TRẦN
XUÂN AN
m ù
a
h è
b
ê n
s
ô n g
(nỗi đau hậu chiến)
tiểu thuyết
nnhà
xuất bản
1997 & 2003
CHƯƠNG XV
1
Tưởng đă chia tay đột
ngột với Hành thật rồi, không ngờ, trưa nay lại thấy anh qua chơi, Hiền
Lương mừng rỡ và ngạc nhiên, nhưng cố ḱm ḷng lại. Vốn kín đáo trong bày
tỏ cảm xúc, cô không muốn Hành hiểu quá rơ t́nh cảm của ḿnh. Vả lại, t́nh
cảm ấy đă định h́nh ǵ đâu. Một chút quư trọng, một chút thách thức?
Hành ngồi xuống ghế:
- Chiều nay rảnh, tranh
thủ về nhà lấy thêm một ít đồ dùng. Gần tối này anh lại vào Đông Hà. Giấy
triệu tập đưa về ở trường cũ đă lâu. Trường đang nghỉ hè, anh văn thư vô
ư, thành ra anh quá cập rập v́ nhận trễ. Dẫu sao, được gặp lại Hiền Lương
là vui rồi.
Hiền Lương nh́n Hành. Cô
hơi mất tự nhiên v́ cô biết mẹ đang dơi mắt quan sát, vội quay mặt nh́n ra
nắng ngoài sân.
- Có nên lên chùa thăm
sư Tâm Tự, hay đi đâu đó dọc đường làng, ra bến sông ngồi ngắm trời đất
cho vui không, Hiền Lương?
Có mẹ, Hiền Lương hơi
ngần ngại, chắc phải năn nỉ Bông Bưởi cùng đi cho mẹ yên tâm. Kinh nghiệm
của người lớn rất hay nhưng lâu nay Hiền Lương muốn tỏ ra ḿnh bản lĩnh!
Cô gật đầu. Cũng rất may là không có trở ngại nào cả.
Dọc đường lên chùa, cả
ba người có vẻ hơi lúng túng, dè dặt, và có chút ngại ngùng! Có lẽ Hành
với Hiền Lương cần không khí rất riêng bên nhau trong buổi chiều này. Bông
Bưởi cố nhẫn nại trong vai tṛ bất đắc dĩ của ḿnh. Hành cố gợi chuyện,
hỏi Hiền Lương đă đọc thơ được mấy bài rồi, trong sáu tập ấy, nhưng Hành
tỏ ra lưu tâm hơn về bài bút kí, chùm thơ cùng hai bài tiểu luận được xếp
chữ vi tính của Trần Nguyễn Phan, mấy hôm trước từ Đông Hà anh gửi ra để
Hiền Lương đọc.
- Em được hiểu thêm tâm
trạng một thế hệ và suy nghĩ của một người. - Hiền Lương lại trở về với
những suy tư, cô đáp -. Cuộc sống sẽ phong phú hơn nhờ những cảm xúc và tư
tưởng rất riêng. Nếu không có cá tính sáng tạo, đời chỉ c̣n là máy móc!
- Hiền Lương có cho rằng
những ǵ Trần Nguyễn Phan phê phán và khẳng định là đúng đắn, hợp lí? -
Hành lại hỏi, trong khi ba người vẫn thong thả bước -.
- Vâng, rất đúng...
Nhưng không biết nói thế nào... Em đọc hơi vội. Có lẽ cần phải suy nghĩ
thêm về những điều không phải nhỏ ấy. Trần Nguyễn Phan muốn lí giải lịch
sử, và muốn để cho người đọc suy nghĩ. - Hiền Lương bất chợt hỏi, như thể
buột miệng -. Anh có cảm nghĩ ǵ, khi Mác và Ăng-ghen vốn xuất thân từ
giai cấp tư sản cỡ nặng kí, chứ không phải vừa vặn ǵ, lại quyết liệt cách
mạng cộng sản chủ nghĩa với tính đảng, tính giai cấp vô sản gắt gao đến
thế? - Đỏ mặt v́ dám bạo gan sử dụng những "tính từ" có ư mỉa mai, Hiền
Lương ấp úng xin lỗi Hành -. Ồ, xin lỗi anh, em thật lếu láo...
- Cái hay nhất của lịch
sử là ở đó, cái vĩ đại nhất của con người là ở đó! - Hành cười lớn, rồi
chợt chùng giọng lại -. Nhưng bi kịch nhất lại cũng là "chủ nghĩa lí lịch"!
Cô mỉm cười, đề nghị
Hành đọc thơ đi, v́ nghe Hành nói anh rất thích bài viết về Bác Hồ. Thấy
không phù hợp với không khí này, nhưng Hành vẫn vừa đi vừa đọc khẽ. Ban
đầu hơi miễn cưỡng, dần dần anh nhập vào hồn bài thơ.
MÁI TRANH
Dưới hai hàng cây
xanh
tôi về thăm quê Bác
nắng dọc đường đi êm
ả hiền lành
hiện dần trong tôi
nho nhỏ mái nhà tranh
tôi đă thấy qua thơ
qua tiếng hát
(khúc ca nào lắng sâu
hóa nỗi niềm riêng)
tôi đă thấy qua bao
xóm làng
quê hương
thân thuộc
một nếp tranh vàng
rất đỗi dân gian
dưới bóng tre xanh,
xanh tự ngàn năm
lần đầu tiên ra thăm
sao như trở lại ḷng
ḿnh!
*
Ngơ nè chống cao, vạt
lúa, đất phèn
hàng giậu xanh non
dẫn vào nhà Ngoại
nếp nhà tranh lùi lại
cuối góc vườn
ôi tiếng khóc sơ sinh
của Bác Hồ cất lên ở đấy
mảnh sân con tuổi thơ
Người chật chội
bước chập chững vin
vào khung cửi
giữa tiếng ngâm thơ
và tiếng xa quay
dĩa đèn dầu dập dềnh
bóng tối
khát vọng trăm miền
nặng tiếng à ơi
nói tiếng đầu tiên
khi ánh đuốc
nghĩa quân Cần vương rực cháy...
nên Đất nước đau
thương từ đấy có Người!
*
Đứng lên! Đồng bào ơi!
-
ngân vang gió
suốt chiều dài Đất nước
ai hát trên rừng xưa,
bây giờ tôi hát
bỗng thấy cả ṿm trời
bao la
dưới mái tranh nghèo
hiểu khung vải dệt
thời gian
dệt tiếng
ru
trĩu nặng
hóa cờ bay phấp phới
cả trời sao
từ dĩa đèn dầu hắt
hiu ấu thơ Người đó
đến hừng đông cho bao
dân tộc tôi đ̣i
từ mái tranh nho nhỏ
Bác Hồ ơi...
*
“Miền Nam trong trái
tim tôi”
Miền Nam ơi
nỗi khổ mỗi người
nỗi khổ mỗi nhà
thành nỗi đau trĩu
nặng ḷng ai
nỗi cháy bỏng nhớ
thương về Huế
cả Phan Thiết, Sài
G̣n và trăm nơi trái tim
Người ấp ủ...
tuổi trẻ Người đi qua
dưới cơn mưa nô lệ
chưa nắng đủ ḷng vui,
mưa Miền Nam đă ướt
lại áo Người
rồi cơn đau cuối đời!
Bác không về được nữa
Di chúc vẫn lên đường,
phấp phới nắng trăm nơi
*
Con đường Bác đi từ
mái tranh nho nhỏ
nơi dừng lại bao la
là giữa loài người
con đường Việt Nam từ
bùn đen loang máu
đă bừng lên rạng rỡ
đóa sen tươi
mái tranh nho nhỏ
trở thành nơi hội tụ
ḷng người
*
Tôi về thăm
gặp
cả ṿm trời
thu lại rất sâu trong
từng đôi mắt
ánh mắt nào cũng chan
chứa yêu thương
sáng lên từ Bác -
nhân hậu mênh
mang sâu thẳm ngàn năm
tôi về thăm
mái tranh vàng sắc
nắng dân gian
bóng tre tỏa ḥa b́nh
yêu thương lên mặt đất
và ai rưng nước mắt
thấm nụ cười ấm áp
sâu xa
khúc ca nào vọng về
thầm lặng ngân nga...
tôi cảm nhận Cơi
Người
qua
hồn tổ tiên, Đất nước
dưới ṿm trời xanh
bao la
xanh sắc Quê nhà...
(Vinh - Huế, một chín bảy bảy)
Giọng Hành đọc rất chuẩn,
rất Quảng Trị. Hiền Lương bồi hồi nghe. Cô nói khẽ:
- Hiền Lương muốn ra
thăm Làng Sen một lần, thăm cả nhà sàn Bác Hồ ở Hà Nội nữa, nhưng vẫn chưa
có dịp. Một điều mọi người khắp thế giới phải công nhận là Hồ Chí Minh có
một nếp sống rất giản dị. Tự cổ chí kim, chỉ có một lănh tụ duy nhất như
vậy. Giá như lănh tụ nào cũng học tập được ở Bác... Tất nhiên, không nên
học tập Bác Hồ về việc thiếu sót bàn thờ gia tiên truyền thống.
Hành gật đầu, trầm ngâm.
Anh nói, giọng sâu lắng:
- Trong một bài viết,
Trần Nguyễn Phan đă b́nh luận khá rốt ráo về vấn đề bàn thờ gia tiên
truyền thống ấy. Anh cũng đă đưa cho Hiền Lương đọc rồi. Bây giờ, anh thấy
nên suy nghĩ về bài thơ Mái tranh. - Hành ngẫm nghĩ, lại nói -. Ở bài Mái
tranh, không hiểu Hiền Lương nghĩ thế nào, riêng anh, anh tâm đắc nhất là
hai câu: "Từ dĩa đèn dầu hắt hiu ấu thơ Người đó, Đến hừng đông cho bao
dân tộc tôi đ̣i". Không cần phải phân tích ǵ thêm! Anh thấy ở khía cạnh
sử học, quả thật, nếu không có phong trào cộng sản quốc tế hỗ trợ phong
trào giành độc lập dân tộc ở các nước thuộc địa, th́ các nước thực dân, đế
quốc, "tả đạo" không đời nào chấp nhận "giải thực", mặc dù chúng chỉ thay
đổi bộ mặt từ thực dân cũ sang thực dân mới. Chính Cách mạng Tháng tám đă
góp phần thắp sáng hừng đông, "hừng đông cho bao dân tộc tôi đ̣i" đó. -
Hành vừa bước bên cạnh Hiền Lương, Bông Bưởi, vừa nói tiếp -. Trong bài
thơ anh vừa đọc, Trần Nguyễn Phan có nhắc đến câu nói của Bác Hồ, ấy là
nỗi khổ của mỗi người, nỗi khổ của mỗi nhà, kết lại thành nỗi khổ lớn lao
và sâu thẳm của Người. Cuộc chiến tranh chống xâm lược trên một trăm mấy
mươi năm, từ các cuộc đánh dẹp bọn giặc “phù Lê”, “tả đạo” ở Bắc Ḱ, từ
các trận đánh Pháp, Tây Ban Nha ở Đà Nẵng, Gia Định do triều đ́nh Huế lănh
đạo, từ các cuộc chiến đấu tự phát bởi “Phan, Lâm mại quốc, triều đ́nh khí
dân” ở Nam bộ - cả ở B́nh Dương, quê sinh của em -, bi tráng, hào hùng
nhưng quá đỗi đau thương. Vết thương núi Thần Mẫu (1862) nhức nhối! Rồi
“nhất giang lưỡng quốc” (1884) là con sông Hương, vết thương biểu tượng,
đến Bến Hải (1954), con sông quê ḿnh, vết thương thực thể. Bao nhiêu là
nỗi khổ nữa, trong mấy chục năm gần đây! Chẳng hiểu sao từ lúc Hiền Lương
ra thăm tới nay, anh cứ mải sống lại ám ảnh về vết thương cũ. Con sông Bến
Hải chia cắt trong ḷng mỗi người, chảy quặn xé, nhức nhối qua mỗi nhà...
Ờ, nói hoài như một ám ảnh khôn nguôi thế này cũng hóa ra nhàm, càm ràm,
cẫm rẫm như kẻ dở hơi! Có lẽ là di chứng chiến tranh! Hội chứng hậu chiến!
Trong đó có di chứng của bệnh thành phần chủ nghĩa, lí lịch, gia thế chủ
nghĩa!
Hiền Lương im lặng. Ngồi
bên cạnh chị ḿnh, Bông Bưởi bồi hồi lắng nghe, mắt dơi ra xa xăm, tay bứt
rứt một cánh lá úa. Cả ba rơi vào từ trường của vết thương chung.
- Di chứng thôi, anh
Hành nói đúng. Bệnh phân biệt đối xử do chủ nghĩa lí lịch là có thật, hi
vọng đă khỏi và có thể đă khỏi. Thật ra, sau bảy lăm, ba em nói, có một số
con cái ngụy cấp thấp vẫn được đào tạo, có người liên tục được đào tạo,
nay đă thành tiến sĩ.
Hành gật đầu:
- Cũng nhiều người như
vậy. Các thầy giáo dạy đại học của anh cũng như thế, trường hợp em vừa nói.
- Hành quay qua Hiền Lương -. Nói cho tận cùng sự thật, rơ là “ngụy” phải
kể từ Đồng Khánh. Bi kịch “tứ nguyệt tam vương” là khởi đầu sự lũng đoạn
của thực dân Pháp vào đến ngai vàng. Qua các tên vua và vương như Dục Đức,
Hiệp Ḥa, Tuy Lư vương, Gia Hưng vương (kẻ đă giết Kiến Phúc) và cả tên
Trần Tiễn Thành, Pháp đă thực hiện âm mưu lũng đoạn ấy. Tạo nên sự rối ren
ngay tại ngai vàng để nắm lấy ngai vàng là thủ đoạn của Pháp. V́ vậy, để
loại trừ những kẻ câu kết với Pháp, với “tả đạo”, Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết và cả Trần Xuân Soạn, Trương Văn Đễ, Ông Ích Khiêm phải giết
vua Hiệp Ḥa và sau đó, hơn một năm sau ngày truất phế, hai vị phụ chính
phải giết cả vua Dục Đức, vẫn được Từ Dũ lẫn triều thần kính trọng! Nguyễn
Văn Tường pḥ giá kháng chiến, phải theo sắc dụ của Từ Dũ, trở lại kinh đô
để giữ ǵn cung điện, thế miếu, ngăn ngừa sự tàn sát, đồng thời vẫn chủ
động bí mật phối hợp với phong trào Cần vương, thực hiện kế hoạch người
đàm, kẻ đánh, do đó, bị đày ải và chết ở đảo xứ người. Ông ta cũng người
Quảng Trị của anh em ḿnh... Nguyễn Văn Tường là một anh hùng bi tráng. -
Hành nói tiếp -. Như vậy... Đó, ngụy là từ Đồng Khánh đến Bảo Đại, đến
Dương Văn Minh, tổng thống vài ngày, kể cả Trần Trọng Kim, thủ tướng thời
phát xít Nhật...
Hiền Lương vẫn lặng lẽ
nh́n xuống đất.
- Vâng, ai ngụy th́ cứ
ngụy. - Hiền Lương nói và cắn môi.
- Ngụy mô mà dữ rứa thầy!
- Bông Bưởi buột miệng, kịp bụm miệng cười.
Và rất hồn nhiên, Bông
Bưởi cười phá lên. Tiếng cười bất ngờ và gió lồng lộng từ cánh đồng trước
mặt chùa bạt hết những nặng nề u ám của câu chuyện.
Hiền Lương nói, quay qua
Bông Bưởi:
- Thầy Hành không sai
chút nào hết. Ngụy triều: vua và thủ tướng, tổng thống do thực dân, phát
xít, đế quốc - Pháp, Nhật, Mỹ - dựng lên từ sau một tám tám lăm, đến một
chín bảy lăm (1885 - 1975). Bông Bưởi quên bài sử học rồi sao? - Hiền
Lương hỏi Hành -. Anh có nói là chính Gia Hưng vương Hồng Hưu đă giết Kiến
Phúc?
Hành gật đầu :
- Đúng. Theo anh là như
vậy, căn cứ vào sự câu kết của Pháp với Hồng Hưu. Rây-na (Rheinart) muốn
đưa Hồng Hưu (một kẻ loạn luân có quả tang) lên ngai vàng, do đó, phải âm
mưu với Hồng Hưu để giết Kiến Phúc. Đại Nam Thực Lục đă chép lại nguyên
văn bản tấu của Tôn Thất Thuyết về vụ loạn luân, câu kết với giặc Pháp này,
và về mức án triều thần, Tôn nhân phủ đă nghị xử, có bản án, giấy trắng
mực đen, ấn triện rơ ràng, minh bạch. - Hành muốn trở lại vấn đề đang bỏ
dở -. Nhưng điều quan trọng là chủ nghĩa lí lịch và sự phân hóa trong mỗi
gia đ́nh, họ tộc, và trong xă hội.
- Cứ phân tích đúng sự
thật và về thực chất của lí lịch. - Hiền Lương nói, nh́n xuống con đường
làng chạy ngang trước mặt.
Hành cười (II.15):
- Cũng tới tận cùng sự
thật! Dẫu sao, Thành Thái, Duy Tân cũng là ngụy vương do Pháp dựng nên. Đó
là hai ông vua yêu nước: Ngụy vương yêu nước. Anh không dám hỗn láo, nhưng
có người bảo thân sinh Bác Hồ, “phó tiến sĩ” Nguyễn Sinh Sắc cũng là ngụy
quan (1904 - 1910) thuộc chế độ “bảo hộ” của thực dân Pháp, dưới triều
Thành Thái. Trên quan điểm so sánh đồng đại, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc
chưa thức thời và thể hiện ḷng yêu nước thành hành động cách mạng như các
vị chí sĩ cùng thời, chẳng hạn Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu... Cụ Nguyễn
Sinh Sắc là một ngụy quan yêu nước b́nh thường (37). Cũng ngụy đấy, tận
cùng sự thật là vậy! Có thể kể thêm thân sinh Trần Phú... Thân sinh nhạc
sĩ Phạm Tuyên là Việt gian Phạm Quỳnh bị cách mạng “xử lí”. Nghe đâu,
không biết có đúng sự thật lịch sử hay không: thân sinh đồng chí Trường
Chinh (?) là địa chủ, bị chính đồng chí ấy đích thân chỉ đạo hành quyết;
xét cho cùng, cũng như bi kịch An Dương vương, cha giết con. Riêng chuyện
này, c̣n phải xác minh. Nhưng dẫu sao, nếu cha đă là giặc, kẻ thù của Tổ
quốc, của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động, th́ con cũng phải giết,
xét trong bối cảnh lịch sử - cụ thể. Đấy, với tinh thần sử học khách quan,
phải nói thật, nói thẳng tận cùng sự thật và chân lí. Phải giác ngộ cách
mạng khi đi đến tận cùng sự thật và chân lí để khỏi vỡ mộng. Các lănh tụ
cũng đă “chửi cha chửi ông”, “đào mồ chôn cha ông”, như Mác, Ăng-ghen: Hai
người vô sản vĩ đại này, “đào mồ chôn giai cấp tư sản”, chính là thân sinh
của họ. Mác được sinh ra trong lâu đài một luật sư tư sản. Thân sinh
Ăng-ghen là một nhà tư sản công nghiệp dệt giàu nhất nước Đức thời bấy giờ...
Sự phân hóa giai cấp diễn ra trong mỗi người, mỗi gia đ́nh. Đấu tranh giai
cấp khốc liệt, tàn bạo ngay trong mỗi người, mỗi gia đ́nh. Anh không nhớ
Kinh Thánh, nhưng h́nh như Giê-su cũng đă nói điều này, sự phân hóa tàn
khốc, kể cả ư thức tử v́ đạo: “Chớ tưởng rằng ta đến để đem sự b́nh an
cho thế gian; ta đến, không phải đem sự b́nh an, mà là đem gươm dáo. Ta
đến để phân rẽ con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với bà gia; và
người ta sẽ có kẻ thù nghịch, là người nhà ḿnh. Ai yêu cha mẹ hơn ta th́
không đáng cho ta; ai yêu con trai hay là con gái hơn ta th́ cũng không
đáng cho ta; ai không vác cây thập tự ḿnh mà theo ta, th́ cũng chẳng đáng
cho ta. Ai giữ ǵn sự sống ḿnh, th́ sẽ mất; c̣n ai v́ cớ ta mất sự sống
ḿnh, th́ sẽ t́m lại được” (Ma-thi-ơ: 10 : 34 - 38). Đức Chúa thoát li,
phủ nhận cha mẹ, anh-em-(họ?). Bác Hồ không hề làm thơ về thân sinh của
Người. Bác cũng thoát li, sống trọn đời cho Tổ quốc, nhân dân và nhân loại.
Hiền Lương mỉm cười im
lặng, trong khi Bông Bưởi há hốc nh́n thầy giáo Hành. Hành ḱm lại những ư
tưởng v́ thấy nói thêm cũng thừa. Anh nghĩ chính anh đă chạm đến tận cùng
sự thật, cái lơi của bất ḱ cuộc cách mạng nào, cuộc chống xâm lược mang
màu sắc nội chiến nào. Nồi da xáo thịt là vậy, huynh đệ, phụ tử tương tàn
là vậy.
- Bông Bưởi, thầy đang
nói chuyện với cô cử nhân, cô cống sinh, nên có nhiều chữ, nhiều ư chưa
kịp triển khai, giải thích. Hẹn em bữa khác, v́ thầy tṛ, anh em ḿnh gần
nhà, c̣n nhiều dịp.
Bông Bưởi cười. Hành
nh́n sang Hiền Lương:
- Sự kiên định lập
trường, tránh dao động, cần xây dựng trên nền móng thật vững chắc là hiểu
tận cùng sự thật và chân lí, sự thật lịch sử và chân lí của chủ nghĩa xă
hội.
Hiền Lương gật đầu:
- Sự trưởng thành về
nhận thức làm nên bản lĩnh, em cũng hiểu như vậy. Trở lại vấn đề thơ Bác
Hồ! Anh đồng ư không?... T́nh cảm lớn thường bắt đầu, khởi nguồn từ những
ǵ rất riêng, rất cụ thể, như t́nh mẹ, t́nh yêu đôi lứa, thậm chí một
tiếng dế góc nhà tuổi nhỏ. Bài thơ Quê Hương của Giang Nam em rất thích là
v́, xương thịt của người em gái quê nhà đă góp phần làm nên Đất nước, quê
hương...
Hành nghe đau nhói trong
ḷng. Anh vội cướp lời (II.15):
- H́nh như Bác Hồ biết
trước, và cũng như Lê-nin, quyết biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến
cách mạng, chiến tranh ư hệ, v́ sự tiến bộ của dân tộc... Bác Hồ chú ư đến
tiếng khóc “oa, oa, oa...” của đứa con vợ chồng người tù trốn lính
ở nhà lao Tân Dương (Trung Quốc), nghĩa là rất chú ư, phải nói là quan tâm,
đến t́nh cảm gia đ́nh. Có thể giữa Bác và thân sinh có mâu thuẫn tư tưởng,
ư hệ. Có thể “vô gia đ́nh” là sự làm gương, tuyệt đối chí công vô tư. Tư
của Bác cũng là tư của công: T́nh cảm gia đ́nh của người cùng khổ, của
đồng bào, chứ không phải của riêng ḿnh. Như đă nói, đấy là sự thoát li
gia đ́nh v́ nghĩa lớn.
Hành ngừng lại. Hiền
Lương im lặng. Hành nói:
- Có một vấn đề nhiều
người thắc mắc. Đó là câu thơ Bác Hồ viết vào tháng hai năm một chín bốn
mốt (1941): “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng” với câu chú thích
cuối bài thơ thế này: “Đảng Cộng sản bôn-sê-vích Liên Xô” (38).
Trong tiếng Việt, tính từ sở hữu không có, chỉ có đại từ làm chức năng ấy
thôi. Cái ǵ của ḿnh th́ thường khiêm tốn nói trổng. Do đó, có phải Bác
là thành viên của Đảng Cộng sản “b” Liên Xô? Rất nhiều văn kiện để lại,
cũng thường nói đến người bôn-sê-vích Việt
Nam, hay các tiếng bôn-sê-vích
được dùng với nghĩa tương tự. Lúc đó, hầu như không c̣n Quốc tế Cộng sản
đệ tam nữa. Tổ chức ấy đă giải thể thực sự vào năm một chín bốn ba (1943).
Trung tâm phong trào cộng sản quốc tế là Mát-x-cơ-va, gần như Rô-ma của
Thiên Chúa giáo! Bác Hồ có thể đành chấp nhận sự độc lập trong thế liên
lập... Xét cho cùng, trong quan hệ Việt Nam với Trung Hoa, gần mười thế kỉ
độc lập sau Bắc thuộc một ngàn năm, ta phải chịu triều cống và phong vương.
Tệ hại là liên lập (39), nhưng đỡ hơn lệ thuộc kiểu phong kiến xưa. Trực
trị kiểu thực dân Pháp, dứt khoát không chấp nhận. Nói tóm lại, mặc dù độc
lập trong thế liên lập vẫn khá hơn sự độc lập kiểu nhận ấn phong vương
phong kiến (phải lấy chữ Hán làm văn tự chính thức, phải xem nhẹ chữ Nôm
của dân tộc!). Đó là nỗi đau của các nước nhỏ! Có lẽ ai cũng muốn độc lập
trong sự b́nh đẳng dân tộc, tuyệt đối tôn trọng chủ quyền đất nước... Thú
thật, anh muốn sửa thơ Bác lại: “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng bạn”. Tám
chữ, thoát cách, nhịp điệu vững chăi, tâm thế tự chủ, tự tin, mặc dù t́nh
thế lịch sử rất chênh vênh, không chỗ tựa.
Hiền Lương mỉm cười:
- Em cũng chỉ xin làm
học tṛ của anh. Anh táo bạo thật!
Hành cười, muốn nói, có
thể đó là câu thơ vụng của thi sĩ Bác Hồ. Nhưng anh lướt qua ư đó, và cười:
- Thôi, “hổng dám mô”!
“Sức mấy” cũng phải phấn đấu cho khát vọng và ư chí độc lập, tự do của mọi
đất nước, mọi người. Độc lập thật sự không phải là tự cô lập. Tự do không
phải là phương hại đến tự do của cả dân tộc, và tự do của người khác, nước
khác. Nói rơ hơn, không thể có thứ tự do theo loại tôn giáo mà lịch sử của
nó là lịch sử xâm lược và phản quốc, như Thiên Chúa giáo... Rất nhiều
người đă nói vậy, Hiền Lương thấy đúng không? Và nhân nghĩa Việt Nam không
phải là vô ơn... Đúng vậy, không phải vô ơn với di sản bốn ngàn năm, với
những ai đă giúp ta giành độc lập, tự do cho dân tộc, cụ thể là nước Nga
của Lê-nin, các nước “chư hầu” của Nga xô-viết, kể cả các nước Đông Âu,
Trung-Quốc-thời-ḱ-đầu, với các nước khác, và bao người khác sống tại Pháp,
Mỹ... - Hành cố ư dùng chữ “chư hầu” để phê phán khái niệm “siêu cường”
của hai hệ thống chính trị trên thế giới, một thực trạng đáng buồn của sự
bất b́nh đẳng giữa các quốc gia.
- “Chư hầu”? - Hiền
Lương cười, nhận thấy anh chàng Hành, một “hạt giống đỏ”, sắp trở thành
cán bộ chính trị đến nơi, ăn nói khá bạo miệng -. Nhưng Trung Quốc sau này
xích mích với Liên Xô, tự xây dựng theo chủ nghĩa Mao, rồi chủ nghĩa cơ
hội Đặng Tiểu B́nh... “Chư hầu” về chính trị, quân sự, kinh tế...; kể cả
tác động văn hóa một chiều từ nước lớn sang “chư hầu”... Tàu Đỏ nay khác
rồi...
- Th́ anh đă bảo,
Trung-Quốc-thời-ḱ-đầu, trước thập niên sáu mươi. Điều anh muốn nói là
t́nh trạng bất b́nh đẳng giữa các quốc gia ngày nay. T́nh trạng ấy là hậu
quả của quy luật tự nhiên dă man, “cá lớn nuốt cá bé”, “trâu mạnh trâu
được, cỏ mạnh cỏ được”. Nga nguyên là một đế quốc gồm nhiều thuộc quốc của
Nga hoàng. Tàu, vốn là đế quốc của Hán tộc, h́nh thành từ quá tŕnh thôn
tính bao quốc gia cổ đại, trung đại, hiện đại. Mỹ là con đẻ của đế quốc
Anh, do Anh xâm lược châu Mỹ của người da đỏ và tiêu diệt họ. Các siêu
cường xâm lược đất, cả chất xám của các nước nhỏ... Rồi thực dân kiểu mới,
“đỉa hai ṿi” về kinh tế... Ngay Liên hiệp quốc cũng bị thao túng, lũng
đoạn bởi bốn, năm nước đế quốc, trong đó có hai siêu cường, Mỹ và Nga. Nay
Mỹ đă là bá chủ! - Hành ngừng lại, ngẫm nghĩ -. Thượng đế, Thiên Chúa cũng
trở thành công cụ của Mỹ!... Trở lại vấn đề, liên lập, trong hệ thống xă
hội chủ nghĩa, với “thành tŕ cách mạng” Liên Xô, là bởi không c̣n con
đường nào khác. Nhưng ta tranh thủ cả Nga lẫn Tàu Đỏ để “gh́m”, khỏi bị
“hút” về nước lớn nào, hoặc Nga hoặc Tàu Đỏ. Đó là sự thật lịch sử. Nhân
loại đến cuối thế kỉ hai mươi vẫn c̣n ở trong t́nh trạng vô minh, mù quáng
của quy luật dục vọng, “tranh ăn”, “cưỡng hiếp” nhau. Muốn góp phần “b́nh
thiên hạ”, “người không c̣n là sói của người”, chắc phải chia Tàu Đỏ, Nga,
Mỹ, kể cả nước Ấn khổng lồ... ra làm nhiều nước nhỏ, chứ không thể đối
trọng bằng EURO. lẫn ASEAN...
Hành nh́n Hiền Lương:
- Thưa em, nói vậy cũng
thừa, phải không? Là vĩ cuồng! Nỗi đau của nhân loại là ở đó, khát vọng
chính đáng lại là khát vọng vĩ cuồng!
Hiền Lương và Bông Bưởi
cùng cười, nhưng nụ cười hơi khẽ nhếch môi, thoáng hiện chút băn khoăn, có
ư định đợi Hành nói tiếp. Hành cười buồn.
- Theo ư anh, cũng cần
nói rơ sự thật lịch sử này. Khi nói đến độc lập, tự do cho công dân, không
thể không nói đến quyền phê b́nh, tự phê b́nh trên tinh thần xây dựng và
đặc biệt là với tính dân chủ. Theo anh, có thể phê b́nh cả lănh tụ, nhưng
không được bóp méo thành biếm họa kiểu Mỹ, và cần phải phê b́nh trên tinh
thần dân chủ đích thực như thế, v́ sự tiến bộ chung. Và đây, anh sẽ phê
b́nh thơ Hồ Chí Minh. Là một con người, một lănh tụ vĩ đại, một nhân cách
lớn, một thi sĩ có khoảng mươi bài thơ xếp vào loại kiệt tác, là CON NGƯỜI
viết hoa, Hồ Chí Minh vẫn là con người với những hạn chế của ông ta...
(II.15).
Bông Bưởi há hốc quay
nh́n Hành. Cô bé không ngờ thầy Hành lại có thể lạnh lùng như vậy.
- Phê b́nh văn chương là
một khoa học, do đó phải có tính khách quan. Nhưng công việc ấy c̣n là một
nghệ thuật đi vào trái tim con người, do đó vẫn t́nh cảm, vẫn có thể rất
tri âm, tri kỉ... Anh muốn nói thẳng, nói thật... Dẫu sao ở Hồ Chí Minh
vẫn c̣n những mâu thuẫn vô thức về thế giới quan, lẫn nhân sinh quan. Nói
thế, phải lưu ư đến mảng thơ văn chỉ phục vụ nhiệm vụ chính trị, Hồ Chí
Minh viết một cách dễ hiểu, giản dị, gần như vè, và đôi khi cố ư duy tâm
để thu phục và đoàn kết toàn dân. Như vậy, về thế giới quan, Hồ Chí Minh
có thể c̣n rơi rớt trong tiềm thức những quan niệm duy tâm, cũng có thể Hồ
Chí Minh chỉ cố ư duy tâm v́ nhiệm vụ chính trị, sách lược tạm thời. Dẫu
sao, Hồ Chí Minh vẫn là con người cụ thể - lịch sử, một nho sinh, theo tân
học, rồi trở thành người cộng sản, đến với chủ nghĩa Lê-nin trước hết v́
Lê-nin ủng hộ phong trào giải phóng thuộc địa. Lúc ấy, không có con đường
nào khác, không có nước nào ngoài nước Nga của Lê-nin ủng hộ phong trào
giành độc lập ở các nước thuộc địa. - Hành thấy ḿnh hơi mở rộng quá mức
một ngoặc đơn, mặc dù rất cần thiết, anh ngừng lại, rồi nói tiếp -. Trở
lại vấn đề, Hồ Chí Minh ngoài mâu thuẫn thế giới quan, ông ta c̣n thể hiện
trong thơ những mâu thuẫn về nhân sinh quan. Một mặt, Hồ Chí Minh yêu cuộc
sống, lạc quan đến diệu ḱ, v́ nghĩa lớn đến mức quên ḿnh mặc dù đang ở
trong cảnh tù đày, bị treo ngược trên thuyền; Hồ Chí Minh thương người,
thương đời với một trái tim cao cả và sâu thẳm... Mặt khác, nói thế này
chả biết có phải “vạch lá t́m sâu” không, là Hồ Chí Minh hơi cá nhân chủ
nghĩa kiểu phong kiến đế vương, tỏ ra cũng thích tiền hô hậu ủng mặc dù
“nói cho vui”, thích được dâng công, hơi tự phụ, nhấn mạnh vai tṛ cá nhân
lănh tụ, hơi dung tục kiểu dân dă, so sánh tự do, khát vọng tương lai với
việc đi vệ sinh (có người cho rằng như thế là không thần thánh hóa bản
thân, không trừu tượng hóa tự do!), ngoài ra c̣n thể hiện t́nh thương nhân
đạo chủ nghĩa chung chung, mênh mang, có màu sắc tôn giáo, mặc dù vẫn thấy
nguyên nhân xă hội...
Hành bỗng ngừng lại, cúi
đầu buồn buồn nói:
- Con người! Thế đấy.
Một người cộng sản vĩ đại mà vẫn thế đấy. Dẫu sao, Bác Hồ cũng là một con
người với tiềm thức, vô thức của ông ta. Có lẽ chúng ta quen “ngắm” ông ta
ở tầm cao, tầm xa, khi “tiếp cận”, vẫn thấy ông ta có những vết quá b́nh
thường. Có lẽ chúng ta đặt ra những tiêu chí quá cao trong quan niệm lí
tưởng về con người. Quyết không rơi vào quan điểm hạ bệ Con Người với
những tiêu chí quá thấp, đánh đồng con người với sinh vật cấp thấp, nhưng
phải thấy chúng ta đă quá yêu cầu cao về chất người... Đây là một bài thơ
cần phân tích kĩ :
Non xa xa, nước
xa xa
Nào phải thênh
thang mới gọi là
Đây suối Lê-nin,
kia núi Mác
Hai tay xây dựng
một sơn hà.
Đó là bài Pắc Bó Hùng Vĩ,
viết vào tháng hai năm bốn mốt (1941). Có người bảo, h́nh tượng Non sông
Đất nước sao lại biến từ Giang san Tiên Rồng thành Sơn hà Mác - Lê-nin?!
Thế là quá xúc phạm đến t́nh cảm dân tộc! Thế là bán nước! Phải chăng ở
đây có sự hiểu nhầm? Mác - Lê-nin là một chủ nghĩa, một học thuyết. Hồ Chí
Minh muốn xây dựng Đất nước theo con đường duy nhất đúng là mác-xít -
lê-nin-nít. Ông ta vẫn muốn “khôi phục Giang san Tiên Rồng” theo học
thuyết ấy, với ư chí “không có ǵ quư hơn độc lập, tự do”. Lịch sử đă
chứng minh điều đó bằng sáu mươi bảy năm nay, từ khi có Đảng. Anh vẫn quư
trọng sự hiểu nhầm đến mức kết án của ai đó, v́ tự trọng dân tộc. Phải
hiểu “chủ nghĩa” như chủ nghĩa Rút-xô, Mông-tét-x-ki-ơ, Von-te, như chủ
nghĩa Giê-su của Thiên Chúa giáo, như Khổng giáo, Phật giáo... Có điều,
“hai tay” chỉ có thể là hai tay của Bác Hồ. Phải chăng như thế là tự phụ,
đề cao vai tṛ lănh tụ rất phi mác-xít? Anh muốn sửa lại là: “Muôn tay”.
Nhưng không thể sửa thơ đă trở thành văn học sử được! Phải phê phán để
tiến bộ. Đó là khoa học. Đó là dân chủ. Phải khoa học và dân chủ v́ lợi
ích chung: Sự tiến bộ trong nhận thức, sự tôi luyện bản lĩnh.
Hiền Lương nói:
- Em thấy anh hơi vượt
xa văn bản bài thơ. Đó chỉ là bài tức cảnh có hơi hướm khẩu khí trước một
quang cảnh nhỏ hẹp là nơi Bác Hồ trú ngụ thời trước bốn lăm: H́nh tượng
Bác là người chơi ḥn non bộ, một nghệ nhân về cây kiểng, tạc tượng bằng
đá núi một cách đơn sơ, thô sơ thôi... Không thể “muôn tay” được.
Hành cười to thật vui:
- Anh thành thật kính
phục em! Đấy là lớp nghĩa thứ nhất, cụ thể. Những ǵ anh bàn hồi năy là
lớp nghĩa thứ hai. Nhưng dẫu sao, anh cũng đă cố ư chính trị hóa phê b́nh
thơ, xem bài thơ như cái cớ để bàn chuyện chính trị. Anh cố t́nh làm “nhà
phê b́nh văn chương “hỏng”“. Không “muôn tay” v́ kẹt ngữ cảnh th́ nói
trổng là “bàn tay”. “Bàn tay” là một, cũng là muôn muôn triệu triệu, ứng
với hai lớp nghĩa, lại đề cao sức mạnh của lao động cầm bút, cầm cuốc, cầm
búa, cầm liềm và cả cầm gươm, cầm súng...
Hành nói một hơi v́ tự
ái trước sự thông minh của cô gái quá xinh đẹp này, và anh cũng thấy ḿnh
nam tính một cách rất cổ.
Hiền Lương mỉm cười,
ngần ngừ:
- Hay “ḷng son”, từ ngữ
hơi cũ nhưng lại hợp. “Ḷng son xây dựng một sơn hà”... Nhưng em đùa ấy mà!
Con cháu đâu dám hỗn với Bác. Biết đâu sai lỗi ấn loát. Bác không xem lại...
- Phải thấy ông cụ chơi
non bộ - h́nh tượng Hồ Chí Minh - này đă thể hiện một tư thế rất tự chủ,
vượt trội. - Hành nói, cười - ... Và thật ra, đúng như Hiền Lương nói, đó
là thơ khẩu khí với cái ngông rất nhà nho.
- Trở lại vấn đề rất cũ
là con người! Như anh phân tích, vậy chẳng có ai là cộng sản toàn bích, mà
chỉ có những tiêu chí lí tưởng, một mô h́nh con người mới lí tưởng?
- Em nói đúng. - Hành
nh́n ra xa, nói tiếp -. Khổng giáo cũng có mô h́nh người quân tử... Cho dù
xuất thân từ quư tộc, nhưng bất tài vô đức, vẫn tiểu nhân. Cho dù gốc gác
bần tiện, nhưng có tài có đức, vẫn là người quân tử... Mỗi học thuyết đều
có một mô h́nh và các đẳng cấp về mẫu người lí tưởng. Có kẻ đạt tiêu chí
này, có kẻ đạt tiêu chí kia. Những người mẫu về nhân, trí, dũng, khó có ai
đạt được chuẩn tuyệt đối. Người mẫu!
Hiền Lương cười, kịp ḱm
lại. Hành ngẫm nghĩ, nói tiếp:
- Trở lại bài Tức Cảnh
Pắc Bó, anh sửa sao thấy khác phong cách thơ Bác Hồ quá... Thơ Bác không
có sự “gồng gân”, rất dũng, nhưng rất hồn nhiên. “Bàn đá chênh dịch sử
Đảng bạn” (có thể ngắt nhịp: Bàn đá chênh, dịch: sử Đảng bạn) chăng? Hay
chữa đầu đề thành “Tức Cảnh Pắc Bó Tại Bàn Đá Cũ” chẳng hạn, rồi câu thơ
sẽ là “Bàn chông chênh, dịch sử Đảng bạn”, với nhịp 3/4, thoát niêm, nhạc
điệu của câu thơ được dùng để biểu hiện, hay vẫn thoát cách, nhịp 4/4... -
Hành say sưa nói, ngừng lại, khẽ đọc:
Tức cảnh Pắc Bó
(tại bàn đá cũ)
Sớm ra bờ suối, tối
vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn
sẵn sàng
Bàn đá chông chênh,
dịch sử Đảng bạn
Cuộc đời cách mạng
thật là sang!
T́nh thế chông chênh,
tâm thế vững vàng, lạc quan! - Hành tự tán thưởng -. Nỗ lực, tŕ níu t́nh
thế... vẫn ung dung!
Cả ba người cùng cười
vang, chia vui theo vẻ tự đắc ư về tài biên tập của Hành.
Hiền Lương quay sang
nh́n Bông Bưởi, nắm tay cô bé:
- Bông Bưởi thấy chưa!
Chưa ai đạt được mười mươi tiêu chí lí tưởng về con người lí tưởng cả,
ngay cả Bác Hồ, người được cả thế giới xem như Thánh sống. Nhưng phải xây
dựng mô h́nh con người lí tưởng như một cái đích trong quan niệm để vươn
tới bằng chính nỗ lực tự phấn đấu, tu dưỡng. Cái đích bao giờ cũng ở phía
trước. Đừng lấy hạn chế, khuyết tật của cha, mẹ, thầy cô giáo, kể cả nhà
thơ, lănh tụ, giáo chủ để tự vuốt ve những sai phạm của ḿnh. Chẳng hạn,
có người nói: “Thiên Chúa Giê-su c̣n thế, nữa là tép riu, người phàm như
ḿnh!”. Nói với Bông Bưởi như thế, cũng tự chị nhắc ḿnh, tự “lên lớp” cho
chính chị.
Hành cười gịn:
- Em “lên lớp” về ngôn
ngữ học, đạo đức học giùm anh luôn đi!
Hiền Lương đỏ mặt, cười
dàn ḥa.
- Thật ḱ lạ! - Hành nói
-. Lẽ ra, chúng ḿnh nên chuyện tṛ với nhau về thơ, nhạc, hội họa, chim
muông, ruộng đồng, cây cỏ, nhất là về B́nh Dương quê em, sao cứ gặp nhau
là bàn chuyện triết học, chính trị và lịch sử, rồi cả văn hóa, phong tục...
Nặng nề như đá!
Hiền Lương buột miệng:
- Em cũng chẳng hiểu nữa!
Hành ngậm ngùi:
- Có lẽ phải hỏi vết
thương núi Thần Mẫu (1862); phải hỏi vết thương sông Hương, “nhất giang
lưỡng quốc” (1884), và sông Bến Hải, “vết thương thế giới” (1954)!...
Cả ba người im lặng hồi
lâu. Hành lại nói:
- Thôi th́ lỡ rồi. Chúng
ta quả là những con bệnh của di chứng chiến tranh thời hậu chiến, bởi vết
thương lịch sử vẫn c̣n nhức nhối mặc dù đă thành sẹo. Ờ, phải rồi, anh lại
nói tiếp về thơ Bác Hồ, em đồng ư không?
Hiền Lương gật đầu:
- Nhưng c̣n chuyện ǵ
đâu! “Ngôn ngữ vốn là khởi đầu của nhiều ngộ nhận” mà, ai đó đă nói
thế. Ngôn ngữ h́nh ảnh thi ca vốn đa nghĩa, dễ ngộ nhận lắm. Ngôn ngữ hội
họa cũng vậy. Nó có sức mạnh tuyệt vời, vẫn là con dao hai lưỡi!
Hành búng nhẹ một đầu
đạn AR.15 t́nh cờ nhặt được trong gốc cỏ cú dưới chân.
- Th́ phải biết phát huy
tác dụng, hạn chế thấp nhất tác hại... Anh vẫn nhớ, hôm em mới ra, hôm hai
anh em ḿnh lên thăm đ́nh làng, gặp Lâm, ông Nộp, và hôm thăm chùa, em có
nói, ta bị h́nh tượng, ngôn từ lôi đi theo lô-gích của chúng... Các nhà
thơ, ngay cả các viện sĩ hàn lâm thơ ca, cũng bị h́nh ảnh thơ ca kéo trượt
đường ray tư tưởng của chính họ. Các bậc thầy ngôn ngữ ấy để lại vô số hạt
sỏi nhưng uy tín của họ biến sỏi thành ngọc. Họ viết nhầm, viết sai, viết
trượt chữ khỏi ư, nhưng vẫn thành mẫu mực, thành văn phạm, buộc mọi người
viết sai, nói sai theo họ! Đó là chưa kể sự vô t́nh, hoặc đùa bỡn, hoặc
chơi khăm của người xếp chữ ấn loát! Bởi vậy, thơ văn đă vào văn học sử
vẫn phải hiệu đính. Có một ngành khoa học của khoa ngữ văn là văn bản học.
Làm công việc đó, phải thật sự trung thực. Đó là khoa học, không thể “yêu
nên tốt, ghét nên xấu” được. Trước khoa học, Phật, Chúa, Mác, Khổng, Bác...
nhỡ có nhầm, sai, trượt ư khỏi chữ, trượt chữ khỏi ư th́ vẫn để vậy, không
thể tự tiện chữa; và khi nghiên cứu, phải đặt bộ phận trong tổng thể, chi
tiết trong toàn bài, toàn bộ tác phẩm... - Hành ngần ngừ, rồi thấy dứt
khoát phải nói thêm -. Nhưng phải xác định rơ tính hệ thống của những sai
phạm, nhầm, trượt... Sai lầm “cứ lặp đi, lặp lại, ấy là bản chất”
chứ không thể là hiện tượng ngẫu nhiên vô ư được... Nhà thơ cách mạng số
một Tố Hữu có viết:
Trời
không có thánh thần
Đất không
có thánh nhân
Chỉ có
nhân dân thần thánh
Và có
Đảng làm nên sức mạnh
Cho ta
đôi cánh
Bay tới
chân trời...
Anh thấy ḿnh chẳng cần
nói ǵ nữa! Lănh tụ có khuyết tật nào đó, cũng có tác hại ít nhiều, nhưng
chính tập thể, tổ chức Đảng sẽ bổ khuyết... Bây giờ, - Hành nói -, anh bàn
về ư khác... Kháng chiến thành công, cho dù kẻ thù là Pháp, Nhật, Mỹ, Tàu
Đỏ, Khơ-me Đỏ, là nhờ sức mạnh của nhân dân, của “bốn mươi thế kỉ cùng
ra trận”, và bởi “không nỗi đau nào của riêng ai”, do đó,
“của chung nhân loại chiến công này”... Tuy là nhà thơ lớn, Tố Hữu vẫn
có những tỉ dụ trong thơ rất khập khiễng đến mức làm tổn thương t́nh cảm
con người: “Thương cha, thương mẹ, thương chồng, Thương ḿnh thương một,
thương ông thương mười”. “Ông” đây là Lê-nin. Xét vai tṛ, tác dụng,
th́ Lê-nin ở vĩ mô, rất lớn lao, c̣n cha, mẹ và chồng chỉ ở vi mô, t́nh
riêng thôi. Nhưng so sánh thế là không cùng hệ thống, tính chất. Núi so
sánh với núi, không thể lấy cây bàng, cây tùng, cây mít để so sánh với núi
được. Tố Hữu đúng khi xét cấp độ của các giá trị, nhưng cụ thể ở đây không
có mâu thuẫn giá trị mà chỉ là khác biệt ở vai tṛ, tác dụng của hai giá
trị: “cha, mẹ” (người sinh thành), “chồng” (người hôn phối, chiến sĩ) và
“ông” (người phát triển học thuyết, Lê-nin). So sánh thế là xúc phạm t́nh
cảm cha con, mẹ con, t́nh cảm vợ chồng, những giá trị truyền thống và nhân
bản. Anh cho rằng Tố Hữu vẫn vụng về, vẫn có hạt sỏi trong kho ngọc ngôn
từ của ông ta. Bác Hồ cũng thế. Trong bài thơ “Quân ta toàn thắng ở Điện
Biên Phủ”, Bác có viết: “... Quyết tâm làm cho tṛn nhiệm vụ, Đă hứa
với Bác, Đảng, Chính phủ”. “Bác” lớn quá! Cộng sản, là tập thể lănh
đạo, cá nhân phụ trách, dẫu là Bác. Lại có đoạn:
Chiến sĩ viết
thư lên Bác Hồ:
“Xin Bác vui
ḷng mà nhận cho
Món quà chúc thọ
sinh nhật Bác,
Chúng cháu cố
gắng đă sắm được”.
Có thể là anh chiến sĩ
bộ đội vốn mang nặng t́nh cảm sùng bái lănh tụ kiểu cổ truyền lạc hậu.
Nhưng với tư duy, cảm xúc dân chủ, hiện đại, không thể chấp nhận ví xương
máu của cả dân tộc thành một món quà tặng sinh nhật, chúc thọ được! Chiến
sĩ cách mạng chỉ dâng chiến công cho nhân dân và Tổ quốc. Đó là xương máu
thiêng liêng của khát vọng độc lập, tự do, sao lại ví như quà cáp hay lễ
vật phù phiếm! Sự ví von ấy đă làm tổn thương sự hi sinh cao cả của muôn
ngàn chiến sĩ và cả dân tộc, làm đau đớn cảm xúc thẩm mĩ trước h́nh tượng
thơ ca... - Hành nghẹn ngào, anh nói tiếp -. Cho nên, cuộc kháng chiến
thần thánh của cả dân tộc, khởi từ các trận đánh dẹp bọn giặc “phù Lê”,
“tả đạo” ở Bắc ḱ, lại tiếp tục từ các trận đánh Pháp, Tây Ban Nha ở Đà
Nẵng, Gia Định, lại tiếp tục từ các cuộc khởi nghĩa đầu tiên ở Nam bộ khi
“triều đ́nh bỏ mặc dân”, lại tiếp tục từ phong trào Tân Sở - Cần vương,
lại tiếp tục từ cuộc kháng chiến vĩ đại suốt ba mươi năm (1945 - 1975),
đến cuộc kháng chiến tự vệ chống bọn bành trướng Bắc Kinh và giải phóng
nhân dân Cam-pu-chia, là của nhân dân Việt Nam, dưới sự lănh đạo của Tự
Đức, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, nghĩa sĩ, sĩ
phu, Đảng Quốc dân, Đảng Cộng sản Việt Nam, Bác Hồ, Lê Duẩn, Vơ Nguyên
Giáp, sáng ngời hào quang măi măi, mặc dù h́nh ảnh của người này người
khác và ngay cả Bác Hồ đều có một số t́ vết tự thân! Nói như vậy, không có
nghĩa là không phân biệt người đánh giặc nhưng chiến bại với người đánh
giặc đến thắng lợi cuối cùng, người thủ thành (kế thừa, giữ ǵn triều đại)
với người sáng nghiệp (khai sinh chế độ mới).
- Anh như nhà hùng biện.
- Hiền Lương thán phục.
- Hôm ở bến sông, chị
Hiền Lương giảng cũng hay dữ lắm! Thầy chưa nghe đó. Chị Hiền Lương “hết
ư” đó! - Bông Bưởi bênh chị.
- Thầy biết rồi. Thôi,
tối nay Hiền Lương phải lên tàu lửa. Bây giờ vào thăm sư một chốc. Rồi sau
đó anh vào lại Đông Hà ngay. Khuya sẽ gặp nhau ở ga. Cuối cùng, chỉ xin
nói với Hiền Lương một điều nữa, rằng, không có thuốc nói thật nào, mắt
trời điện tử nào có thể kiểm tra được tất cả. Tin vào con người, tôn trọng
con người, ấy là chủ nghĩa nhân đạo cao cả và sâu sắc. Điều ấy thiêng
liêng hơn ngàn thiêng liêng khác, nhưng không phải thiếu tỉnh táo, cũng
không phải mê tín. Tin vào ḷng yêu nước và biết tự vun bồi cho ḿnh, vun
bồi cho người trong một nước! Tin vào sự giác ngộ chân lí, hiểu tận cùng
sự thật con người, sự thật lịch sử! Tin vào khát vọng làm người, con người
chân chính, con người Việt Nam, con người Việt Nam của nhân loại tiến bộ!
Hành nh́n sang Hiền
Lương, mặc dù đang say với câu chuyện, anh vẫn nghe trái tim ḿnh thắt lại
trước vẻ đẹp dịu dàng, trong sáng của cô. Hành bối rối, nhưng tự trấn tĩnh.
- Hiền Lương có đồng ư
vậy không? Phải đi đến tận cùng sự thật và chân lí. Thuốc nói thật, mắt
trời điện tử cũng có tác dụng như Thần linh, Thượng đế, luật nhân quả nhà
Phật thôi, mặc dù khoa học dược liệu và điện tử đă chế tạo được rồi. Yằ
anh muốn nói, thời nào cũng có Trần Ích Tắc (con cháu vua Trần)... Có lẽ
Trần Ích Tắc rất tin có Trời, Phật! Vấn đề là trí tuệ và ḷng trung hiếu
với Tổ quốc. Vấn đề là các cấp độ giá trị. Không lẽ hi sinh nhân dân, đồng
bào, Tổ quốc cho ḍng họ, gia đ́nh, bản thân? Mà ngược lại! Ḷng yêu nước
và chân lí khoa học là giá trị toàn cầu... Nói thế là hi vọng ở hiện tại,
ở tương lai... Trung với Đảng, hiếu với dân...
- Em thấy báo chí đă
minh oan cho Phan Thanh Giản (?!), Nguyễn Trường Tộ (?!), Trương Vĩnh Kư
(!?).Điều đó cần phải xem xét lại. - Hiền Lương chợt trở lại vấn đề
“Phan, Lâm mại quốc...” -. Và phải công nhận các chúa Nguyễn có công
(?) mở nước, khai hoang lập ấp (II.1), Quang Trung rất chiêu hiền đăi sĩ.
Hành cười:
- Anh biết. Nhưng anh
chỉ lướt qua những điều ấy. Cái chính là di chứng hậu chiến, là niềm tin
vào con người Việt Nam. Ta phải tin nhau khi đă hiểu nhau, trong sự ḥa giải để ḥa hợp.
- Để đạt được điều đó,
tất cả các vấn đề sử học, văn hóa học... trong cuộc chiến tranh một trăm
mười bảy năm vừa qua (1858 - 1975) phải được hội thảo khoa học hết sức dân
chủ, bằng h́nh thức đối thoại công khai trên báo chí, và dĩ nhiên, ở các
hội nghị, với tinh thần tuyệt đối khách quan, trung thực, và dũng cảm; -
Hiền Lương nói -; đặc biệt, phải chặn đứng những mưu toan xuyên tạc lịch
sử, bịa đặt tư liệu, gây rối nhiễu, gây hoang mang, mất niềm tin vào khoa
học lịch sử.
Hành gật đầu :
- Yêu cầu xă hội ấy rất
bức thiết. Mặc dù ta đă có tư liệu chuẩn cứ, không phải ai muốn nói ǵ
cũng được, nhưng vấn đề là làm thế nào để khai thác được các kho lưu trữ
tư liệu ở Va-ti-căng, ở Pháp, ở Mỹ. Ngoài ra, cần được dịch hết, công bố
hết các châu bản triều Nguyễn, các tư liệu của Cách mạng... Không thể để
muộn hơn được nữa! Và phải có biện pháp ǵ để người ta không bịa đặt tư
liệu, làm tư liệu giả, hoặc thủ tiêu tư liệu được!
Cả ba người ngồi im lặng,
chừng như họ đang rơi vào từ trường của vết thương chung.
Sông Gianh ngoài kia,
sông Hương trong kia, sông Bến Hải trước mặt, khuất trong lũy tre cuối
cánh đồng, cơ hồ cùng sông Hồng, sông Cửu, với bao nhiêu ḍng sông trên
Đất nước, thầm th́ lên tiếng. Hiền Lương đang nghe rơ tiếng nói của ḍng
sông chảy bên đường Bạch Đằng thị xă Thủ Dầu Một, nơi cô khóc ngỡ ngàng
tiếng khóc đầu đời, nơi chôn rau (nhau) cắt rốn của cô. Cô bỗng nhớ ba,
thầy giáo Tiếng, nhà văn Quyển, thầy Rơm với bao nhiêu băn khoăn, thao
thức, cả đau đớn đến mức phải bỡn cợt nữa, của họ. Nhưng, đâu chỉ của họ,
mà của vài ba thế hệ đang cùng sống trong thời hậu chiến, những nỗi niềm
ấy! Nhưng biết làm thế nào được, sử học vẫn phải là khoa học lịch sử!
- Chúng ta có phải là
những kẻ dở hơi không? - Hành chợt lên tiếng với giọng trầm lắng -. Anh
nghĩ, bao nhiêu người, nhất là những ai mười lăm, mười bảy tuổi, họ sống
theo đà lao cuộc sống, theo tốc độ cuộc sống, họ chẳng nghĩ ngợi ǵ. Họ
đến với tương lai đang tít tắp, mênh mông cùng vết thương ngầm. Họ xa lánh
chuyện triết học, chính trị, phong tục, lịch sử... Họ chế giễu những ai
sính những vấn đề này. Như thế, thật đáng âu lo. Họ sẽ vỡ mộng, ngă bệnh,
vết thương ngầm sẽ lại nhức nhối, mưng mủ, hành hạ họ, trên bước đường
tương lai nào đó... Em có nghĩ như rứa không, Bông Bưởi? Thầy xin lỗi em
trước...
Bông Bưởi ngượng ngùng,
đỏ mặt. Cô bé lúng túng cắn những sợi tóc ngang môi. Hiền Lương đỡ lời:
- Cuộc sống bao giờ cũng
thế, có người vô tâm vô tư, có người trĩu nặng ưu tư, trái tim luôn nhạy
cảm. Thời Đổi mới có những vấn đề của nó. Ba em nói, đôi khi ổng giật ḿnh
thấy ḿnh, cuộc sống quanh ḿnh không c̣n là Việt
Nam nữa. Văn minh Phương Tây với những thành tựu khoa học - kĩ thuật và sự
hào nhoáng của nó đă hớp hồn mọi người. Chúng ta tiếp nhận, học tập văn
minh thế giới, nhưng chúng ta thiếu bản lĩnh văn hóa dân tộc, riết rồi
chúng ta xa lạ với chính dân tộc tính (bản sắc văn hóa - lịch sử của dân
tộc)... Đâu dễ vô tâm, Bông Bưởi nhỉ?
Hành gật đầu, ngậm ngùi,
bực bội:
- Không biết ở Sài G̣n,
B́nh Dương, các kẻ sĩ ra sao. Anh đă gặp bao nhạc sĩ không biết ǵ đến âm
nhạc dân tộc, bao họa sĩ chẳng hiểu một nét hoa văn đ́nh làng, một bức
tranh dân gian Đông Hồ, bao nhà thơ không thèm thuộc nửa câu ca dao... Vốn
dân tộc tính của những người làm văn hóa, văn nghệ quá yếu. Họ hiện đại
hóa đến mức sùng ngoại! Sự lai căn này có thường xuyên mọi thời. Sùng Tàu,
sùng Aăn, sùng La Mă, sùng Pháp, sùng Mỹ, sùng Nga, ồ, quá nhiều! Rác rưởi
của văn hóa, văn nghệ! Xin lỗi phép, ... kể cả những tiến sĩ, giáo sư...
(II.15).
Hiền Lương giật ḿnh. Cô
tự thấy cô vẽ vời hội họa một cách bản năng quá! Cô đâm ra lúng túng.
Giọng Hành vẫn tàn nhẫn
một cách buồn rầu:
- Chúng ta đă nhân danh
những giá trị ngoại lai để giết nhau! Đấy là một bi hài kịch đau đớn, nực
cười. Phật, Khổng, Lăo, Chúa, Mác đều là đồ ngoại, những thứ hàng hóa
ngoại nhập. Chúng ta không vô ơn nhưng không thể bê nguyên xi vào nước,
vào đời sống dân tộc. Dân tộc ta không phải không biết tiếp thu các thứ
ngoại nhập với tinh thần sáng tạo, sáng tạo trên tinh thần dân tộc Việt
Nam! Không vô ơn, nhưng cũng phải biết trong các tôn giáo, học thuyết ấy
có nhiều yếu tố độc hại. Đó là chưa kể đến sự tác hại của Thiên Chúa giáo
trên Tổ quốc chúng ta, di hại c̣n đến hôm nay! Nhưng đời sống cứ trôi đi
một cách vô thức, u mê. Cuộc sống cần sự lên tiếng đánh thức, âm vang mà
thâm trầm. Và cuộc đổi thay cần có thời gian. Cuộc sống luôn phát triển
trong thế tương tranh tương tác. Nhưng người chiến thắng cuối cùng sẽ là
ai? Anh mong Hiền Lương trả lời giúp anh điều này! Bông Bưởi, chính em
cũng phải suy nghĩ và hăy trả lời giúp thầy!
- Anh nói thế là anh đă
trả lời rồi. - Hiền Lương nói -. Cả tháng trời nay, ra với Bến Hải, cũng
chỉ trăn đi trở lại mỗi một điều anh vừa nói. Sao cứ trăn đi trở lại hoài!
Rất cần thiết phải làm một cuộc tổng xét duyệt lại tất cả. Không một người
cụ thể nào sẽ chiến thắng. Dân tộc tính, hay gọi cách khác là bản sắc văn
hóa - lịch sử dân tộc, và chủ nghĩa Hồ Chí Minh - hướng đến cơ chế dân chủ
thật sự sẽ chiến thắng. Không thể lấy tiêu chí Phật, Khổng, Lăo, Chúa, Mác
- Lê-nin của Ấn Độ, Tàu, Do Thái, Đức, Nga để định đoạt. Phải lấy tiêu chí
Việt Nam, không chiết trung...
Hành cười, liên tưởng
đến bệnh si-đa của trái tim và bộ năo.
- Có người đă trừu tượng
hóa, thần bí hóa bản sắc văn hóa - lịch sử dân tộc. Nó là sức mạnh khách
quan nhưng ở trong mỗi người. Mỗi người phải hiểu sâu về nó với những mặt
mạnh, mặt lạc hậu của nó để đánh thức, cách tân đúng hướng. Đặc biệt,
những kẻ sĩ... Và chủ nghĩa Hồ Chí Minh...
Hiền Lương nói khẽ:
- Có một ông linh mục đă
cởi áo nhà ḍng hai mươi lăm năm hơn, hoàn toàn bỏ đạo Thiên Chúa, bảo
rằng, ông ta vận dụng Phật, Lăo, Khổng, Chúa, Mác như vận dụng Pi-ta-go,
Ta-lét, Ăm-pe..., Rút-xô, Vôn-te..., Lê-nin...
Hành giật ḿnh. Anh lặng
người đi một chốc, trong khi Hiền Lương nh́n ra ruộng đồng đang gợn sóng
màu xanh. Hành nói:
- Không biết Hiền Lương
đă nghe ông Hiệu Điên nói đi nói lại măi một câu nói, mà ông ấy bảo chính
ḍng sông Bến Hải đă mặc khải chưa? Đó là một câu “mặc khải” về tính phê
phán.
- Câu ǵ anh? Lại sấm
truyền, tiên tri sao? - Hiền Lương mỉm cười, nhớ “Sáng thế kí” của ông
Hiệu.
- Bông Bưởi biết câu
“mặc khải” của ông Hiệu Điên chứ? - Hành hỏi Bông Bưởi -.
Bông Bưởi gật đầu:
- Dạ, em có biết. “Dân
tộc ta rất quật cường, anh dũng và hiếu ḥa, thông minh và chịu khó, nhưng
mắc bệnh sùng ngoại đến trầm trọng, kinh niên”.
- Đúng rồi. - Hành nói
-. Một dị bản khác của Ngài Hiệu về nội dung ấy là: “Chẳng lẽ bạn nhân
danh một hoặc những giáo thuyết: Phật, Lăo, Khổng, Chúa, Ma-hô-mét...,
Mông-tét-x-ki-ơ, Rút-xô, Vôn-te, Tôn Dật Tiên..., kể cả Mác - Lê-nin nữa,
dẫu sao cũng chỉ là giá trị ngoại lai, hàng ngoại nhập, để giết chết nhau,
bức hại nhau, để giết chết, bức hại những người chỉ tôn vinh dân tộc tính
(bản sắc văn hóa - lịch sử dân tộc) và chủ nghĩa Hồ Chí Minh (không có ǵ
quư hơn độc lập, tự do; độc lập, tự do cho cả dân tộc, cho từng người;
hướng đến một nền dân chủ thực sự) với tấm ḷng rộng mở?”. H́nh như ông
linh mục đă cởi áo ḍng nào đó và Ngài Hiệu Điên của làng ḿnh đă gặp nhau
trong chiều hướng tư tưởng.
Hiền Lương cảm động
nhưng vờ khôi hài, dẫu rất thành thật:
- Đều là vang vọng của
sông Bến Hải cả đấy!
- Hẳn là vậy. Mấy ngh́n
năm nay, bao trí thức lớn của ḿnh cứ bị mắc kẹt trong các hệ giáo thuyết
ngoại lai. Học của người là đúng, nhưng kẹt cứng trong kinh điển của họ,
không thoát ra được là dở. Quá dở! Kẻ sĩ (người trí thức) bị biến thành
con mọt sách! Nói cách khác, các trí thức ấy rất đáng kính trọng, ghi ơn,
như kính trọng, ghi ơn những cỗ xe chuyển tải tư tưởng. Họ có sáng tạo,
nhưng quá ít, thành ra đồ ngoại nhập vẫn là đồ ngoại nhập. Khổng học,
trước đó là Phật học, rồi Rút-sô học, Mác - Lê-nin học! Chúa học nữa chứ!
Ôi bệnh sùng bái! Bệnh “núp bóng” v́ sợ hăi trước các thế lực chuyên chế!
Bệnh “lém lỉnh” biến các Ngài thành mộc chắn đỡ và bị “mộc”đè!
Hiền Lương cười như tán
thưởng:
- Bao giờ mới có Bùi
Hành học hay chủ nghĩa, học thuyết Bùi Hành đây? Không phải vĩ cuồng,
hoang tưởng tự đại. Phật, Lăo, Mác đều kế thừa và phát triển. Giê-su cũng
thế. Ma-hô-mét cũng thế. Khổng cũng vậy.Chính nhu cầu tín ngưỡng và quyền
lực chính trị làm cho họ hơi vĩ đại thành ra quá vĩ đại.
Hành bật cười lớn. Anh
bỗng đâm ra đăm chiêu cuối tiếng cười.
Ngồi nh́n bâng quơ, cả
ba im lặng. Hành đứng dậy.
- Thôi, vào thăm sư Tâm
Tự đi, Hiền Lương, Bông Bưởi!
Ba người quay lại, bước
vào chùa. Nắng xế trưa vàng thắm sân. Những đóa hồng đỏ rực, lá xanh óng.
- Em thừa nhận anh Hành
tự học quá nhiều. Không nhà trường nào dạy hết những điều ấy. - Hiền Lương
vừa đi vừa nói.
Hành cười khẽ:
- Em tự khen ḿnh như thế
sao?!... Nhưng đừng chiết trung!
Hiền Lương chỉ biết cười:
- Th́ chê anh phải học
thêm!... Cũng đừng chiết trung...
- Anh cũng chê và động
viên em như vậy. - Hành lại cười.
Bỗng dưng Bông Bưởi buột
miệng:
- Em đang trông chờ “học
thuyết cộng sản Hành - Hiền Lương”!
Cả ba cười vang. Hiền
Lương đỏ bừng mặt, nhéo vào tay Bông Bưởi. Hành có cảm giác được cởi mở
tấm ḷng, nhưng lúng túng không biết nói ǵ. Họ đă băng qua khoảng sân
rộng, đi men hành lang chùa cho bớt nắng. Hành cảm thấy “Con Đường Đau
Khổ” Việt Nam quá dài, quá đỗi dài, nếu xét về thời gian lịch sử
(II.17).
Hiền Lương thoáng nghĩ,
sao cô lại rơi vào căn bệnh di chứng hậu chiến đến mức như bức hại cuồng
đến vậy. Thật ḱ lạ! Lại một lần nữa, Hiền Lương bừng tỉnh. Cô tự bảo,
chút t́nh cảm giữa cô và Hành có nghĩa ǵ trước chiếc cầu nối liền hai
miền Tổ quốc trong mơ ước của ông giáo Hiền! Vả lại, phải biết rơ giới hạn
trước thực tế của những nguyên tắc tổ chức hiện hành (II.16).
2
Sư Tâm Tự vẫn niềm nở và
thanh thản, với nụ cười của một vị sư già, nụ cười mà suốt một đời, từ
thuở lên năm đến lúc bảy mươi hai tuổi, sư không ngừng chiêm nghiệm từ
tượng Phật Thích Ca, nhưng hôm nay, sao trông dáng vẻ sư chừng như gầy hơn,
mệt mỏi hẳn đi. Mới cách đây mấy hôm, sư Tâm Tự, trong buổi gặp mặt đàm
luận trước và sau bữa cơm chay, vẫn hoạt bát, tươi vui, trầm tĩnh biết bao.
Dự án lớn lao sắp thành hiện thực, mặc dù chỉ từng bước, đă làm sư phấn
chấn, hay chính v́ thế, sư sinh lo nghĩ nhiều?
Hành và Hiền Lương ngồi
uống nước với sư. Hiền Lương ái ngại hỏi thăm sức khỏe sư. Sư mỉm cười,
bảo hơi khó ngủ, với lí do rất b́nh thường, có thể do trở trời. Bông Bưởi
ở ngoài sân ngắm hoa mới bước vào.
Sư ít nói hơn mọi hôm.
Ba người trẻ tuổi định kiếu về. Sư vẫn thiết tha cầm chân khách.
Sau một chốc bối rối,
Hiền Lương cảm thấy sư cần nói riêng điều ǵ đó với Hành. Cô rút từ túi áo
cuốn sổ tay nhỏ, cây bút ch́, xin phép sư và Hành được ra ngoài kí họa
phác thảo một vài cảnh chùa. Cô khẽ bấm vào tay Bông Bưởi. Hành và nhà sư
vẫn lặng im.
Lát sau, sư buột miệng
một âm thanh ǵ không rơ nghĩa, kịp ḱm lại. Hai khóe mắt ươn ướt, nhăn
nheo. Sư bảo, sẽ kể cho Hành nghe một chuyện khá dài, Hành cố gắng lắng
nghe, đừng sốt ruột.
Sư run giọng, rằng, ngày
xưa, thời điểm ấy, có thể đă xa xưa lắm, có thể mới đây, thời chống Pháp,
thời chống Mỹ, có một cô gái làng đă yêu một vị sư trẻ ở chùa làng. - Sư
không nói tên hai nhân vật và tên chùa, vẫn tiếp tục kể -. Người yêu của
vị sư trẻ đă mang thai với vị sư ấy hai tháng. Tuy nhiên v́ thanh danh nhà
chùa, cô gái ấy đă tự ư một ḿnh, chủ động đến với một chàng trai khác.
Chàng trai này đă yêu, và đă thất t́nh trước cô gái ấy từ lâu, nhưng t́nh
yêu trong trái tim anh không hề dịu bớt. Đám cưới nhanh, gọn. Rồi cô ấy đă
sinh con, sinh sau ngày cưới hỏi với chàng trai ấy gần bảy tháng. Sinh
xong mấy hôm, cô ấy chết! Chàng trai ngỡ người yêu sinh non, chết v́ thiếu
thuốc thang do hoàn cảnh thời chiến (nên bị sản hậu!). Hoang thai thuở ấy
là cả một tủi nhục khủng khiếp. Cô cắn răng chịu lấy tủi nhục để giữ mầm
sống vô tội trong bụng ḿnh. Cô ấy nghĩ, cô phạm tội th́ phải chết, chứ
mầm sống trong bụng nào có tội t́nh ǵ, nên mầm sống ấy, bào thai ấy xứng
đáng được sống, xứng đáng được làm người. Đến bây giờ người ta vẫn nghĩ cô
gái chết v́ sản hậu thôi. Song vị sư trẻ hiểu tính cách của cô, sức khỏe
thanh xuân của cô, nên không thể nghĩ vậy.
Dẫu sao, vị sư trẻ đă
rất bàng hoàng khi biết người yêu của ông đă tự ư nghĩ ra “mưu kế” rất “cổ
điển” nọ. Con chín tháng với con bảy tháng dễ phân biệt lắm, nhưng cũng
tương đối thôi... Biết ra, chuyện đă muộn rồi. Bấy giờ, vị sư trẻ rất đau
ḷng, rất thương cả cô gái và chàng trai trẻ ấy. Nhưng chàng trai trước đó
vẫn hạnh phúc một cách ngây thơ, rồi sau đó đă khổ đau đến quằn quại khi
“vợ” ḿnh đă chết sau lần sinh “non” ấy. Thực ra, có non đâu... Chàng trai
lặng lẽ nuôi con...
Sư Tâm Tự thở dài, mỉm
cười gượng gạo, héo hắt. Gương mặt sư già sụp đi rất nhanh. Tay sư run run
rót nước vào chén. Hành sững sờ, biết đứa bé ngày xưa ấy là ai, và nghẹn
ngào nghĩ ngợi về lí do tại sao cô gái ấy đành ḷng lừa dối chàng trai nọ
để rồi tự tử. Lời phán quyết của lương tâm người mẹ trẻ ấy là đúng. Cô và
đứa bé, ai đáng sống và ai đáng chết? Nhưng sao mức án tàn nhẫn đến vậy?
C̣n cha của đứa bé, chắc hẳn phải đáng chết hơn, nếu chiếu theo mức án ấy?
Hành nghẹn ngào v́ những dấu hỏi bất ngờ neo vào ḷng anh.
Trong ánh nắng chiều hắt
sáng từ sân vào, gương mặt sư Tâm Tự đầy xúc động, biểu lộ một niềm giằng
xé nội tâm, và thoáng sáng lên một chút nhẹ nhơm - niềm nhẹ nhơm của người
đă trút được gánh nặng không thể quẳng bỏ được.
Sư nói tiếp: Vị sư trẻ
ấy, năm mươi năm sau vẫn c̣n day dứt giữa hai cực: trung thực và dối trá,
lí tưởng xuất gia hành đạo và hạnh phúc trần thế (được làm một người ông,
nhận lại con cháu ḿnh), t́nh yêu và sự nghiệp của cháu đích tôn (t́nh yêu
nào đó và sự nghiệp nào đó có thể loại trừ nhau)... Kể câu chuyện ấy có
thể làm hại đến ai chăng... Nhưng truyện cổ mà...
Đến lúc này, sư Tâm Tự
vẫn không nêu tên người trong câu chuyện, cũng chẳng xác định thời điểm,
không gian nào. Hành sốt ruột muốn sư nói sự thật cụ thể hơn. Sư chỉ phiếm
định, như kể một câu chuyện cổ tích trong kinh điển nhà chùa. Hành vẫn
đinh ninh anh đoán không sai. Tuy vậy anh vẫn ngỡ, trước giọng kể chậm răi,
thoáng chút run run của nhà sư, có thể sư đang dặn ḍ anh trước bước ngoặt
mới của đời anh bằng một ẩn ngôn. Anh muốn cháy thiêu cả tâm trí ḿnh
trước ẩn ngôn này với biết bao t́nh cảm đặc biệt lạ lùng sư đă dành cho
anh từ tấm bé đến nay. Chợt anh bừng nóng mặt, khi nghĩ đến một khía cạnh
khác của câu chuyện. Câu chuyện nào cũng đa nghĩa. Có những chi tiết,
khiến người nghe chạnh ḷng, vừa xúc động nhưng vừa bị xúc phạm. Hành nh́n
ra, t́m thấy Hiền Lương ở một góc vườn chùa, bên cạnh Bông Bưởi. Cô đang
vẽ trên sổ tay. Cảm giác bị xúc phạm dâng lên, lấn lướt những cảm tưởng
khác, làm anh nghẹn ngào. Không. Hiền Lương hồn hậu và chín chắn thế kia...
Sư Tâm Tự lặng lẽ quan
sát những diễn biến trên gương mặt Hành. Tác động nhiều chiều, của câu
chuyện phiếm chỉ, khiến anh chết sững. Chợt ánh mắt anh long lanh lên, như
muốn hét lên, rằng sư Tâm Tự muốn nói điều ǵ.
Vị sư già khẽ thở dài,
im lặng.
Nhà sư đáng kính thầm
nghĩ, xuất gia tu học, hành đạo đâu phải sung sướng. Đấy là con đường luôn
luôn gian khổ, luôn luôn giằng xé, vốn rất thật trong tâm tư con người, để
chiến thắng và để nêu gương. Là con người, ở tuổi nào đi nữa, kẻ tu hành
vẫn c̣n có dục vọng - đói sữa, đói t́nh dục, đói sự săn sóc, vui vầy trong
t́nh kính thương của con cháu - và có thể khắc phục được, diệt dục được,
v́ lí tưởng hành đạo. Tu hành, trước hết, để nêu gương. Câu chuyện kia
phải chăng là bài học nêu gương về sự phạm giới, quyết tâm giữ giới... Con
người, vẫn có những lúc mềm ḷng! Sư hối hận đă trót kể với Hành... Nhưng...
Sư biết ḿnh c̣n ích kỉ, tàn nhẫn!
Rất lâu, sư chỉ nói khẽ,
Hành hăy về đi, Hiền Lương đang chờ, cũng đă chiều rồi. Sư đứng dậy trước,
Hành như kẻ mộng du, lặng lẽ theo sau. Sư càng thấy bị lương tâm cắn rứt,
và ân hận v́ đă kể...
Sư nh́n theo ba người
trẻ tuổi đang khuất dần sau những lũy tre. Với cái nh́n vừa âu lo, vừa
tŕu mến, sư nghĩ về Hành với Hiền Lương.
Hành cúi đầu, trầm ngâm
trong tâm trạng thảng thốt. Hiền Lương sánh bước, lây cảm giác buồn đau
nhưng chẳng hiểu tại sao... Hơn tuần lễ nay, cô thấy tâm tư ḿnh có nhiều
chấn động, đến ngẩn ngơ, đôi khi. Cô đă gặp nhiều vấn đề nhưng chưa đào
sâu tận cùng. Trong vài ngày cuối ở quê hương, cô luội người đến đờ đẫn,
những cảm xúc nội tâm không c̣n sắc sảo, tinh tế và linh hoạt. Hiền Lương
thẫn thờ. Trên đường về, đâu đó dưới mái tranh nào, vọng ra tiếng ru em:
Rồi mùa toót rạ (ră),
rơm khô
Bậu (bạn) về quê bậu,
biết nơi mô mà t́m!
Hiền Lương bỗng nắm vào
cườm tay Bông Bưởi, bất giác dừng bước, và Hành cũng đứng lại, cùng lắng
nghe một khúc “Vè Thất thủ kinh đô”:
Đô thành quan Quận
giao ḥa
Điều hơn lẽ thiệt,
nói mà với Tây
Tây phiên gẫm vẫn
giận thay :
“Đem ḷng cự chiến
c̣n đến đây làm ǵ ?
May mà Nam Việt buổi
tặc [bại?] suy
Tây mà bại, Đạo phen
ni, cũng không c̣n!
Người mà phiêu lạc
núi non
Bao nhiêu nhà cửa
chẳng c̣n ǵ đâu !
Tây phiên thất thủ
thụ đầu
Hàng lai Nam Việt,
mảnh âu chẳng lành
Tây phiên trở lại Tây
thành
Ở đây tiếng xấu bia [bêu?]
danh đă rồi
Họ không cho đâm
nhánh mọc chồi
Trăm dao xẻ thịt thả
trôi sơn hà”.
Quan Quận khi ấy nói
qua
Nói cùng Đại Pháp,
chư nha phiên trào :
“...”.
Quan một cho đến quan
ba
Quan năm quan sáu vậy
mà cũng nghe!
Đ̣i triệu các quan
tỉnh trở về
Sự t́nh y ước, ra bề
đục trong
Tin thời dạ hăy c̣n
pḥng
Nam triều tể tướng
nó đem ḷng phục binh...
Hành cảm thấy mỏi mệt,
buồn nản đến ră rời, nhưng để chiều ḷng Hiền Lương, anh nhẫn nại đứng
nghe điệu ru em đều đều đang vọng ra ấy.
- Sử dân gian thời mất
nước đấy; - Hành nói -; chỉ có thể đăi lọc lượng thông tin nào đó thôi.
Trong sự thật lịch sử, Nguyễn Văn Tường không phải chỉ tầm thường như vậy,
mặc dù vè Thất thủ kinh đô vẫn ghi nhận rằng bọn Pháp rất sợ Nam triều tể
tướng Nguyễn Văn Tường phục binh nội ứng cho điện tiền tướng quân kháng
chiến Tôn Thất Thuyết. Thôi, ḿnh về đi! - Hành bước, vẫn nói tiếp cho
trọn ư -. Ngay sau khi Nguyễn Văn Tường bị lưu đày, ở tổng Bái Trời này đă
bùng lên một cuộc “sát tả” dữ dội. Vụ đó, c̣n do các cha cố xúi giục giáo
dân cướp phá dinh cơ phủ huyện. Sự tích của thánh địa La Vang càng đậm
thêm từ đấy! Sau đó, Pháp và cố đạo ra sức bôi nhọ...
Bước bên Hành và Bông
Bưởi, Hiền Lương thở dài:
- Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết có nhiều kẻ thù quá, từ thực dân Pháp, cố đạo gián điệp, giáo
dân vũ trang tay sai đến cánh đầu hàng (chủ “ḥa”), bọn bảo hoàng...
- Hiền Lương có lẽ đă
đọc bản cáo trạng của Đờ Cuốc-xi (De Courcy), Đờ Sam-bô (De Champeaux) về
Nguyễn Văn Tường rồi chứ? C̣n bản án của ngụy triều Đồng Khánh về Nguyễn
Văn Tường và nhóm chủ chiến nữa (I.103, II.19)! Puy-gi-ni-ê (Puginier),
giám mục thực dân, trong một bản báo cáo c̣n lưu ở hồ sơ tư liệu Hội
Truyền giáo Bắc ḱ, viết sau khi Nguyễn Văn Tường đă chết bốn năm (1890)
rằng, trong hai tháng sau ngày kinh đô Huế thất thủ, do mệnh lệnh của ông
ấy mà ba chục ngàn giáo dân cướp chính quyền bị giết bởi các quan lại, sĩ
phu và bởi chính nhân dân. H. Lơ Mác-săng đờ T-ri-gông (Henry Le Marchant
de Trigon), trong một bài viết, gọi Nguyễn Văn Tường là “kẻ thù không
đội trời chung”, ngay cả khi ông ấy đă bị lưu đày và chết ở Ta-i-ti
(Tahiti). Ở đảo tù ấy, Nguyễn Văn Tường vẫn kiên định quyết tâm không chịu
bị “bảo hộ”. Puy-gi-ni-ê kết án Nguyễn Văn Tường là “kẻ thù lớn nhất
của nước Pháp”. - Hành không ngờ anh nói nhiều đến thế.
- Anh Hành nhớ nhiều
thật! - Hiền Lương nói -. Thiên Chúa giáo, thật đáng buồn! Nhưng thực dân,
cố đạo, Diệm, Cẩn đă giết và bức hại dân lương, sĩ phu, Phật tử, sinh viên...
hẳn đến con số triệu. Chỉ tính từ Tạ Văn Phụng, Trần Lục, Lê Hữu Từ đến
anh em Ngô Đ́nh Diệm và Thiệu, con số ấy đă quá kinh hoàng!
- Người Việt giết người
Việt! Ngu ngốc và bi thảm thế đó. “Tả đạo” quả là một cái ǵ thật kinh
khủng!
- Thuốc phiện và thuốc
kích động! - Hiền Lương buột miệng.
Cả ba người im lặng bước.
Trên đường về, họ không nói ǵ nữa. Tâm trạng bàng hoàng đến thảng thốt,
khi ngồi trước mặt sư Tâm Tự, nghe sư kể chuyện đă được lấn át đi bởi điệu
ru em bằng Vè Thất thủ kinh đô, bằng những câu đối thoại với Hiền Lương,
đến giây phút này lại trỗi dậy trong anh. Hành nghẹn ngào.
Hiền Lương nh́n ra ḍng
sông Bến Hải, bỗng khẽ rùng ḿnh. Nắng chiều đỏ ối trên mặt nước. Cô liên
tưởng đến ḍng sông ngầu máu thuở nào, bất giác, Hiền Lương đập khẽ ba lần
vào ngực và thốt lên trong đầu ba lần một câu ăn năn tội: “Lỗi tại tôi
mọi đàng!”. Rồi Hiền Lương tự hỏi, cô mới hai mươi hai tuổi, Đất nước
đă thống nhất trước khi Hiền Lương được sinh ra đời, cô có tội ǵ với ḍng
sông Bến Hải này! Hiền Lương cố gh́m lại tiếng thở dài, nhưng không thể
không rưng rưng nước mắt.
Đến ngơ nhà của chú thím
Cận, sau khi chia tay, Hành cố gắng nén lại bao xáo động trong ḷng ḿnh,
gượng gạo nói thêm:
- Bạn anh, Trần Nguyễn
Phan, cũng đang biên khảo, nghiên cứu về Thi tập, về tiểu sử của Nguyễn
Văn Tường đấy, tất nhiên không thể không liên quan đến vấn đề “b́nh Tây
sát tả”. Và c̣n các văn tập nữa (I.120)...
Hành bước về nhà với một
tâm trạng chán chường, ngơ ngác. Anh định hôm nào phải gạn hỏi sư Tâm Tự
về câu chuyện sư vừa kể cho ra lẽ.
3
Khuya, ở sân ga Đông Hà...
Hiền Lương, cô Bân lại
vào Sài G̣n, B́nh Dương.
Khi vào sân ga, chỉ có
sư Tâm Tự, chú Cận, bác Su, ông giáo Hiền theo tiễn. Hành đang học tập ở
cơ quan Tỉnh ủy, chuẩn bị vào Trường Đảng, cũng tranh thủ ra ga để tiễn
Hiền Lương và cô Bân, như đă hẹn với Hiền Lương hồi chiều ở cổng phụ chùa
làng.
Hành và Hiền Lương chỉ
biết nh́n nhau. Hành có vẻ bối rối, gương mặt cố che giấu niềm băn khoăn.
Hiền Lương trực cảm anh đang phân vân trước bước ngoặt đời ḿnh, ḷng anh
đang ngổn ngang. Anh vẫn là anh, nhưng không c̣n là anh như cách đây mấy
giờ nữa. Có thể anh đă khác, số phận anh đă khác. Nhưng Hiền Lương cũng
chẳng hiểu thế nào, chỉ là những trực giác, linh tính mơ hồ. V́ tương lai
của Hành, cô muốn nói với anh lời vĩnh biệt.
Khuya, ở ga tỉnh nhỏ,
hành khách thưa vắng.
Một không khí hiu hắt
buồn trong ánh đèn chỉ đủ sáng mặt sau của nhà ga...
Trời cao, xanh những v́
sao.
Bảy người ngồi dưới gốc
cây phượng nhỏ, có lẽ đang trổ hoa mùa đầu.
Sư Tâm Tự khuya nay trầm
ngâm quá thể, nỗi trầm ngâm đă được đọc thấy mấy hôm gần đây.
Mọi người im lặng chờ
tàu.
Lúc này, trong ánh đèn
khuya hắt sáng, nom sư hơi khẽ run run đôi môi. Sư cảm thấy ḿnh không c̣n
giữ được vẻ điềm đạm thường ngày. Tinh thần sư bị chấn động, xuống dốc đột
ngột quá. Sức khỏe yếu rồi, chẳng kham nổi rồi! Sư chỉ c̣n là một con
người có trái tim rất mềm yếu và dại dột như trẻ con. Sư tự bảo ḿnh trấn
tĩnh, hăy c̣n những dự án lớn lao một đời suy nghiệm để thành ước nguyện,
cho Đạo Phật, cho ngôi chùa làng suốt một đời sư gắn bó, và ước nguyện sắp
thành hiện thực, chắc chắn phải thành hiện thực.
C̣i hụ vang. Tàu đă đến,
chỉ dừng lại năm phút để đón khách. Hiền Lương, cô Bân phải vội vă lên tàu.
Năm người đứng bên khung cửa sổ. Phía trong cửa ấy là Hiền Lương bên cô
Bân. Hiền Lương gác va li và bó gỗ giá tranh, nhưng tự bảo lát nữa hẵng
cột dây lại. Đang khi mọi người trao cho nhau lời chào, lời nhắn gởi cuối
cùng, Hiền Lương bắt gặp ánh nh́n của Hành. Ánh mắt anh băn khoăn, vừa
tŕu mến vừa bối rối.
- Nhớ gửi thư nghe Hiền
Lương! - Giọng Hành nghèn nghẹn.
Hiền Lương chỉ kịp gật
đầu. Cô cắn chặt môi cho khỏi bật khóc, tiếng khóc vĩnh biệt.
C̣i lại hụ vang. Tàu
chuyển bánh. Sư Tâm Tự sực tỉnh. Như một kẻ muốn chạy trốn thực tại, chạy
trốn khỏi ám ảnh tội lỗi, nhà sư định chạy trốn khỏi ông giáo Hiền, người
bạn chí thiết nhất đời của sư, nhưng dẫu sao, với sự im lặng của sư hồi o
Thắm mới về nhà chồng, sư cũng đă phạm một tội ác quá tày trời với ông
giáo Hiền đáng kính ấy. Rất vô thức, tay sư níu vào toa tàu. Chới với, sẩy
tay, nhà sư già ngă ở giữa chỗ nối hai khoang tàu, chỗ nối hai nửa của một
đoàn tàu Bắc - Nam, gần cửa lên xuống. Trong một vài giây, sư Tâm Tự có ảo
giác chỗ nối ấy chính là chiếc cầu Hiền Lương, chiếc cầu ấy sẽ bị đánh
tráo, không phải chiếc cầu như ông giáo Hiền và sư mơ ước. H́nh như sư có
thét lên với Hành: “Không thể được!” nhưng không ai kịp nghe rơ. Bánh tàu
nặng nề lăn qua.
Mọi người ở sân ga quá
bất ngờ, chỉ kịp gào lên: “Đứng lại! Đứng lại! Tai nạn!”.
Chạy được mươi mét, tàu
thắng gấp.
Sư Tâm Tự đứt đầu, nát
xương vai. Mọi người vây quanh hiện trường. Công an nhà ga nhanh chóng lập
biên bản, các nhân viên không cho hành khách xuống tàu. Tàu vội vă lao đi
cho kịp giờ giấc ấn định. Những cái đầu ở các khung cửa sổ quay về hiện
trường. Cô Bân và Hiền Lương bàng hoàng, hỏi chuyện ǵ đă xảy ra. Khi biết,
vụt bỏ chỗ ngồi, hai người đập tay vào cửa lên xuống đă đóng chặt. Hiền
Lương không thể ḱm được tiếng khóc. Lúc tàu lại chuyển bánh, chỉ một phó
tàu, một nhân viên, một công an trên tàu ở lại phối hợp giải quyết tai nạn
với ban quản lí và công an nhà ga. Cô Bân và Hiền Lương xin xuống tàu, ở
lại, nhưng tàu không thể ngừng lại. Hai mẹ con đành ngồi ôm mặt khóc trong
tiếng tàu ồn ă, gió khuya đă lạnh. Họ bàn với nhau trong bàng hoàng, thảng
thốt, đớn đau, sẽ xuống ở ga Huế, đi xe hơi quay lại để dự đám tang nhà sư,
rồi hẵng vào Thủ Dầu Một.
Ông giáo Hiền và Hành,
bác Su và chú Cận chết sững trên sân ga, chưa biết phải lo liệu thế nào.
Dẫu sao, cũng sự đă rồi. Tiếng cô Bân c̣n vọng lại thảng thốt, đau đớn.
Chẳng ai hiểu những âm thanh thảng thốt, đau đớn đă trộn nḥa trong tiếng
bánh sắt, tiếng máy, trong gió khuya.
Và lúc đó, ông Hiệu Điên
hớt hải chạy đến. Ông ấy đă già, có thể lên cơn sùi bọt bất ngờ, nên không
ai dám báo cho ông biết để đi tiễn. Ông chạy bộ, đi nhờ xe khách hay xe
gắn máy ai đó nữa, vào đến sân ga Đông Hà để tiễn mẹ con cô Bân.
Đến gần ông giáo Hiền,
thấy xác sư Tâm Tự, ông đau đớn ôm chầm, bất giác xổ một tràng tiếng Tây,
bật khóc nức nở.
Mọi người khóc trước cái
chết vô lí của nhà sư. Riêng Hành, anh trào nước mắt, cảm thấy đặc quánh
bóng đêm, và tiếng gió từ bờ sông Bến Hải thổi vào, hét từng hồi trong đầu
ḿnh tê điếng. Hành chợt hiểu, nhà sư Tâm Tự măi măi không bao giờ chết, ư
nguyện của sư về ngôi chùa sẽ thành hiện thực.
Trên tàu lửa, cô Bân rơi
vào bàng hoàng đến ngất xỉu khi bỗng gặp một người đàn ông, chỉ kịp nghe
ông ấy vui vẻ, thân mật nói, ông ra Vĩnh Linh và Cộn để t́m lại gia phả
sau bảy đời lưu lạc - niềm vui vẻ, thân mật như muốn che lấp sự bối rối
lẫn xấu hổ. Hiền Lương như kẻ mất hồn, xức dầu và đánh gió cho mẹ. Cô
không biết người đàn ông tên Đạc, vốn là người sinh viên tranh đấu thời
chống Mỹ, nay đă trở thành Việt kiều ấy là ai.
Cuộc sống xảy ra những
ngẫu nhiên ngỡ chỉ có trong tiểu thuyết.
TRẦN XUÂN AN
Viết xong lúc 16 giờ
24,
ngày mười hai tháng bảy,
chín bảy
(mùng tám tháng sáu,
năm Đinh sửu),
tại thành phố Hồ Chí
Minh.
Bổ sung, sửa chữa xong,
lúc 15 giờ 40, ngày hai mươi hai tháng mười một, chín bảy (hai mươi ba,
tháng mười,
năm Đinh sửu),
tại thành phố Hồ Chí
Minh.
Tự biên tập lại, xong
lúc 15 giờ 17,
ngày mười bảy tháng
mười một,
hai ngàn không trăm lẻ
một
(mùng ba tháng mười,
năm Tân tị),
tại thành phố Hồ Chí
Minh.
Lời
kết
Cho đến bây
giờ, sau sáu năm, một quăng thời gian không ngắn ngủi chút nào, kể từ ngày
viết xong tiểu thuyết này, tác giả vẫn chưa t́m ra được một kết truyện. Có
nhiều người bạn văn bảo rằng, theo lô gích nội tại của câu chuyện và theo
lô gích của hiện thực cuộc sống, Hiền Lương sẽ cùng một chàng trai trẻ
tuổi nào đó thành vợ chồng. Hai vợ chồng này chắc hẳn sẽ cùng nhau dạy học
ở một trung tâm ngoại ngữ hoặc một trường phổ thông trung học nào đó. Cũng
có nhiều bạn văn bảo, Hiền Lương sẽ cùng nhà văn Quyển kết hôn, sau đó, cả
hai sẽ kiếm sống bằng ng̣i bút, cây cọ.
Thành thật
thưa rằng, tác giả rất phân vân. Nhưng biết làm thế nào được! Bởi chưa
h́nh dung ra thầy giáo trẻ nào cùng Hiền Lương nên vợ nên chồng, tác giả
xin chúc nhân vật Hiền Lương hạnh phúc, luôn luôn sáng tạo, măi măi dễ
thương và sâu sắc bên cạnh nhân vật nhà văn Quyển.
Thật là một
lời chúc quá chừng lười biếng! Tại sao tác giả không vẽ vời thêm vài trang
về một thầy giáo trẻ? Không, không phải lười biếng.
Đúng ra, kết
truyện không cần có làm ǵ, bởi tự thân câu chuyện đă ẩn chứa một cái kết
về nhân vật Hiền Lương. Nếu có chăng cho rơ ràng, th́ cũng như các bạn văn
kia góp ư.
C̣n nhân vật
Hành thân mến của chúng ta và Quảng Trị? Tôi tin rằng mọi người đọc đều
muốn h́nh dung ra một tương lai tươi sáng, tốt đẹp của Hành, ở một cương
vị lănh đạo nào đó. Và quê nhà Quảng Trị cũng tươi sáng, tốt đẹp như thế.
Kết truyện về Hành, về Quảng Trị cũng được góp ư như vậy.
Các bạn văn
của tác giả cũng chỉ góp ư về cái kết truyện mà thôi!
Do đó, lần
sửa chữa, bổ sung này là lần thứ ba, cũng là lần cuối. Cuốn tiểu thuyết
Mùa hè bên sông đă thật sự không thể thay đổi một t́nh tiết nào được nữa.
Nếu cần thiết phải cắt bỏ một đoạn, theo tôi, đó là đoạn lời kết này. Hoặc
tốt nhất là, nếu có thể, tôi sẽ nhờ một người rành về ngôn ngữ tín hiệu
điện báo, tốc kí hay một loại cổ ngữ nào đó ít người đọc được vui ḷng
dịch đoạn lời kết này và in vào sách. Nhưng thôi, cứ minh bạch, minh bạch
c̣n tốt hơn cả tốt nhất.
Trân trọng,
cảm ơn.
TRẦN XUÂN
AN
Mười sáu
giờ đúng, ngày mùng mười, tháng mười hai,
năm hai
không không ba [năm thứ ba công nguyên Hoà B́nh]
(mười bảy,
tháng mười một, năm Quư mùi HB. 3),
tại thành
phố Hồ Chí Minh.
CƯỚC CHÚ chương XV:
(37) Cụ Nguyễn Sinh Sắc
(1862 - 1929) không tham gia phong trào yêu nước, chống Pháp nào (Cần
vương, Đông Du, Duy Tân, Chống thuế ở Trung Ḱ, Đông Kinh nghĩa thục...).
Sáu năm làm quan cũng như mười chín năm làm đông y, ngoài các mối giao
tiếp b́nh thường, cụ có giao du với những người thao thức về vận nước
trước cuộc xâm lược của giặc Pháp. Cuối đời, cụ chỉ góp phần chấn hưng
Phật giáo và lồng vào đó tinh thần yêu nước (mặc dù phong trào chấn hưng
Phật giáo này nằm trong quỹ đạo mị dân của thực dân Pháp).
Xem: Nguyễn Đắc Hiền (chủ
biên), Nguyễn Hữu Hiếu, Ngô Bé (biên soạn), Cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc,
Khu Di tích Nguyễn Sinh Sắc và Sở Văn hoá - Thông tin Đồng Tháp xuất bản,
1990.
(38) Có chú thích chi
tiết hơn ở bản sách khác: "Hồi ở Pác-bó, Hồ chủ tịch đă dịch cuốn lịch sử
Đảng Cộng sản (b) Liên Xô ra tiếng Việt, làm tài liệu học tập cho cán bộ
cách mạng" (Thơ Bác Hồ, Nxb. Văn học Giải phóng, 1975, tr. 59).
(39) Hai chữ "liên lập"
theo nguyên nghĩa là: cùng đứng bên nhau, liên minh với nhau. Nhưng trong
văn cảnh này, phải hiểu rằng có sự lệ thuộc về ư thức hệ, đường lối chính
trị... Đó là một nỗi đau lịch sử! Xin xem bài bạt cuối tiểu thuyết: "Ư
nghĩ khi đọc lại tiểu thuyết của ḿnh, Mùa hè bên sông: Danh dự Tổ quốc và
thói tệ sùng bái cá nhân người nước ngoài...". Nhân đây, xin nhấn mạnh
rằng: Bấy giờ, trong thế kỉ hai mươi (XX), không có liên minh các đảng
cộng sản, đứng đầu là Liên Xô, thứ đến là Trung Quốc, chi viện vũ khí, th́
nước ta không thể chiến đấu và chiến thắng nổi liên quân các nước thực dân,
đế quốc chủ nghĩa Âu Mỹ và phát xít Nhật. Ở thế kỉ mười chín (XIX) trước
đó, các triều Tự Đức - Hàm Nghi đă thất bại trong việc giữ nước, v́ không
thể liên minh được với các nước bị liên quân Âu Mỹ xâm lược, bởi các nước
ấy đều ở trong điều kiện hạn chế về công nghệ vũ khí, giao thông của thuở
bấy giờ. Nói cho đầy đủ và chính xác hơn, vào các năm 1881 - 1884, nước ta
có liên minh với nhà Thanh. Tuy nhiên, trong khi liên quân Âu Mỹ phối hợp
xâm lược với ư đồ cùng nhau chia chác thị trường, thuộc địa, th́ liên minh
Đại Nam - Thanh Quốc (Trung Hoa) lại tan vỡ v́ sự li gián của Pháp và do
chính tham vọng của nhà Thanh, mưu toan cùng với Pháp xâu xé Bắc Ḱ! Trước
t́nh thế đó, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đành thực hiện kế sách "toạ
sơn quan song hổ đấu", tác động vào cuộc chiến Pháp - Hoa.
Một khi trên thế giới
xuất hiện liên minh, phải có "liên minh cái thiện" để đối phó với "liên
minh cái ác"! Liên minh giữa các nước trong một khối, một hệ là một vấn đề
cực ḱ hệ trọng, nhất là trong giai đoạn cận - hiện đại.
Vấn đề là tính chất liên
minh như thế nào!
Phải dân chủ, b́nh đẳng
về dân tộc; phải độc lập tuyệt đối về chủ quyền đất nước!
Nhưng lịch sử loài người
mấy khi được hoà b́nh trong độc lập, tự do, b́nh đẳng như khát vọng tự
ngh́n xưa và măi c̣n cho đến ngh́n sau! Không phải là với cái nh́n bi quan,
mà rất điềm tĩnh, khi thấy rơ ở đầu thế kỉ hai mươi mốt (XXI) này, hiện
liên quân đế quốc Mỹ - Anh đă và đang trắng trợn xâm lược Áp-ga-nít-tan
(Afghanistan) và I-rắc (Iraq), nhưng liên minh Hồi giáo và cả thế giới
cũng đều bó tay bất lực, chỉ biểu t́nh bày tỏ thái độ để trấn an lương tâm
bị cắn rứt, và chỉ thế thôi! Thật cực ḱ vô lí! Nh́n ở phía này: chủ nghĩa
đế quốc tham lam, đồi bại. Nh́n phía kia: không phải đă hoàn toàn tự do,
dân chủ, b́nh đẳng trong nhân dân Trung Cận Đông. Tuy nhiên, loài người
không c̣n giải pháp nào trước thực trạng chủ nghĩa đế quốc với tham vọng
khống chế, xâm lược và trước sự trả thù chủ nghĩa đế quốc bằng chủ nghĩa
khủng bố sao? Phải chăng khủng bố (đánh bom cảm tử kiểu Phạm Hồng Thái) là
một cách tự vệ bi tráng của các nước Hồi giáo yếu thế, so với liên quân đế
quốc Anh - Mỹ? Tố Hữu từng viết về Phạm Hồng Thái:
Sống, làm quả bom nổ
Chết, như ḍng nước
xanh!
Dẫu sao, cũng phải nêu
ra:
Vấn đề là tính chất liên
minh như thế nào!
Phải dân chủ, b́nh đẳng
về dân tộc; phải độc lập tuyệt đối về chủ quyền đất nước!
TXA.
(
xem tiếp : chú thích I )