TRẦN
XUÂN AN
m ù
a
h è
b
ê n
s
ô n g
(nỗi đau hậu chiến)
tiểu thuyết
nnhà
xuất bản
1997 & 2003
CHƯƠNG XIV
1
Hôm họp mặt nói chuyện
phiếm như các cuộc chuyện phiếm khác của bao nhóm bạn khác, ở nhà thầy
Tiếng, Hiền Lương chỉ lắng nghe, không nói ǵ, một phần v́ rôm rả quá, sôi
nổi quá, một phần v́ nhà văn Quyển cứ nh́n trộm rồi sỗ sàng nh́n cô hoài.
Nhà văn này lớn hơn cô
đến hai mươi mấy tuổi, có tật hễ thấy đàn bà con gái trẻ đẹp, dễ nh́n là
sỗ sàng ngắm nghía, mặc dù nghe nói chả tán tỉnh ai cả. Đôi mắt cứ sáng
lên, sững sờ chiêm ngưỡng! Có một hôm anh Quyển thú nhận, bao nhiêu lần
chính anh ta c̣n thấy đau ở tim khi về nông thôn, bắt gặp nhiều cô gái đẹp
một vẻ đẹp tự nhiên, nhưng đôi tay và đôi gót chân thô sần bởi chân lấm
tay bùn. Anh ta kết thúc sự thú nhận rằng, các nhà sản xuất nông cụ hăy
cứu lấy những nhan sắc ấy bằng giày bốt và găng tay chất dẻo. Anh ta nói
như đọc thơ diễn cảm! Với nét mặt và đôi tay, ṿm ngực lép kẹp như muốn
trào ra niềm đau xót, khát vọng giải phóng phụ nữ! Nhà văn Quyển cường
điệu một cách buồn cười và chân thành...
Hiền Lương nhớ hôm ở nhà
thầy Tiếng, nhà văn Quyển vẫn với cái nh́n, cái ngắm nghía vào cô như thế.
Dẫu sao, cô vẫn không thể quên những lời của anh ấy. Cuối cuộc nhậu, anh
Quyển c̣n bảo, chưa thấy công bằng, thỏa đáng.Vâng, đúng rồi, một số ư
tưởng trong buổi chuyện phiếm c̣n chưa thật rốt ráo.
Những ư tưởng đó lúc này
như ghép nối trong hồi ức Hiền Lương...
... Không phải ba, mà
đến bốn loại cách mạng. Ai đó đă kể sót loại cách mạng tự phát, không có
gia thế cách mạng, chỉ v́ yêu nước mà đấu tranh rồi trở thành cộng sản, ở
Miền Nam, trước bảy lăm. Người ta đă từng nghi ngờ đấy là gián điệp nhị
trùng. Họ đă bị thanh lọc, loại trừ. Họ âm thầm mang vết thương...
... Và Hiền Lương ngẫm
nghĩ, ba của cô, chú Nông, đă nói đúng, văn học ngoài niềm tự hào chính
đáng, rất cần những tác phẩm tự vấn. H́nh như đấy là chất tôn giáo chăng.
Một Nam Cao dằn vặt với ư thức tự trọng suốt đời, nhất là khi chưa tham
gia cách mạng, và khi tham gia rồi, chất ấy chuyển hoá đi vào dạng khác
chứ không mất hẳn. Một Chế Lan Viên, một Nguyên Hồng cũng thế. Rồi cả Nam
Cao, Chế Lan Viên, Nguyên Hồng đều đến với thi pháp sử thi hùng tráng.
Nhưng xét cho cùng, tự vấn và tự phê b́nh thành khẩn có ǵ khác chăng.
Người ta dễ lay động, dễ được cảm hóa sâu sắc bởi những lời tự phê phán
thành khẩn, những lời gan ruột. Cây cọ của cô không thể không chạm đến
những phút giây vang lên tiếng nói của lương tâm trung thực trong lồng
ngực con người...
Sau buổi gặp mặt chuyện
phiếm ấy, Hiền Lương cứ suy nghĩ măi. Một hôm, cô có dịp nói chuyện với
chú Nông, lúc ba cô đang ngắm nghía lại bức tranh ông vừa vẽ xong. Tay lấm
lem màu, chú Nông bật lửa, ph́ phèo thuốc lá.
- Dân tộc là một phạm
trù vĩnh hằng thật.
- Thưa ba, tương lai của
nhân loại là ḥa chủng! Không c̣n giống ṇi, dân tộc! Thật đáng sợ!
- C̣n lâu! Vạn năm sau.
Đó là một thứ tiên tri khoa học trên cơ sở nghiên cứu hiện thực và khả
năng, cái mà bây giờ người ta gọi là chức năng dự báo của khoa học, nghệ
thuật đấy. Tuy nhiên, giả tưởng là rứa, vẫn c̣n di sản mang tính dân tộc.
Ví dụ, người Kinh với Chăm và Khơ-me Nam bộ chung sống, dần dần sẽ ḥa
huyết, thành máu của máu, thịt của thịt, một cách tự nhiên, đồng thời ḥa
cả văn hóa như ḥa huyết, nhưng di sản Chăm, Khơ-me Nam bộ măi măi vẫn c̣n
bên cạnh di sản Kinh. Các giá trị bản sắc nhân tộc ấy là vĩnh hằng, vô
giá. Đấy là cấp độ quốc gia. Cấp độ quốc tế cũng vậy. Chủ nghĩa cộng sản
có dự kiến điều này. Nhưng phải giữ ǵn bản sắc dân tộc cho đến khi các
dân tộc thực sự b́nh đẳng trên toàn cầu đă, mới nói đến chuyện ấy. Đừng
vội đánh mất ḿnh. Đấy là nguy cơ khủng khiếp, hơn cả mất nước. Mất nước
c̣n giành lại được, mất dân tộc là hết, vô phương cứu văn. Đừng dại dột, u
mê.
- Thưa ba ,Việt kiều
đang mất dần tính dân tộc.
- Họ cần kết tập một bộ
Kinh Việt Nam như Kinh Thánh Do Thái. Nước ḿnh nhỏ, dân tộc
tính hiếu ḥa nhưng bất khuất. Cho dù ở đâu nếu Việt kiều giữ được điều
đó, cộng với óc thông minh, hiếu học, vẫn được kính trọng... Nước Tàu to
quá, nên Hoa kiều măi măi là khách. Hai vấn đề khác nhau, dẫu mới xem,
thấy là một. Xin họ thông cảm. - Chú Nông cười.
Hiền Lương rời khỏi bức
tranh bà má già Nam bộ móm mém với khăn rằn Mă Lai vắt vai của chú Nông,
cô nh́n ra cửa sổ, đăm chiêu.
- Hôm nọ, ông Tiếng nói
những ai sùng bái lănh tụ nước xâm lược Tổ quốc ḿnh, ấy là ngụy tặc như
ngụy tặc Do Thái trong Kinh Thánh. Dân Miền Nam, kể cả lính ngụy, có coi
lănh tụ Pháp, Nhật, Mỹ ra ǵ! Nhưng rơ là bọn "tả đạo" ngụy theo Pháp là
không thể thanh minh được. Ở thế kỉ mười chín, lúc ấy, vấn đề địch - ta
quá rơ. Chỉ đáng bàn là lớp lính ngụy từ một chín ba mươi đến một chín bảy
lăm (1930 - 1975). Tuy nhiên, "thỏa hiệp" là chiến thuật tạm thời chứ
không thể là chiến lược lâu dài, vô thời hạn được. Không thể đồng nhất bọn
ngụy tặc đầu sỏ, chóp bu với cụ Phan Chu Trinh thời đoạn đầu thế kỉ hai
mươi, cũng không thể đồng nhất bọn ấy với Việt Nam Quốc dân đảng (những
người thật sự c̣n giữ nhân cách, không chịu làm tay sai) ở giai đoạn sau
một chín năm tư được! Thời Mỹ xâm lược, có khác hơn, mặc dù bọn lănh đạo
đều là tổng thống "tả đạo", tướng tá ngụy tặc do Pháp đào tạo, bàn giao
lại cho Mỹ. Giá như thống nhất Đất nước sau chiến thắng Điện Biên Phủ th́
khỏe rồi. Chủ nghĩa xă hội với tinh thần thật sự dân chủ, cởi mở có từ
thời điểm đó, hi vọng vậy, nếu ḥa b́nh? Không! Lúc đó c̣n khắc nghiệt
“tả” khuynh, nhưng chỉ bọn tư sản, địa chủ chết thôi. Ḿnh được như các
nước Đông Âu ḥa b́nh cũng được rồi... Chân thiện mĩ, đặc biệt là tính
thiện, của văn hoá - văn nghệ thay thế chức năng giáo dục đạo đức của tôn
giáo, đúng như phương châm "văn dĩ tải đạo", văn hóa - văn nghệ lành mạnh
hơn... Thôi, mệt quá... Con đă nấu cơm tối chưa? Ba đi dọn hàng cho mẹ
đây.
Hiền Lương “dạ” và lui
làm bếp, vừa lặt rau vừa nghĩ ngợi.
Một sớm khác, khi mới đi
học về, cô thấy nhà văn Quyển đang ngồi rung đùi uống cà phê với ba. Cô
dắt xe đạp vào nhà, khẽ cúi đầu mỉm cười chào anh Quyển sau khi chào ba.
Anh Quyển nói như reo:
- Ồ, ồ... Hiền Lương,
ngồi đây đàm luận chơi. Ồ, ồ... kính chào nữ sĩ... Và tôi không muốn già,
đừng gọi bằng “chú”!
Được phép ba, cô ngồi
xuống cạnh ông.
- Anh em chúng tôi đang
bàn chuyện “vô chính phủ”. Hiền Lương thấy nghệ sĩ bọn ḿnh có phải quân
sự như ba Nông không? Hôm nọ, ổng bảo, cần độc lập, tự do tư tưởng, phải
có kinh tế cá thể bảo đảm. Hôm nay, ổng lại hơi quân sự lại rồi.
- Ai thích xây dựng “xă
hội trại lính”! Tôi chỉ nói không nên dùng chữ “vô chính phủ” mà nên nói
độc lập, tự do tư tưởng để sáng tạo, chống minh họa rẻ tiền, công thức rập
khuôn. Nhưng văn nghệ phải lành và mạnh chứ, độc và bệnh th́ đừng, phải
rất Việt Nam.
Nhà văn Quyển gật gù:
- Chính vậy, đấy là chân
lí, xin vâng. C̣n h́nh ảnh lính ngụy thời cả dân tộc chống Pháp, không thể
khác được. Phải giáo dục ḷng căm thù thực dân, đế quốc. Vấn đề cần suy
nghĩ là t́nh cảnh bị bức bách của thân phận người yếu thế, phải nai lưng
làm lính ngụy. Bọn dựa vào thực dân mà vơ vét, thủ lợi cách này hay cách
khác đều phải bị phơi trần bản chất. Nhân bản nhất là phải chống thực dân,
tay sai các loại. Thời Mỹ có khác thật. Tôi đă chứng kiến bao vụ lính, sĩ
quan ngụy dần ra xương ra da bọn lính Mỹ, cố vấn Mỹ. Bọn Mỹ không dám đối
xử với dân Miền Nam theo kiểu thực dân cũ. B́nh đẳng, dân chủ hơn nhiều!
Rất b́nh đẳng và dân chủ, đến mức người dân, binh lính, sĩ quan nghĩ là Mỹ
chỉ sang đây giúp “ta” chống cộng thôi. Nhưng thực chất, Nhà Trắng Mẽo
điều khiển Dinh Gia Long và Dinh Độc Lập Miền Nam. Sự điều khiển này rất
kín nên mọi người dân, lính và sĩ quan không thấy được hoặc không ngờ
được, chỉ tin Mỹ là đồng minh thôi. Và “chúng ta” rất yêu nước nhưng không
hiểu cộng sản là ǵ, nếu hiểu th́ cặp chữ “cộng sản” đồng nhất với “hoang
đường”... Có người nói Bác Tôn là lính thuộc Pháp giác ngộ cộng sản, và
đồng nhất với các tướng “Bích (big)” Minh, Khánh, Thiệu, Kỳ... - lính
thuộc Pháp giác ngộ lí tưởng cộng ḥa. Bác Tôn là lính mộ Pháp thời Thế
chiến I, đă giác ngộ lí tưởng cộng sản ở Hắc Hải từ Cách mạng Tháng mười,
sau đó về nước hoạt động chống Pháp trước bốn lăm rất lâu, làm sao đồng
nhất với các tướng ngụy c̣n chống Việt Minh, ôm chân thực dân Pháp đến
thời điểm chiến thắng Điện Biên Phủ được! Sau năm tư, các tướng ngụy (có
người c̣n cấp tá) đă được Pháp bàn giao cho Mỹ với danh từ “quân đội đồng
hóa”, “đồng hóa” từ lính thuộc địa sang “lính cộng ḥa”. Chứng nhân, là
quân và tướng ngụy c̣n sống, xin hăy nói lên sự thật lịch sử này. Đúng
hơn, họ là “người trong cuộc”! (II.13).
- Tôi phải thừa nhận anh
cách mạng “ba mươi” này khá -. Chú Nông đùa thân mật -. Có điều, vấn đề
lớn nhất là t́nh cảnh những người yêu nước, cách mạng, không cộng sản, đặc
biệt là một bộ phận đông đảo đạo hữu Phật giáo chống Mỹ - ngụy, bị kẹt
giữa hai gọng ḱm lịch sử...
Ngẫm nghĩ một lúc, chú
Nông định nói thêm ǵ đó, nhưng chỉ gh́m lại tiếng thở dài, nh́n ra khung
cửa sáng nắng. Ngoài sân, lá và hoa ngời xanh và thắm. Quay mặt lại, nh́n
nhà văn Quyển, chú Nông nói:
- Có người bảo, giá như
hồi đó, tổ chức bắt cóc hoặc ám sát những lănh tụ Miền Nam chưa hề chống
Pháp, chưa hề chống Nhật, chưa hề chống Mỹ hoặc chỉ ôm chân thực dân, làm
bù nh́n cho phát xít, đế quốc, th́ t́nh h́nh đă khác. Nhưng thật là ngây
thơ, v́ không Diệm này sẽ nặn ra Diệm kia, không Minh này, Thiệu này, sẽ
đặt lên Minh kia, Thiệu kia... Vấn đề chính là bàn tay của Mỹ. Lại có
người bảo, giá như Bắc Việt đừng đưa quân vào Nam, ắt sẽ có cuộc đảo
chính, nhân dân Miền Nam sẽ đưa người yêu nước, có quá tŕnh chống Pháp,
Nhật, Mỹ lên, và Mỹ sẽ không lũng đoạn được. Nói cách khác, chính v́ Bắc
Việt tấn công Miền Nam, nên nhân dân Miền Nam không tự quyết được mà phải
chịu cho Mỹ “cưỡng hiếp”, bị động nằm dưới quyền của bọn ngụy tặc từ Diệm
cho đến Thiệu, rồi lại Minh. Cậu thấy thế nào? Theo tôi, đại đa số nhân
dân Miền Nam lừng khừng.
Nhà văn Quyển vẫn rung
đùi:
- Anh đặt vấn đề “giá
như” cũng ngộ nghĩnh đấy. Quả thực, Mỹ sợ dùng người yêu nước chân chính,
có quá tŕnh chống thực dân, phát xít. Vấn đề nữa là vấn đề thể chế chính
trị, cụ thể là quan hệ sản xuất... Trong giai đoạn Đổi mới này, có người
bảo, thế th́ giải phóng Miền Nam làm ǵ! Phải chăng những người cộng sản đang "thỏa hiệp"? “Thỏa hiệp
với kẻ thù, vẫn sẵn sàng thỏa hiệp, nếu sự thỏa hiệp ấy có lợi cho cách
mạng”, Lê-nin đă nói thế. Thôi, tạm ngừng vấn đề ở đó. Chuyện chính trị
mệt lắm. Đại Hàn, Triều Tiên muốn mạnh lên, cũng phải tính chuyện thống
nhất hai miền. Nước nhỏ cứ bị thằng Tây, thằng Tàu ép măi, khổ quá.
Chú Nông nh́n thẳng vào
nhà văn Quyển:
- Sách lược "thoả hiệp"
tạm thời của Lê-nin, thật ra ngụy tặc bọn ḿnh đă thực hiện từ lâu lắm
rồi, với Pháp, Mỹ, "tả đạo", kể cả Nhật, để chống cộng. Rất đau đớn là từ
một chín bảy lăm, sách lược "thoả hiệp" tạm thời với Mỹ, "tả đạo" để rồi
sẽ quật lại đă bị hoàn toàn phá sản! Nhưng, mà thôi... Nói làm ǵ nữa! Đó
là chuyện trước một chín bảy lăm. Vả lại, chấp nhận "thoả hiệp" là không
thể chối căi cái lốt ngụy tặc được. Chỉ có một chút ḷng, nhưng thật khó
biện giải, nói ra càng thêm bất lợi. Chắc cậu nhớ hai câu Kiều: "Ở đây tai
vách mạch giừng, Thấy ai người cũ cũng đừng nh́n chi"!
Chú Nông cười buồn, phẩy
tay, lại muốn “cởi trói” cho mọi người:
- C̣n đối với cách mạng
bôn-sê-vích, nói là để nói cho vui. Bọn ḿnh được giải phóng sao lại trở
thành một lũ “không c̣n ǵ để mất” nữa, kể cả nhân phẩm và quyền sống!
Cách mạng phải nghĩ cách cho mọi người tiến thủ. - Chú Nông bỗng bị nỗi
mặc cảm ngụy tặc chận ngang cuống họng, một thoáng sau mới bật ra một
tiếng cười khậc bi hài -. Ồ, mà nói thế th́ thật là hèn hạ!
- Anh nói hơi quá
đáng!... Bảo Đại đă nói: “Làm dân một nước độc lập c̣n hơn làm vua một
nước nô lệ” mà.
Chú Nông cười to:
- Thôi ông ơi, Nam Hàn
và Bắc Triều Tiên đấy. Hồi năy ông có nói đến. Bọn ḿnh không phải là
Diệm, Minh, Khánh, Thiệu, Kỳ... Nhưng oan ở chỗ bị bọn ngụy tặc ấy “cưỡng
hiếp”. Ông phải hiểu, lịch sử là chuyện đă rồi nhưng không phải đă rồi.
Đấy là bọn ḿnh nói thẳng, không phải con nít để “bắt đền” lịch sử! - Chú
Nông chợt ngừng lại, và nói -. Nhưng nói thế th́ hèn hạ quá nhỉ!
- Xin lỗi ông anh và
Hiền Lương. - Nhà văn Quyển nhỏ giọng lại -. Nếu tôi là Việt Nam Quốc dân
đảng, hồi một chín năm tư, tôi dứt khoát không "thoả hiệp" với "tả đạo".
"Thoả hiệp" với "tả đạo" là không thể ăn nói ǵ được nữa, bởi toàn thế
giới đều rơ lịch sử cũng như bản chất của "tả đạo" ở Việt Nam là phản
quốc! Xin lỗi, chỗ anh em, tôi nói thành thật vậy đó. Và anh cũng đă nói
rồi: chấp nhận "thoả hiệp" là không thể chối căi cái lốt ngụy tặc được.
- Cậu muốn nói đến giải
pháp Đài Loan, phải không?
- Đúng quá! Đài Loan cho
đến nay, vẫn danh chính ngôn thuận. Trung Quốc lục địa chả làm ǵ được,
bởi cách mạng Tân Hợi có trước, từ một chín mười một (1911), trước cả cách
mạng Tháng mười Nga một chín mười bảy (1917)... Việt Nam Quốc dân đảng
cũng thế... Nếu hồi đó, thằng Mỹ đừng ngu, và nó thật ḷng "giải thực",
ủng hộ Việt quốc, th́ các anh đỡ mang tiếng là ngụy tặc rồi, bây giờ cũng
đỡ mặc cảm với cán bộ tập kết, cán bộ Miền Bắc, phải không anh Nông? Nếu
Việt Nam Quốc dân đảng nắm quyền ở Miền
Nam chứ không phải Diệm, Minh, Thiệu, Kỳ
("tả đạo" và lính ngụy của Pháp), th́ cho dù nói theo cách nói của anh
Nông, là Miền Nam chiến bại, cũng là chiến bại trong danh dự. Nhưng... Mỹ
vẫn là đế quốc chủ nghĩa, "tả đạo" vẫn là "tả đạo", c̣n Việt quốc các anh
th́ vừa yếu, vừa kém, thành ra c̣n thể thống ǵ nữa! Đến thế hệ cùng lứa
tôi và bạn bè tôi đây, cũng không
phải không oán thế hệ trước!
- Đúng như cậu nói, bọn
ḿnh vừa yếu, vừa kém. Thật là một lũ bất tài, dẫu c̣n có chút ḷng yêu
nước! Bây giờ không c̣n chút tư cách ǵ để ăn nói nữa, phải ngậm bồ ḥn
làm ngọt. - Chú Nông nghẹn ngào -. Thế hệ bọn ḿnh lại oán thế hệ trước
nữa!... Thôi, quên đi! - Chú Nông gượng cười.
Nhà văn Quyển ngập
ngừng, rồi nói với nét mặt cảm thông, chia sẻ, thân t́nh, muốn xua bớt
không khí u uất này:
- Hiền Lương! H́nh ảnh
người lính ngụy là thiếu úy Nông đây! Tất nhiên là hoàn cảnh khác, tính
cách có khác. Nhưng xin cam đoan với trái tim tôi, chỉ khác bộ áo quần
thôi, từ áo màu cứt ngựa sang áo màu dân sự... uả, quên, từ màu cỏ úa sang
màu... tùm lum các màu!... Thôi, hăy bàn Phật tánh, “nhân chi sơ tính
bổn...” ǵ!
Hiền lương và chú Nông
bật cười. Nhà văn Quyển vờ phớt tỉnh rất hài. Chú Nông sực nhớ Phơ-rớt và
ư niệm bổn lai diện mục.
- Hôm nọ, cậu có bảo,
chống “quan hệ phong tục” là sao? Phong tục ta đẹp thế c̣n chống ǵ? Một
trong những biểu hiện của văn hiến là quan hệ huyết tộc phi tính dục! T́nh
cảm ruột thịt như thế sẽ cực ḱ trong sáng, hay ít ra cũng chỉ thuần t́nh
cảm. Khoa học đă chứng minh, hôn nhân đồng huyết sẽ sinh ra nhiều “quái
thai”, dẫu đột biến có “thiên tài”, và cũng chứng minh lai giống sẽ tốt
hơn... như gia súc... - Chú Nông cười -, như lúa...
- Quan hệ phong tục
trong Tân ước, theo lời dạy của Chúa Giê-su ấy, gần như tục “nối dây”
trong trường ca Đăm San. Rồi bọn Tây hiện đại, kể cả Nga nữa, chị họ, em
họ đều cưới tuốt, kinh thật! Nhưng ở Phương Tây, hôn nhân khác dân tộc
cũng nhiều. Ngẫm lại ḿnh, thật là văn hiến!... Ḿnh nên lai giống với
ngân hàng tinh trùng có chọn lọc công phu, gọi đúng là Kho Tinh trùng,
nhưng chỉ giữa năm mươi mấy sắc tộc trong nước thôi... Ồ, tuy thế, vẫn c̣n
nhiều cặp vợ chồng cùng họ, mặc dù đă cách biệt mấy chục đời và khác địa
dư, ví như Nguyễn ở Sài G̣n lấy Nguyễn ở Hà Nội!... Nói vớ vẩn vậy thôi...
Đạo đức có tính lịch sử - cụ thể mà! Loài người vốn kinh tởm! - Nhà văn
nhà giáo Quyển nhăn mặt rồi cười khà khà.
Hiền Lương hơi giật
ḿnh.
- Thế là rơi xuống vực
thẳm hạ bệ Con Người rồi?- Chú Nông cười, “bắt thóp” Quyển một số truyện
ngắn về phong tục, đặc biệt là trong thời “b́nh Tây sát tả”.
- Đấy là sự thật lịch sử
của loài người. Vạn vạn năm sau vẫn c̣n mặc-cảm-bầy-đàn thời hồng hoang
nguyên thủy, loài người ơi! - Giọng Sài G̣n của nhà văn Quyển bỗng ngâm
nga! - Vấn đề là văn hóa, văn hiến đă làm thăng hoa cái hạ ngă, chế ngự
bản năng tính dục vô văn hóa, vô văn hiến của thú vật c̣n sót trong con
người. Anh đă nói hôm nọ rồi... Như vậy, có Thượng đế Giê-hô-va không?!
Chú Nông trầm ngâm nghĩ
về Ơ-đíp, kẻ giết cha lấy mẹ, tự trừng phạt.
- Mặc cảm hay phức hợp
tâm lí Ơ-đíp kiểu như Phơ-rớt, quả là ghê sợ. Mọi quan hệ t́nh cảm trong
gia đ́nh, ngoài xă hội đều bị chi phối bởi bản-năng-loạn-luân! Anh này yêu
cô gái kia qua h́nh ảnh vô thức về mẹ anh ta. Cô gái này yêu như sét đánh,
yêu tức khắc anh kia qua thiện cảm vô thức về tính cách anh ruột hoặc cha
của cô ta... Đấy là phức hợp tâm lí? ... Và ghen tuông...
- Hồi học phổ thông, tôi
học theo bộ “Anh ngữ cho hôm nay”. Trong đó, có một truyện ngắn,
Œdipus
complex (Ơ-đi-pớt com-p-lét-x), ở cuốn 6. Tôi thấy một nhà văn vận dụng
Phơ-rớt hơi khiên cưỡng. Tôi chỉ tin mầm sinh dục chỉ bắt đầu đâm chồi nẩy
lộc trong con người lúc đến tuổi phát dục sinh lí, “nữ thập tam, nam thập
lục”. Trước tuổi phát dục, t́nh cảm giới tính chỉ là sự học đ̣i, gọi là
t́nh-cảm-học-đ̣i. Tuổi tâm lí và tuổi sinh lí phải thống nhất... Thằng bé
trong truyện ngắn ấy chỉ thể hiện tâm lí mất địa vị độc tôn trong t́nh
thương của mẹ khi cha đi lính sau nhiều năm mới trở về nhà, và nó ngây thơ
muốn chiếm lại vị trí độc tôn ấy. Chả có ǵ Ơ-đíp cả! Nhiều, rất nhiều nhà
văn bị Phơ-rớt ám ảnh, nh́n ǵ cũng thấy Ơ-đíp. Họ xuất phát từ khái niệm
để sáng tác! Đúng là một thứ minh họa... Con bú tay là li-bi-đô?! Con bú
mẹ mà Ơ-đíp th́ bậy quá, là sai! Môi miệng là vùng nhiều thần kinh cảm
giác thôi... Chức năng, xin lưu ư điều đó... Chính bản năng ăn uống, tranh
ăn tranh uống, giành giật quyền lợi mới là bản năng chủ yếu. Bản năng
truyền giống cũng chỉ là thứ yếu. Không ăn sẽ chết, không truyền giống vẫn
sống khỏe. Có nhiều tu sĩ, nhiều người đời vẫn suốt đời độc thân. “Vô hậu
kế đợi”, v́ họ không thích đời sống vợ chồng... Đời sống tu sĩ là tấm
gương hùng hồn!
- Chiêm bao Ơ-đíp tính?
Bị dồn ép, bản-năng-loạn-luân sẽ biến thành giấc mơ loạn luân. Siêu ngă
trong vô thức làm biến h́nh... thành đồ vật, như cái bút trong bao đựng
bút, như động tác đậy nắp bút... Cậu thấy đúng không?... Trái cấm! Tại sao
Thiên Chúa đă tạo ra cái thiện, lại tạo ra cái ác nữa? Thiên Chúa bày đặt
ra trái cấm, cấm con người phân biệt thiện - ác, làm ǵ nhỉ? Tại sao tạo
ra tội loạn luân cho gia đ́nh Nô-ê? Lại bày đặt rửa tội-Nô-ê-truyền (tội
tổ tông truyền) để làm chi rứa? Nói chung, Thiên Chúa toàn năng sao lại
bày đặt cái dục với sự ngu mù và bày đặt chi trái cấm, thực chất là thứ
quả giúp A-đam và E-va mở mắt, phân biệt thiện - ác, bày đặt ra làm ǵ như
thế cho nhân loại khổ, và cũng chẳng cứu rỗi được ǵ! Cứu gia đ́nh Nô-ê mà
cứu như thế sao? Cứu rỗi bằng ḿnh và máu chúa Giê-su là một cách cứu rỗi
bất lực và bi đát. Có hiệu quả chi đâu! Thật sự là Thiên Chúa là một kẻ có
tâm địa xấu, bất toàn, hoặc chính xác, Thiên Chúa chính là quỷ dữ Sa-tăng.
Tóm lại, tôi hết tin có Thiên Chúa rồi! Nếu có Thiên Chúa thật, th́ Thiên
Chúa phải tạo ra một thế gian tuyệt vời, chỉ thuần tuư cái thiện chứ, và
loài người không có khả năng hư hỏng, bị cám dỗ chứ! Nếu có Thiên Chúa th́
Giê-su cứu rỗi phải có hiệu quả chứ! Nhưng thực tế lịch sử quả đất và lịch
sử nhân loại là ngược lại! Cậu thấy đúng không? Tôi hết tin có Thiên Chúa
rồi! - Chú Nông bật cười -. Thôi, cậu nói tiếp về Phơ-rớt và mặc cảm Ơ-đíp
đi. Nếu loài người c̣n mặc cảm Ơ-đíp, có nghĩa là phép bí tích rửa tội tổ
tông A-đam - E-va truyền (tội không vâng lời Chúa, "tội" không muốn ngu và
mù, "tội" muốn phân biệt được thiện - ác), phép bí tích đó cũng đồng thời
rửa tội tổ tông Nô-ê truyền (tội loạn luân), chả có tác dụng ǵ! Ư cậu
muốn kết luận vậy chứ ǵ? Cậu nói tiếp đi.
- Phơ-rớt cường điệu hóa
đến tởm lợm. Chả lẽ tặng người yêu cây bút là đă vô thức tính đến chuyện
ấy? Và có khuynh hướng giải quyết mặc cảm Ơ-đíp, bản năng tính dục bằng
cách khuyến khích quan hệ t́nh dục nam nữ sớm, măi dâm! Không, văn hóa sẽ
chế ngự tất. Văn hóa gồm cả phong tục tốt đẹp sẽ làm thăng hoa tất, nghĩa
là giải tỏa bản-năng-bầy-đàn, tính dục theo hướng học tập, lao động, giải
tỏa sinh lực thừa bằng thể thao, văn nghệ... Tất nhiên văn hóa văn nghệ
phải lành mạnh.
- Nói đến đời sống thanh
khiết của tu sĩ, ḿnh liên tưởng đến Bác Hồ. Ổng không có con, chẳng có
cháu. Anh chị Bác đều không vợ, không chồng. Có lẽ họ có tật bẩm sinh ở bộ
phận sinh dục. Rất nhiều nhà con cái đều có cùng một dị tật bẩm sinh giống
nhau, không có ǵ lạ (27).
- Cũng có thể. Không có
lănh tụ cách mạng nào không có vợ, ngoài Bác Hồ. Có thể không phải chỉ v́
lí do bận việc nước. Ổng đă từng thú nhận, ổng có hai khuyết điểm và chỉ
hai khuyết điểm thôi, là hút thuốc lá, không lấy vợ, mặc dù ổng rất thích
đàn bà phải tốt và đẹp. Ngoài hai khuyết điểm ấy, đời sống riêng của ổng
là Thánh! Nhưng chạm đến tật nguyền của người khác là vô nhân đạo và kém
văn minh, lịch sự (II.15).
- Suy tôn lănh tụ? - Chú
Nông cười, tỏ vẻ hối hận, áy náy -. “Đất không có thánh nhân” mà! Ờ, nhưng
thanh minh, tức là làm rơ sự thật, về Bác như thế, quá bất kính!
- Đúng. Bác c̣n tự tạo
uy tín chính trị bằng nhiều cuốn sách kí tên khác như Trần Dân Tiên, T.
Lan... và đề nghị văn nghệ sĩ ca ngợi ḿnh, như một thủ thuật chính trị để
tranh thủ quần chúng. Đó là một cách ma-ki-a-ven-lít lương thiện, như Lư
Thường Kiệt, Lê Lợi, Quang Trung... đă từng thực hiện. Cũng có thể đó chỉ
là những tác phẩm xuất phát từ cảm nghĩ chân thành nhất của văn nghệ sĩ
với ư thức trong sáng nhất của họ trước một nhân cách lớn là Bác Hồ. Họ
viết về Bác như viết về cha, về mẹ của ḿnh. Có điều, lẽ ra chỉ nên công
bố sau khi Bác qua đời... Trở lại thủ thuật ma-ki-a-ven-lít lương thiện:
suy tôn lănh tụ, mặc dù chủ nghĩa Mác chống tệ sùng bái cá nhân lănh tụ
như giáo chủ của các tôn giáo... Vả lại, một giáo sư nói đúng, tâm lí quần
chúng dễ giác ngộ nhờ uy tín cá nhân lănh tụ hơn là uy tín Đảng. Khái niệm
Đảng hơi trừu tượng. Đảng, ấy là h́nh thức đấu tranh hiện đại với ư thức
chính trị hiện đại. Tâm lí chính trị hiện đại của tầng lớp trí thức là
hướng về Đảng, trí tuệ tập thể. Quần chúng đông đảo họ quen ư niệm pḥ
minh chúa, cá nhân lănh tụ.
Chú Nông vỡ lẽ, vỗ đùi:
- Cách mạng “ba mươi”
kinh thật. Ông làm chính trị được đấy!... Như vậy nước ḿnh phải có năm vị
đồng chủ tịch nước, để khỏi độc tôn cá nhân.
Nhà văn Quyển cười, ngâm
nga, biết đấy chỉ là đùa bỡn cho vui:
- ... “Khuất B́nh từ
phú huyền nhật nguyệt
Sở vương đài tạ không
sơn khâu” (II.14).
... Tôi ngu ǵ lại đi
làm chính trị! Làm cái ǵ đúng sở trường ḿnh là thông minh nhất, - Quay
qua Hiền Lương, nhà văn Quyển cười -, phải không Hiền Lương? ... Trở lại
vấn đề hồi năy, quần chúng đông đảo vốn mê tín lắm... Chúa Giê-su, các tu
sĩ đều “vô hậu”... Lư Thường Kiệt, Lê Văn Duyệt đều là thái giám cả đấy
(một người th́ công đức như đỉnh núi, một người c̣n có vấn đề nhưng vẫn là
tướng tài). Bất hiếu mà xem “vô hậu vi đại” là phong kiến... hơn cả phong
kiến!... Cũng như điềm lành, điềm dữ..., kẻ mê tín nh́n đâu cũng thấy thần
linh báo trước! Đúng là một thứ “ấu trĩ hữu khuynh” lạc hậu!... Người bị
định kiến do hệ giá trị nào đó ăn sâu vào năo trạng thường nh́n nhận mọi
con người, mọi sự việc, theo hệ giá trị vốn đă trở thành định kiến. Đánh
giá một con người, căn cứ vào sự cống hiến của con người đó cho Tổ quốc,
nhân loại, chứ không phải căn cứ vào sự tật nguyền hay không tật nguyền
sinh thực khí, “vô hậu” hay “có hậu” (có con nối dơi hay không)... - Sực
nhớ một ư tưởng, măi sa đà suưt quên mất, nhà văn Quyển nói -. Ờ, hay đó!
Năm vị cộng sản đồng chủ tịch cho khỏi độc tôn cá nhân...
Chú Nông cúi đầu chiêm
nghiệm:
- Nhưng... Đảng Cộng sản
Việt Nam có nhiều điều ma-ki-a-ven-lít, Tào Tháo chủ nghĩa rất độc ác,
không thể thanh minh được. Giết hại Khái Hưng, Phan Văn Hùm (?), Tạ Thu
Thâu (28), những nhà yêu nước! Lập chính phủ liên hiệp thời Việt Nam Dân
chủ Cộng ḥa rồi loại trừ dần Quốc dân đảng... (I.115)! Kinh khủng thật!
Giết, hoặc bôi nhọ, giết chết sinh mệnh chính trị, đạo đức người yêu nước
khác chính kiến là có tội với dân tộc... Theo tôi, biện pháp thời chiến
cũng chỉ nhốt người khác chính kiến lại, và đối xử thật đàng hoàng, ḥa
b́nh thả ra th́ tốt hơn. “Tiên sư thằng Tào Tháo”, tức là “Đôi Mắt” của
Nam Cao, phần nào phản ánh được nhận thức của nhiều loại người... Tôi cũng
hăi hùng chính trị lâu rồi, ông ạ. Trước đây, tôi theo Quốc dân đảng...
Tôi và lịch sử măi tự hào về Nguyễn Thái Học với Quốc dân đảng, dẫu Quốc
dân đảng và Đại Việt đảng (I.115) là hai đảng yêu nước, vốn từ một phân
hóa thành hai, sau này đều đă thoái hóa; Đại Việt đảng c̣n biến chất, thân
Nhật; rồi sau năm tư, cả hai đảng đều bị chèn ép mọi phía, trở thành “thỏa
hiệp”, “xôi thịt”... Mệt lắm! Ngán ngẫm lắm! Cũng phải nhớ văn chương
chống cộng ở Miền Nam trước đây cũng sa-đích lịch sử và bôi nhọ kháng
chiến - những h́nh tượng Vẹm và Vi-xi thật kinh tởm! Mệt lắm! Ngán ngẫm
lắm!... Aắ, Chúa Giê-su cũng khơi mào chủ nghĩa xă hội đấy, nếu hiểu h́nh
tượng Giê-su một cách nhất quán với những hạn chế lịch sử! - Chú Nông thở
dài, mắt vẫn nh́n theo khói thuốc lá.
Cả ba người rơi vào từ
trường của vết thương chung.
Không khí bỗng im lặng
giữa ba người. Nhà văn Quyển nhấp một ngụm cà phê đă nguội ngắt, và đùi
lại rung.
- Phơ-rớt với phức hợp
tâm lí Ơ-đíp rồi! Giờ bàn Phật tánh với bổn lai diện mục hay thiện căn, kể
cả cái dục đi! - Nhà văn Quyển rung đùi nói, nhưng nét mặt xem ra cũng hết
hứng thú (II.15).
Chú Nông lắc đầu, bảo cứ
bàn tiếp vấn đề “ngụy”. Nói quanh quẩn một vài điều, nhà văn Quyển bỗng
ngậm ngùi:
- Chuyện lịch sử, một
giai đoạn lịch sử đă qua nhưng các khuynh hướng của nó vẫn c̣n vận động và
phát triển, như bếp lửa đă ủ tro nhưng vẫn c̣n nóng đỏ than hồng. Do đó,
cũng phải bàn, để bếp ấy có thể nấu cái ǵ. Tôi tin ai cũng muốn nấu nên
cơm chứ chẳng luyện chất độc. Tôi cam đoan mọi người lính ngụy Miền Nam
đều yêu nước. Chẳng lẽ một nửa dân tộc ở Miền Bắc yêu nước, c̣n một nửa
dân tộc ở Miền Nam cam chịu kiếp nô lệ, chỉ yêu nước ít ít sơ sơ thôi? Thử
thống kê lại xem có bao nhiêu gia đ́nh ở Miền Nam có công với cách mạng?
Tôi tin số lượng ấy cũng ít ít sơ sơ thôi, khoảng vài chục phần trăm,
tương đương với tỉ lệ đích thực như thế ở Miền Bắc. Một điều tuyệt đối
đúng là đa số nhân dân đều thuộc lực lượng thứ ba. Đó là lực lượng chống
Thiên Chúa giáo, Tây Ban Nha, Pháp, Nhật, Mỹ, và không cộng sản, không thể
chấp nhận Liên Xô, Trung Cộng... Và bi kịch là ở chỗ khá nhiều người bị
hoàn cảnh (phân liệt ư thức hệ, chia cắt Đất nước) bắt buộc phải thoả hiệp
với Mỹ - ngụy, “tả đạo”. Đó là sự thật lịch sử. Hay có thể diễn đạt nhẹ
bớt như thế này: không phải cứ yêu nước là phải cộng sản. Nói rơ, trừ một
số ít, rất ít là cam tâm bán nước cầu vinh, c̣n tuyệt đại đa số nhân dân
Miền Nam yêu nước nhưng chẳng hiểu cộng sản là ǵ. Tất cả đều bị bức hiếp
bằng hệ thống bạo lực, bị ám thị sai lệch, bị nhồi sọ một cách êm dịu...
Một số khác ở trong “thế kẹt lịch sử”... - Nhà văn Quyển cố ư tránh né,
không nói đến quá tŕnh phản quốc của Thiên Chúa giáo Việt Nam suốt cuộc
chiến tranh một trăm mười bảy năm (1858 - 1975), anh nói tiếp -. Bây giờ
đă rơ duy vật và cộng sản.
Chú Nông cười, vỗ đùi,
nhưng rồi buông thơng cánh tay.
- Ḿnh đă đọc chủ nghĩa
Mác từ trước bảy lăm, ḿnh rất thích. Nhưng con người cứ bị lịch sử lôi
đi. Phải nói rơ ḿnh thích lí thuyết cộng sản mác-xít, nhưng thực tế về
những cuộc bạo hành, đàn áp trí thức, những cuộc trả thù giai cấp kinh sợ
làm ḿnh ngán. Ḿnh thấy những người cộng sản phạm quá nhiều sai lầm, khi
đối chiếu với khát vọng, với lí tưởng nhân bản của họ. Sau Ngày Giải
phóng, ḿnh có tâm thế của kẻ bị trừng trị, nên tư tưởng, tâm lí không thể
b́nh tĩnh được. Lập trường, ấy là chỗ đứng. Quan điểm, ấy là điểm nh́n.
Cái thế đứng của ḿnh quy định cái nh́n, cái tâm lí, tư tưởng của ḿnh.
Tâm thế của ḿnh không thể thích nh́n cái tốt, nói rằng tốt, mặc dù trong
thâm tâm thừa nhận những cái tốt của người cộng sản kháng chiến chống
Pháp, chống Nhật, chống Mỹ, chống Tàu, Khơ-me Đỏ... Bọn ḿnh chỉ ưa thấy
cái xấu, cái sai, cái lố bịch của họ, cả cái dốt của các cán bộ, và khoái
trá phóng đại lên thành chuyện tiếu lâm chính trị, cộng vào số truyện tiếu
lâm chính trị được truyền khẩu từ ngoài Bắc vào... Nhưng thôi, mệt lắm,
ngán ngẫm lắm! Thực ḷng, ḿnh là trí thức, ḿnh cũng muốn đóng góp cho
Đất nước, nhưng ai cho bọn ḿnh đóng góp! Sự ngoan cố lớn của bọn ḿnh
chạm ngầm mà nẩy lửa với sự ngoan cố nhỏ của họ... - Chú Nông dừng lại,
nh́n Quyển -. Ngay cách dùng từ của ḿnh bây giờ vẫn c̣n thể hiện cái tâm
lí từ thế đứng của ḿnh. Đấy là sự mặc cảm, đau đớn, và cả nổi loạn, phá
phách, mặc dù chỉ trong tư tưởng, thậm chí hỗn láo với cả Bác Hồ, Đức
Phật, Chúa...
Nhà văn Quyển vốn viết
văn rất tế nhị, anh bỗng buông một ư tưởng trong một ngữ điệu chân thành
nhưng thật thiếu tế nhị:
- Đóng góp cho Đất nước!
Và trí thức không thể mù trước chân lí, trước sự sai lầm khi thực hiện
chân lí! Ai cũng phải sống chứ không chỉ hiện hữu, tồn tại như vật thể.
Phải sống, phải sống, sống hết ḿnh cho Tổ quốc và Quả đất, - Như một nhà
hùng biện, nhà văn Quyển bỗng ngừng -, phải không Hiền Lương?... Để đóng
góp cho đời, trả nợ cho đời, làm-thơ-viết-văn-vẽ-tranh là một cách. Ăn gạo
nông dân, mặc áo công nhân, học chữ thầy cô giáo... phải có cái ǵ trao
đổi chứ. Trả bằng nghệ-thuật-đổ-mồ-hôi-năo-sôi-nước-mắt-tim của ḿnh không
xứng sao! Dại ǵ phải làm chính trị.
Chú Nông cúi đầu chiêm
nghiệm.
Chú nói như độc thoại:
- Ngày trước, ḿnh học
khoa học - kĩ thuật, chắc bây giờ đỡ tủi thẹn với đời rồi. Đất nước cần
nhiều nhà khoa học - công nghệ hơn là cần nhiều nhà chính trị, mặc dù các
nhà chính trị cực ḱ quan trọng - họ lèo lái, dẫn dắt cả dân tộc, nếu được
nhân dân tín nhiệm. Nhưng nghĩ cho cùng, để lập công với nước, hà tất phải
làm quan chức. Ngày xưa, kẻ sĩ chỉ có một con đường độc đạo là làm quan,
“tiến vi quan” c̣n “thoái” mới “vi sư”, huấn sư, y sư, bốc sư! Cái tư duy
ấy nó c̣n quán tính trong nếp nghĩ của đa số... Nhưng bọn trẻ tiến thân
trên con đường khoa học - công nghệ, lập công bằng kĩ thuật của khoa tự
nhiên, biết có được thuận lợi không, có ǵ ngáng trở không? Lí lịch, lí
lịch, mà lại lí lịch của cha mẹ, thân thuộc, những người mà bọn trẻ chẳng
chịu trách nhiệm được!... Tôi không làm chính trị, nhưng tôi suy tư... Chỗ
bạn bè cũng tâm sự cho hết lẽ với nhau.
Nhà văn Quyển nh́n thẳng
vào mắt chú Nông. Anh cúi đầu ngẫm nghĩ. Ngẩng mặt, anh nh́n Hiền Lương,
rồi lại nh́n chú Nông. Bất ngờ, anh dằn hai tiếng: Hăm tài, và nói:
- Thật ra, ai cũng muốn
“lên”. Vấn đề là “lên” như thế nào. Người không muốn “lên” trong làm ăn,
buôn bán, học tập, quan chức, tay nghề, kể cả tay nghề văn chương, ấy là
ḱ đà cản mũi thiên hạ. Người ấy sẽ “đè” người khác... Trước bảy lăm, tôi
có nghe một chuyện tiếu lâm chính trị thế này. Thằng Tây, tức là bọn Pháp,
thời thực dân cũ, hiếp dâm một người đàn bà. Chồng chị ta núp trong bụi
cây, thấy, nhưng chả làm ǵ được v́ thằng Tây có súng, có các thằng Tây
khác canh chừng. Khi Tây rút khỏi làng, ông chồng lấy roi mây đánh vợ. Vợ
khóc kêu oan. Chồng bảo: “Tao không đánh tội bị hiếp dâm, nhưng tao đánh
tội “nảy lên” của con đĩ là mày!”. Bọn tay sai của thực dân, chất đĩ của
chúng c̣n tệ hơn thế nữa! Tôi kể chuyện tiếu lâm nhưng kể nghiêm túc.
Không thể đánh đồng thực dân Pháp với Cách mạng trong cái sự “cưỡng hiếp”
và sự “nảy lên”, sự “lên”này được, thế mà thậm chí có bọn vô liêm sỉ đă
bày ra cái tṛ trả đũa bằng cách tố cáo “sự sa-đích văn hóa - lịch sử” của
Cách mạng một cách quá kinh tởm! Có thể đó là do bọn thực dân, đế quốc,
phát-xít và “tả đạo” phục thù chăng? Hay Cách mạng tự phê phán và phê
phán? Thật ra, cái “đè” không giống nhau! - Nhà văn Quyển chợt bật cười -.
Nói cho đúng, bọn Tàu sa-đích cũng chẳng kém ǵ bọn Tây. Bọn Tàu Đại Hán
chủ nghĩa, bảo hoàng như Lương Khải Siêu và bao nhiêu tên sử gia Tàu trước
Lương Khải Siêu mấy trăm năm nữa, sa-đích cũng khủng khiếp lắm! Thế mà
cũng có kẻ "lên", "nảy lên"! Thật quá đau ḷng. Bọn vô liêm sỉ đă bày ra
cái tṛ phục thù, trả đũa bằng cách tố cáo "sự sa-đích văn hóa - lịch sử"
của Cách mạng này quả là quá kinh tởm. Rơ là một loạt danh nhân dân tộc
đều bị xúc phạm, từ Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Phan Bội Châu, cho
đến Hồ Chí Minh, Lê Duẩn (29), và cả giáo chủ như Chúa Giê-su cho đến các
thánh như Ma-ri-a, Giu-se cũng đều bị xúc phạm. V́ vậy, một số tên giáo
hoàng, các cố đạo thuộc "tả đạo" Thiên Chúa giáo, thực chất đều là thực
dân, với lại cả những tên tay sai như Tạ Văn Phụng, Trần Lục, Diệm, Nhu,
Lệ Xuân, Cẩn..., không thể thoát khỏi ô nhục. Cái tṛ phục thù bẩn thỉu,
vô liêm sỉ này tung ra, và do đó bị đánh trả để bọn thực dân, "tả đạo"
muôn đời bị ô nhục... Bọn bảo hoàng, Đại Hán chủ nghĩa như Lương Khải Siêu
(và cả cụ Phan Bội Châu) cũng phải trả món nợ lịch sử! Những kẻ nghiên cứu
sử học, biên soạn sử kiểu sa-đích của Mỹ - ngụy, của Cách mạng cũng không
thoát nổi! Những tên nhà văn, nhà báo phản động, lưu vong xuyên tạc, bôi
nhọ Bác Hồ (như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Lữ Phương) cũng thế! Nếu chỉ kể
trong giai đoạn 1858 - 1989 (một trăm ba mươi mốt năm), số lượng nhân vật
Việt Nam, nhân vật ngoại quốc thuộc loại nổi tiếng hiện tăm can dự vào
giai đoạn ấy như những tên sa-đích văn hoá - lịch sử, có lẽ đến hàng
trăm!... - Nhà văn Quyển nói một tràng thao thao như trút hết nỗi giận,
chợt tự đính chính -. Ồ, tại sao lại dùng từ đánh trả nhỉ? Làm rơ sự thật
th́ đúng hơn! Phải làm rơ về "tả đạo" và bọn thực dân, phát xít, đế quốc
cho chúng muôn đời ô nhục! Ồ, c̣n bọn sa-đích văn hoá - lịch sử nữa! Phải
làm rơ về chúng! Phải làm rơ tất tần tật!
- Nhưng đă rơ trắng đen,
không thể mập mờ lẫn lộn được! Ai sa-đích? Ai xuyên tạc, bôi nhọ? Ai là
nạn nhân? - Chú Nông bực bội, chua chát nói -. Thôi, báo chí, sách sử vẫn
c̣n đó. Thiên hạ đâu có ngu! Cậu thừa biết rằng, bọn nào đó xuyên tạc, bôi
nhọ ḿnh; và không chỉ thế, thậm chí chúng c̣n xúi giục một phân số quần
chúng kích động ḿnh, khiến ḿnh điên tiết, quyết căi lại, quyết cải chính
cho được; hoá ra như thế là mắc mưu chúng, rơi vào t́nh huống chuyện không
thành có hoặc chuyện cái sảy nảy cái ung, mà lại ung thư, chứ không phải
ung nhọt thường. Nó bôi nhọ ta bằng một bài báo, một cuốn sách; ta tức
ḿnh, cải chính; rồi cứ thế mà "pháo kích" qua, "phản pháo" lại, ỏm tỏi,
ầm ào cả lên, gây chấn động cả thiên hạ. Hậu quả là bên nào cũng bị "lănh
sẹo", nếu không "ngoẽo củ tỏi". Nhưng cũng có những câu ngạn ngữ hay tục
ngữ ǵ đấy, đại để là: im lặng là đồng loă hoặc mặc nhiên thừa nhận; câu
khác, lộng giả thành chân; và câu khác nữa, với ư tưởng thế này, những
điều xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử cứ lặp đi lặp lại măi riết rồi cũng thành
sự thật lịch sử, mọi người đều tin, đều học thuộc ḷng không một chút nghi
ngờ. Khốn nạn là thế đó. Cho nên, có nhiều trường hợp phải "phản pháo",
phải cải chính, phải thanh minh, không thể im lặng. Phải làm rơ lịch sử
một cách có văn hoá hơn! Phải hội nghị, hội thảo khoa học, phải công bố
trên báo, phải xuất bản thành sách. Phải mổ xẻ, đánh giá các loại kinh
điển, từ Kinh thánh, cho đến các toàn tập của các học thuyết, nói chung là
các tôn giáo, ư thức hệ trong cuộc chiến tranh 131 năm vừa qua (1858 -
1989), và phải công bố trên sách báo. Phải ghi công, quy tội các loại sử
gia, nhà văn, nhà báo, chính trị gia, giáo hoàng các thứ, cũng bằng sách
báo, một cách hết sức văn hoá, chứ đâu phải độc quyền ăn hiếp, hàm hồ như
thế!... Nhà văn như cậu, cậu thừa biết là có điều luật h́nh sự phạt tù
những tên nào dám xúc phạm danh nhân, xúc phạm kinh điển, bằng kiểu này
hay kiểu nọ đấy!
Nhà văn Quyển gật đầu:
- Tôi biết...
Nhà văn Quyển chợt ngừng
lại, bỏ lửng câu nói. Anh thấy rơ ngay chính anh cũng đă hằn học quá đáng.
Anh phê phán bọn phục thù, trả đũa sự sa-đích văn hoá - lịch sử bằng thủ
đoạn, thậm chí bằng cả một kế hoạch, là vô liêm sỉ, là độc ác, nhưng ngay
chính anh với những lời lẽ, ngữ điệu vừa tuôn ra, không phải là b́nh tĩnh
chút nào. Nhà văn Quyển không phải không hiểu rằng, xuyên tạc sự thật lịch
sử, bôi nhọ cá nhân nhân vật lịch sử có ít ra là hai trường hợp: xảy ra
ngay trong lúc hiện thực đang diễn tiến, ngay trong thời gian nhân vật
lịch sử đang tại chức; xảy ra do người nghiên cứu sử, b́nh luận sử thuộc
thế hệ sau, khi sự kiện và nhân vật lịch sử đă trở thành quá khứ xa. Ở
trường hợp thứ nhất, việc xuyên tạc, bôi nhọ thường là tạo nên sự cố cho
t́nh h́nh, tai hoạ cho cá nhân đang có cương vị, uy tín hoặc đang nắm giữ
quyền lực tinh thần hay quyền lực vật chất đáng kể. Việc xuyên tạc, bôi
nhọ này quả thật, là một động tác chi phối vào diễn tŕnh lịch sử (tạo nên
cái án tru di tam đại của Nguyễn Trăi; làm mất uy tín của Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết, nhằm dập tắt phong trào Cần vương). Ở trường hợp
thứ hai, kẻ xuyên tạc, bôi nhọ một giai đoạn lịch sử đă trôi qua khá xa
với các nhân vật lịch sử đă chết từ lâu, là chỉ nhằm vào t́nh h́nh xă hội
hiện tại của kẻ đó và tâm thế cá nhân, quyền lợi tập đoàn của y. Việc
xuyên tạc, bôi nhọ ấy cố nhiên không tác động ǵ đến giai đoạn lịch sử,
nhân vật lịch sử quá khứ bị nhắm đến, nhưng đó cũng là một vấn đề thuộc sử
học (ví dụ cho loại này th́ vô số!). Nhà văn Quyển không phải không hiểu,
trong thực tế, khía cạnh đời tư, cá tính, nhân cách đạo đức của cá nhân
lịch sử ít nhiều cũng chi phối đến hành vi, thái độ, chủ trương chính trị
của họ và ảnh hưởng đến tâm lí chính trị của quần chúng, nhất là ảnh hưởng
rất tiêu cực một khi bị xuyên tạc, bôi nhọ. Tuy nhiên, đối với nhân vật
chính trị trong lịch sử, vấn đề đời tư, cá tính, nhân cách đạo đức, chưa
phải là vấn đề lớn, mà vấn đề lớn chính là hành vi chính trị, thái độ
chính trị, chủ trương chính trị và tài năng trong lĩnh vực lănh đạo của cá
nhân ấy (quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hoá...). Chính thủ đoạn sa-đích
về mặt chính trị mới tai hại nghiêm trọng. Yêu nước hay phản quốc, thân
dân hay phản dân (chống giặc, cứu nước hay nịnh giặc, câu kết với giặc
nhằm bán nước, hại dân), làm tăng thêm vinh quang cho Tổ quốc, dân tộc hay
tổn thương đến quốc thể, danh dự dân tộc... Đó mới là khía cạnh nghiêm
trọng nhất. Cũng không kém tầm nghiêm trọng là việc xúc phạm kinh điển
(nói chung là xúc phạm văn hoá). Nhà văn Quyển ngẫm nghĩ trong một thoáng,
và anh nhận ra một cách rạch ṛi, anh luôn luôn đau đáu niềm khát vọng
được tiếp cận chân lí cũng như sự thật lịch sử, muốn đấu tranh cho sáng rơ
chân lí, sáng rơ sự thật lịch sử, nhưng anh không thể đồng t́nh, đồng loă
với thủ đoạn ba que xỏ lá, tiếu lâm chính trị, kiểu sa-đích,
ma-ki-a-ven-lít. Xét cho cùng, đó là thủ đoạn hạ cấp. Mặt khác, xúc phạm
lại sự xúc phạm, xét cho cùng, cũng hạ cấp, bẩn thỉu, đê mạt, chứ chẳng
tốt đẹp ǵ!
Nh́n thẳng vào chú Nông,
Quyển trả lời câu hỏi thật ra là lời nhắc nhở về luật h́nh sự dành cho
những kẻ xúc phạm danh nhân lịch sử, xúc phạm văn hoá:
- Vâng, tôi biết, nhưng
đây là chuyện quái lạ ngay trên báo chí, sách sử, thời xưa, thời ngụy,
thời này, trong nước, ngoài nước, nói chung là từ cổ chí kim trên toàn thế
giới. Tôi biết có điều luật h́nh sự phạt tù những kẻ tà tâm xúc phạm bất
ḱ công dân nào, cá nhân nào, nhất là tội càng nặng khi xúc phạm danh nhân
lịch sử, gồm danh nhân dân tộc, nhưng đồng thời tôi cũng biết rất kĩ, rất
chắc chắn rằng, ai cũng có quyền nghiên cứu khoa học, quyền b́nh luận (nói
có sách, mách có chứng) về các danh nhân, kể cả những giáo chủ tôn giáo,
học thuyết, như Chúa, Phật, Khổng, Lăo, Ma-hô-mét, Mác... với kinh điển
của họ... Các vị ấy, kinh điển của họ được nghiên cứu, b́nh luận như những
con người, tác phẩm đă được lịch sử chính trị, lịch sử văn hoá, gồm cả tôn
giáo, ghi tên. Tôi nhấn mạnh, thưa ông anh Hoàng Nông, quyền nghiên cứu
khoa học, quyền b́nh luận (nói có sách, mách có chứng) về các loại danh
nhân, các loại kinh điển như vừa liệt kê, là một quyền được luật pháp,
hiến pháp nước ta và bất ḱ nước nào cũng đều trang trọng ghi rơ, cho dù
cách dùng thuật ngữ, cách diễn đạt về quyền đó có cô đọng hơn hoặc khác
nhau chút ít. Quyền công dân đó được Nhà nước (hành pháp), Toà án (tư
pháp), Quốc hội (lập pháp), cụ thể là cơ quan đại diện luật pháp, cơ quan
an ninh bảo vệ. Tất cả mọi danh nhân, đại nhân, nhân vật phản diện của
lịch sử (chính trị, văn hoá, tôn giáo...) đều là đối tượng của khoa học.
Khoa học đích thực, đúng nghĩa là phải nghiên cứu với đầy đủ các thao tác,
quy tŕnh sưu tầm, thu thập, phân tích, tổng hợp, loại suy, đánh giá, kết
luận... Theo thông lệ quốc tế, thời hạn giải mật, từ khi sự kiện lịch sử
xảy ra, là mười năm hoặc tối đa là hai mươi năm. Quốc sử quán triều Nguyễn
công bố một số kỉ thực lục c̣n sớm hơn thế. Ngoài lĩnh vực chính trị, Đại
Nam thực lục (30) c̣n ghi rất chi
tiết về những nét tốt đẹp hoặc tội
lỗi thuộc nhân cách đạo đức của các vua chúa, hoàng hậu, hoàng thân, quốc
thích, đại thần, đường quan, biên thần, của cả một số nhân vật trong nhân
dân (31). Giải mật tất tần tật! Đợi nhân chứng lịch sử chết hết mới giải
mật th́ c̣n ai tin tưởng ǵ nữa! C̣n về kinh điển? Tác phẩm khi chưa thành
kinh điển cũng thế, nữa là khi đă trở thành kinh điển. Tôi đâu phải là nô
lệ của các loại thế lực ngu dân, ngu muội hoá tín đồ (II.15)... Nhưng, xin
trở lại vấn đề... Tôi biết rất rơ về quyền nghiên cứu, b́nh luận vừa nói,
nhưng tôi làm được ǵ! V́ một lẽ đơn giản là thế thần đâu, ông anh? Trong
chừng mức nhất định, với năng lực hạn chế, tôi cũng có thể góp phần nhỏ
vào việc nghiên cứu, b́nh luận. Có điều, tôi có quyền ǵ về báo chí, xuất
bản đâu... Ồ, mà thôi, tạm gạt qua cái đó, để trở lại vấn đề đang bàn.
Vấn đề sa-đích văn hoá - lịch sử đó phải được làm rơ trong hội thảo, hội
nghị, trên báo chí, sách sử. Đúng là phải vậy. Nhưng ở đây là nói tào lao,
tầm phơ, tầm phào, mà đă nói tào lao, tầm phơ, tầm phào, th́ ít ra cũng
phải nói có sách, mách có chứng, và phải nói cho công bằng! - Nhà văn
Quyển biết ḿnh sa đà vào chuyện sa-đích bẩn thỉu, nhưng vẫn không ḱm lại
được một cảm giác gần như phẫn nộ -. Vậy th́ bọn Pháp, Tây Ban Nha, Nhật,
Tàu Ô, nhất là Mỹ, và Nga Sô, Trung Cộng với lănh tụ của các nước đó th́
sao? Anh nói cụ thể về thằng Mỹ cho tôi nghe lại với!
Chú Nông cười, nghĩ đến
sự thua đậm nên “chạy làng” (chạy lường (32)) của Mỹ.
- V́ Mỹ “đi đêm”, “ngoại
t́nh chính trị” với Trung Quốc, nên Miền Nam, kể cả Đài Loan, bị “đá đít”.
Bọn ḿnh ngấm đ̣n lâu rồi. Và nói thế chỉ nhục thêm cái sự nhục. Tiếc một
điều là lẽ ra nên có sự chuyển tiếp: Từ bảy ba đến tám ba là giai đoạn
chuyển tiếp rồi sau đó bàn giao cho Cách mạng Bắc Việt, để họ vào tiếp
quản là hay nhất. - Chú Nông nhả khói thuốc lá -. Thực dân c̣n huấn luyện
người Việt trị người Việt, Cách mạng không bằng thực dân, chỉ đem cán bộ
Miền Bắc vào “ăn thịt”, “cưỡng hiếp” dân Miền Nam! Có thể chủ trương chung
khác, nhưng các cán bộ Miền Bắc muốn đưa con em, đồng hương đồng khói của
họ vào kiếm chác. Bắc trị Nam! Cuộc trả thù lịch sử, mối thù của dân Đàng
Ngoài, nhất là dân Bắc ḱ, đối với triều Nguyễn một, hai trăm năm trước
chăng? Cộng sản thua phong kiến, thực dân chăng? Lí lịch là một thứ “thanh
chắn” ở “cửa quyền”! Ngán ngẫm lắm! Bọn đế quốc, bành trướng, phát-xít
nữa, có lợi dụng sự “cưỡng bức”, “hăm hiếp”, sự “lên”, “nảy lên” này
không?... Cái sự hăm tài! Ăn và hiếp! Người ăn thịt người, người cưỡng
hiếp người! - Chú Nông tuôn ra một hơi dài, cố giữ môi cười chua chát để
che giấu niềm bi phẫn (33).
Nhà văn Quyển vốn hay
đùa, sao lúc này mặt buồn xo, mặc dù câu chuyện đă chuyển sang tiếu và bi
quá tục tĩu.
Buổi sáng ấy khi đi chợ
dắt xe vào nhà, gặp nhà văn Quyển, măi chuyện tṛ, Hiền Lương thấy cũng có
nhiều điều thú vị. “Văn học, là nhân học” mà. Đó là khoa học về con người!
Làm văn nghệ, “chẳng có ǵ thuộc về con người mà xa lạ” cả. Cô thấy có
những điều khá kinh rợn nhưng vẫn cố gồng ḿnh lắng nghe. Cô biết, có
nhiều người hỏng cả cuộc đời bởi những ǵ rất vụn vặt!
Câu chuyện đă ngả về
phạm trù cái thấp hèn, ấy là những ti tiện, là tâm lí “trâu cột ghét trâu
ăn” của con người, và phạm trù cái cao thượng thiếu thực tế của “hoa anh
túc nha phiến” cũng trong con người. Trong phạm trù cái thấp hèn, có thể
có cả ḷng thù hận, không muốn con cháu ngụy tặc hơn ḿnh, ở những cán bộ
cách mạng; có thể có cả thói nô lệ, tay sai thời thực dân, đế quốc c̣n sót
lại trong cách suy nghĩ rất ngụy tặc, ở những kẻ vốn là ngụy tặc... Đă có
vụ án gián điệp người Việt làm cho CIA., KGB., P.II hay T́nh báo Trung
Quốc chưa? Đă hai mươi hai năm... Cô không muốn h́nh ảnh Người Chiến sĩ
Giải phóng dân tộc, nhất là Chiến sĩ Giải phóng Miền Nam để nhân dân Miền
Nam được làm chủ Miền Nam, sụp đổ trong tâm hồn cô, v́ sự “tranh ăn” rất
sinh vật, “đè” nát ư chí tiến thủ của lớp trẻ Miền Nam. Hiền Lương vừa làm
cơm vừa nghĩ ngợi. Con Người! Con Người! Cô buồn rầu mỉm cười, chợt giật
ḿnh, nhận ra ngôn từ trong suy nghĩ của ḿnh đă ảnh hưởng bởi trường phái
“bản năng gốc”! Và Hiền Lương lại giật ḿnh, tự hỏi, những người trẻ tuổi
như nhà văn Quyển, như cô, cũng như bạn bè cùng trang lứa thuộc các gia
đ́nh cách mạng đă được đào tạo đầy đủ, chín chắn, đă thật sự vươn lên về
mọi mặt để đủ khả năng làm chủ chưa, hay là sẽ để Miền Nam một lần nữa rơi
vào tay “tả đạo” Thiên Chúa giáo và các nước đế quốc chủ nghĩa mà đứng đầu
là Mỹ? Phải chăng Miền Nam vẫn cần Miền Bắc chi viện các lực lượng vũ
trang (công an, bộ đội)?
Ồ, Miền Bắc...
Một Miền Bắc đă thật sự
chuyển hoá về chất, không c̣n niềm bi phẫn Đàng Ngoài dưới triều Nguyễn
thời Pháp chuẩn bị rồi bắt đầu xâm lược nước ta! Một Miền Bắc đă thực sự
phục hồi và phát huy truyền thống ngh́n xưa, "bốn mươi thế kỉ cùng ra
trận"!... Hiền Lương thấm thía hiểu, một trong những nguyên nhân mất nước
vào tay thực dân Pháp, Mỹ và "tả đạo" Thiên Chúa giáo là hậu quả của hai
trăm năm phân liệt, chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài. Bấy giờ, Đàng Ngoài
có tâm thế chính trị dễ chấp nhận phong trào Tây Sơn - Nguyễn Huệ, người
anh hùng đánh dẹp cả chúa Nguyễn Đàng Trong lẫn vua Lê - chúa Trịnh Đàng
Ngoài, đánh tan cả lực lượng ngoại viện (Xiêm La, nhà Thanh) của hai bên.
(Tuy thế, Phạm Thái, Nguyễn Du (34) và một ít kẻ sĩ Bắc Hà khác cũng nổi
dậy hoặc chỉ mới mưu toan chống lại Tây Sơn - Nguyễn Huệ!). Đến khi Nguyễn
Ánh, hậu duệ chúa Nguyễn, chiến thắng Tây Sơn, thống nhất cả nước về một
mối, ấy là lúc Đàng Ngoài thất thế, bị phân biệt đối xử, bị trấn áp, do
đó, liên tiếp nổ ra những cuộc nổi loạn. Vâng, Hiền Lương thấm thía hiểu.
Đó những cuộc nổi loạn bởi ḷng thù hận, mượn chiêu bài "phù Lê", của Đàng
Ngoài, dưới sự trấn áp của quan quân nhà Nguyễn. Đó là sự bất b́nh của
nhân dân Đàng Ngoài trước sự ưu đăi của triều Nguyễn đối với nhân dân Đàng
Trong một cách thiếu công bằng. Và Đàng Ngoài, nhất là Bắc Ḱ, có một tâm
thế chính trị phẫn hận để từ đó, trở thành vùng đất tốt cho "tả đạo" Thiên
Chúa giáo gieo mầm, bành trướng, xâm lược. Thêm vào đó, Bắc Ḱ là nơi diễn
ra sự câu kết giữa bọn giặc Cờ (Thái B́nh thiên quốc biến tướng, bị thực
dân lợi dụng) với thổ phỉ "giậu đổ b́m leo" Đàng Ngoài, và giữa giặc Cờ
với một bộ phận nhân dân Đàng Ngoài khác, vốn bất măn, phẫn hận. Cuộc nổi
loạn của Cao Bá Quát cũng ở trong tầm ảnh hưởng của Thái B́nh thiên quốc ở
giai đoạn hùng mạnh nhất (chiếm lĩnh mười mấy tỉnh ở phía Hoa nam), vào
nửa đầu thập niên năm mươi thuộc thế kỉ XIX! (35) (36).
Thế rồi...
Vết thương sông Bến Hải,
vĩ tuyến Mười bảy, với cuộc tập kết ra Bắc, di cư vào Nam, đă đảo ngược
vai tṛ lịch sử của hai miền (Đàng Trong - Đàng Ngoài). Một cuộc hoán vị
tất yếu v́ yếu tố địa - chính trị, nhờ cuộc cách mạng Tháng mười 1917 nổ
ra ở nước Nga, và không lâu sau đó, cách mạng vô sản diễn ra ở Trung Quốc!
Hiền Lương thấm thía nỗi đau, niềm tủi thẹn của "tả đạo", "phù Lê" Đàng
Ngoài bằng một nửa ḍng máu trong trái tim cô. Hiền Lương có cảm giác tắc
nghẹn cả tiếng thở dài của chính ḿnh trong một thoáng suy tưởng, hồi ức
bất chợt.
Bữa cơm trưa của ba
người hôm ấy hơi muộn.
Trong bữa ăn, nhà văn
Quyển tỏ ra uể oải mặc dù vẫn cố gắng vui vẻ. Chú Nông gắp thức ăn cho
anh, mỉm cười:
- Cơm thương hơn ai
thương ông ạ.
Nhà văn Quyển nói:
- Anh tu khổ hạnh, mặc
dù riêng môn rượu, nhưng tôi đâu có tu!
Hiền Lương và chú Nông
bật cười. Cô nói với ba:
- Có chai Lúa Mới hôm
Tết đó ba!... Nhưng xin đừng “tục” nữa!
- Chơi với nhau lâu rồi,
tôi hiểu ư cậu, nhưng tôi muốn để cậu rầu rĩ một chút. - Chú Nông thật
t́nh quên mất khoản cay cay này, v́ cũng quá lâu rồi đă bỏ thói say xỉn,
nhưng vẫn nói cho ra vẻ chủ động, trong lúc Hiền Lương mở tủ chè.
Rượu làm nhà văn Quyển
trở lại hứng chí:
- Ông anh chả chơi đẹp
tí nào! Tôi có lời trách đấy.
Tiếng cười từ đó gịn
suốt bữa ăn.
- Đừng “tục” nữa, nhưng
cứ uống. - Chú Nông nhắc Quyển.
Nhà văn Quyển cười khà
khà.
- Này, anh Nông, thỉnh
thoảng chúng ta có những cuộc chuyện tṛ hơi trái gió trở trời, khá ê ẩm,
nhức nhối, nghe cũng vui! Hồi năy, câu chuyện khiến tôi sực nghĩ là xô vào
cánh cửa định kiến không khóa nhưng cũng chưa mở! - Nhà văn Quyển quay ra
Hiền Lương -. Có lẽ những ai cùng tuổi với Hiền Lương chả mệt óc với những
ǵ khiến chúng ta thường đau đầu khi nhắc tới?
Hiền Lương cười, ánh
cười sáng trên môi và mắt:
- Bọn em bị ảnh hưởng
băo rớt, áp thấp nhiệt đới. Anh là nhà văn, hẳn thừa nhạy cảm mà!... Cũng
xin nhận xét là dạo này anh “tục” quá!
- Có khóa những ổ khóa
cực to, và cửa bằng thép! Ổ khóa và cánh cửa ấy được sản xuất từ năo trạng
lí lịch chủ nghĩa! Cậu thừa biết bằng chính sự khốn khổ của cậu, sao nói
rứa! - Chú Nông nói với nụ cười khiêu khích cho vui.
Nhà văn Quyển rung đùi,
sau khi cạn cốc rượu nhỏ. Anh buông đũa, tưng tửng:
- Xin nói nhỏ với anh,
tôi học lóm được một cái “sách”, nếu gọi đúng chữ, ấy là “chính sách phân
sáp”, nói rơ ra là chia ghép, của triều Nguyễn thời “b́nh Tây sát tả”...
Sắp tới, tôi sẽ làm bộ trưởng Bộ Nội vụ. Tôi sẽ tuyển một vạn đến một
triệu đồng chí cực ḱ đẹp trai đẹp gái, huấn luyện thành nhân viên phản
gián, chuyên đi “dụ dỗ” các tài năng trẻ và cưới làm vợ làm chồng. Cóc sợ
“diễn biến ḥa b́nh”, cho chúng nó “lên” và “nảy lên” cho khoái. C̣n các
anh xồn xồn, già già, tôi sẽ... Tôi cũng kiêm luôn công tác tổ chức của
Trung ương Đảng và Chính phủ. Tôi sẽ chuyển xồn xồn, già già ngụy tặc
“chúng ta” ra Bắc. Bộ đội, cán bộ, đảng viên ngoài đó rất đông, sẽ “gác”
họ, cho lấy vợ bé Bắc ḱ, nhân viên của Bộ luôn! Cóc ǵ đâu mà “khóa”! Bản
thân tôi cũng lấy vài cô!
Cả ba người cười vỡ.
Hiền Lương đỏ mặt, miếng cơm trong miệng khiến cô muốn sặc. Thật ra, với
chú Nông, chú cố gắng nói liều nhưng trong ḷng ngượng lắm. Từ một tín đồ
Đạo Chúa, một kẻ chống cộng, theo Quốc dân đảng, chán chường chế độ ngụy,
rồi chán chường tôn giáo, mệt với một đảng đă bị xôi thịt hóa, lại bị tù
tàn binh, ḷng dạ chú c̣n hăng hái ǵ nữa với cách mạng. Cảm giác bị muối
mặt rất đậm khi nói đến chuyện này, nhưng chú cũng liều, liều cho lớp trẻ,
và thật ra liều một cách vô nghĩa, bởi nói với ai chứ nói với nhà văn
Quyển cũng chỉ như tự nói một ḿnh. Quyển có khác ǵ với chú Nông đâu, nếu
xét về thẩm quyền! Thật là một tṛ hề nhục nhă. Chú Nông ngă người vào
thành cửa sổ, đốt một điếu thuốc lá.
- Anh thấy “kế hoạch”
của tôi được không? - Nhà văn Quyển rung đùi nói tiếp -. Nói thật, giá như
bây giờ nước ta như Liên Xô, Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam giải thể, các
anh và tôi, ngụy tặc “chúng ta” chấp chính, th́ cũng đến thế. Xă hội bây
giờ có khác ǵ mơ ước của ngụy tặc “ḿnh” đâu! Nói cho cùng, mặc dù khả
năng ấy không thể có. Không một lực lượng nào có thể, ngoài Đảng Cộng sản
Việt Nam, đảm đang lănh đạo đất
nước này. Lịch sử đă thử thách họ và giao phó trọng trách ấy cho họ. Không
tổ chức nào có quyền thay thế họ. Vai tṛ lịch sử của họ c̣n thuộc về
tương lai của dân tộc nữa. Vấn đề là chúng ta phải cộng tác với họ trong
sự thống nhất chí hướng. Hăy bước qua xác chết của chính ḿnh để sống lại.
Họ giải phóng cho chúng ta đâu phải
để chúng ta nói ngược, nói lái lại hai chữ “giải phóng”. Chủ nghĩa xă hội
cũng phải “năm thành phần kinh tế”. Hăy tin vào quy luật khách quan...
Không thể duy nhất một quốc doanh trong mọi ngành kinh tế, hoặc chỉ hai
thành phần, quốc doanh và tập thể. Thời bị cấm vận bởi Mỹ, bị di căn xúc
xiểm, bị di hại bởi ám thị tuyên truyền của chế độ cũ lẫn các đài Phương
Tây đă qua rồi. Thời “nóng vội” cũng qua rồi. Phải có kinh tế quốc doanh
để tự bảo vệ chính quyền và bảo vệ quyền lợi nhân dân lao động. Tư bản chủ
nghĩa rặt không được đâu... Riêng tôi, tôi sẽ cưới thêm vài cô trẻ đẹp vốn
là nhân viên phản gián của Bộ Nội vụ, Đảng Cộng sản Việt Nam... Ồ, càng
khoái... Xin lỗi, anh Nông với Hiền Lương cứ để tôi cà rửng một tí... Đồng
chí Lê Duẩn (?) cũng phải lấy hai vợ đấy. Không phải luật, ấy là ngoại lệ,
v́ lí do tổ chức.
Chú Nông ph́ phèo thuốc
lá, mặc nhà văn Quyển thao thao nói. Chú nghĩ, cơ chi có thể như ước muốn,
th́ miền nào cứ ở miền đó, cán bộ tập kết đă trở về Miền Nam, giáo dân di
cư phải trở ra Bắc, công an, bộ đội tuỳ nghi giữ vững an ninh, quốc pḥng,
mọi bộ phận nhân dân, cán bộ khác cư trú, công tác theo miền, nhưng giao
thông, kinh tế và mọi lĩnh vực khác đều thông suốt, thống nhất, dưới sự
quản lí chung của Nhà nước, sự lănh đạo chung của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thế là ổn nhất. Thật ḷng chẳng ai muốn bị áp bức, cai trị, bị tước hết
mọi quyền tự do, dân chủ cả. Nhưng là kẻ bại trận, đành chịu thế thôi. Chú
thở dài, khẽ bật cười chua chát.
Hiền Lương đă dọn chén
bát lui nhà sau. Cô đă quá bực ḿnh bởi cái “tục” và “phét”. Lúc rửa chén
bát, cô c̣n nghe nhà văn Quyển nói: “Phụ nữ có chồng muốn lên cao, phải li
hôn. Cuộc cách mạng nào cũng phải hi sinh một bộ phận trong cộng đồng? Lỗi
tại Pháp, Nhật, Mỹ... Lỗi tại ai chia cắt Đất nước, nhân danh hệ lạc hậu
phản quốc và lỗi tại lũ làm tay sai cho thực dân, phát-xít, đế quốc!”.
H́nh như nhà văn Quyển đă say khướt, rơ là nói càn về công tác tổ chức.
Thật dễ sợ! Và làm sao biết được về đời tư của tổng bí thư Lê Duẩn mà nói
bừa như thế!
Giọng chú Nông hơi ngái
ngủ:
- Thôi, bớt uống đi
Quyển. Cậu trắng trợn, mặc dù xuất phát từ ḷng yêu tài năng trẻ, nhưng
cáo già chính trị quá, bọn trẻ nó ớn xương sống. Là nhà văn, cậu phải hiểu
trái tim của con người, của thanh niên chứ. Thanh niên, phần lí trí ít hơn
so với tuổi xồn xồn. Với họ, t́nh yêu là tất cả. Vả lại, sống trăm năm với
một đồng chí phản gián, nghĩa là...
Nhà văn Quyển ngắt lời:
- Đối tượng t́nh...
nghi! Chắc chắn, họ sẽ cáu, bởi dám nghi ngờ sự trong sáng của họ, ḷng
yêu nước của họ.
- Đúng. Họ bị nghi ngờ,
họ sẽ khổ tâm. Tuổi trẻ cần được sống và làm việc trong không khí tin cậy
lẫn nhau. Nhân cách của họ trong điều kiện đó, sẽ được phát triển hài ḥa,
sẽ người hơn, không bị méo mó. Nghi ngờ họ quá, họ phản động luôn đấy.
Giọng nhà văn Quyển hơi
lè nhè:
- Anh làm thêm vài li
nữa đi... Nếu đạt đến t́nh trạng môi trường sống và làm việc như anh nói,
quả là lí tưởng. Nhưng phải thực tế. Tôi là nhà văn, lăng mạn có thừa, vẫn
thông cảm cho những người lănh đạo. Thực dân, đế quốc và cả phát-xít, đặc
biệt là Thiên Chúa giáo, đă gây tội ác đối với dân tộc ta như thế nào, anh
đă rơ... Đại Nam Thực Lục có trong tủ sách của anh đó! Thực Lục viết quá
rơ về Thiên Chúa giáo trong sự mở đường và câu kết với thực dân Pháp, c̣n
với đế quốc Mỹ, chúng ta chứng kiến tận mắt rồi... Tôi viết văn, cần quái
ǵ chức vụ hay làm ở cơ quan Nhà nước, công việc của tôi cần cóc ǵ tổ
chức với lại tập thể, dẫu có bị ém uy tín, hăm tài... Nhưng với tôi, vấn
đề là sự đánh giá của thời gian, trước mắt là được đăng báo, được xuất
bản. Chỉ tiếc cho bọn trẻ, không có vốn kinh doanh, không được đào tạo,
không có tiền đóng học phí, không có cơ may thi thố tài năng, không có
pḥng thí nghiệm cỡ lớn... Bọn tư sản nước ngoài sử dụng họ, cũng chỉ vắt
chanh bỏ vỏ. Họ lại bị đánh giá là mang thân làm giàu cho tư sản, không
phục vụ cho công nông, cho nhân dân... (II.16), lí lịch vàng vẫn vàng
khè... Thế th́, cái “sách” về công tác tổ chức của tôi, nghe nó ghê rợn,
nhưng thực ra, đáp ứng được yêu cầu của công an lẫn của gia đ́nh ngụy tặc
“chúng ḿnh”. Ơ ờ, t́nh yêu với chính trị hài ḥa! Nó cổ lắm nhưng không
cổ bao giờ. “Thật vàng không quản chi lửa”, dẫu đồng chí chồng, đồng chí
vợ là công an phản gián. Có công an ở trong nhà cũng yên tâm... Và chẳng
lẽ giết chết quyền tiến thủ sao!... Và cần cóc ǵ phải dựa hơi con cái ông
bự cho mất “uy” ḿnh đi! Công an lấy được tài năng, sướng quá!
Hiền Lương nghe tiếng
ngáy kḥ kḥ của ba. Cô nghĩ đến một đời sống lặng lẽ... Cô nhớ đến người
anh rể của chính cô, anh ấy cưới chị cô và phải rời khỏi ngành công an vận
sắc phục...
2
Mở mắt thức dậy, trời
vẫn chưa sáng. Ư nghĩ đầu tiên vẫn là ư nghĩ tiếp nối từ trong giấc ngủ.
Hiền Lương thấy trong tâm ḿnh Đền thờ Tổ quốc gồm trên năm mươi ba biểu
tượng nhân tộc, Đền Hùng, đ́nh làng, và những h́nh tượng, cả chiếc cầu nối
hai miền Đất nước trong ước mơ của ông giáo Hiền. Suy tư về quốc hồn, quốc
túy cùng những cách tân ấy vẫn c̣n âm hưởng trong tâm năo cô ngay trong
lúc tập bài thể dục buổi sớm, khi cùng Bông Bưởi với Nàng Hương tắm sông,
ngay cả lúc trở về nhà ăn sáng. Hiền Lương cũng muốn tập trung suy nghĩ về
điều đó. Cô thấy không có ǵ hay hơn. Cách thờ kính và di dưỡng tâm linh
ấy, quả thật rất dân tộc và rất nhân loại, rất quê hương và rất vũ trụ,
rất ngh́n xưa và rất ngh́n sau.
Hiền Lương chẳng biết
làm ǵ, v́ tất cả đồ đạc, tranh, màu đă được gói ghém, đặt vào va li. Hành
lí cũng nhẹ bẫng.
Anh Hành lúc này có lẽ
đang hội họp hay học tập ǵ đó ở Đông Hà. Cô mỉm cười, thầm cảm ơn anh
ấy.
Chẳng hiểu sao mỗi lần
nhớ đến Hành, ngay tức khắc, một liên tưởng rất bi kịch lại hiện ra trong
trí tưởng. Liên tưởng ấy, có khi là Rô-mê-ô - Giyu-li-ét Phương Đông, có
khi là Mỵ Châu - Trọng Thủy phó thường dân! Liên tưởng ấy khiến cô nghe
tim ḿnh đau nhói bởi niềm tự trọng. Lúc này, Hiền Lương bỗng rợn lạnh bởi
ánh thép tự thanh gươm An Dương vương, thấy nước biển rẽ hai như biển
trong Kinh Thánh của Môi-se để đón An Dương vương về với tấm ḷng nhân dân
muôn đời, như một liên tưởng ngược. Cô nhớ cô giáo dạy văn người B́nh
Dương, năm lớp mười, ở trường Vơ Minh Đức thân yêu, đă rưng rưng nước mắt
khi giảng bài. Hiền Lương chợt nhớ, cũng rưng rưng tự bảo: Lẽ nào ḿnh là
Trọng Thủy!
Sáng hôm nay là buổi
sáng cuối cùng, Hiền Lương bỗng dưng buồn quá. Cô rủ Bông Bưởi cùng Nàng
Hương đạp xe thăm lại chiếc cầu cô mang tên của nó. Cô lại ngồi chỗ cô và
Hành đă từng ngồi chiều nào. Hiền Lương bâng khuâng đăm đắm nh́n. Mới đó
đă hơn một tháng rồi! Lúc này ngồi bên hai cô bé ríu rít như chim, Hiền
Lương cũng chả muốn chuyện tṛ ǵ nữa. Mặt sông vẫn loang loáng bao gợn
sóng nắng. Chiếc cầu vẫn xanh một màu lá úa. Thôi th́ mặc trí tưởng cứ
rong ruổi như ngọn gió, như cánh chuồn chuồn vui đâu đậu lại, buồn đâu bay
đi.
Hôm qua, hôm kia, cô nhớ
nhà, nhớ những đường phố Thủ Dầu Một, nhớ bạn bè, nhớ ba, bạn trẻ, bạn già
của ba. Bất giác, Hiền Lương mỉm cười. Cái ông nhà văn Quyển buồn cười
thật. Anh ấy lúc trầm lặng như bậc chân tu, lúc biểu cảm như nghệ sĩ đọc
thơ, hoặc phớt tỉnh rất tếu, hơn cả vai hề sân khấu, với giọng nói Sài
G̣n, chính gốc Bến Tre, suốt tháng nay cô thấy thiêu thiếu thế nào!
Hiền Lương c̣n nhớ, cô
đă ngồi như một pho tượng trong buổi sáng anh giáo Quyển và ba cô nói
chuyện phiếm về Ơ-đíp, về các chuyện chính trị. Không, đúng hơn là chuyện
lặt vặt của chính trị. Không, cũng không lặt vặt, vụn vặt đến nhỏ nhen!?
Nhưng là những nhức nhối không cơ bản? Có ǵ tuyệt đối đâu! Bao ảo tưởng
thần tượng và nền chính trị đức trị không thể không đến lúc phải trở nên
trưởng thành hơn - trưởng thành trong nhận thức chính trị. Qua rồi những
ấu trĩ... để rơi vào “ám ảnh sợ” khôn nguôi ! Những cái tát vào mặt nhân
loại! Ai đó đă nói thế rất lâu rồi. Cái tát thiên văn học, của thuyết nhật
tâm. Cái tát sinh vật học, của tiến hóa luận. Cái tát tâm lí học, của phái
phân tâm, dẫu Phơ-rớt và các người kế tục ông c̣n có vấn đề. Cái tát chính
trị bá đạo, của Tào Tháo, Ma-ki-a-ven...
Cô c̣n nhớ, điều cô băn
khoăn lại không được ba cô, anh nhà văn Quyển bàn đến. Chính Hiền Lương
phải tự t́m hiểu về pháp môn bất nhị của Phật giáo. Ờ, đúng rồi, con người
bao giờ cũng trong tâm trạng khổ đau bởi luôn luôn ở trong hiện thực vốn
nhị nguyên đối đăi với tâm biện biệt. Nhưng không phải nhân loại muốn trở
về Địa đàng mù và ngu của Đức Chúa Trời trong thần thoại ngây thơ. Phải
hiểu tất cả những mặt sáng lẫn tối của từng thực thể, phải biết so sánh,
đối chiếu các thực thể như hiện thực nội giới, ngoại giới vốn có. - Hiền
Lương tự bảo -. Phải hiểu đến tận cùng. Phải sâu sắc, tinh tế. Phải bao
quát vĩ mô, phải mổ xẻ vi mô. Nhưng điều quan trọng là phải vượt lên. Nhất
nguyên! Vượt lên hiện thực sáng tối, cao thấp, thiện ác để đạt đến cảnh
giới niết bàn tại tâm. Có điều, Hiền Lương thấy, không nên xem tất cả là
phù du, là hư vọng, mộng ảo, không thể ném tất cả vào chủ nghĩa hư vô. Nên
xem tất cả là b́nh thường như đời đă thế, đang thế, rồi sẽ thế. Hiện thực
bao giờ cũng tồn tại muôn dạng vẻ đă được quy về ư niệm nhị nguyên đối
đăi, biện biệt. Và muôn loài đang trên con đường tiến hóa (có thoái hóa,
có “nhảy vọt”). Pháp môn bất nhị, vươn tới cảnh giới nhất nguyên của nội
tâm, chỉ là một phương cách thực nghiệm tâm lí, để thanh thản hơn. Được
hay mất cũng thế. Đẹp hay xấu cũng thế. Thành hay bại cũng thế... Một phép
“thắng lợi tinh thần”? Thế nào nhỉ? Nếu đạt được phép tịnh tâm ấy, ḷng
người nhẹ nhàng thật. Không. Thấy cái ǵ thuộc về cái-không-thể th́ b́nh
tâm chấp nhận, nhưng cảm thấy những ǵ thuộc về cái-có-thể, chắc phải cố
gắng đạt bằng được, miệt mài, kiên tŕ, hết ḷng, hết sức. Nhưng phải luôn
luyện tập để điều ḥa tâm lí... Cảnh giới nhất nguyên siêu h́nh của nội
tâm quả thật có hiệu quả, và rất nhiều người đạt đến với nỗ lực tập luyện,
thực nghiệm tâm lí. Nhưng liệu ai cũng thế, làm sao có những thành tựu,
những phát minh khoa học - kĩ thuật, làm sao chiến đấu chống ngoại xâm để
bảo vệ Tổ quốc! Không. Có lẽ phải xem đó chỉ là một phương thuốc tâm lí,
nếu cần th́ dùng đến. Đấy là thuốc giảm đau, thuốc thư giăn. Vâng, chỉ
thế. Phải biết luyện lấy một khả năng điều ḥa tâm lí. Thế thôi...
Hiền Lương ngồi bên Bông
Bưởi, Nàng Hương, mặc trí tưởng rất đỗi tiêu dao! Cô lặng lẽ nh́n chiếc
cầu cô được mượn tên. Cô tiếc ḿnh chả làm được Nguyễn Bỉnh Khiêm trong
bài thơ Nhàn của ông suốt tháng trời nay... Và trước mắt cô, ngang ḍng
sông Bến Hải, cơ hồ chiếc cầu như mơ ước ông Hiền hiện ra...
H́nh ảnh của ḍng sông
trước mặt lại đưa trí tưởng của cô về với ḍng sông bên bờ thị xă Thủ Dầu
Một, ḍng sông thân thương từ lúc Hiền Lương mới khóc tiếng khóc đầu đời
đến tuổi hai mươi hai cô hiện có. Nhớ những buổi rảnh rỗi việc học, theo
mẹ ra chợ, hai ngôi chợ nối nhau c̣n nguyên nét tinh khôi hay khu chợ cũ
đă bị thay thế, Hiền Lương thường đi về một ḿnh dọc đường Bạch Đằng, con
đường men bờ sông. Ven sông, ven đường là những ghế đá, những nhà thủy tạ,
những tàu thuyền từ các tỉnh xa cập bến, những biệt thự và công sở, những
tàng cây xanh ngắt bốn mùa. Ḍng sông cũng hầu như suốt bốn mùa mênh mang
gợn sóng.
Hiền Lương nhớ nhà, nhớ
Thủ Dầu Một, sao nhớ nhất vẫn là ḍng sông của thị xă. Sông, con sông nào
cũng là biểu tượng của chia cắt và nối liền, gợi nên nỗi đau bởi chia cắt,
chia xa và ước mong được nối liền, gặp gỡ. Cảm nghĩ ấy mơ hồ trong tiềm
thức, nẩy sinh một cách hồn nhiên khi đứng bên sông ấy, bỗng càng thấm
thía khi sáng mai nay ngồi bên Bến Hải, một buổi sáng cuối cùng trong
chuyến về thăm quê nội. Đúng hơn, suốt hơn tháng nay cô đă thấm thía nỗi
niềm của sông, cảm xúc bây giờ thấm thía hơn bởi nhớ nhung quê kia trong
Nam xa lắc và luyến tiếc trước quê này, Bến Hải lặng lờ trước mặt.
Thật ra, sông cũng như
bất ḱ vật thể nào, luôn gợi ra nhiều ư nghĩa khác nhau. Sông là tấm khăn
len hôm trời se lạnh. Sông là mái tóc dài óng mượt. Đôi khi sông lại như
ṿng tay. Mặc dù mang tên Hiền Lương, nhưng thơ ngây tuổi nhỏ, nao nức xen
lẫn bâng khuâng tuổi mới lớn chưa cho phép cô ngấm sâu nỗi đau chia cắt.
Có thể như thế. Cô không thật rơ ḷng ḿnh. Cũng có thể Hiền Lương ngấm
lâu rồi nhưng cô chưa hiểu hết độ sâu của vết thương hai phía. Không, Hiền
Lương tối nay sẽ lên tàu lửa về lại với Thủ Dầu Một rồi, đừng mênh mang
nữa. - Cô tự ḱm lại ḷng ḿnh sắp lẩn quẩn.
Bờ sông Bến Hải rười
rượi gió. Những chiếc cầu tre tay vượn làm cầu thuyền v́ bờ quăng kia cạn
nước, quá trơ vơ bởi thuyền đi đâu rồi, như một cuộc đời lở dở, như những
ước mơ gầy ṃn không vươn tới nổi. Bức ảnh nào cô đă thấy đang hiện ra
trước mắt. Nhưng cô tin với một niềm tin không c̣n bồng bột, xốc nổi, ngu
ngơ, chiếc cầu rất ngàn xưa, rất ngàn sau, rất quê hương, rất vũ trụ và
rất dân tộc, rất nhân loại, cùng những h́nh tượng của ông Hiền sẽ được xây
dựng. Hiền Lương bỗng bừng tỉnh, bởi một lẽ ǵ không rơ: thoáng chút t́nh
cảm giữa cô và Hành có nghĩa ǵ trước chiếc cầu lớn lao kia!
TXA.
CƯỚC CHÚ chương XIV:
(27) Ở đây tác giả tiểu thuyết vận dụng thủ
pháp "chép nguyên xi cuộc sống" để khắc hoạ nét tính cách "đầy ác ư" hoặc
"báng bổ một cách hồn nhiên vô tư" kiểu vô chính phủ, nhằm phê phán nhân
vật Nông. Tuy vậy, cũng nên hiểu, thật ra, trong thâm tâm, nhân vật Nông
chỉ muốn cải chính sự xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ một cách "đầy ác ư" vạn
lần hơn, trong các cuốn sách, bài báo của một số nhà văn, nhà báo phản
động, lưu vong như Vũ Thư Hiên, Lữ Phương, Bùi Tín... (Xin xem tiếp ở chú
thích II.21).
(28) Khái Hưng, tên thật là Trần Khánh Giư
(1896 - 1947), nguyên quán: Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Dương, một cây bút chủ
lực của nhóm Tự Lực văn đoàn do Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) chủ trương.
Một trong những tác phẩm của Khái Hưng là Tiêu Sơn tráng sĩ (1934, đăng
báo nhiều ḱ). Đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về Phạm Thái (1777
- 1813) - Trương Quỳnh Như với quan điểm sai lạc, tiêu cực, anh hùng cá
nhân chủ nghĩa: "phù Lê", chống Tây Sơn. Một ư tưởng bi đát, thoát li hiện
thực để trốn vào t́nh yêu đương với cái đẹp của phụ nữ, cộng với nhận thức
và quan điểm lịch sử sai lầm của Khái Hưng, đă trở thành câu nói nổi tiếng
của nhân vật tiểu thuyết Phạm Thái: "Chí lớn trong thiên hạ không chứa đầy
đôi mắt mĩ nhân!". Điều cần lưu ư là tư tưởng phản động "phù Lê", chống
Tây Sơn ở Bắc Ḱ vẫn c̣n tồn tại dai dẳng đến thế, mặc dù mỗi thời lại có
một màu sắc, khía cạnh khác nhau. Xét riêng tư tưởng Khái Hưng: về sau, đă
có sự chuyển biến, thể hiện thành thái độ chống Pháp, nhưng lại càng sai
lầm khi liên minh cùng cái ác phát xít (fascisme)! Đầu thập niên bốn mươi
của thế kỉ hai mươi (XX), Khái Hưng gia nhập Đảng Đại Việt dân chính, thân
phát xít Nhật, chống Pháp; bị Pháp bắt, giam tù. Khi Nhật đảo chính Pháp
(3.1945), Khái Hưng được thả, lại tiếp tục ủng hộ Nhật, chống Pháp bằng
báo chí. Sau Cách mạng Tháng tám (1945), Khái Hưng chống cộng, bị lực
lượng Việt Minh thủ tiêu (1947), bằng cách trói lại, bỏ vào bao tời cùng
với một tảng đá, ném xuống sông. Nh́n chung, Khái Hưng gần như Phạm Thái,
xét về hai lĩnh vực hoạt động chủ yếu của họ. Về văn chương, Khái Hưng
cũng rất tài hoa, có sự đóng góp rất lớn cho văn xuôi Việt Nam trong giai
đoạn 1930 - 1945, nhưng về chính trị, cũng rất sai lạc, đáng trách ("phù
Lê" như một âm hưởng di căn; thân phát xít Nhật như một thái độ tự bản
thân). Tuy vậy, phải thừa nhận cho Khái Hưng, dẫu sao, ông không phải
không có nét tích cực; nét tích cực đó là hành động chống Pháp. Khái Hưng
không phải thuộc loại chống Pháp theo dạng cơ hội chủ nghĩa, xu thời khi
phát xít Nhật xâm lược nước ta, mà chỉ là kẻ bị rơi vào "thế kẹt lịch sử",
phải dựa vào một chỗ dựa gian ác: phát xít Nhật! Phải chăng là thế?
Xem thêm: Nhiều tác giả, Từ điển văn học,
tập I, [mục từ Khái Hưng (vần K, số 9), Nguyễn Hoành Khung soạn], Nxb.
KHXH., 1983, tr. 344 - 345.
Tạ Thu Thâu là một người hoạt động chống
Pháp, nhưng theo khuynh hướng Quốc tế Cộng sản đệ tứ của T-rốt-x-ki
(Trosky, người Nga). Tạ Thu Thâu bị lực lượng dân quân Việt Minh giết tại
Quảng Ngăi, trên đường ra Hà Nội dự hội nghị do chính phủ Việt Minh triệu
tập! T-rốt-x-ki là một nhà lí luận, hoạt động cách mạng cộng sản chủ
nghĩa, nhưng có điểm chống lại Lê-nin (Lénine), người sáng lập Quốc tế
Cộng sản đệ tam; do đó, bị quy vào loại thuộc phe men-sê-vích, chủ nghĩa
xét lại như Cau-x-ki (Causky [có sách viết: Kawsky], người Đức).
T-rốt-x-ki sáng lập Tổ chức Quốc tế Cộng sản khác (đệ tứ), li khai với Tổ
chức Quốc tế cộng sản của Lê-nin. Khi đă lưu vong ra nước ngoài,
T-rốt-x-ki vẫn bị ám sát bởi nhân viên an ninh Liên Xô: bị đập chết bằng
một thanh sắt vốn được dùng làm cây cời than trong ḷ sưởi!
Về cái chết của Khái Hưng, Tạ Thu Thâu,
T-rốt-x-ki (Trosky), nhất là cái chết của Phan Văn Hùm, mặc dù đă có nhiều
sách báo viết như trên, nhưng để cẩn trọng hơn, cần có nhiều tư liệu xác
minh thêm. Trong đó, về cái chết của Phan Văn Hùm, một vài tư liệu gần đây
lại cho rằng, ông chỉ chết v́ bệnh mà thôi. Nói chung, tác giả tiểu thuyết
(TXA.) xin chấm dấu hỏi nghi vấn trong tinh thần khách quan sử học ở đây.
Xem thêm: tư liệu về t-rốt-kít (troskisme)
và chủ nghĩa xét lại [Từ điển triết học, Nxb. Tiến Bộ, Mát-x-cơ-va (1975),
liên kết với Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1986, tr. 698 - 699]; và chú thích
I.115, II.24 (có đề cập đến cái chết của Nhất Linh [Nguyễn Tường Tam]).
(29) Vào khoảng năm 1978 hoặc 1979, trong
lúc cả nước đang chống cuộc xâm lược của bọn bành trướng Đặng Tiểu B́nh ở
biên giới phía Bắc, chống sự điều khiển của Tập đoàn Lănh đạo Trung Nam
Hải đối với bọn diệt chủng Kh'mer Đỏ cùng với sự viện trợ của Tập đoàn này
cho chúng ở Campuchia, chính tai tôi đă nghe băng ghi âm bài nói của Hoàng
Văn Hoan, nguyên uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá IV),
trên Đài Phát thanh Bắc Kinh (Trung Quốc), khi y đă lưu vong bên đó. Băng
ghi âm ấy, cứ phát đi phát lại măi với nội dung xuyên tạc, bôi nhọ tổng bí
thư Lê Duẩn.
Với cái nh́n khách quan, vô tư: Tổng bí thư
Lê Duẩn là nhà lănh đạo kiệt xuất của nước ta, là người con thiên tài của
quê hương Quảng Trị.
Xin vui ḷng xem chú thích II.15.
(30) Xin hăy làm một cuộc đối chiếu tư liệu
lịch sử, sẽ thấy có sự khác biệt với nhiều mức độ (từ ít đến khá xa, thậm
chí trái ngược) trong dung lượng hiện thực lịch sử, nhất là về quan điểm
(vấn đề hệ trọng nhất là quan điểm):
- Đại Nam thực lục, chính biên (hai kỉ đệ
tứ, đệ ngũ, và có thể cả kỉ đệ lục);
- Các sách báo của Pháp (có ba loại chính:
của cố đạo thực dân [Puginier, A. Delvaux...]; của bọn viễn chinh thực
dân, sử gia thực dân [Charles Gosselin, Henry Le Marchant de Trigon...]);
các nhà nghiên cứu sử về sau sử dụng tư liệu gốc của Pháp (Cao Huy Thuần,
Yoshiharu Tsuboi...);
- Sách báo của Tàu (Lương Khải Siêu - Phan
Bội Châu với Việt Nam vong quốc sử).
Trong đó, Đại Nam thực lục, chính biên là
của ta (Việt Nam), c̣n lại là của đối phương (Tây, Tàu; chịu ảnh hưởng,
sức ép của bảo hoàng Nhật).
Từ cuộc đối chiếu trên, ta thấy: Cho dù bị
sức ép một cách mặc nhiên của thực dân, tả đạo, bảo hoàng, Đại Nam thực
lục kỉ IV, kỉ V vẫn thể hiện được tính độc lập của Quốc sử quán triều
Nguyễn, và đáng tin cậy hơn các tư liệu kia.
Xin xem thêm chú thích II.20, đặc biệt là
biên khảo ở phần phụ lục cuối cuốn tiểu thuyết này.
(31) Về Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường
(1824 - 1886): Ngoại trừ vào năm mười tám tuổi (1842), đỗ tú tài, nhưng bị
phạt tội đồ một năm và bị gạch tên trong danh sách lấy đỗ, do tên họ
(Nguyễn Phúc Tường) "trùng với quốc tính, không chịu đổi", ông không có
một khuyết điểm nào về nhân cách đạo đức.
(32) Đúng nguyên nghĩa là bỏ làng mà đi,
tương tự như bán xới (tuy bán xới cũng có nghĩa bỏ làng mà đi, nhưng vẫn
c̣n bán được chút đất hương hoả)?
(33) Ở đây, để phản ánh trung thực hiện
thực một cách cụ thể - lịch sử, tác giả đành xin lỗi trước với người đọc,
là đă vận dụng thủ pháp tự nhiên chủ nghĩa (khái niệm mở rộng), mạnh dạn
tạm "ghi lại" cách suy nghĩ, nhận thức thời thế theo quan điểm riêng của
nhân vật hư cấu. Tác giả đă thể hiện sự phê phán ở đoạn sau.
(34) Phạm Thái (1777 - 1813), tục gọi là
Chiêu Lỳ, một thi sĩ rất tài hoa, tác giả Sơ kính tân trang, vốn là con
của một cựu thần vua Lê chúa Trịnh. Thân sinh Phạm Thái có tước hiệu là
Thạch Trung hầu, thực sự đă khởi binh chống Nguyễn Huệ nhưng thất bại.
Riêng Phạm Thái, ông có ư thức và hành vi liên kết với cựu thần Lê -
Trịnh, mưu toan chống Tây Sơn - Nguyễn Huệ một cách quyết liệt và lâu dài,
nhưng bất lực. Phạm Thái từng đi tu ở một ngôi chùa Phật giáo, để tiếp tục
mưu đồ khôi phục triều đại thối nát Lê - Trịnh. Về sau, ông càng ngày càng
ngông nghênh v́ thất chí. Ông là kẻ sĩ Bắc Hà tiêu biểu cho loại ngu
trung, thậm chí là cuồng trung.
Nguyễn Du (1766 - 1820) là con của đại tư
đồ Nguyễn Nghiễm, em của tham tụng Nguyễn Khản. Tham tụng dưới triều vua
Lê chúa Trịnh là một chức quan tương đương với tể tướng (thủ tướng Chính
phủ). Theo một số nhà nghiên cứu văn học về Nguyễn Du và theo nhận định
của riêng tôi: Trong thời gian Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc, đánh tan lực
lượng của chúa Trịnh, quét sạch quân cứu viện cho vua Lê của nhà Thanh
(thực chất là xâm lược), Nguyễn Du sống trong tâm trạng bi hận, nhiều lần
vỗ kiếm toan khởi binh chống Tây Sơn - Nguyễn Huệ, nhưng đành thú nhận sự
bất lực, và đă có lần t́m đường vào Đàng Trong để phù giúp Nguyễn Ánh, v́
dẫu sao chúa Nguyễn trên danh nghĩa cũng vẫn xưng thần, theo niên hiệu vua
Lê. Tuy nhiên, vào được nửa đường, Nguyễn Du lại quay ra, trở về quê vợ
sống suốt mười năm bi hận mà ông gọi là "mười năm gió bụi". Đến khi Nguyễn
Ánh đánh bại Tây Sơn, tiếp quản và hoàn tất sự nghiệp thống nhất Đất nước
(Đàng Trong - Đàng Ngoài), lên ngôi hoàng đế (niên hiệu Gia Long), Nguyễn
Du và nhiều kẻ sĩ Bắc Hà được vua Nguyễn - Gia Long vời ra làm quan.
Nguyễn Du phục vụ dưới triều Nguyễn - Gia Long, thăng đến chức hữu tham
tri Bộ Lễ (thứ trưởng Bộ Văn hoá). Có điều, tuy phụng sự nhà Nguyễn, được
thăng đến bậc á khanh, nhưng Nguyễn Du luôn mang mặc cảm của một nhà nho
bất trung với vua Lê, chúa Trịnh (theo ư hệ nho giáo, trung quân là một
vấn đề cốt tuỷ), đồng thời mang tâm trạng bất b́nh với triều Nguyễn, v́
nhà Nguyễn quyết trấn áp Đàng Ngoài! Và v́ vậy, trong tâm thế đó, Nguyễn
Du cũng như kẻ sĩ Đàng Ngoài bất lực khi hướng về tương lai, đành lại
ngoái lại quá khứ, tiếc nuối, hoài vọng một cách vô vọng về một vương
triều đă sụp đổ mà trước đó chính ông và họ mưu toan hoặc thực sự đă khởi
binh chống lại: triều đại Tây Sơn của Quang Trung Nguyễn Huệ! (xin xem
tiếp chú thích II.22).
(35) Cao Bá Quát (1808 - 1855), nổi loạn,
dấy binh chống Tự Đức vào năm 1854, do ảnh hưởng của phong trào Thái B́nh
thiên quốc bên Trung Hoa, ở thời điểm trước lúc thực dân Pháp thực sự xâm
lược nước ta (1858). Cao Bá Quát nổi loạn cũng với chiêu bài "phù Lê",
những tưởng sẽ đạt được thành quả như Thái B́nh thiên quốc (một phong trào
phù Hán bài Thanh kéo dài đến 15 năm, 1850 - 1864, từng chiếm giữ được
hàng chục tỉnh).
(36) Nói chung, vấn đề khởi loạn ở Đàng
Ngoài, kể từ lúc Tây Sơn - Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc, nhất dưới thời nhà
Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức), ngoài bọn thổ phỉ, thuỷ
khấu, hải tặc, bọn cướp theo mùa, c̣n lại đều là "phù Lê", "tả đạo". T́nh
h́nh ấy ở Đàng Ngoài, nhất là ở Bắc Ḱ, càng lộ rơ thực chất khi Pháp xâm
lược, đặc biệt nghiêm trọng là ở các thời điểm 1873 - 1874, 1882 - 1884.
Xin đơn cử: Vào năm 1881, khi Tự Đức hỏi với đại ư, nếu Pháp lại xâm lược
Bắc Ḱ, triều đ́nh phải ra lệnh đánh ("có việc hoăn cấp", tức là việc
trước sau cũng xảy ra), th́ "ḷng người có thể tin cậy được không?", chính
Vũ Trọng B́nh đă tâu trả lời vua Tự Đức: "Ḷng người đều muốn được yên,
nhưng cho là có thể tin cậy, tôi là người ngu cũng không dám chắc". Thế mà
nhiều nhà nghiên cứu đă rất sai lầm, mác-xít một cách phi mác-xít, hoặc cố
t́nh xuyên tạc lịch sử, khi cho rằng đó là những cuộc khởi nghĩa nông dân,
đấu tranh có tính giai cấp!
Xin lưu ư thêm: Khác với những người "phù
Lê" thuộc giai đoạn đầu (1789 - 1802...) như trên đă viết, là càng về sau,
đặc biệt lúc thực dân Pháp, Tây Ban Nha đă thực sự xâm lược nước ta (1858
- 1885), trong bọn "phù Lê", "tả đạo", trừ một vài tên như Cao Bá Liên,
vốn là hậu duệ của ḍng họ Cao Bá Quát, c̣n lại đại đa số là những kẻ vô
học, mê muội, một bộ phận khác là dân lưu manh (đáng thương là sa cơ thất
thổ, xiêu lạc, đáng giận là sẵn sàng làm tay sai v́ miếng cơm manh áo),
nói chung là những bọn có nhân cách đê hèn, đốn mạt và thật sự phản quốc,
như Pièrre Tạ Văn Phụng chẳng hạn. Trong đó, cũng có một số tên được cố
đạo thực dân Pháp, Tây Ban Nha đào tạo thành giáo sĩ, linh mục tay sai, có
tŕnh độ ngoại ngữ khá. Ở cuốn tiểu thuyết này, về "phù Lê", "tả đạo", tác
giả chủ yếu đề cập đến giai đoạn sau, kể từ 1858. Xin nhấn mạnh: về tính
chất, "phù Lê", "tả đạo" hai giai đoạn này hầu như hoàn toàn khác nhau.
Xin lưu ư thêm một điều
rất dễ hiểu nhưng cực ḱ quan trọng: vũ khí ở thế kỉ XIX. Bấy giờ, mặc dù
đă có súng đạn, tuy c̣n thô sơ, nhưng vũ khí chủ yếu ở nước ta, cũng như
các nước châu Á khác, chỉ là gươm đao giáo mác; các nhóm, các bè đảng nổi
dậy hoặc nổi loạn đều có thể tự chế tạo (vai tṛ thợ rèn, thợ đúc nổi bật,
do được trọng dụng!). Vũ khí của quan quân nhà Nguyễn cũng không tân ḱ,
hiệu quả hơn thế. Thậm chí, nếu so sánh với vũ khí của bọn giặc Cờ (tàn dư
biến tướng của Thái B́nh thiên quốc bên Tàu) vốn được liên quân Âu Mỹ viện
trợ, bán chác để lợi dụng, th́ vũ khí của quân binh nhà Nguyễn c̣n thua
kém. Đó là nguyên nhân và điều kiện để nổ ra liên miên các cuộc nổi dậy
hoặc nổi loạn ở Đàng Ngoài (chủ yếu là ở Bắc Ḱ). Triều đ́nh và quan quân
nhà Nguyễn rất vất vả, vẫn không ngăn chận được các cuộc nổi dậy, nổi loạn
với chiêu bài "phù Lê" hoặc "tả đạo" đích thực ấy.
TXA.
(
xem tiếp
chương XV )