TRẦN
XUÂN AN
m ù
a
h è
b
ê n
s
ô n g
(nỗi đau hậu chiến)
tiểu thuyết
nnhà
xuất bản
1997 & 2003
CHƯƠNG IV
1
Tối hôm qua, rằm tháng
năm, vầng trăng làng thôn tinh khiết, ngời sáng. Bóng khóm chuối, bóng cây
mít đang trĩu trái và bóng tre, bóng hóp lay động trong gió nồm mát rười
rượi. Hiền Lương ngồi trước hiên nhà, t́m một góc khuất ánh đèn, để trăng
thật là trăng, tỏa ánh sáng êm dịu quanh ḿnh. Khi cô đang nh́n những đốm
lửa nhỏ của nén nhang chú Cận vừa cắm trước bàn thờ lộ thiên sau b́nh
phong chè kiểng, những đốm lửa kết tỏa như một đóa bông trang sáng đỏ
trong bóng đêm, đẹp rực rỡ và huyền thoại, lúc ấy, Hành đă đến.
Hiền Lương bảo với Hành,
chưa thể vẽ được bức chân dung sư Tâm Tự, nhưng không thể không vẽ một con
người thăm thẳm, ngời sáng đến thế. Điều đó làm cô không nguôi trăn trở.
Như đă hẹn với nhau,
sáng sớm nay Hiền Lương lại đến thăm ông giáo Hiền và Hành. Trong gió sớm,
nắng sớm, gương mặt Hiền Lương thoáng nét bơ phờ.
Vẫn mặc gọn gàng kín đáo,
áo màu tím hoa mua may bằng vải sợi to có hai túi ngực và cầu vai, chiếc
quần ḅ vừa, không chật chội, màu xanh sẫm, mang đôi giày thể thao trắng,
Hiền Lương đẹp giản dị, đẹp ngẩn ngơ mắt Hành. Cô ấy mặc đồ cũ cũng đẹp!
Hành hơi run tay khi rót
nước ra chén.
Ông giáo Hiền mỉm cười
trông ra nắng. Hiền Lương nh́n thấy phía vách nhà sau lưng ông một tấm
lịch, bảng lịch năm ngoái, một chín chín lăm, lốc lịch năm nay, mùng một
tháng bảy theo lịch mặt trời.
Gió sớm và nắng sớm.
Tưởng chừng gió và nắng
đang khẽ lật từng trang sách được ông giáo Hiền tạo h́nh bằng chè kiểng lá
nhỏ.
Tưởng chừng cả ba ông
cháu đang mở to mắt đọc từng trang sách Vô ngôn Vô tự ấy. Họ đọc vào Đất
trời. Họ đọc một con người sống.
2
Cuối xóm Chùa - gọi thế,
v́ chùa làng ở xóm ấy - , có một túp lều tranh như bao nhiêu túp lều tranh
khác. Người đàn bà khó đoán được tuổi v́ có lẽ già trước tuổi, tóc tai
thưa và bơ phờ, đang ngồi trước thềm đất trên một đ̣n gỗ nhỏ. Bà đang vá
lại một manh áo đă quá nhiều mụn vá, đă sờn bục, màu nâu nhuộm đă bạc
thếch.
Bên chái nhà, nơi đặt
chiếc cày và ách trâu, hai đứa bé trai cỡ chừng năm tuổi, bảy tuổi, trần
truồng, nhem nhuốc, đang ngồi vọc đất. Đứa bé gái lớn hơn, khoảng mười
tuổi, quấn chiếc váy vá chằng vá đụp và ở trần, ngồi xem. Cả ba đều gầy g̣,
bụng ỏng, đít teo. Thằng anh đang nặn con trâu. Thằng em ngắm nghía, thích
chí cười. Thằng anh khoái lắm, cười toe. Con chị cũng há miệng cười theo.
Thằng anh bỗng tắt nụ cười:
- Hay nhồi đất lại, nặn
củ khoai đi. Làm răng có trâu được. Trâu đắt lắm. Chỉ ông lí mới có cả bầy
trâu thôi.
- Đúng rồi. Khoai ngon
lắm. - Con chị nói.
Thằng em cười:
- Th́ chỉ cần ngắt bốn
chân, cái đuôi, cái đầu là thành củ khoai. Cần chi nhồi lại mệt rứa.
- Mi giỏi thiệt. Nhưng
rứa mang tội chết. - Thằng anh mắng.
Thằng em thường nghe cha
với mẹ nói vậy: mang tội. Cả ba chị em cũng quen nói: mang tội. Nhưng đứa
nào cũng từng ngắt cánh châu chấu, đom đóm để chơi, lại c̣n ngắt đuôi
chuồn chuồn, đút vào cọng đọt tre, đọt hóp, thả bay, như máy bay Tây, mặc
dù chẳng rơ máy bay có từ năm nào, rồi giả làm nghĩa binh Văn Thân Nghệ
Tĩnh “b́nh Tây sát tả”, du kích quân, nghĩa quân Cần vương chi đó bắn súng
hỏa mai, có khi xưng là thợ thuyền Xô viết Nghệ Tĩnh nữa. Thằng em định
căi lại, nhưng chẳng biết căi sao. Nó cũng thấy tội cho con trâu đất thật,
rồi lại tự bảo, đó là cục đất sét, chứ đâu phải con trâu hay củ khoai!
Lúc đó, người đàn ông từ
ngoài ngơ bước vào. Ông đi đôi guốc mộc, da trâu, ngón chân út ḷi ra
ngoài v́ quen đi đất, lội bùn, các ngón trùi móng hết và tơe ra, xỏ vào cả
năm ngón không được. Chắc ba của bọn nhỏ mới đi họp đi hành chi về, nét
mặt nom c̣n nghiêm trọng lắm.
- Mạ mi nghe tui nói đây.
Nói trước là mạ mi đừng có rối rít, rối bời ra. Cứ b́nh tĩnh mà bàn với
chắc (nhau). - Người đàn ông nói riêng với vợ.
- Cấy (cái) chi mà dữ
rứa, quan trọng rứa? Th́ ba mi cứ nói. Ở nhà có một chắc (ḿnh) tui với
bầy con chứ ai! - Người đàn bà ngẩng lên nói -. Cấy tính ba mi chi lạ!
Người đàn ông cười gượng,
cố cười cho bớt căng thẳng, nhưng xem ra c̣n xúc động lắm.
- Ń (này), mạ mi, nghe
đây. Khuôn hội làng ḿnh mới họp côi (trên) chùa. Ban trị sự nói ri (vầy).
Quanh quanh đây, chưa làng mô có sư, cứ mỗi khi cầu an, cầu siêu hay các
ngày vía lớn, phải đón thầy ở chùa làng khác quá xa. Chùa mền (ḿnh) mới
có săi để giữ chùa. Rứa th́ phải lo cho các cháu xuất gia để tu học rồi
hành đạo. Trẻ được hoọc (học), được tu, nhà lại bớt mẹng (miệng) ăn nữa.
Cái chính là giữ được Phật pháp.
Người đàn bà lắng nghe,
nét mặt từ lo lắng, căng thẳng dần dần giăn ra, và cười rất tươi.
- Cấy ôông (ông) ni
thiệt! Có chi mà ông làm tui hoảng! Th́ ra rứa. Quá phúc đức. Mô Phật,
phúc đức Ngài ban lớn quá.
- Thôi, thôi, đừng la
rầm lên nữa. Tui biết tính mạ mi, nói trước rồi.
- Khôông (không). Tui
mờng (mừng) quá. Phúc thiệt. Aắ, đứa nậy (lớn) hay đứa dỏ (nhỏ)?
- Đứa dỏ (nhỏ), khuôn
hội chấm khi mô rồi!
- Tội! Thương quái (quá)!
Cấy thằng nớ sáng lắm!
Người đàn bà bâng khuâng,
nửa muốn quay ra sau chái đầu hồi t́m con, nửa muốn nói chi đó, nhưng
nghèn nghẹn. Vui th́ vui, nhưng bây giờ, bà bỗng thương con quá.
Thế là số phận của cu
Sẹo đă được định đoạt, lúc nó đang nặn đất.
Năm ấy, một ngàn chín
trăm ba mươi, cu Sẹo mới năm tuổi.
Mới năm tuổi, c̣n nhỏ
quá, thương quá. Người đàn bà già trước tuổi ấy bước ra sau chái t́m con.
Thằng anh vẫn mải mê nặn đất sét thành trâu. Nó nói:
- Tao thích có trâu. Có
trâu mền (ḿnh), cày roọng (ruộng) mền (ḿnh), sướng.
Cu Sẹo đang nặn củ khoai,
có cả dây khoai, lá khoai nữa. Nó rứt lá bông cẩn nhai nát, nhớt nhờn, tô
màu xanh lên dây và lá. C̣n củ, đất sét hơi ngả sang màu sẫm, chả biết lấy
ǵ tô.
- Răng củ khoai màu chi
đen đen vàng vàng rứa? - Con chị hỏi.
- Khoai hơi bị hà ăn! -
Cu Sẹo trả lời.
Lấy que chấm chấm vào
cục đất, cười thích chí, rung cả “chim” (v́ ở truồng, không có quần áo mặc),
cu Sẹo nhảy tưng lên.
Chợt thấy mẹ, thằng anh
nói:
- Mạ ơi, thằng Sẹo mang
tội. Hắn đ̣i ngắt chân, ngắt đầu trâu, thành củ khoai. Thằng ni ngu và ác.
- Cục đất chớ trâu với
khoai chi! Ưng th́ nặn lại mười trâu cũng được! - Cu Sẹo căi.
Bà mẹ ôm cu Sẹo, không
biết đă là út chưa, nhưng thương quá. Không rơ rệt thành ư tưởng, bà mẹ
cảm thấy cu Sẹo quá thực tế...
- Nói em ngu với ác! Nói
chi rứa tội em! - Bà mẹ bồng con ra lu nước rửa ráy cho nó, vừa đi vừa nói,
vừa nói với thằng anh vừa nựng cu Sẹo...
Bà mẹ lại nghĩ, sao Sẹo
sáng suốt và giàu tưởng tượng thế.
Bà mẹ già trước tuổi mỉm
cười khi h́nh dung cu Sẹo sẽ trở thành nhà sư, đầu cạo nhẵn, mặc nâu sồng,
thuyết pháp ở chùa làng.
3
Thường th́ những đứa trẻ
xuất gia, ở Quảng Trị, chỉ tu học ở các chùa thị trấn, thị xă, nhưng cu
Sẹo và một vài chú tiểu ở các chùa ấy, dạo này, được gửi luôn vào Huế.
Ban đầu, Sẹo gọt tóc,
chừa lại ba cḥm, mặc áo nâu, quần nâu. Dẫu ăn chay dưa với muối, nhưng
được cái là khá no, cu Sẹo vẫn nhớ nhà. Dần dần, đến tuổi gọt nhẵn hai
cḥm kia, c̣n lại ở thóp mỏ ác đầu một cḥm dài đến tận cằm, Sẹo thường
phải vuốt về một bên. Sau bảy, tám năm thử thách, các sư tin cu Sẹo - bây
giờ là tiểu Tâm Tự - đă có thể tu hành được.
Một hôm, một nhà sư lớn
tuổi gọi Tâm Tự đến. Sư bảo:
- Tâm Tự! Con nghe đây.
Năm nay con mười ba tuổi, vào chùa được gần tám năm. Tuy vậy, có thể con
không tu tŕ được.
- Răng rứa, bạch thầy? -
Bàng hoàng, Tâm Tự thốt -. Bạch thầy, tội con, v́ răng rứa, thầy cho con
biết.
Nhà sư ôn tồn, nh́n vào
mắt Tâm Tự:
- Có thể con không thể
tu tŕ được. Tu hành, cực lắm, khổ lắm. Giữ trọn đường tu, đạt đến tinh
tấn, khó lắm, dài lắm. Con có thể hoàn tục.
Lần này, Tâm Tự khóc,
mếu máo, ràn rụa nước mắt:
- Bạch thầy, con chẳng
hiểu, nỏ (không) hiểu v́ răng ra rứa? Xin thỉnh ư răn dạy của thầy, v́
răng rứa?
Nhà sư vẫn điềm đạm:
- Không v́ sao cả. Con
tu học tám năm nay rất sáng, rất tốt. Tuy nhiên, nếu muốn, con cứ hoàn tục.
Đó là lần được thầy thử
thách, cho tùy suy nghĩ và chọn lựa của tiểu Tâm Tự. Tâm Tự vẫn một chí tu
hành.
Ba năm sau, nhà sư lại
hỏi một lần nữa:
- Năm nay Tâm Tự mười
sáu, sắp mười bảy tuổi. Con thấy con đường tu hành có cơ cực, gian khổ lắm
không?
- Bạch thầy, có ạ. Nhưng
con xin quyết chí tu tŕ.
Sư thầy mỉm cười:
- Càng đến tuổi thanh
niên, tu học càng khó, phải nỗ lực nhiều. Tất cả là tùy con, nghe Tâm Tự.
Tâm Tự cũng tự biết vậy.
Năm nay, Tâm Tự lớn bổng lên. Mặc dù dưa muối, Tâm Tự vẫn là một chàng
trai to cao. Tâm Tự c̣n được rèn luyện vơ thuật. Nhưng Tâm Tự vẫn thấy đôi
khi buồn những thoáng buồn vô cớ, và tâm hồn cứ bâng khuâng điều ǵ không
rơ.
Nhiều đêm, sau khi xong
tuần kinh tối, nằm một ḿnh, bỗng trái tim Tâm Tự quá đỗi bâng quơ. H́nh
ảnh những đạo hữu trẻ bằng tuổi Tâm Tự, mặc áo dài tím Huế hoặc áo dài lam
khói hương, cứ mỉm cười, cứ hát t́nh ca, cứ lườm yêu, duyên dáng trong mơ
màng. Đôi khi, làm thế nào được, có những h́nh ảnh rất phàm tục, từ những
dáng dung rơ ràng và mơ hồ không rơ nét, cứ ẩn hiện trong giấc mơ tuổi
thanh niên bắt đầu của Tâm Tự. Cố xua đuổi, nằm co lại, đấm tay vào đầu,
vào ngực, Tâm Tự xấu hổ, nhục nhă với lương tâm ḿnh quá, và không ngớt
thầm niệm Phật. Tâm Tự nhiều đêm, trong giấc mơ mộng tinh b́nh thường,
bừng tỉnh giấc, nhục nhă với ḿnh đến trào nước mắt. Con người, con người,
biết làm thế nào được! Phải kiên tâm xua đuổi dục vọng đă hóa thành ma
vương, mà nào phải ma vương, lại là những dáng dung áo tím Huế, áo dài lam
khói hương! Trước khi Đức Phật Thích Ca thành đạo, Ngài chẳng bị ma vương
ngời ngợi đường cong người nữ cám dỗ đấy ư! Và Ngài đă chiến thắng. Giáo
lí Nhà Phật chẳng bàn đến đó sao! Biết là vậy, nhưng vẫn có những phút
giây ban trưa, cảnh chùa im ắng, Tâm Tự buông xuôi theo mơ màng trong trí
tưởng. Chẳng phải đêm, trong giấc ngủ, mà là ngày, khi đang thức! Tâm Tự
buồn lo nhất, nhục nhă nhất, những phút giây ấy, khi đă trôi qua. C̣n đang
đắm ch́m trong giây phút ấy, Tâm Tự đê mê, khoái lạc! Con người, con người,
biết làm sao được! Và nhớ những lời bảo ban của các sư anh, sư thầy, Tâm
Tự dồn hết sinh lực tuổi trẻ ḿnh cho việc đọc sách, nghe kinh, tụng niệm,
cuốc đất, trồng khoai, tưới rau, làm nhang và tập luyện vơ thuật, quyết
không để th́ giờ thừa, sinh lực thừa! Tâm Tự đă dần dần chiến thắng được
dục vọng bản năng tự nhiên của con người trong chính bản thân ḿnh. Tâm Tự
chiến đấu và có phương cách chiến đấu với kinh nghiệm được trao truyền, tự
trau giồi để vượt thắng. Cuộc tự chiến đấu ấy không ngừng. Đó là cả một
quá tŕnh đau khổ, dằn vặt giữa Đạo và Đời! Tâm Tự tin vượt thắng được một,
sẽ có đà vượt thắng được mười. “Con có thể hoàn tục”. - Lời sư thầy văng
vẳng, dậy nên từng cơn trăn trở. “Phải nỗ lực không ngừng”. - Lời sư thầy
luôn thầm th́, có khi trở nên đanh thép, vang trong đêm của Tâm Tự.
Chiến đấu nào cũng khổ
đau, nhưng chiến thắng đem đến niềm hạnh phúc. Với Tâm Tự, hạnh phúc là
thanh tịnh, tŕ giới, cùng ư chí, nghị lực để đạt đạo và hành đạo, v́ Đời.
Con đường tu hành là con
đường gian khổ, rèn luyện để nêu gương.
Dần dần, Tâm Tự tập được
nụ cười của Đức Phật - thấu suốt lẽ Đời, trong đó có cả khoảng sâu kín của
ḷng người với dục vọng xác thịt bản năng, nhất là thời ḱ dậy th́. Và sau
này, tuổi hồi xuân...
4
Số phận của con người
phần lớn do nhiều yếu tố ngẫu nhiên định đoạt, ngẫu nhiên ngay cả trong mă
di truyền, những ǵ tạo nên cơ chế sinh vật của mỗi thân phận, ngẫu nhiên
ngay cả những tác động khách quan. Dẫu con người có ư thức để chọn lựa,
nhưng khi c̣n nhỏ, nào ai đă chọn lựa số phận, cụ thể hơn là đường đời,
phù hợp với căn cơ tâm sinh lí, đặc biệt là năng khiếu của ḿnh, và phù
hợp với gia cảnh, bối cảnh xă hội ḿnh sống. Nhưng nhà sư Tâm Tự chấp nhận
con đường tu tŕ, hành đạo, khi đă đủ tri thức, đă trưởng thành.
Một ngàn chín trăm bốn
tư, sư Tâm Tự đă mười chín tuổi. Bấy giờ đă là đại đức - một trong những
mức đánh dấu sự nỗ lực trong tu hành - với ba chấm sẹo nghi thức, nghi
thức đội lư trầm nóng đỏ trên đầu.
Năm ấy, sư về lại làng
xưa, nơi chôn nhau cắt rốn, và trụ tŕ tại chùa làng. Đấy là năm Cách mạng
đă nắm được thời cơ để tích cực chuẩn bị giành lại chính quyền từ tay phát
xít Nhật cho người Việt, truất phế Bảo Đại ăn chơi, làm bù nh́n. Cách mạng
Tháng tám bốn mươi lăm nổ ra, cờ đỏ rợp đường thôn và ngay trên cổng chùa.
Sư Tâm Tự vừa phấn khởi tự hào, vừa cảm thấy ḿnh đă quá bàng quan làm
người ngoài cuộc trong sứ mệnh thiêng liêng giành độc lập, tự do, cả dân
chủ cho dân tộc.
Thực ḷng, sư cũng không
ít băn khoăn cho tiền đồ của Đạo Phật.
Khi c̣n tu học ở Huế, sư
đă loáng thoáng nghe các vị sư lớn tuổi hơn, các sư chú, sư bác, bảo phong
trào cộng sản quốc tế là phong trào vô thần và duy vật. Chính cái vô thần
và duy vật đă ngáng trở sự ủng hộ của nhà chùa đối với Đảng Cộng sản Đông
Dương. Sư cũng chẳng có điều kiện để nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lê.
Bây giờ, Chủ tịch Hồ đă
lănh đạo toàn dân giành được chính quyền, sư vừa phục vừa lo. Thực ḷng,
sư và khuôn hội Phật giáo làng ủng hộ Cách mạng trong tâm trạng phân vân,
mâu thuẫn ấy. Chưa có bao giờ ḷng yêu nước thương dân lại mâu thuẫn với
ḷng yêu Đạo Phật, như thời điểm ấy, trước sự chọn lựa, ủng hộ hay không
ủng hộ Cách mạng. Ủng hộ Cách mạng để giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân
Pháp đă đè nặng gần suốt tám mươi năm trên Tổ quốc, đến khi Cách mạng đă
thành công, Nhà chùa sẽ ra sao.
Nhưng rồi, những quyết
sách đoàn kết các tôn giáo với cách mạng được ban ra, cũng xoa dịu phần
nào những mâu thuẫn tư tưởng ấy. Xoa dịu thôi, từ phía Cách mạng, chứ lo
cho Đạo Phật, trong thao thức của Nhà chùa vẫn là lo âu canh cánh. Chân
theo Cách mạng của Bác Hồ, với một thúc đẩy sâu xa từ ngh́n xưa tự cường
dân tộc, từ khát vọng đánh đổ thực dân Pháp bao nhiêu năm nay, tuy quả
t́nh, sư và khuôn hội đạo hữu chưa thật yên tâm. Nhưng, chống lại Đảng của
Bác Hồ th́ không. Các tôn giáo khác có chống, Phật giáo chưa hề chống,
trong thời điểm ấy. - Sư biết vậy.
Sư Tâm Tự ủng hộ Cách
mạng, sau đó ủng hộ kháng chiến toàn quốc khi Pháp được sự hà hơi tiếp sức
của Mỹ, quay lại xâm lược Đông Dương (dù trước đó, Mỹ với tư cách đồng
minh, có tranh thủ Chính phủ của Bác Hồ nhằm làm lệch mục tiêu của Cách
mạng và để tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô).
Năm bốn lăm bước sang
bốn sáu là những tháng ngày nạn đói diễn ra kinh hoàng. Người đói gầy đen
- ma đói, đúng hơn, v́ người không ra người nữa. Pháp và Nhật, chủ yếu là
Nhật, buộc dân nhổ lúa trồng đay, đốt thóc, ḥng d́m chết Cách mạng.
Có một người dân trong
huyện, bắt được con cá tràu, chỉ kịp luộc chín, ăn một ḿnh, để đàn con
nhỏ gào, kêu đói bên cạnh. Ăn xong, tỉnh lại, đau đớn và nhục nhă cho danh
phận làm cha của ḿnh, y thắt cổ tự tử, tự tử để khỏi bị lương tâm cắn rứt
v́ chất người bị cái đói làm tiêu tán hết, tự tử để chạy trốn khỏi sự bất
lực trước cái đói kêu gào của bầy con.
Sư cùng với khuôn hội
cũng xắn tay lên cứu đói, cũng lên rú đào củ mài, sâu đến cả thước mới có
một củ. Đó cũng là tự cứu và cứu người.
Năm bốn sáu ấy, sư mới
hai mươi mốt tuổi.
5
Rồi nạn đói cũng qua đi.
C̣n trữ được, hay được cứu trợ, thóc giống đă phải thành mạ, thành lúa, để
kết hạt nuôi người. Đói rét, té quỵ trên ruộng, cũng thay trâu, người kéo
cày để cấy. Và đồng ruộng lại vàng lúa chín.
Chùa làng là nơi hội họp
của thanh niên đang nô nức kháng chiến.
Trong những cuộc họp,
tuổi trẻ với sức sống tươi xanh, bừng dậy. Họ ca hát, múa, diễn kịch, tập
luyện quân sự. Sư Tâm Tự, cũng đang bước vào lứa tuổi hai mươi, tham gia
nồng nhiệt. Âu lo về tiền đồ Đạo Phật đă được niềm vui rộn ràng cùng sức
sống tuổi trẻ đôi khi lấn lướt, và lấn lướt trên tất cả là phong trào thi
đua yêu nước với ư thức, nhiệt tâm yêu nước. Đôi đêm, tận đáy sâu của ḷng
ḿnh, sư Tâm Tự nghĩ, giá như phong trào cộng sản đừng vô thần, đừng duy
vật ngay từ trong kinh điển Mác - Lê, ngay trong nội bộ Đảng Cộng sản,
chắc chắn, cũng như các thiền sư thời Lư phạt Tống b́nh Chiêm, thời Trần
đánh đuổi Nguyên - Mông cầm gươm ra trận, vừa bảo vệ giang sơn, vừa bảo vệ
Đạo Phật, sư cũng sẽ cầm tầm vông, súng ống đánh Pháp và Nhật chứ chẳng
chịu ở hậu phương. Sư vẫn c̣n nhớ âm hưởng bi tráng của những làng Phật
giáo kháng chiến thời Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết với phong trào Tân
Sở - Cần vương, và thầm ước nguyện: Giá như lúc này có một lực lượng dân
chủ và dân tộc...
Sư Tâm Tự tham gia kháng
chiến trong phong trào Việt Minh, ở làng quê của ḿnh chỉ đến mức như thế,
nhưng nhờ đó, sư cũng có dịp quen nhiều bạn trẻ, đúng hơn, là đă quen nhau
lâu rồi nên càng thêm thân thiết.
Trong đó, chẳng hiểu sao,
cô Thắm lại là người thích chuyện tṛ với nhà sư trẻ. Sau các buổi hội họp,
cô Thắm hay ghé chùa, khi với em trai năm tuổi, khi với cháu đang tuổi bế
bồng, khi với nhóm bạn gái. Sư cũng mến cô Thắm lắm. Cô Thắm không đẹp
nhưng rất có duyên với mái tóc dài đen nhánh, với hàm răng hạt lựu đen
rưng rức, lóng lánh, đôi môi ăn trầu cắn chỉ tươi đỏ. Cô ấy hai mươi tuổi
tṛn, tràn trề sức sống. Chùa chỉ có ḿnh sư và ông săi già lụm khụm.
Tổ quốc đang bừng bừng
kháng chiến, tâm hồn c̣n canh cánh âu lo về đạo pháp, nhưng trái tim trai
trẻ của sư vẫn có độ rung của nó.
Sư cứ băn khoăn chả hiểu
t́nh cảm của Thắm ra sao, ở cung bậc nào. Trong t́nh yêu đương, khi c̣n
chập chờn, mơ hồ, h́nh như và chỉ h́nh như, chưa một lần ngỏ lời, có lẽ là
thời gian khiến trái tim người tươi hồng nhất, co thắt, rối nhịp nhất. Sư
ăn không ngon, ngủ không yên. Biết làm sao được!
Thắm đă đánh thức niềm
khát vọng yêu đương trong ḷng sư, bằng khóe nh́n cháy nồng, da diết, bằng
tiếng cười đôi khi nghẹn lại thoáng chút, không c̣n gịn tan suốt chuỗi -
h́nh như đấy là thoáng chút âu lo, v́ đă linh tính được, nỗi buồn đau sẽ
tới. Nếu khóe nh́n ấy, tiếng cười ấy b́nh thường thôi, có lẽ, dẫu mến Thắm
bao nhiêu, sư cũng đành cam phận tu hành. Sư đă hạ tóc, mặc nâu sồng để
giữ giới, để làm nên “rào cản”. Một chàng trai trẻ không tu hành có thể
chủ động với nam tính, ngỏ lời yêu, có thể công khai yêu một cách tự hào,
hoặc công khai buồn đau bị thất t́nh. Nhà sư, áp lực đạo đức buộc chặt,
khó biết bao. Và với Thắm, cũng thế. Yêu bất ḱ chàng trai nào người dưng
khác họ, người không xuất gia, có sao đâu. Chẳng phải Thị Mầu trong truyện
cổ Phật giáo đă khắc sâu một h́nh tượng ngụ ư răn dạy đậm tính phê phán đó
sao. Chẳng ai dám vượt rào cản của áp lực đạo đức xă hội để yêu một nhà sư.
Dẫu sao, đấy là t́nh yêu tội lỗi, làm hoen ố cửa thiền, điều mà phạm phải
th́ đáng chết hai lần, tủi nhục cả gia phong. Thắm yêu, trong âu lo, và
biết trước bất hạnh sẽ đến.
Sư Tâm Tự, hai mươi mốt,
hai mươi hai tuổi, cô Thắm, mười chín, hai mươi, vẫn chẳng hiểu tại sao
lại phải ḷng nhau oái oăm đến thế! Hai người không hiểu v́ sao, và chẳng
làm sao cấm nổi ḷng ḿnh! Dẫu sự lén lút, giấu giếm càng nhân nhiều lần
nồng độ nhưng rồi cũng chẳng đến đâu!
Trong một đêm chỉ sáng
mờ với ánh sao trời, Thắm vác cả cây tầm vông vạt nhọn đến chùa. Thắm độ
rày xanh mét, lúc này tóc mai bết mồ hôi, ràn rụa nước mắt. Thắm run rẩy
bên nhà sư trẻ trong bóng đêm, phải rất gần mới rơ mặt nhau. Thắm khóc.
Thắm chỉ nói với nhà sư trẻ một câu, rồi ôm mặt lặng lẽ bỏ đi.
- Có lẽ em sẽ đi lấy
chồng, c̣n cách mô khác được!
Sư đứng sững, tựa vào
vách chùa, đến khuya. Nhà sư trẻ, rất đàn ông, cũng ràn rụa nước mắt.
Và sư Tâm Tự vào pḥng,
tụng kinh đến sáng.
Rồi bẵng đi rất lâu, sư
nghe Thắm đă yêu anh giáo Hiền, người thanh niên thân thiết với sư hơn cả
ruột thịt, Thắm sinh nở, đă chết v́ sản hậu! Sư chỉ c̣n biết thở dài.
Thật ra, trước đó, cũng
đă có lời dị nghị trong đám thanh niên cứu quốc về t́nh cảm là lạ, họ chỉ
thấy là lạ thôi, giữa sư với Thắm. Họ rất tinh nhưng cũng nhờ tác phong
đức hạnh của sư, của Thắm xưa nay, họ chẳng dám nghĩ xa hơn. Hơn nữa, hai
người rất khéo kín chuyện.
Rồi kết cục đă rơ ràng,
Thắm đă yêu giáo Hiền - giáo Hiền đă mấy năm đeo đuổi Thắm. Thắm với giáo
Hiền đă có chung đứa con, và sau khi sinh, cô ấy chết v́ sản hậu. Giáo
Hiền chăm con như chăm trứng, đă đem con về nhà, gà trống nuôi con, khi cu
Học chưa đầy một tuổi. Giáo Hiền, sư Tâm Tự vẫn là đôi bạn chí thân. Hơn
ai hết, giáo Hiền là người tin tưởng, khâm phục đạo hạnh, sự thông tuệ của
sư Tâm Tự.
Năm tháng trôi qua.
Suốt hai mươi hai năm, từ
khi về trụ tŕ, năm bốn tư, đến khi Mỹ ngụy buộc dời làng, năm sáu sáu, sư
Tâm Tự ngày đêm tụng kinh, thuyết pháp, tập vơ thuật đều đặn, đều đặn đọc
sách, mùa nối mùa cuốc đất trồng rau, cày ruộng.
Đôi khi, suốt bao nhiêu
năm, sư thở dài, nhớ và thương cô Thắm. Thắm măi măi hai mươi tuổi thanh
xuân trong trái tim sư. Những khi đó nhà sư đă trăn trở xua đuổi bóng h́nh
Thắm. Sư cắn răng tàn nhẫn với ḿnh, với người yêu đă chết.
Năm tháng cứ trôi qua.
6
Đă rất nhiều năm sư Tâm
Tự muốn lăng quên tất cả. Tiếng tụng kinh vang lên u trầm từ lồng ngực,
đều đều, với nhịp mơ khô khốc, cũng đều đều, điểm tiếng chuông thanh thoát,
ngân nga âm hưởng, với làn hương khói nhang trầm lâng lâng bay lên, la đà,
bay lên, trong ngôi chùa cổ ẩm thấp rêu phong, tĩnh mịch. Ngày qua ngày,
đêm qua đêm. Nhưng đấy là một nỗ lực nội tâm để đạt tới cảnh giới siêu
thoát, cũng chẳng đâu khác, trong chính nội tâm. Cuốc đất, trồng rau, cày
ruộng, tập vơ thuật và nghiền ngẫm sách kinh, cũng là phương cách nuôi
dưỡng tâm linh trong thế quân b́nh với xác thân phàm tục, để quên đi tất
cả. Nhưng chẳng thể quên được điều ǵ. Không thể.
Trên gương mặt dân làng,
hầu như đều là đạo hữu, dù quy y hay chưa, hoặc không, vẫn không giấu được
những nỗi niềm thế sự và thời sự. Làm sao sư Tâm Tự không ưu tư.
Nhân dân kháng chiến
chống Pháp, sau lưng Pháp là Mỹ, một cách quyết liệt. Và chiến thắng Điện
Biên rực rỡ vang dội thế giới. Từ sau Thế chiến thứ hai, bàn cờ quốc tế đă
chia hai khối, hai phe rơ rệt. Từ giai đoạn chiến tranh chống thực dân
Pháp xâm lược, bóc lột, c̣n gọi là giai đoạn “B́nh Tây sát tả” (II.12),
vào thời Nguyễn thế kỉ trước, đến nay, trong gần một trăm năm đó, dần dần,
cuộc chiến tranh mang tính ư thức hệ. Phong kiến giương cờ. Tư sản - tiểu
tư sản, đúng hơn - đă giương cờ. Lại vô sản giương cờ. Không c̣n là chiến
tranh chống ngoại xâm của một quốc gia mà đă mang tính chất quốc tế. Hà
hơi tiếp sức cho Pháp, Mỹ đă công khai bộc lộ trắng trợn bản chất. Và Liên
Xô, mô h́nh ấy, quy về trung tâm là Nga, cũng khiến người dân có suy nghĩ
e ngại. Nhân dân vẫn e ngại, dẫu biết Liên Xô giúp các nước thuộc địa.
Đất nước bị chia cắt
trong sự sắp xếp của hai khối, theo dạng nước Đức sau năm bốn lăm. Triều
Tiên sau này cũng thế. Bảo là quốc tế, thực ra chỉ chín nước, và thực chất
do sự định đoạt của các siêu cường, cường quốc, số đếm chưa hết ngón trên
bàn tay. Quả là phi lí!
Dẫu có Mỹ ủng hộ, phái
đoàn ngụy vẫn bị gạt ra ŕa, bởi đó là lẽ đương nhiên!
Số phận của các nước nhỏ
là thụ động, bị động, giỏi lắm là cố gắng chủ động trong thế buộc phải thụ
động, bị động ấy... Các nhà lănh đạo cuộc kháng chiến tài ba, sáng suốt và
chiến công đạt được hiển hách đến thế c̣n phải thế, nói ǵ đến “dân ngu
khu (mông) đen”, mù chữ, thiếu ăn, thiếu mặc. Thời thế đă thế, nói ǵ một
nhà sư quê mùa, thông tuệ, cố lăng quên thế cuộc mà chẳng thể.
Sư Tâm Tự thấy toàn dân,
Nam cũng như Bắc, đều thụ động, bị động như thế, trước sự chia cắt Đất
nước. Số lượng người di cư và tập kết không nhỏ cũng nằm trong sự sắp xếp
của các siêu cường, cường quốc. Đấy là một sự chia cắt lâu dài. Nếu không
có ư định chia cắt lâu dài, di cư, tập kết làm ǵ.
Sư Tâm Tự bị cột chặt ở
làng quê v́ trách nhiệm với Đạo Phật, cũng v́ sự yên ổn tŕ trệ của nếp
sống.
Sự giằng xé giữa yêu
nước là ủng hộ Cách mệnh với chí nguyện hoằng dương đạo pháp của Đức Phật
và cũng của sư, từ những năm xưa, khi mới trở về làng, lại đau đáu. Một hi
vọng mơ hồ, rằng sẽ giữ vững Đạo Phật ở Miền
Nam, dần dần đấu tranh thoát khỏi ảnh
hưởng nanh vuốt của đế quốc Mỹ, dậy lên trong ḷng sư.
Như thế, vô h́nh trung, sư đă chấp nhận chủ nghĩa tư bản với ước vọng Đất
nước, dân tộc được độc lập, tự do trong khối tư bản chủ nghĩa, hoặc trung
lập, mà thực chất, trung lập cũng tư bản chủ nghĩa đấy thôi, hoặc chỉ là
danh từ mị dân. Không thể thoát được sự áp đặt chi phối của một trong hai
khối. Khi nước ḿnh là nước nhỏ, lại bị chia hai, rơ là hai miền đă thuộc
về hai phe.
Sư Tâm Tự thụ động, bị
động, như đa số người dân, với một hi vọng mơ hồ để tự trấn an, tự xoa dịu.
Hoàn toàn lúng túng và cam chịu! Chẳng hi vọng ǵ ở tổng tuyển cử! Ngô
Đ́nh Diệm được chuẩn bị làm con cờ, một con cờ “tội nghiệp”(!), từ bao năm
trước, để làm đối trọng với Bác Hồ. Làm sao Ngô Đ́nh Diệm, con cờ dựa vào
Thiên Chúa giáo, “sản phẩm” của Thiên Chúa giáo, gắn liền với thực dân, đế
quốc, lại đối trọng được! Sư chẳng ngạc nhiên ǵ khi tổng tuyển cử, nghe
đâu chỉ là giải pháp xoa dịu để “hoăn binh”, không diễn ra. “Hoăn binh” để
chia cắt lâu dài!
Rồi, năm sáu mươi, Mặt
trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam được thành lập, thực chất là một h́nh
thức đấu tranh của Đảng Cộng sản Bắc Việt Nam. Ngọn cờ trung lập giương
lên cũng chỉ là ngọn cờ tập hợp thêm số trí thức chống Mỹ và Diệm nhưng
không cộng sản. Mặt trận Giải phóng ấy với Chính phủ tại Hà Nội chỉ là một.
Chính phủ Bắc Việt sinh đẻ ra, nuôi dưỡng, chỉ đạo Mặt trận Giải phóng.
Như thế là đă rơ ư định của Đảng Cộng sản, - Sư Tâm Tự nghĩ vậy -, dùng vũ
lực để giải quyết vấn đề!
Rồi hàng rào Mác Na-ma-ra,
Mỹ thiết lập ba năm sau ngày Diệm - Nhu bị giết chết bởi cứng đầu - vẫn
cứng đầu sau khi hoàn tất nhiệm vụ độc tài với mưu toan truyền bá Thiên
Chúa giáo làm quốc giáo. Một chiến dịch tuyên truyền hạ-uy-tín-đă-dựng-nên
cho các bung xung Diệm - Nhu: gia đ́nh trị, loạn luân giữa Diệm với Lệ
Xuân, trên sách và báo chí, đă diễn ra từ ba năm trước. Năm một chín sáu
sáu, bước sang sáu bảy, sư Tâm Tự bàng hoàng rời khỏi làng quê đă biến
thành vành đai trắng.
Ảo vọng độc lập, tự do
trong khối “thế giới tự do” đă tiêu tan từ khi Phật giáo bị Diệm - Nhu đàn
áp đẫm máu và người Mỹ ngày càng cắm sâu nanh vuốt vào Miền Nam với “âu lo
xích hóa” (đỏ hóa) toàn Đông nam . Sư Tâm Tự bàng hoàng. Chính trị là ván
cờ đô-mi-nô sao!?
Sư nghĩ, Đảng Cộng sản
Việt Nam bản lĩnh hơn, dày dạn kinh nghiệm hơn, cố giành thế chủ động hơn,
và đă có công đánh Pháp, Nhật thắng lợi, nên chính danh hơn, nhưng thực
chất cũng do Nga Sô, do Trung Cộng góp ư, viện trợ. Ở Miền Nam, các chính
khách chính khứa và lănh tụ đều quá non tay, phi chính danh từ đầu, người
Mỹ cũng quá ngu khờ khi đứng ra thách thức cộng sản, lại trực tiếp đổ quân.
Về mặt chính trị, từ khi dính líu đến chiến tranh Đông Dương trước Cách
mạng Tháng tám đến khi rút ra khỏi sự sa lầy, Mỹ đă không che giấu, ngụy
trang bản chất đế quốc, lại trắng trợn phô bày bản chất sô-vanh, ma-phi-a
chính trị.
Sư Tâm Tự đau ḷng khi
bước chân vào Đông Hà, bỏ lại cả một làng quê bời bời cỏ tranh, cỏ lau và
bom đạn, trong tâm trạng u tối, bế tắc. Vũ khí luận - quá tin vào sự tối
tân, giàu có vũ khí của các tập đoàn tư bản kinh doanh vũ khí ở Mỹ -,
chúng đă vận dụng triệt để vào Đất nước này, làng quê này. Sư ngửa mặt
nh́n thấy những cụm mây trắng bay, bay trong ảo vọng tuyệt đối thoát li
trần gian máu lửa, và sư chắp tay bất lực. Sư tự nhủ, ḿnh chỉ là nhà sư
quê mùa, u mê.
Trong những tuần kinh kệ
sớm hôm, tiếng tụng niệm u trầm có khi trầm thống, khói trầm nhang siêu
thoát có khi ngỡ khói lửa chiến tranh, tiếng mơ tưởng tiếng báo động,
tiếng chuông như tiếng báo yên, hay chuông mơ chỉ là tiếng tích tắc, âm
thanh vang lên của thời gian nặng nề thê thảm trôi qua. Tiếng bom đạn gầm
lên át hết. Sư sống trong tâm trạng chung của người dân Nam - Bắc.
7
Suốt sáu năm dài đằng
đẵng, sư Tâm Tự vào tu tŕ ở một ngôi chùa ngay thị trấn Đông Hà. Đêm đêm,
đứng hướng mặt về quê nhà trên bờ nam sông Bến Hải, sư nghe rơ bao lưỡi
dao kiếm cứa măi, cứa măi ngang lưng Tổ quốc.
Sư Tâm Tự đă quyết liệt
từ chối làm tuyên úy trong quân đội ngụy Miền Nam, dứt khoát không. Đă
đứng bên ngoài th́ đứng hẳn bên ngoài cuộc chiến tranh vừa mang tính chất
hai khối, vừa mang tính chất tương tàn trong sự xung đột ư thức hệ, mặc dù
cán cân để đo lường chính nghĩa, chính danh đă nghiêng về phía cộng sản.
Sư nghe tiếng súng AK.
47 lẫn AR.15 nổ, tiếng pháo kích từ rừng xanh hay nông thôn đă được bộ đội
chính quy Bắc Việt và du kích rót về thị trấn, tiếng đại bác từ 105 đến
175 li bắn đi với tiếng dội bom ngăn chận sự xâm nhập của bộ đội vào Nam ,
tưởng như thấy được sự xung đột ư thức hệ: Duy tâm và duy vật bắn nhau,
hữu thần và vô thần giết nhau, tư bản và vô sản quyết một phen sống chết.
Vàng và đỏ quyết không cùng tồn tại?
Miền Bắc không ngớt hát
trên đài Hà Nội và đài Giải Phóng bài ca Giải phóng Miền Nam. Phải giải
phóng Miền Nam v́ đế quốc Mỹ xâm lược, ngụy quyền Sài G̣n chỉ là ngụy, bán
nước, tay sai. Điều đó đúng. Nhưng giải phóng Miền Nam v́ nhân dân bị ḱm
kẹp, rên siết, nô lệ, đói nghèo, phải cần xem lại nếu không muốn nói là
sai. Không, bấy giờ, sau khi Diệm - Nhu bị lật đổ, Miền
Nam quá tự do, tự do đến mức vô chính phủ, quá dân chủ đến mức vô trật tự.
Trong không khí đó, Phật giáo vẫn tiếp tục đấu tranh, chống Thiệu - Kỳ (Thiệu,
một con cờ khác của Thiên Chúa giáo, nhưng con cờ lần này “ẩm” mặt [úp mặt]
mang nhăn hiệu thập giá!). Trước t́nh h́nh đó, để mua chuộc nhân dân, Mỹ
và đồng minh đổ vào Miền Nam đến
thừa mứa gạo, vải vóc, thuốc thang. Sư Tâm Tự nghe đài Hà Nội, đài Giải
Phóng, thấy phóng viên hai đài đó chẳng có chút thực tế nào, nên lắc đầu
ngao ngán. Làm sao tin được để có thể ủng hộ Bắc Việt. Có điều, hai đài đó
không bao giờ nói thẳng về tôn giáo, và luôn phủ nhận đây là cuộc chiến
tranh ư thức hệ đơn thuần.
Báo chí Miền Nam, đủ
khuynh hướng chính trị. Riêng đài phát thanh, đài truyền h́nh là của chính
quyền Sài G̣n và Mỹ. Các loại đài lại rêu rao một cách khẳng định, chống
cộng sản xâm lược! Nhưng luận điệu tuyên truyền của đài Gươm thiêng ái
quốc, cũng như Sài G̣n, Tự Do, quá chừng ấu trĩ về chủ nghĩa duy tâm, thực
chất là lợi dụng mê tín dị đoan vào chính trị, như chương tŕnh coi bói
“Gia đ́nh bác Tám” rẻ tiền, ngu ngốc. Rồi vẫn các đài đó hát bao bài ca ủy
mị, rầu rĩ, ca bao bài ca về anh lính cộng ḥa mang đầy chất “yêng hùng”,
hào hoa xa rời quần chúng. Rồi cũng không phải đài nào khác, các làn sóng
phát thanh ấy vẫn một mực khẳng định, cộng sản độc tài, bóp chết tự do,
nhân quyền, nhân dân Miền Bắc đói khổ...
Sư Tâm Tự băn khoăn tự
nghĩ. - Chẳng có ai ngu ngốc để cầm súng cho bên này hay bên kia, nếu nghe
các thứ đài tuyên truyền ấy mà có suy nghĩ. Sự ám thị về tâm lí chính trị
vẫn có hiệu quả nhất định với những ai chỉ nghe một phía, v́ bị cấm đoán,
dọa tù đày, hoặc được tặng máy chỉ bắt được một đài, hoặc tâm thế chỉ chịu
nghe một phía - tâm thế h́nh thành do quyền lợi và có thể do ân nghĩa hoặc
thù hận. Tư sản, địa chủ làm sao chịu nghe cộng sản. Kẻ bị cộng sản đấu tố,
tịch biên, nghe cộng sản chỉ hiểu ngược, do tâm thế. Cũng do tâm thế,
người bị Mỹ ngụy dội bom, bức hại, chúng tuyên truyền mấy cũng chỉ phản
tuyên truyền. Ân nghĩa nhận từ phía này hay phía kia cũng làm cho tâm thế
nghiêng lệch.
Sư Tâm Tự không thể
không bị tạo nên tâm thế chính trị một cách ngỡ như vô thức. Nhưng sư chịu
khó lắng nghe để rồi chẳng tin nổi bên nào. Chẳng ngă về phía nào lại cũng
do một dạng tâm thế chính trị! - Sư băn khoăn tự nhủ. Và c̣n tỉ lệ các
nguồn ám thị nữa!
Đêm đêm, sau tuần kinh
tối, sư Tâm Tự quyết tâm phải hóa giải sự xung đột ư thức hệ vốn là xung
đột mỗi phút. Theo kinh Phật, sư biết tâm không định ắt tuệ không sáng,
như ḍng sông Hiếu của thị trấn Đông Hà, mặt nước gợn sóng hệt tấm gương
tráng thủy không đều, phản ánh ǵ cũng đều méo mó. Cây cối, nhà cửa, vầng
trăng đều méo mó. Bóng của chính sư trên cầu cũng méo mó dưới mặt trời. Sư
thầm nghĩ, ḷng ḿnh luôn gợn sóng như sông Hiếu chăng? Nho, Phật, Lăo là
ba tôn giáo - triết thuyết cổ ở Phương Đông. Thiên Chúa giáo chủ yếu phát
triển ở Phương Tây với nhiều giáo phái của nó. Chủ nghĩa tư bản làm cách
mạng tư sản trên thế giới từ thế kỉ XVIII. Chủ nghĩa Mác - Lê đang h́nh
thành một hệ thống sức mạnh. Phải nghiên cứu tất cả, dũng cảm thừa nhận
những ǵ sai lầm, hàm hồ và lỗi thời, những ǵ là chân lí, là khoa học, có
giá trị thực tiễn! Sư rùng ḿnh sợ hăi khi nghĩ ḿnh đang bị đài, báo ám
thị, khiến cái tâm hóa ḍng sông ngầu bọt, đen tối.
Thao thức, trăn trở, bế
tắc! Những năm sáu mươi, bảy mươi, ở Sài G̣n, ở Huế và các nơi tại Miền
Nam có một vài khuynh hướng hóa giải những đối cực, ḥa giải những đối
kháng để t́m điểm tương đồng, dẫn đến thống nhất tư tưởng nhưng rốt cùng
cũng bế tắc. Thế cuộc vẫn một sống một chết! Ḷng người vẫn thiên kiến, cố
chấp dù nhân danh trung thực, vô chấp, tâm không! Chưa ai đủ trí tuệ để
làm điều đó trong điều kiện súng bom gầm thét. V́ thế, súng bom vẫn gầm
thét. Đối thoại chỉ là đối thoại giữa bạo lực với bạo lực. Đấu bút thành
đấu súng giữa chiến trường. Chân lí của súng thực tế hơn chân lí của bút.
Nhưng đâu là chân lí? - Bao lần sư tự độc thoại. Sư Tâm Tự đọc nhiều, nghe
nhiều, vẫn chỉ bế tắc trong sự bế tắc của thời ấy. Chưa một tiếng nói nào
có sức thuyết phục.
8
Nắng tháng sáu mới hơn
mười giờ đă quá gay gắt. Ba ông cháu vẫn ngồi nhấp giọng nước chè xanh,
chuyện văn. Chén nước thơm hương gừng trên tay Hiền Lương đă nguội ngắt.
Trong nắng chín rực mùa
hè, trong gió Lào khô khao, cuốn sách Vô ngôn Vô tự bên Thánh Gióng và bản
đồ Tổ quốc, cuốn sách cũng Vô ngôn Vô tự khác bên quả cầu tṛn, được làm
bằng cây chè lá nhỏ, đang lật giở từng trang. Có nhiều trang đă bị gió giở
vội không kịp đọc. Có nhiều trang cơ chừng dính vào nhau.
Ông giáo Hiền mỉm cười
với nụ cười hiền ḥa. Ông nói:
- Thật ra, có nhiều điều
ḿnh không biết. Ḿnh chỉ biết đại khái về sư Tâm Tự, nhưng ḿnh tin cuốn
sách Vô ngôn Vô tự kia biết hết. Ngoài hai cuốn sách ấy, chẳng ai biết hết
chính ḿnh, nói chi về ai khác.
- Thưa ông, sau năm bảy
hai, ông về lại đây, c̣n sư Tâm Tự? - Hiền Lương hỏi.
- Đúng rồi. Sư Tâm Tự
nghe đâu đă vào chùa trong trại tị nạn ở Non Nước, Đà Nẵng. Năm bảy ba,
dân Quảng Trị hồi cư bên kia sông Thạch Hăn. Phía bắc Thạch Hăn trở ra đă
được ta giải phóng. Sư Tâm Tự lại tu ở một chùa nào đó bên bờ nam. Chỉ sau
Ngày Thống nhất tháng tư bảy lăm, sư mới về lại chùa làng. Cơ khổ, chùa
chẳng c̣n viên gạch, viên đá nào nguyên vẹn! Khuôn hội chỉ làm tạm mái
tranh trên nền cũ. Hơn mười mấy năm, chùa vẫn tre và cỏ tranh, làm đi làm
lại vẫn tre và cỏ tranh. Hồi mới giải phóng, có nhiều cán bộ, du kích c̣n
khắt khe với tôn giáo lắm. “Aău trĩ “tả” khuynh” mà, nên khắt khe quá đáng!
Chính ḿnh là cộng sản nằm vùng, ḿnh cũng ái ngại cho sư, nhưng chẳng
biết làm sao. Chùa mới xây dựng vài năm nay, như cháu Hiền Lương thấy đó.
Dân làng, đạo hữu cực khổ, chùa lấy ǵ để khang trang!
Hành vẫn nh́n ra khoảng
trời ngập nắng ngoài khung cửa, ngoài giậu bông râm bụt, và tiếp dưới
khoảng trời ấy, xa xa là cánh đồng, lũy tre xanh.
- Từ sau Ngày Thống nhất,
ḿnh với sư Tâm Tự lại thường xuyên gặp nhau, trao đổi, đàm đạo, thấy cũng
vui. Ḿnh không tu mà cũng như tu. Mỗi người tu mỗi cách. Tư tưởng ai buộc
phải giống nhau mới thân với nhau. Đảng viên cộng sản mấy chục năm, ḿnh
vẫn là anh giáo quèn rồi lăo giáo quèn, cũng như sư Tâm Tự, măi măi vẫn là
đại đức, đại đức trẻ rồi lại đại đức già. Bây giờ, ḿnh với sư càng già
lại càng thân nhau, c̣n hơn ruột thịt.
Hiền Lương lắng nghe,
cảm thấy bức chân dung về sư Tâm Tự vẫn chưa thể vẽ được. Nhưng làm sao có
thể không vẽ về con người thăm thẳm, ngời sáng ấy, cô tự bảo. Hiền Lương
cảm thấy ḿnh c̣n non nớt, nông cạn biết bao về con người và cuộc đời, với
bao nhiêu biến động, trong đằng đẵng năm tháng tháng năm.
TXA.
CƯỚC CHÚ chương IV: không có cước chú.
(
xem tiếp chương V )