trứng gà, và chợt nhớ, mới hôm nào đây, gió mạnh đến nỗi lá cành
bị lay đập đến quằn quại. Hôm ấy, cô đă liên tưởng, ḷng bao nhiêu người
cũng quằn quại như thế. Không ai muốn bị quằn quại bao giờ!
Sau một lúc để trí tưởng
tự trôi theo ḍng chảy của nó, Hiền Lương chợt giật ḿnh, như thể khựng
lại. Cùng lúc đó, cô thấy những ḍng chữ thể hiện ư tưởng của Trần Nguyễn
Phan về một phân số đông đảo binh lính, sĩ quan, công chức của chế độ cũ,
mới thoáng đọc qua, có vẻ phi lô gích, thiếu tính hợp lí. Nhưng quả thật,
phân số bị gọi là "ngụy" ấy, họ chống chế độ Pháp - ngụy, Nhật - ngụy, Mỹ
- ngụy và chống "tả đạo" Thiên Chúa giáo, đặc biệt là chống những tên tay
sai đầu sỏ ngụy, cỡ tổng thống, thủ tướng, tướng lĩnh ngụy, một cách thâm
trầm hoặc rất công khai, đó là sự thật lịch sử, một sự thật lịch sử xem ra
có vẻ nghịch lí nhưng hoàn toàn đúng với hiện thực đă diễn ra! Hiền Lương
chưa có dịp đọc nhiều những trang nhật báo, tạp chí và sách xuất bản tại
Miền Nam trước Ngày Giải phóng 1975, bằng cách nọ hay cách kia, người cầm
bút đă viết về sự thật đó, nhưng cô đă đọc vào chính cuộc đời ba cô, thiếu
uư ngụy Hoàng Nông, cùng bao nhiêu người đồng cảnh ngộ lịch sử khác nữa,
và cô thấm thía hiểu! Xét cho cùng, bất ḱ cái phi nghĩa nào cũng gặp sự
chống đối và căm hận. Quan lính ngụy, công chức ngụy chống đối, căm hận
giặc ngoại xâm, ngụy đầu sỏ, có ǵ lạ ḱ đâu! Huống chi h́nh tượng nhân
vật Phan nào đó (phải chăng là tác giả?) chỉ là một học sinh trung học,
chưa có một giây trong đời anh ta dính líu đến các thứ giặc ngoại xâm và
các thứ ngụy! Ồ, Hiền Lương bỗng nhớ lại lời Hành kể hôm nào, nên cô biết
chắc chắn nhân vật Phan chính là tác giả Trần Nguyễn Phan.
Đúng vậy, về Trần Nguyễn
Phan, và cũng đúng vậy về rất nhiều người tuổi trẻ khác khắp Miền Nam này.
Lô gích, tính hợp lí về thực chất của sự thật lịch sử Miền Nam là thế đó,
dẫu mới đọc thoáng qua, lại cứ ngỡ là phi lô gích, phi lí! Chợt nghĩ về
cái giật ḿnh, thoáng khựng lại vừa rồi, Hiền Lương nhận thấy trong những
nếp gấp tư duy của ḿnh, h́nh như có một đường hằn, lối ṃn của kiểu tư
duy suông đuột, một chiều của người máy trong một xă hội rô bốt, loại
sản-phẩm-người-máy của Mút-xô-li-ni (Moussolini), tên trùm phát xít Ư, với
câu nói nổi tiếng của y trong việc chia phần với giáo hoàng La Mă, buộc
giáo hoàng phải chấp nhận lép vế, chịu phần thiệt: "Tôi chiếm hữu người
dân Ư từ khi họ lọt ḷng cho đến lúc họ trút hơi thở cuối cùng; bấy giờ
mới thuộc quyền của đức giáo hoàng"! Không. Hiền Lương nói không với
định kiến phát sinh từ xă-hội-người-máy, với cả giáo hoàng; nói không với
định kiến h́nh thành từ chủ nghĩa lí lịch. Cô đă kiểm nghiệm nhận thức của
ḿnh vào chính thực tiễn sinh động của hiện thực xă hội, trong đó có bao
con người mà một phần đời của họ đă ở bên kia điểm mốc lịch sử ba mươi
tháng tư bảy lăm (30.4.1975).
Hiền Lương lại nh́n sững lên tán cây trứng gà. Nắng chiều đă dịu. Bỗng
dưng Hiền Lương thấy ḿnh hơi vớ vẩn, buồn cười, và hơi tầm thường nữa.
Hiền Lương hơi buồn khi chất nghệ sĩ của cô hơi bị chất sử, chất triết,
chất chính trị lấn lướt, mặc dù tất thảy những chất ấy đều cực ḱ hệ trọng,
bởi có ǵ hệ trọng hơn xương máu! Nhưng sao cảm thụ thơ văn, cô lại lăng
quên, bỏ mất tính nghệ thuật và nói chung, tính chỉnh thể của từng bài?
Sao cô cứ đăm đắm vào câu thơ, đoạn văn ấy? Có lẽ những vấn đề sử, triết,
chính trị ở đó đă và đang tác động đến số phận ḿnh, cũng như số phận bao
nhiêu triệu người khác. Hiền Lương tự bảo, ḿnh tự tầm thường hoá chính
ḿnh rồi sao! Không. Không phải thế. Chỉ v́ đó là những vấn nạn bức thiết!
Hiền Lương rời khỏi chiếc vơng, đứng dậy, nh́n ra khu vườn xanh mướt lá
trong nắng chiều.
Trong một thoáng, Hiền Lương bất chợt nhận ra một điều hết sức giản dị: Bi
kịch của những người bị kẹt giữa
hai gọng ḱm lịch sử chính là bi kịch của những người kiên định với ḷng
yêu nước sắt son theo chủ nghĩa dân tộc truyền thống, dân chủ, tự do (tuy
có người chỉ giới hạn ở mức độ quân chủ lập hiến). Họ không t́m ra một
liên minh dân tộc chủ nghĩa nào trên thế giới cả! Mặc dù số lượng người
yêu nước, dân tộc chủ
nghĩa, dân chủ, tự do trong từng nước là rất lớn, số lượng đất nước dân
tộc chủ nghĩa, cộng hoà cũng rất nhiều, nhưng không thể lập được liên minh
trên thế giới (25)! Có lẽ do sự li gián, phá hoại của các thế lực đế quốc
chủ nghĩa! Ở nước Việt ḿnh, số người rơi vào bi kịch này không chỉ trong
Nam, mà cả ở ngoài Bắc. Đối với họ, họ những
muốn bẻ găy cả hai gọng ḱm kia, nhưng không thể bẻ nổi! Sau khi cuộc
chiến tranh 131 năm (1858 - 1975 - 1989) chấm dứt, hiện tại, cho
đến lúc này, trong nước vẫn c̣n hai gọng ḱm đó, và vẫn là hai lực lượng.
Trước đây, hai lực lượng đối nghịch nhau ấy, là Đảng Cộng sản Việt Nam
kháng chiến cứu nước và Giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam tay sai phản
quốc, cả hai đều có sự ủng hộ của hai khối trên thế giới, đứng dầu bên này
là Nga - Trung, đứng đầu bên kia là Pháp - Mỹ. Chính v́ thế, một bên đáng
ngờ, một bên đáng ghét. Bên đáng nghi ngờ lại là cộng sản, tam vô (26), lệ
thuộc Mát-x-cơ-va (Moscou), Bắc Kinh; bên đáng căm ghét lại là tư hữu, duy
tâm, coi trọng "nước Chúa" và xem khinh Tổ quốc, lệ thuộc La Mă (Rome),
Pa-ri (Paris), Niu-oóc (Newyork). C̣n bây giờ? Đâu phải lực lượng Thiên
Chúa giáo không c̣n tồn tại trong nước, mà thậm chí vẫn tồn tại như một tổ
chức công khai đồng thời như một thế lực ngầm, mưu toan đảo ngược sự thật
lịch sử và vị thế chính trị!
Hiền Lương thở dài. Cùng với tiếng thở dài là một câu hỏi lại nẩy sinh:
Chẳng lẽ trong ḷng Đất nước, ḍng sông Bến Hải như một vết thương vẫn
chưa chịu lành? Hiền Lương tự nhủ, thôi, hăy quên hết đi, chỉ nhớ một điều
đáng nhớ: Bi kịch của những người bị kẹt giữa
hai gọng ḱm lịch sử chính là bi kịch của những người kiên định với ḷng
yêu nước sắt son theo chủ nghĩa dân tộc truyền thống, dân chủ, tự do (tuy
có người chỉ giới hạn ở mức độ quân chủ lập hiến). Và chẳng lẽ chính Hiền Lương
cũng đang rơi vào bi kịch kia, một bi kịch ngỡ chỉ thuộc về quá khứ với
những thế hệ trước? Chẳng lẽ hai câu thơ của Tố Hữu từ thuở ấy đến phút
giây này vẫn c̣n xoáy sâu vào trái tim thế hệ Hiền Lương bằng dấu hỏi của
nó:
"Bâng khuâng đứng giữa hai ḍng nước
Chọn một ḍng hay để nước trôi?"
Hiền Lương bước vào nhà. Phía sau lưng cô, vẫn tán cây trứng gà xao xác
gió, vẫn khu vườn chiều rực rỡ nắng.
TXA.
CƯỚC CHÚ chương XIII:
a. CƯỚC CHÚ 1:
của bài bút kí “Một chút tự bạch: Giữa ṿng tay Tam Kỳ và bè bạn” (bút kí,
viết tắt là bk):
(Ibk) Trần Xuân Kiêm
dịch, Quế Sơn - Vơ Tánh xb., Sài G̣n, 1971.
(IIbk) Vượt qua hoàn
cảnh bi kịch bằng óc phân tích và thái độ dũng cảm.
(IIIbk) Nhất Hạnh, Đạo
Phật đi vào cuộc đời, Lá Bối xb., Sài G̣n, 1966.
(IVbk) Xin xem cuối bút
kí này.
(Vbk) ''Không có th́
đánh cho có, có th́ đánh cho chừa'' (''khẩu hiệu'' nhà tù Mỹ - ngụy).
(VIbk) Vận dụng một nhận
định văn chương.
(VIIbk) Xin xem cuối bút
kí này.
(VIIIbk) Bài "Hồ trường"
của Nguyễn Bá Trác (1881 - 1945). Đó là một kẻ sĩ đă từng tham gia phong
trào Duy Tân, Đông Du, sang Nhật. Đang học tập dở dang, ông phải về Trung
Quốc khi Nhật đă câu kết với Pháp, trục xuất du học sinh Việt Nam. Sau đó,
Nguyễn Bá Trác đành sống trong tâm trạng u uất, bi phẫn, bế tắc, và rồi y
lại phản bội, làm tay sai, ngụy quan cho giặc Pháp. Cuối cùng, y phải đền
tội. Cũng như Phạm Quỳnh, y bị chính quyền Việt Minh xử bắn. Dẫu sao, bài
thơ trên cũng đă thể hiện hết tâm trạng của những người thuộc trường hợp
như Nguyễn Bá Trác, trong giai đoạn cực ḱ bế tắc hồi đầu thế kỉ.
Tuy nhiên, một tác phẩm
văn chương thông thường được cảm thụ theo tâm trạng của người đọc hơn là
v́ nhớ đến tác giả.
Đó là điều tôi muốn nhấn
mạnh, trước khi xin được nhấn nhạnh thêm điều cốt yếu sau đây: Trong những
năm bảy mươi của thế kỉ trước (XX) ở Miền Nam, bài "Hồ trường" khá thịnh
hành bởi tâm trạng bế tắc của vài thế hệ (từ tuổi thanh niên đến tuổi lăo
niên), và bởi dù muốn dù không, họ cũng đành phải "thoả hiệp" với chế độ
Mỹ - ngụy và "tả đạo".
Có tư liệu cho rằng
Nguyễn Bá Trác chỉ là dịch giả của bài thơ trên.
(19) Một tên khác của
Đảng Lao động Việt Nam, tức là Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.
(agt) Đối chiếu niên đại,
thấy rơ Các Mác (Karl Marx, 1818 - 1883) không thể không biết quá tŕnh
thực dân Pháp, Tây Ban Nha và "tả đạo" xâm lược nước ta. Hai nước thực dân
Anh, Đức là hai nơi Các Mác sinh trưởng, cư trú, hoạt động hầu hết cuộc
đời. Thực dân Anh, Đức ít nhiều cũng trực tiếp dính líu vào quá tŕnh xâm
lược ấy. Đó là giai đoạn dân tộc ta cùng triều Nguyễn phải kháng chiến,
đương đầu, bằng sách lược chiến - hoà - thủ - chiến (1858 - 1885)! Cho đến
nay, tôi chưa được đọc một ḍng chữ nào của Mác bênh vực, ủng hộ nước ta
thuở đó!
(bgt) Trích nguyên văn:
Phan Ngọc, Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb. Văn hoá - Thông tin, 1998, tr.
465 và tr. 477.
(c.1gt) Xem thêm: Trần
Xuân An, Sen đỏ, bài thơ hoà b́nh, tiểu thuyết, Nxb. Thanh Niên, 2003.
(*) Chú thích viết tay
của Đặng Văn Hồ cuối một bài viết (đánh máy chữ) của ông, bản pho-to-co-py:
Dẫn theo Lê Mậu Hăn, Hồ Chí Minh với ngọn cờ độc lập, dân tộc trong cương
lĩnh đầu tiên của Đảng; dẫn lại trong Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người chiến
sĩ kiên cường trong phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế, Nxb. Thông tin - lí luận, Hà Nội, 1990, tr. 355.
(**) Chú thích của Đặng
Văn Hồ trong bài viết trên: Dẫn theo GS. Đinh Xuân Lâm, Một bức thư của
Nguyễn Ái Quốc năm 1938, Tạp chí Lịch sử Đảng, số tháng 3.1992, tr. (?).
(c.2gt) Xin xem chương
cuối tiểu thuyết.
(dgt) Xem: Nguyễn Đắc
Hiền (chủ biên), Nguyễn Hữu Hiếu, Ngô Bé (biên soạn), Cụ phó bảng Nguyễn
Sinh Sắc, Khu Di tích Nguyễn Sinh Sắc và Sở Văn hoá - Thông tin Đồng Tháp
xuất bản, 1990.
(egt) Vào năm 1979 hoặc
1980, trên báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Đảng đă công bố bị vong lục về mối quan hệ Việt - Trung, tố cáo tham vọng
bành trướng, bá quyền của tập đoàn lănh đạo Trung Nam Hải (Bắc Kinh). Bị
vong lục là sách (lục) làm đầy đủ (bị) lại những điều bỏ quên (vong),
thường được gọi là sách trắng với nghĩa là nói trắng ra một cách minh bạch
những chuyện tạm thời bị khuất lấp, bỏ quên trong quá khứ.
c. CƯỚC CHÚ 3:
ba bài thơ của Trần Nguyễn Phan (Trần Xuân An) (thơ, để nguyên là thơ):
(1thơ) Các Mác (Karl
Marx); (2thơ) Nguyễn Diệp; (3thơ) và Nguyễn Đ́nh Thi, Kh-rap-chen-cô.
Đối với triều Nguyễn,
một triều đại tiến bộ hơn triều đại vua Lê chúa Trịnh thối nát, ươn hèn,
mất tính chính thống, th́ qua một phần nào đó thể hiện ở thơ ca Nguyễn Du,
qua biểu hiện rơ rệt nhất là ở hành trạng Phạm Thái, Cao Bá Quát, phải
chăng cũng như lời nhận định của Các Mác về La-mác-tin (Lamartine), họ
đúng là những "kẻ phản động có lời thơ tao nhă"? Xin xem các chú thích
(18), (34), (35), (36).
(4thơ) Bành trướng, bá
quyền Trung Quốc.
Liên Xô (hoặc mối quan
hệ đoàn kết với Liên Xô) thường được gọi là ḥn đá tảng (có nghĩa là cơ
bản). Các nước thuộc Liên Xô cũ đă tuyên bố độc lập.
(5thơ)
“mỗi người tự sinh nở
chính ḿnh,
như đích thực con
người”.
Một khi đă trưởng thành
thật sự, mỗi con người phải thật sự độc lập, tự do về tư tưởng, không phụ
thuộc tư tưởng của bố mẹ hoặc bất ḱ ai... Hai chữ "mồ côi" xin được hiểu
một cách tu từ.
(6thơ) Tập thơ “Lặng lẽ
ở phố” được xuất bản với tên thật của tác giả: Trần Xuân An.
42 Ở đây có một chú
thích cuối sách, sđd., của Nxb. Sự Thật, Hà Nội, mang kí hiệu 42. Để ngắn
gọn bớt, tôi mạn phép Nxb. không trích lại nguyên văn. Tôi chỉ xin nói
thêm: Khác với mọi cuộc thập tự chinh ở các thế kỉ XI - XIII tại Trung
Đông, những đoàn quân xâm lược giương cao lá cờ thập tự Thiên Chúa, ở giai
đoạn thuộc các thế kỉ XVI - XIX, tại các nước Á, Phi, Mỹ la tinh và riêng
ở Việt Nam, thực dân viễn chinh không cần ngụy trang thành giáo sĩ (tuy ít
nhiều cũng có), giáo sĩ không cần ngụy trang thành thực dân viễn chinh, mà
trắng trợn hơn nhiều. Nét khác hẳn nữa, ấy là giáo sĩ cùng thương nhân đi
truyền đạo, buôn bán để thăm ḍ, tạo nội phản trước.
d. CƯỚC CHÚ 4:
của bài tiểu luận “Đọc lại "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" (1847 - 1848) của
Mác và Ăng-ghen (K. Marx & F. Engels)” (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, viết tắt
là Tng):
(1Tng) Từ điển triết học,
bản tiếng Việt, Nxb. Tiến Bộ, Mát-x-cơ-va (1975), liên kết với Nxb. Sự
Thật, Hà Nội, 1986, tr. 205.
1* Chú thích trong bản
sách, sđd., Nxb. Sự Thật, Hà Nội, mang kí hiệu 1*: Bản tiếng Anh năm 1888
dịch: "tự xây dựng thành giai cấp thống trị trong dân tộc".
46 Chú thích của Nxb. Sự
Thật, Hà Nội, mang kí hiệu 46: Luận điểm này đúng trong thời đại Mác và
Ăng-ghen sống. Trong điều kiện lịch sử mới, trong thời đại đế quốc chủ
nghĩa, V.I. Lê-nin đă t́m ra quy luật phát triển không đều của các nước tư
bản; và, xuất phát từ luận điểm này, đă chứng minh khả năng thắng lợi của
cách mạng vô sản thoạt đầu ở một số nước hoặc thậm chí ở riêng một nước.
Lần đầu tiên điều đó đă được Lê-nin tŕnh bày trong bài "Bàn về khẩu hiệu
liên bang châu Âu". (Xem V.I. Lê-nin, Toàn tập, Nhà Xuất bản Sự Thật, Hà
Nội, 1963, tập 21, tr. 399) - (BT.). Tr. 76 (của sách đang được trích dẫn
- TNP. ct.).
(2Tng) Từ điển triết học,
sđd., tr. 712 - 713.
(3Tng) Từ điển triết học,
sđd., tr. 659 - 660.
(4Tng) Từ điển triết học,
sđd., tr. 121 - 122.
(5Tng) Từ điển triết học,
sđd., tr. 588.
1* Có một chú thích
trong bản sđd., mang kí hiệu 1*, nhưng không có ǵ quan trọng, có lẽ không
cần trích ra ở đây.
(6Tng) Làm hết năng lực,
hưởng theo nhu cầu (các tận sở năng, các thụ sở nhu). Theo đó, mọi người
đều ra sức làm việc cho hết năng lực của ḿnh một cách hoàn toàn tự giác,
và tất nhiên mọi người đều được hưởng thụ theo nhu cầu tối đa của bản thân
cũng một cách hoàn toàn tự giác. Đây là một điều quá lí tưởng, nên trong
cuốn "Đường kách mệnh", Nguyễn Ái Quốc không nói đến. Về sau, trong tinh
thần "không sợ thiếu thốn, chỉ sợ [phân phối] không công bằng", c̣n có câu:
Làm theo lao động, hưởng theo phân phối (các tuỳ sở nghệ [?], các thụ tuỳ
phân [?]), có nghĩa là làm theo nghiệp vụ được đào tạo, và hưởng thụ theo
sự phân phối (trong thời chiến tranh, thường là kham khổ, không đúng sở
thích), chứ chưa phải được hưởng theo nhu cầu. Câu thứ nhất áp dụng vào
giai đoạn cộng sản chủ nghĩa (xă hội đă phát triển cao). Câu thứ hai áp
dụng vào giai đoạn xă hội chủ nghĩa (xă hội c̣n ở mức phát triển thấp).
(7Tng) Quốc sử quán
triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên, tập 28, bản dịch Tổ Phiên dịch
Viện Sử học, Nxb. Khoa học xă hội, 1973, tr. 381 - 382.
(8Tng) Xem thêm: Trần
Xuân An, Sen đỏ, bài thơ hoà b́nh & Ngôi trường tháng giêng, Nhà Xuất bản
Thanh Niên, 2003 (cùng xuất bản một lượt). Nhiều vấn đề khác, cùng vấn đề
chủ nghĩa xă hội với năm thành phần kinh tế và vấn đề bản sắc văn hoá dân
tộc đă được đề cập tập trung nhất trong hai tiểu thuyết này.
Hai cuốn tiểu thuyết ấy,
tác giả đă viết xong vào hai năm 1998 và 1999.
Hai bài "Một ư nghĩ nhỏ
về một truyền thống lớn và một nhân vật lịch sử lớn", "Đọc lại Tuyên ngôn
Đảng Cộng sản (1847 - 1848) của Mác (Karl Marx) và Ăng-ghen (F. Engels)",
tác giả tiểu thuyết (Trần Xuân An) mới viết trong hai tháng 11 & 12.2003
(10 & 11. Quư mùi HB.3). Tuy vậy, lần sửa chữa, bổ sung cuốn Mùa hè bên
sông này, tác giả vẫn đưa vào, để giải quyết trọn vẹn hơn những vấn đề mà
Mùa hè bên sông đặt ra, mặc dù thời điểm diễn biến câu chuyện trong Mùa hè
bên sông là năm 1996. TXA.
(9Tng) Nguyên văn về
quyền giữ ǵn, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc: "Không được xâm phạm thuần
phong mĩ tục" (khi thực hiện các quyền tự do, dân chủ). Quyền tự do yêu
nước, giữ nước, dựng nước là một quyền đương nhiên, chỉ có ư nghĩa và giá
trị khi được thể hiện bằng hành động cụ thể thông qua việc thực hiện các
nhân quyền tự do, các dân quyền dân chủ cơ bản và chính đáng khác.
(20) Ở đây, chưa nói đến
những kẻ phản động và phản quốc, câu kết với thực dân viễn chinh, thực dân
tả đạo đích thực, như Lê Văn Khôi, Nông Văn Vân dưới triều Minh Mạng, như
Tạ Văn Phụng, Hồ Văn Vạn dưới thời Tự Đức. Lê Văn Khôi vốn là kẻ phản loạn
ở Bắc Ḱ, được Lê Văn Duyệt thu phục; về sau y lại câu kết với cố đạo
Marchand (cố đạo Du) và bọn tù nhân phản loạn Bắc Ḱ bị đày vào Gia Định (cải
tạo tốt nên được tha, gọi là những người "Bắc thuận", "hồi lương") để nổi
loạn, từ 1833 đến 1835. Cùng thời điểm đó, Nông Văn Vân là anh em rể của
Lê Văn Khôi, cũng nổi loạn ở Thái Nguyên. Một trong những nguyên nhân
chính của cuộc nổi loạn này là "chủ nghĩa lí lịch"! Ngoài ra, Pierre Tạ
Văn Phụng (tín đồ "tả đạo" do thực dân cố đạo đào tạo), mạo nhận là hậu
duệ nhà Lê, là tay sai, phản quốc đúng nghĩa (thời điểm 1854, 1861 -
1865). Hồ Văn Vạn cũng là tín đồ "tả đạo", câu kết với giặc Pháp, cũng với
chiêu bài "phù Lê" (thời điểm 1873 - 1875). Trần Lục (cụ Sáu) là một linh
mục "tả đạo", tay sai đắc lực của Pháp, xúi giục giáo dân câu kết với giặc
trong các trận đánh chiếm của chúng ở Ninh B́nh, cắt đường giao thông của
quan quân triều đ́nh ra Bắc Ḱ (1882 - 1885...).
Xin nhấn mạnh, phong
trào phù Lê giai đoạn đầu (1786 -1802...), mặc dù ít nhiều có câu kết với
giặc Khách (Tàu), nhưng vẫn khác về nhân sự, nhất là về bản chất với các
cuộc nổi loạn, phản quốc, mượn chiêu bài "phù Lê", câu kết với "tả đạo",
thực dân, hoặc đúng là "tả đạo" tay sai đích thực, ở giai đoạn sau (1858 -
1885...). Xin xem thêm chú thích II.22.
(21) Ở đây chỉ nói về
tŕnh độ văn hoá, và cũng v́ Phạm Thái là một nhân vật dễ h́nh dung. Trong
thực tế, Phạm Thái chưa thật sự dấy binh nổi loạn. Xin xem tiếp chú thích
(34).
(22) Riêng câu này tác
giả tiểu thuyết (TXA.) chưa tra cứu lại được.
(23) Truyện Kiều là một
tác phẩm được Nguyễn Du sáng tác theo nguyên mẫu văn bản Kim Vân Kiều
truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Thanh Tâm Tài Nhân phỏng theo Dư Hoài, Dư
Hoài phỏng theo Mao Khôn). Phương thức sáng tác dựa vào sự tích, chuyện cổ
thuộc về quan niệm văn học trung đại, như Sếch-x-pia (Shakespeare), Gớt (Goe
the)... Do đó, cần làm một phép toán trừ, t́m ra phần sáng tạo độc đáo của
riêng Nguyễn Du, mới có thể nhận định đúng về ông. Tuy nhiên, ngay việc
Nguyễn Du chọn lựa, không phải nguyên mẫu văn bản nào khác, mà chọn lựa
chính Kim Vân Kiều truyện, một trong hàng ngàn tác phẩm cổ của nước ngoài,
để sáng tạo lại, cũng đă ít nhiều thể hiện sự đồng cảm, lí tưởng thẩm mĩ
của Nguyễn Du. Đặc biệt, qua đó, Nguyễn Du nhằm kí thác tâm sự của ḿnh,
nên chân dung tâm hồn, tư tưởng Nguyễn Du càng rơ nét. Nhưng dẫu sao,
trong mọi trường hợp sáng tạo lại (phỏng tác) như thế này, cũng cần phải
lưu ư đến nguyên mẫu văn bản. Đối với Nguyễn Du và Truyện Kiều cũng vậy,
để khỏi ép uổng (khiên cưỡng), ngộ nhận về ông.
Xem thêm: Thanh Tâm Tài
Nhân, Truyện Kim Vân Kiều, bản dịch Nguyễn Đức Vân, Nguyễn Khắc Hanh, Nxb.
Hải Pḥng, 1994.
(24) Xin vui ḷng xem
thêm bài bạt: "Ư nghĩ khi đọc lại tiểu thuyết của ḿnh, Mùa hè bên sông:
Danh dự Tổ quốc và thói tệ sùng bái cá nhân người nước ngoài...".
(25) Việt Nam Quốc dân
đảng do Nguyễn Thái Học chính thức sáng lập vào ngày 25.12.1927 (tiền thân
là Nam Đồng thư xă của Phạm Tuấn Tài, 1926), mô phỏng theo mô h́nh và tôn
chỉ của Trung Hoa Quốc dân đảng do Tôn Dật Tiên sáng lập. Tuy vậy, giữa
hai đảng này, trong giai đoạn đầu, không có quan hệ nào cả. Tôn chỉ của
Việt Nam Quốc dân đảng: "Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh
phúc", gọi tắt là chủ nghĩa tam dân. Trung Hoa Quốc dân đảng đă tiến hành
cuộc cách mạng Tân Hợi, 10.10.1911, giành được chính quyền, thành lập nhà
nước dân chủ theo mô h́nh tổng thống chế. Việt Nam Quốc dân đảng tiến hành
cuộc khởi nghĩa ở Bắc Ḱ, theo kế hoạch, nổ ra từ ngày 09.02.1930, nhưng
thất bại. Đây là cuộc khởi nghĩa hoàn toàn độc lập, không có mối liên hệ
nào với Trung Hoa Quốc dân đảng (mặc dù có liên hệ để t́m kiếm viện trợ
của tỉnh Vân Nam, Trung Hoa). Trong cuộc khởi nghĩa này, Yên Báy (hay c̣n
gọi là Yên Bái, thị xă của tỉnh Yên Bái) là nơi khởi nghĩa quyết liệt nhất,
và do Nguyễn Thái Học cùng nhiều đồng chí khác của ông bị thực dân Pháp
tuyên án tử h́nh, mai táng ở đó, nên thường gọi là "khởi nghĩa Yên Báy".
Sau khi Nguyễn Thái Học bị hi sinh, nhất là vào những năm bốn mươi (XX),
Việt Nam Quốc dân đảng dần dần phân hoá và thoái hoá, thậm chí về sau c̣n
liên minh với phát xít Nhật, t́m hậu thuẫn ở Mỹ, do "thế kẹt lịch sử",
tương tự như Trung Hoa Quốc dân đảng (do liên minh giữa Trung Hoa Quốc dân
đảng với Đảng Cộng sản Trung Quốc, thường gọi tắt là liên minh Quốc - Cộng,
chống phát xít Nhật, bị tan vỡ)...
Việt Nam Quốc dân đảng
là một chính đảng yêu nước có lịch sử đấu tranh chống Pháp vẻ vang, không
hề có một bộ sử nào từ trước đến nay (1930 - 2003) phủ nhận điều đó. Đáng
tiếc là có sự phân hoá và thoái hoá, sai lầm về sau, do "thế kẹt lịch sử".
Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) cũng rất đề cao chủ nghĩa tam dân, đánh giá
là chủ nghĩa tam dân rất phù hợp với t́nh h́nh Việt Nam...
Quốc dân đảng chỉ có ảnh
hưởng ở hai nước Việt - Hoa. Điều cần chú thích ở đây là không từng có một
liên minh dân tộc chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới.
Xin lưu ư: Vào quư ba
năm 1924 (từ tháng bảy đến tháng chín năm Giáp tí), Phan Bội Châu và
Nguyễn Hải Thần giải thể Việt Nam Quang phục hội, sau khi bàn bạc trực
tiếp với Tưởng Giới Thạch tại Hoàng Phố học hiệu, để thành lập Việt Nam
Quốc dân đảng. Tuy nhiên, ngay thời điểm đó (tháng chín năm Giáp tí
[1924]), sau khi đưa chương tŕnh đảng cương cho Hồ Tùng Mậu đem về nước
truyền bá, Phan Bội Châu không hay biết ǵ về Việt Nam Quốc dân đảng nữa.
Đây là tiền thân của nhóm Việt Cách do Nguyễn Hải Thần lănh đạo, khác với
nhóm Việt Quốc do Nguyễn Thái Học sáng lập (vào năm 1927) nói trên. Về sau
Việt Quốc được kế tục bởi Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam.
Tưởng Giới Thạch ít ra
cũng có đến hai lần "thoả hiệp" quyền lợi với Pháp, kí hiệp ước với Pháp
về Đông Dương, phản bội những người cách mạng Việt Nam (cả khuynh hướng
Quốc dân đảng lẫn Cộng sản...), vào hai năm 1935, 1946.
Xem: Phan Bội Châu, Tự
Phán, bản tiếng Việt, Nxb. Văn hoá - Thông tin tái bản, 2000, tr. 248 -
250; Phan Khoang, Trung quốc sử lược, in tại nhà in Hồng Phát, Chợ Lớn,
1958, tr. 536.
Xem thêm: GS. Trương Hữu
Quưnh, GS. Đinh Xuân Lâm và PGS. Lê Mậu Hăn (nhóm chủ biên), Đại cương
Lịch sử Việt Nam, toàn tập, Nxb. Giáo Dục, tái bản lần thứ tư, 2001, tr.
739 - 743, 751 - 756, 835 - 871...
Xem thêm chú thích (28),
I.115, II.24.
(26) Hai chữ "tam vô"
trên đây là theo lập luận của một phân số trong nhân dân ta, được tái hiện
ở mạch suy tư của nhân vật. Tác giả xin nói cho đúng sự thật lịch sử:
Trong tam vô (vô gia đ́nh, vô Tổ quốc, vô tôn giáo), ở Việt Nam chỉ có một
"vô" được truyên truyền, giáo dục và thực hiện mà thôi. Đó là vô tôn giáo.
C̣n danh từ Tổ quốc có thời gắn liền với định ngữ xă hội chủ nghĩa, trở
thành Tổ quốc xă hội chủ nghĩa. Cũng có thời Tổ quốc đẳng lập với chủ
nghĩa xă hội, giữa hai cụm danh từ có thêm chữ và; các văn bản thường viết:
Tổ quốc và chủ nghĩa xă hội, như một cụm từ cố định, với ư nghĩa trong
thời đại chống chủ nghĩa đế quốc ngày nay (nhất là trước Đổi mới), Tổ quốc
phải gắn chặt với chủ nghĩa xă hội, không thể tách rời; cụm từ chủ nghĩa
xă hội được hiểu như chế độ do Đảng Cộng sản Việt Nam lănh đạo hoặc hệ
thống các nước xă hội chủ nghĩa trên thế giới.
TXA.
(
xem tiếp chương XIV )