TRẦN
XUÂN AN
m ù
a
h è
b
ê n
s
ô n g
(nỗi đau hậu chiến)
tiểu thuyết
nnhà
xuất bản
1997 & 2003
CHƯƠNG VII
1
Hai mái tóc dài đen mượt
đă hong khô trong gió. Hai gương mặt với làn da mịn màng trở nên trắng
hồng thêm, dưới hai mái tóc đă óng ả hơn. Hiền Lương và Bông Bưởi, cô bé
mười lăm tuổi con của chú thím Cận, sáng sớm hoặc giữa trưa nào cũng đi bộ
gần cả cây số ra sông để tắm, dù trong nhà đă có giếng, có pḥng tắm. Trưa
nay, cũng như thế. Và lúc này, bộ áo quần thun liền thân, tay áo, ống quần
đều dài, bó sát người dùng để tập thể dục ở nhà và đi bơi của Hiền Lương,
không chừng cũng đă khô. Cái khăn choàng rộng thùng th́nh không chừng cũng
vậy. Gió nam lửa thổi rát cả người, cô nghe mồ hôi đă ŕn rịn.
Hiền Lương, Bông Bưởi,
chú Cận đă sẵn sàng, chờ Hành qua để cùng vào ga Đông Hà. Tối nay, cô Bân,
mẹ của Hiền Lương, sẽ xuống tàu, về thăm quê chồng rồi sẽ cùng con gái vào
lại B́nh Dương như đă dự định.
Trong khi chờ, Hiền
Lương nghĩ, sẽ vào chợ Đông Hà t́m mua cho Bông Bưởi một bộ áo quần tắm
như của cô và một bộ áo quần may sẵn nữa. Gần tháng nay, Bông Bưởi mặc đồ
bộ để bơi, Hiền Lương áy náy quá. Bây giờ, vào thị xă, Bông Bưởi cũng chỉ
vận đồ bộ. Tại sao là đồ bộ nhỉ? Hiền Lương nghĩ, ngày xưa phụ nữ mặc áo,
quần khác màu nhau chăng, hay khi may cái áo, lúc may cái quần, bây giờ
may một lúc nguyên bộ và cùng loại vải, thường dùng để mặc ở nhà, nên gọi
“đồ bộ” chăng? Bông Bưởi đă mười lăm tuổi, dậy th́ trổ mă rồi, sao hồn
nhiên đến thế, chả biết trưng diện ǵ! Bông Bưởi chất phác đến đáng yêu
quá.
Đă ba giờ chiều, nắng và
gió, chói và nóng.
Hành mượn đâu được chiếc
xe Cúp tám mốt c̣n khá mới chạy qua, đang dựng xe trước sân. Hành đề nghị
khởi hành luôn. Cô không chịu để Hành đổi xe. Hành chở chú Cận. Hiền Lương,
với chiếc Hon-đa bảy tám của chú, đèo Bông Bưởi. Bông Bưởi chỉ chịu ngồi
bỏ chân một bên. Hiền Lương vừa lái xe vừa mỉm cười một ḿnh. Cái mũ rộng
vành, loại vành cứng, che gương mặt cô, và gió lùa mát rượi.
Hết đường làng, hai
chiếc xe gắn máy đă lên đến quốc lộ. Xe chú Cận cũ kĩ, được cái là chạy
c̣n khá êm.
Hiền Lương hỏi Bông Bưởi:
- Sao em không bỏ hai
chân hai bên cho cân, để xe chạy thăng bằng hơn?
Bông Bưởi cười:
- Em ôốt dôột (mắc cỡ).
Chị Hiền Lương biết không, mạ (mẹ) em cứ phàn nàn một số loại yên xe,
không phải loại yên xe Hon-đa bảy tám này, khi ngồi chở nhau, quá chừng dị
(ḱ)! Cha em dặn, cách ăn, cách ngồi cũng là lễ nghĩa... - Cô bé bỏ lửng
câu nói.
Hiền Lương thấy Bông
Bưởi nói đúng. Cấu tạo yên xe gắn máy cũng là biểu hiện của văn hóa. Người
Nhật và các dân tộc châu Á, trong đó có cả Việt Nam, Trung Hoa, Ấn Độ, Hàn
Quốc, Thái Lan..., vốn có nền văn minh Đông Phương sâu dày, cao rộng, nay
đă lai căng về văn hóa quá rồi. Cái yên xe kiểu liền ấy phải chăng có
nguồn gốc từ văn hóa du mục - sống trên lưng ngựa? Chẳng cổ hủ ǵ, nhưng
dù là vợ chồng, lúc chở nhau, ngực cọ vào lưng, tay quàng eo, giữa đường
giữa phố, trông thật chướng mắt. Thật ra, ở thành phố, cô đă quen mắt, ngỡ
thường t́nh, nhưng nhờ chú Nông nhắc về lễ (văn hoá), giờ nghe Bông Bưởi
nói, Hiền Lương càng giật ḿnh. Chính phương tiện vật chất, hàng hóa tiêu
dùng hằng ngày cũng làm biến đổi con người từ từ, dần dần lúc nào chẳng
biết, tha hóa một cách vô thức. Ba của cô bảo, đấy là sự điều khiển ngầm,
từng chút một, một h́nh thức xâm thực văn hóa. Từ cái yên xe, dẫn đến bao
nhiêu hậu quả kinh khủng, có Ông trời Bà mụ mới biết!
Hành, chú Nông chạy phía
trước. Hiền Lương, Bông Bưởi cũng theo sát, cách khoảng vài mét. Họ đă đến
Dốc Miếu, Quán Phượng, Trúc Lâm... Cầu Đông Hà và sông Hiếu, chợ lầu thị
xă như những chiếc thuyền neo bến, đă trước mặt. Hành dừng xe lại chờ.
Hành h́nh như đă bàn với chú Nông, bốn người sẽ đi quanh thị xă tỉnh lị để
Hiền Lương ngắm Đông Hà cho biết, sau đó sẽ đi t́m chỗ ăn tối rồi ra ga
chờ cô Bân.
Hành tŕnh bày dự kiến
với Hiền Lương và Bông Bưởi. Hành c̣n nói, sẽ đưa cả bốn người đến quán
cháo bột, một loại đặc sản dân dă nhẹ tiền, của một thi sĩ Đông Hà.
- Vừa làm thơ vừa bán
cháo? - Hiền Lương cười, hỏi Hành.
- Đúng vậy. Thơ khá hay,
cháo tạm ngon. Cháo chỉ gồm cá lóc với bột gạo, và ném, một loại
gia vị bà con với Hành!
2
Đêm qua, đến mười một
giờ khuya cô Bân mới về đến nhà của thím Cận. Như đă dự định trước, đến
Đông Hà, chú Cận mượn thêm một chiếc xe gắn máy nữa. Ở nhà, thím Cận đă
chuẩn bị một nồi cháo gà. Hai bác Su cũng ngồi chờ.
Măi đến mười hai giờ
khuya, Hiền Lương mới nằm bên mẹ, th́ thầm hỏi chuyện B́nh Dương. Quen với
nhịp thức ngủ của Thủ Dầu Một, sáng nay, sáu giờ cô Bân mới mở mắt thức
dậy. Hiền Lương quen với ở đây rồi, cô đă dậy tập thể dục từ hồi nào.
Ăn sáng xong, cô Bân
đang ngồi uống nước, chuyện tṛ với chú thím Cận, hai bác Su và các anh
chị họ của Hiền Lương. Người khách đầu tiên t́nh cờ đến thăm là cô Hà. Bác
Su giới thiệu:
- Đây là cô Hà, vợ của
bí thư Đảng ủy xă. O Hà cũng người Hà Nội, đang làm việc ở Ngân hàng huyện.
C̣n đây, cô Bân, người Hà Nội vào Nam lâu rồi, mẹ của cháu Hiền Lương.
Người đồng hương gặp
nhau, ban đầu c̣n bỡ ngỡ, lát sau đă chuyện tṛ thân thiết. Thật ra, tuy
hai người rất đàn bà này tỏ ra thân thiết với nhau, nhưng vẫn có ǵ đó
h́nh như đang ngầm so đo với nhau. Đàn bà, hai chữ ấy gợi lên vẻ dịu dàng,
ân cần, chịu thương chịu khó, chăm chút tỉ mỉ cho chồng con, nhưng cũng
gợi nên một đôi nét khó cảm thông và khó chịu nổi, chỉ họ với nhau mới cảm
thông và chịu nổi nhau? Có thể đàn bà nói chung c̣n bị quy định bởi nếp
sống cũ, quan niệm cũ? Có thể, đấy là các biểu hiện của nữ tính với hai
mặt của nó?
Nhưng rồi họ cũng mến
nhau, sau lần gặp nhau sáng nay. Nhân ngày chủ nhật, cô Hà lại mời cô Bân
sang nhà chơi.
Sau khi đi thăm một vài
nhà bà con ruột thịt của chú Nông, đến chiều, cô Bân cùng Hiền Lương, Bông
Bưởi sang nhà chú bí thư và cô Hà.
Nhà cửa cô Hà nom cũng
khang trang. Trong nhà, cũng tủ thờ, bộ bàn ghế chữ H bằng gỏ bóng ngời,
cũng xe gắn máy, các máy truyền h́nh, thu thanh, ghi âm.
Chú Tập, cô Hà rất niềm
nở, ra tận ngơ để đón.
3
Sau vài lần gặp gỡ,
chuyện tṛ, bởi cùng là người Hà Nội, cùng quê chồng bên bờ sông Bến Hải,
lại chênh nhau chỉ năm, bảy tuổi, nên cô Bân và cô Hà đă có thể nói với
nhau, chia sẻ với nhau những chuyện về mươi, mười lăm và cả một, hai trăm
năm trước, tưởng như măi găm vào ḷng.
- Đoạn di cư vào Nam,
chắc bấy giờ cô c̣n nhỏ lắm nhỉ? Cỡ bảy, tám tuổi chứ bao nhiêu? - Cô Hà
hỏi với ngữ điệu thân thiện, không phải để hỏi.
- Vâng, cũng cỡ ấy. Hồi
đó, sợ mấy ông Việt Minh lắm. Em đă có hai lần trải qua cảm giác ấy, năm
tư và bảy lăm. - Cô Bân cười, phát âm s thành x, tr thành ch như cô Hà.
- Lần nào sợ hơn lần nào?
- Cô Hà cười cởi mở.
- Lần thứ hai. Hồi bảy
nhăm (lăm), em lớn rồi, nữ quân nhân ngụy, lại có chồng sĩ quan ngụy, lại
dân theo Chúa mà di cư. Hồi nhỏ chỉ sợ theo cái sợ của cha mẹ, của giáo
dân Chúa. Lớn, sợ cái sợ của chồng, của ḿnh, lại hết đường chạy thoát. Sợ
lắm. Cứ t́m mấy ông bà con giờ làm cán bộ để níu kéo, nương tựa, sợ nhỡ có
tắm máu tắm miếc ǵ. Hóa ra không. Nhớ lại, buồn cười đứt cả ruột! - Cô
Bân cười to, mắt long lanh ướt.
Cô Hà nắm tay cô Bân
đang đặt trên bàn, như muốn chia sẻ. Mấy hôm trước, cô Hà thấy cô Bân sang
trọng, quư phái, trang điểm rất kĩ và khéo, không giản dị như Hiền Lương,
cô Hà bỗng thấy ḿnh quá quê mùa, sinh mặc cảm. Nhưng chẳng lẽ cùng dân Hà
Nội, gặp nhau ở quê chồng, nhạt với nhau cũng khó coi, nên cố gắng niềm nở,
thật ḷng cô Hà ngại gặp lắm. Tuy cô Hà gượng gạo thế, rồi cởi mở với nhau
cũng rất thật ḷng. Cô Bân cũng không thể không mặc cảm với cán bộ. Từ
Ngày Thống nhất đến giờ, niềm mặc cảm của người bại trận không thể chạy
trốn, mặc cảm di cư, cứ âm ỉ, nghèn nghẹn với mặc cảm Đạo Chúa chất chứa
từ hồi “B́nh Tây sát tả” đến giờ. Dẫu từ đoạn Đổi mới, có hả hê đôi
chút, nhưng mặc cảm ấy vẫn c̣n như một vết thương truyền kiếp, đôi khi lỡ
chạm vào c̣n nhói cả tim. Vết thương ấy cô Bân biết chắc khó có thể lành
lặn. Đoạn mới Đổi mới, cô ngỡ đă lành rồi chứ. Cô cũng chẳng biết chính
cái cố chấp lại là phương thuốc xoa dịu vết thương mặc cảm ấy! Quả sự cố
chấp chính kiến, khăng khăng cho ḿnh đúng - di cư là đúng, thậm chí loại
chính kiến “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” cho dù triều
Nguyễn, sĩ phu “b́nh Tây sát tả” đến đâu, cũng đều xem là đúng -,
những cố chấp ấy, trong thực tế Đổi mới, có xoa dịu thật! Và ăn mặc đẹp,
phô trương vật chất, cũng là một phương thuốc hiệu nghiệm. Với cô Bân, ít
ra chỉ với cô, phương thuốc ấy khá hay! Mặc dù tư tưởng c̣n ở dạng khá cảm
tính, cô Bân vẫn có dáng dấp, cử chỉ rất trí thức, quư phái. Cô Bân lại
dám nói thẳng, không biết do bản tính cởi mở hay do mặc cảm kia chi phối,
nhưng lại rất chân thành.
Trong cô Hà, ngoài mặc
cảm quê mùa nảy sinh, hồi mới giải phóng Sài G̣n, lúc cô từ Hà Nội vào
thăm bà con, c̣n một mối hoài nghi những thứ lí luận mà cô luôn được củng
cố bằng học tập, đài và báo. Sao Miền Nam nói chung, riêng Sài G̣n, người
ta sống sướng thế! Bấy giờ, cô Hà chỉ mặc mỗi một loại quần đen thắt dải,
áo cổ bẻ, tay dài gài nút, màu xanh hoà b́nh hay trắng, lại đi đôi dép
nhựa cao gót, xách cái túi giả da xấu xí. Cô Hà choáng ngợp trước phồn hoa
Sài G̣n đến muốn khóc cho hả, mặc dù nghe nói đấy là phồn hoa giả tạo.
Năm bảy tám, cô Hà có
dịp vào Đà Nẵng công tác. Hồi ấy, vải để may quần chỉ có mỗi một màu đen
cho phụ nữ, chất vải lại mau nhăn nhúm. Thợ quốc doanh đường kim mũi chỉ
quá tệ. Cái quần cô mặc co lại quá ngắn, gần đến bắp chân. Một chị bán
hàng ở Đà Nẵng nói cay độc:
- Chị giải phóng, mặc
cái quần ǵ chó táp ba ngày không tới!
Mím chặt môi, cô Hà
phang lại thật đắng:
- Chó Miền Nam đấy! V́
Miền Nam bà mới khổ thế này!
Chị Đà Nẵng không vừa,
tung chưởng:
- Chó Liên Xô, Trung
Quốc thảm quá, c̣n hàm hồ.
- Chó cố đạo, chó Pháp,
chó Mỹ! - Chị Hà Nội quăng lại.
Chị Đà Nẵng điên tiết,
định xuất lại một chiêu thật độc, nhưng sợ công an, đành hậm hực ngậm
miệng.
Cô Hà bỏ cả một buổi họp
v́ đau đớn. “Gà nhà bôi mặt đá nhau” thế cho bọn nước lớn nó cười, hay hớm
ǵ. Nhưng cô không ngờ cô cũng tệ hại đến vậy, nhỏ nhen và đê tiện đến vậy.
Cô rút kinh nghiệm, căi nhau về chuyện nhỏ nhen, đê tiện, hóa ra ḿnh tự
hạ ḿnh xuống ngang tầm với chuyện đó. Nhưng vết thương vặt cũng đau như
nhọt đinh, cô Hà mấy lần phát sốt khi nhớ lại mẩu chuyện ở chợ Cồn, Đà
Nẵng. Năm ấy, cô Hà mới ba lăm, ba sáu tuổi.
Cô Hà nh́n cô Bân, nói
trong thoáng hồi ức về mẩu chuyện cũ, tuy đă cố nén ḷng :
- Phản loạn, chống Triều
đ́nh, “b́nh Tây sát tả”, chiến tranh, chia cắt Đất nước, rồi tư tưởng xung
đột, đau lắm. Những người ở lại Hà Nội sau năm tư, c̣n đau như xé. Vết đau
cả một trăm mấy chục năm rồi. Bây giờ, bọn Pháp, bọn Mỹ với ḿnh làm lành
với nhau, nhưng chúng thua trận chúng cũng đau, cũng nhục. Mấy tay cỡ như
Mác Na-ma-ra thú nhận sai lầm nhưng cũng muốn gỡ gạc. Vừa hội thảo đấy.
Cô Bân hơi chột dạ,
chạnh ḷng. Cô Bân cười gượng:
- Bây giờ, nói chuyện gỡ
gạc th́ hóa ra nhầm. Chị có thấy Liên Xô sụp đổ không. Trung Quốc cũng
chấp nhận kinh tế thị trường, tức là tư bản, nhưng tránh dùng từ cũ kẻo
mích ḷng nhau.
- Ư tôi muốn nói, Mỹ gỡ
gạc về chiến tranh. - Cô Hà nói dịu lại.
Cô Bân tấn công nhẹ
nhàng:
- Chiến tranh ư thức hệ
mà! Đấu tranh giai cấp ǵ đấy mà!
Cô Hà cũng non về chính
trị, giật ḿnh, lại cố dàn ḥa:
- Ừ nhỉ, tư bản cũng có
cái hay. Đổi mới, Mở cửa thấy khá hơn trước.
Cô Bân thừa thắng, cười
thật tươi:
- Chỗ dân gốc thủ đô với
nhau, lấy chồng cùng quê, nói thật, theo Chúa là đúng chứ! - Cô Bân lại
nắm tay cô Hà đang để trên bàn -. Chị thấy không, nước nào theo Chúa đều
khá cả. Chống Chúa chỉ mạnh lên một thời rồi sụp (II.15).
Cô Hà phân vân, nh́n cô
đồng hương quư phái và son phấn:
- Chuyện đời bối rối
thật, chả biết thế nào!
Thật ra cô Hà chỉ mới
học lớp bảy hệ mười năm, gia đ́nh cũng buôn thúng bán bưng ở Hà Nội. Cô
Bân cũng lớp bảy hệ mười hai năm, hiện đang buôn bán vải, cái nghề cô phải
theo từ sau bảy lăm, bây giờ yêu luôn, theo nghiệp của bố mẹ mang từ Hà
Nội vào.
- Thời này cán bộ như
hữu sản hóa hết rồi! - Cô Hà nói.
- Hữu sản chứ vô sản thế
nào được! Tôi nghe ông Nông nhà tôi nói, tư hữu là bản tính xưa nay của
con người. Ngày xưa mấy ông cha đạo, tức là linh mục đấy chị, cũng nói vậy.
Cộng sản là hoang đường, huyễn hoặc! Làm sao có thiên đường trên trần gian
được! Chỉ có sướng sung hơn thôi! Thiên đường thật chỉ có trên trời!
Cô Hà thấy chưa đồng ư,
nhưng cũng chẳng nói ǵ, ḷng vẫn băn khoăn. Thật ra, bực ḿnh bởi thời
cuộc đâm ra nghĩ ngợi dăm điều, cô Bân lẫn cô Hà vốn chỉ thích tin vào kết
quả trông thấy, hạnh phúc chỉ là những ǵ rất cơm áo gạo tiền, và là,
chồng con sung sướng, khỏe mạnh, được thiên hạ nể v́! Cô Bân, mắt sáng lên,
trong bụng hả hê lắm khi nói chuyện với cô Hà.
Lúc ấy, Hiền Lương đang
nói chuyện với Hành ở nhà ngang. H́nh như Hành mới qua chơi. Bông Bưởi
đang xem tập ảnh, cầm đến chỉ cho Hành xem hai người chị của Hiền Lương đă
lấy chồng và đă ở riêng. Hành thấy hai chị của cô khác hẳn, chẳng tí nào
giống cô. Hai chị vóc đậm, da đậm. Hiền Lương lại trắng, thon thả, không
giống cha cũng chẳng giống mẹ. Hiền Lương quá xinh đẹp, tươi tắn.
Thấy Hành, cô Bân ghé
tai cô Hà hỏi nhỏ về anh. Cô Hà cũng đáp khẽ. Cô Bân vừa nói chuyện, thỉnh
thoảng vừa quan sát cái anh chàng đang ngồi ở nhà ngang với con gái của cô.
Hai người trẻ tuổi, và cả Bông Bưởi nữa, có vẻ thân mật với nhau quá.
Thấy cô Bân bỗng dưng lơ
đễnh, nói chuyện nhưng mắt nh́n vượt qua vai ḿnh, hướng xuống nhà ngang,
cô Hà hiểu ư.
- Hành được tổ chức
huyện quy hoạch vào diện hạt giống đỏ, từ hồi c̣n trung học, mấy năm nay
tạm về bám phong trào cơ sở, - Cô Hà nói khẽ -, để rồi cơ cấu vào các chức
vụ chính trị quan trọng đấy.
Cô Bân hơi giật ḿnh, sợ
nghe nhầm:
- Là sao hở chị?
- Th́ sao nữa! Nghĩa là
tổ chức đă định hướng phấn đấu cho nó từ nhỏ! Vấn đề tổ chức mà. - Cô Hà
nói rất khẽ.
Cô Bân nhíu mày. Cô Hà
nói lảng qua chuyện khác rồi xin kiếu về. Hiền Lương đang bận tiếp chuyện
Hành, đành nói lớn, chào cô Hà, mời cô Hà hôm nào lại sang chơi.
Cô Bân tiễn cô Hà ra tận
ngơ, và cùng đi thêm một đỗi đường.
Người ta thường nói, đàn
bà Bắc bộ thường sâu kín. Nhưng nhận xét ấy cũng tùy. Chính sự “chân thành,
thẳng thắn” của cô Bân tạo nên sự cởi mở thật t́nh của cô Hà.
4
Ở Thủ Dầu Một, cô Bân
suốt ngày ngồi ở sạp vải ngoài chợ. Chú Nông sớm chở ra, chiều tối rước về.
Công việc nhà cửa bếp núc, sau khi Hiền Lương tốt nghiệp, cô con gái út
này phải đảm đang tất. Thời giờ c̣n lại, Hiền Lương chỉ lo vẽ, luyện tiếng
Anh, đọc sách. Lúc này, tại quê chồng, cô Bân ngồi uống nước sau khi ăn
tối xong, nghe thím Cận, Bông Bưởi khen Hiền Lương, cũng thấy vui, cũng lạ
cho con gái út của ḿnh. Cô Bân thầm nghĩ, sao Hiền Lương thích nghi với
đời sống nông thôn nhanh thế và hay thế, sao Hiền Lương càng lớn càng khác
hẳn hai chị, mặc dù bao giờ vợ chồng cô cũng đối xử, giáo dục, phân việc
cho ba chị em đều nhau hoặc như nhau. Nhưng cô Bân cũng gác lại ư nghĩ để
chuyện tṛ với thím Cận và Bông Bưởi, gái út của thím, cho đến lúc cả nhà
đều đi ngủ.
Đêm ở nông thôn, mọi nhà
ngủ sớm. Hiền Lương nằm bên mẹ, th́ thầm một chốc, rồi cũng ngủ mất. Cô
Bân quen thức khuya, lạ nhà, không thể chợp mắt, cứ nằm nghĩ ngợi mung
lung.
Hồi chiều, thấy Hành với
Hiền Lương thân nhau, cô Bân cũng thấy lạ. Cô Bân cũng biết ở Thủ Dầu Một,
có nhiều giám đốc trẻ của các doanh nghiệp tư nhân, thừa kế tài sản của bố,
hay nhờ thân nhân Việt kiều, nửa cho hẳn, nửa cho mượn vốn, có nhiều họa
sĩ nổi tiếng c̣n độc thân, thường săn đón Hiền Lương, sao nó chẳng yêu ai.
Hai mươi hai tuổi rồi chứ ít ǵ.
Cô Bân chợt thấy Hiền
Lương ngốc, c̣n ngốc. Hành chỉ là một anh giáo quèn, dẫu sau này có được
cất nhắc v́ là con liệt sĩ, ông bà nội đảng viên, bà nội kế cũng đă thành
liệt sĩ... Nhưng đâu phải lần đầu tiên cô nghe cô Hà nói về vấn đề tổ chức.
“Tổ chức là tức cái chỗ”. - Các cán bộ ngoài Bắc bà con xa với cô
Bân thường nói thế. Hiền Lương yêu Hành chỉ làm chậm đường hoặc chặn đường
tiến thân về chính trị mà tổ chức đă định hướng cho Hành. Cuối cùng chẳng
được ǵ, cũng là cán bộ quèn, lương ba cọc ba đồng! Ôi, cuộc sống, cái sự
so đo, tính toán, nó bẩn thỉu thế nào!
Ngày mới thống nhất hai
miền, cô Bân hỏi rất kĩ các mặt của chế độ mới cho dễ sống. Và điều này,
cô Bân nhớ là đă nói với Hiền Lương rồi cơ mà. Chú Nông cũng dặn ḍ kĩ rồi.
Cô chị đầu của Hiền Lương có quan hệ với một công an viên thôi, sau khi
cưới nhau, anh chàng công an ấy phải chuyển ngành. Con nhỏ Hiền Lương đầu
óc cứ ở mây xanh, trăng với là sao, ru mây hát gió! Và Hành, anh chàng này
chắc không thích chính trị rồi chăng! Cái ghế, ấy là vấn đề giai cấp cơ mà!
Ngày xưa, môn đăng hộ đối, bây giờ, đỏ và đỏ, không trộn màu được! Hết
thân thế, lại lí lịch!
Cô Bân c̣n nghĩ đến
“diễn biến ḥa b́nh” nữa! Ôi, cô thấy ngại quá... Phiêu lưu, tai họa! Và
len lỏi, luồn lọt đê tiện!
Cô Bân vẫn không thể ngủ
được. Nghiệm về cô con gái út, cô cũng thấy lạ, là càng lớn, tính t́nh,
cách sống nó càng giống chú Nông. Nét mặt chẳng giống là tất nhiên. Cô Bân
nghèn nghẹn. Hiền Lương là con gái út, hai chị đă ra riêng theo chồng. Nhờ
có điều kiện trong những năm Đổi mới gần đây, nên Hiền Lương được học hành
tương đối đến nơi đến chốn. Có lẽ, việc học hành cũng có ảnh hưởng nhiều
đến cách nghĩ, cách nh́n của nó. Nhà trường trang bị kiến thức, giáo dục
nó nhiều cái cô thấy cũng lạ. Hiền Lương có tŕnh độ học vấn, nên chú Nông
với nó trao đổi, tranh luận với nhau luôn. Nhưng, cô Bân thấy nghẹn ngào,
khi nghĩ đến ḍng họ. Thật ra, chẳng ai, không một ai biết ǵ về huyết
thống của Hiền Lương, ngoài cô Bân. Nó không phải thuộc về máu mủ chú Nông,
sao nó giống chú Nông về tính t́nh, cách sống đến vậy, và quá khác xa cha
ruột của nó, một trời một vực. Lẽ ra, ḍng máu cũng làm nên tính nết, cách
sống, cách nghĩ, cách nh́n chứ nhỉ. Cái ṇi ấy mà. Cô Bân nằm nghĩ miên
man.
Đêm, làng quê đă trở
ngọn nồm, mát rượi. Quen nhịp thức ngủ thị xă, lạ nhà, lại do bước qua
tuổi năm mươi chăng, cô Bân không cách nào ngủ được.
Cô Bân nghèn nghẹn. Ḍng
máu mẹ cũng ảnh hưởng chứ nhỉ? Cô cũng có nghe người ta nói đến đồng biến
và dị biến, trong mă di truyền về đức hạnh và tài năng. Nhưng giống lúa
tốt cấy trên đất xấu th́ sao. Hạt giống của cô với Đạc dẫu sao cũng đă
gieo trên mảnh đất của cô với Nông. Giống thường quá, môi trường cũng
thường. Hiền Lương lại vượt trội con cái những gia đ́nh trí thức, quư tộc!
Xuất thân từ trí thức, quư tộc cũ và mới, nhiều đứa bạn của nó chả ra ǵ,
ngày càng rơ là dốt đặc, ăn chơi, đàng điếm. Ờ, nhưng “nước, phân, cần”
c̣n quan trọng hơn “đất, giống”. Cô cười buồn. Có thể sức ép này nọ của
thời thế cũng là “nước, phân”, và nghị lực vươn lên tạo nên “cần” chăng.
Cô xấu hổ khi nghĩ đến Đạc, cha ruột của Hiền Lương. Không, không phải cô
có ṇi ngoại t́nh. Đó chỉ là một phút, cũng không phải một phút, trời ơi,
cả mấy năm dài, cô Bân đă yêu điên mê và kín đáo cái anh chàng sinh viên
tranh đấu người gốc Củ Chi ấy, nơi nổi tiếng là Đất thép!
... Đấy là năm bảy mươi
lăm, những tháng hấp hối của chế độ ngụy Sài G̣n. Khi thiếu úy Nông bị
điều đi làm nút chặn ở Xuân Lộc để các viên chức tháo chạy, chuẩn bị đầu
hàng, Đạc đă được một người bạn thân nhất của cô Bân xin cho Đạc tạm thời
nương thân ở nhà cô, bảo là Đạc chạy từ Trung vào, Đạc vốn là giảng viên
đang dạy đại học ngoài ấy. Đến bây giờ, chẳng hiểu tại sao chồng mới vắng
nhà, trong bối cảnh rối bời, hoảng loạn ấy, t́nh yêu lại như sét đánh,
cháy bỏng tim cô. Đến bây giờ, chẳng hiểu tại sao, cô quên bẵng hai đứa
con gái mới sáu tuổi và ba tuổi đang ngủ say, để chuyện tṛ với Đạc. Trong
trái tim mỗi người, phải chăng đă có sẵn bùa mê thuốc lú, chỉ cần một ánh
mắt cùng tần số t́nh cảm khơi ra là bùa ngấm, thuốc vỡ, tan, ḥa vào máu.
Thêm vào, chính Đạc đă chơi tṛ đểu cáng, sở khanh, đánh thuốc kích dục
vào tách nước, li cam vắt của cô? Như hai con vật ghê tởm, chả làm sao
cưỡng chế được nhau, Đạc và cô Bân đă đi đến việc lăn lộn trên giường. Ban
đầu, vừa kinh tởm, vừa ân ái, dần dần không thể không t́m đến nhau để hú
hí trong khổ đau, dằn vặt.
Đến khi Sài G̣n được giải
phóng, lo sợ, hoảng loạn, tiền lương bị cắt, chồng đi học tập cải tạo, cô
Bân vẫn đắm vào cuộc ngoại t́nh như một thuở tân hôn! Khi sinh ra Hiền
Lương - cái tên con, chồng ở trại cải tạo dặn ḍ để đặt -, tháng chín bảy
lăm, cô Bân mới biết Đạc vốn người Củ Chi, gia đ́nh ba đời hoạt động cách
mạng, được tổ chức cấy vào phong trào sinh viên học sinh tranh đấu, hiện
vừa công tác tại trường đại học vừa học nốt bậc cao học, chứ chẳng phải là
giảng viên ở Trung vào, như cô bạn thân nhất giới thiệu, nài xin, gởi gắm.
Đạc chỉ lớn hơn cô Bân hai tuổi, có giấy động viên tại chỗ (hoăn dịch) v́
lí do gia cảnh, nhờ chạy chọt. Lúc trốn ở nhà cô, Đạc đang bị cảnh sát
ngụy săn lùng!
Đấy là t́nh yêu ư, hay
chỉ hụt chân, và măi quẫy vợi dưới ḍng tội lỗi?
Cuộc ngoại t́nh đến bốn
năm, chẳng ai trong xóm cô ở Thủ Dầu Một hay biết, thậm chí, không một ai
nghi ngờ. Đạc chẳng bao giờ đến xóm nhà của mẹ con cô Bân. Những cái hẹn
rất kín đáo, những điểm hẹn ở những nơi khác, rất xa.
Cuối cùng, cái anh chàng
sinh viên tranh đấu, dao động, cơ hội từ trước bảy lăm về vấn đề chủ nghĩa
chính trị, vẫn theo quán tính mà hoạt động cách mạng ấy, đă bị công an bảo
vệ chính trị phát hiện ngoại t́nh hủ hóa với vợ sĩ quan ngụy, và đă bị
khai trừ khỏi Đảng. Năm bảy chín, Đạc đă vượt biên, man khai lí lịch ở đảo
tị nạn, xin định cư ở Ca-na-đa. Cô Bân nghẹn ngào khi nhớ lại cái anh
chàng Đạc đa t́nh, đểu cáng, dao động chính trị ấy, cái anh chàng làm cô
say đắm bởi nét điển trai, giọng nói ngọt như đường, cái anh chàng
bôn-sê-vích lại rất tư sản ấy - gă sở khanh có nét mặt cương nghị!
Đấy là cuộc ngoại t́nh ḱ
lạ duy nhất trong đời cô Bân. Và là đàn bà, cô biết chắc hạt máu nở sinh
ra Hiền Lương, chính đă h́nh thành trong ân ái giữa cô với Đạc. Sự vụng
trộm có sức lôi cuốn của nó!... Vâng, Hiền Lương chính là đứa con của cuộc
ngoại t́nh ngọt ngào, đắng đót, nồng nàn, đầy tủi thẹn ấy.
Thật nguy hiểm biết bao
nếu Hiền Lương, chú Nông và mọi người biết điều ấy: Hiền Lương là con của
một anh cộng sản trí thức có ư thức phản Đảng, ngoại t́nh, ở nước tư bản
nhờ vượt biên, man khai! Cô sợ hăi một ngày nào đó, sẽ vỡ lở chuyện cũ.
Như thế không tránh khỏi sụp đổ, tan nát gia đ́nh.
Cũng may công an chỉ
biết một nửa là họ ngoại t́nh với nhau!
Cô Bân thấy dâng lên
trong ngực cô một nỗi tủi nhục, hối hận. Nỗi tủi nhục, hối hận này không
nguôi dày ṿ, cắn rứt lương tâm người đàn bà này suốt hai mươi hai năm
nay!
Cứ mỗi khi khó ngủ, cô
Bân mở mắt trong khuya vắng, lại âm thầm một ḿnh chịu nỗi đau đớn, tủi hổ
cồn lên trong tâm. Tội lỗi đó cô chưa một lần xưng tội cùng linh mục của
giáo xứ, hay đến với các linh mục khác ở các giáo phận khác để được giải
tội. Nhưng đă bao lần cô quỳ trước tượng Chúa và Đức Mẹ, đọc hàng vạn lần
kinh ăn năn tội.
Chưa một lần đọc trọn
vẹn Kinh Thánh, thường chỉ nghe các trích đoạn hay, với cách cắt nghĩa
theo thần học La Mă của linh mục ở nhà thờ, cô vẫn hằng tin có Chúa, có
Đức Mẹ hồn xác lên trời (!). Cô tin Chúa và Mẹ sẽ tha thứ cho cô. Cũng
nhiều lần, cô nghĩ đến tu viện Con Đức Mẹ, cạnh nhà thờ tại trung tâm thị
xă Thủ Dầu Một.
5
Mười một giờ khuya, với
cô Bân đâu đă khuya lắm. Nhưng cả nhà ch́m sâu vào giấc ngủ, lá ngoài vườn
khuya xào xạc theo ngọn gió nồm, cô Bân có cảm giác giấc ngủ ở đâu đó cứ
chờn vờn, hành hạ cô. Phải ngủ, ngủ như một cách chết, để ngày mai sống
lại. Nhưng cô vẫn mở mắt thao láo rồi nhắm mắt thao thức.
Cô thương Hiền Lương quá.
Con gái út của cô ngủ ngon với những suy tưởng cao xa, sâu sắc về thế giới
h́nh tượng, đường nét và sắc màu của nó. Làm sao bé út Hiền Lương lại nghĩ
số phận đă dành cho nó một “vết thương” tủi nhục, đau đớn. Nó cũng như chú
Nông, ba của nó, không hề biết “vết thương” - thứ “vết thương” tội lỗi
muôn thuở ấy -, chính cô, cô Bân, đă gieo vào tim họ. Hai cha con chưa hề
biết nỗi đau đă mai phục sẵn trong tim, và sẽ không bao giờ biết. Đấy là
chưa kể hai cô con gái lớn, nhiều bà con ruột thịt nội ngoại nữa! Tội lỗi
của cô Bân đă thành tội ác. Hăy để cho tất cả mọi người thân ấy yên với sự
không biết của họ. Chính cái biết tạo nên “vết thương”? Không. “Vết thương”
có sẵn, nhưng đừng khơi dậy. Chẳng cần thiết phải khơi dậy làm ǵ. Có
những “vết thương” cần phẫu thuật, để được cứu sống. Có những loại như
“vết thương” cô Bân đă gieo cho Hiền Lương và chú Nông, không hề mưng mủ,
phát bệnh. Họ vẫn lành mạnh suốt đời. Hăy để cho họ yên lành, - Cô Bân tự
nghĩ -, để cho hai người thân yêu nhất của cô được yên lành bởi niềm tin
tưởng không mảy may nghi ngờ về trinh tiết, đức hạnh của cô - người mẹ,
người vợ đă ngoại t́nh!
Tội lỗi ấy đă thực sự
trở thành tội ác : ḍng máu lạ lạc vào gia phả của chú Nông! Cô Bân đă bao
lần lạnh người khi nghĩ đến...
Cô Bân thương chú Nông
quá. Cô Bân vẫn c̣n nhớ năm sáu tám, sau Tết Mậu thân, ở Trường Bộ binh
Thủ Đức. Bấy giờ, cô đă là nữ quân nhân của quân lực cộng ḥa ngụy, có
người thân bán hàng giải khát ở câu lạc bộ khóa sinh, nơi thỉnh thoảng khi
rảnh việc, cô ghé đến. Anh chàng Nông cao to, đen trùi trũi, nói giọng của
xứ Quảng Trị vĩ tuyến mười bảy, tóc ngắn ngủn, không hề hớp hồn cô từ phút
đầu, nhưng qua nhiều lần gặp gỡ, trong cô nảy sinh một niềm cảm mến. Cô có
cảm giác đấy là một con người không tầm thường. Nông cương nghị và có
nhiều cao vọng. Đấy là chất đàn ông, là chí làm trai, là nam tính. Cô Bân
không thể chịu nổi loại con trai đàn ông ẻo lả, tóc tai bù xù hoặc thả dài
óng mượt, chải chuốt như phụ nữ mà hồi ấy đang là thời trang. Rồi những
ngày lễ, ngày chủ nhật, Nông về nhà Bân thăm. Rồi cưới nhau, sau khi Nông
măn khóa với quân hàm chuẩn úy.
Bấy giờ, Quảng Trị là
địa đầu, súng đạn khốc liệt. Những chiếc ḥm liệm xác tử trận phủ cờ vàng
ba sọc đỏ được chở trên xe GMC. với hai người lính bồng súng, chạy về các
đường phố, hương lộ, huyện lộ mỗi ngày, như những ám ảnh kinh hoàng. Nông
không muốn lập công bằng súng đạn và chiến trận. Nông thích làm chính trị.
Nông đă là tín đồ Thiên Chúa giáo, giáo sư trung học đệ nhất cấp, lại là
đảng viên Quốc Dân đảng. Nông mê Nguyễn Công Trứ (18). Bân cũng thích
chồng ḿnh có chí lập công như thế. Bân đă t́m mọi cách để trở thành
“vợ ngoan, làm sang cho chồng”, xin xỏ, chạy chọt để Nông ở lại B́nh
Dương, khỏi về Quảng Trị, lại t́m cách giới thiệu Nông đến những nơi có
thế lực để ḥng kiếm phiếu bầu sau này. Bước đầu, Nông sẽ ứng cử dân biểu,
rồi thượng nghị sĩ.
Đấy là chí nguyện của
Nông và của Bân, v́ chưa biết đó là ảo vọng!
Nhưng dần dần, càng hiểu
sâu về chính trường lúc bấy giờ, những năm sáu tám, bảy mươi, Nông thấy
sân khấu chính trị chả hề giống với sách vở, với những bài lí luận tuyên
truyền. Dưới và sau những từ ngữ hoa mĩ mị dân là tham nhũng, ăn chơi, hút
sách, cả bẩn thỉu, cả thủ đoạn đê mạt nữa. Ḷng yêu quê nhà, yêu Tổ quốc
của một nhà giáo tỉnh lẻ từng một thời đồng nhất với chủ nghĩa chống cộng,
với lí tưởng cộng ḥa tư hữu, tự do, công bằng, dân chủ, đă thành nỗi đau
trước Đất nước với một thứ ảo mộng ngây ngô, và đă đến lúc vỡ mộng. Bây
giờ, mỗi đêm, nằm bên cô Bân, Nông đâm ra thở dài, những tiếng thở dài có
mùi thời sự. Nông khinh bỉ bọn đầu cơ chính trị và chiến tranh. Đấy là các
loại đảng phái như nấm mọc sau mưa từ hồi Ngô Đ́nh Diệm lẫn Nhu bị bắn
chết. Đấy là những tên hoạt đầu đội lốt hay mượn tay tôn giáo. Đấy là các
gă tư sản mại bản. Đấy là những con rối, bù nh́n của chính trường sân khấu.
Bây giờ, sau học thuyết “cần lao - nhân vị - duy linh”, đến thiền học dấn
thân, nhập thế, đến hiện sinh nôn mửa, đồng tấu với các ca khúc về thân
phận nhược tiểu, rầu rĩ, hoặc viễn mơ. Nói chung, không khí chính trị - xă
hội - văn hóa - tư tưởng ấy chỉ làm cho Nông thêm đau đớn, ngán ngẩm.
Không ai có thể hi sinh xương máu cho các tướng, các chính khách bù nh́n
ăn chơi. Dấn thân vào chính trị với thế lực tôm tép như Nông chỉ là ảo
vọng cay đắng của một anh sĩ quan cấp thấp, một anh giáo viên tỉnh lẻ đầy
lí tưởng sai lầm và khờ khạo.
Bân chỉ mộng được khôn
khéo để “làm sang cho chồng”, giúp chồng thăng tiến, bây giờ có con, ngấm
thêm tiếng thở dài thời sự và thế sự của chồng, mộng ấy cũng êm đềm vỡ.
Bân cũng dần dần an phận.
Gương mặt cương nghị
ngăm ngăm đen của Nông như bất động rồi gục xuống trong tiếng đại bác,
tiếng súng trường, trong âm nhạc thê lương làm tiêu ma hết mọi ư chí và
nghị lực. Vầng trán thao thức, phẳng một niềm tự tin, đă cau lại những nếp
hằn bất lực. Các thứ triết học, không một chút sức sống, chỉ khiến con
người ră rời, sa đọa, xa lạ với cả chính xă hội ḿnh sống, đừng nói đến
cầm súng cho một lí tưởng, dù lí tưởng ấy thế nào đi nữa.
Đấy là thứ sản phẩm của
bế tắc dẫn đến bế tắc. Siêu h́nh: Nổi loạn với hư vô. Thực tại: Tự do đến
mức hủy hoại cả tự do, dân chủ đến mức làm phá sản nền dân chủ - hủy hoại
và phá sản bởi không có chính nghĩa, bởi thiếu vắng những con người chính
nghĩa -, mặc dù, thảm hại thay, tự do, dân chủ được ban phát!
Những loại phim, sách,
báo dâm ô, đồi trụy sặc mùi Phơ-rớt!
Rốt lại Nông thấy khẩu
hiệu chiến tranh ư thức hệ của chế độ Miền Nam hoàn toàn không thể không
phá sản, hoàn toàn không thể đương đầu với chiến lược đấu tranh giai cấp
về mặt văn hoá - tư tưởng của Miền Bắc. Một mặt trận với đội quân cầm bút
vô chính phủ không thể chiến đấu được với cái được chế độ Miền Nam gọi là
văn hoá văn nghệ chỉ huy, bị hay được chỉ huy. Chủ nghĩa Hồ Chí Minh lại
có sức sống và vô địch. Siêu h́nh, mông lung, xa rời quần chúng, làm sao
chiến đấu với thực nghiệm, duy lí, có tính quần chúng, và cái cốt tủy nhất
là tính dân tộc. Vân vân...
Nông bỗng ngấm đau cho
cả hai miền Đất nước về chiến tranh. Đất nước phải chăng thành thí điểm
giao tranh của hai khối? Đấy là sự thật? Đấy là luận điệu của những cái
loa sô-vanh nước lớn? Đất nước như một vũ đài, một sới vật mà hai miền là
hai vơ sĩ của hai ông bầu cá độ? Sỉ nhục Tổ quốc và ḷng yêu nước của dân
tộc Việt Nam bằng luận điệu đó? Luận điệu đó của ai? Của một số bồi bút?
Nông đâm ra lừng khừng,
nhất là sau khi gặp lại vị linh mục Quảng B́nh. Ông linh mục di cư chống
cộng, từng đỡ đầu cho Nông, đă cởi áo chùng đen tu sĩ. Ông bảo Nông, giọng
xót xa, trầm lắng:
- Tôi đă đọc lại Kinh
Thánh với con mắt khoa học, có phân tích, có suy nghĩ, thấy đó không thể
là Lời Thượng đế. Không thể có một Thượng đế độc ác và kém thông minh như
vậy. Quy luật tự nhiên giữa các sinh vật, từ thực vật, động vật (kể cả vi
sinh vật) đến con người, quả là kinh tởm, kinh khủng, rùng rợn. Giê-su
cũng chẳng cứu rỗi được! Không phải mới mẻ ǵ điều này (II.15). Tôi thành
thật xin lỗi Nông, đă kéo Nông vào con đường sai lầm, tuy cũng có lắm điều
hay. Hay là phụ, sai lầm là cơ bản. Tôi đau đớn và b́nh tĩnh xin lỗi Nông.
- Vị linh mục nói, cơ hồ đang ứa nước mắt.
Thật ra, lâu nay, Nông
đă đọc nhiều sách hiện sinh vô thần. Nông hiểu vị linh mục rửa tội cho
Nông nói thành thật. Nhưng v́ cuộc sống, v́ quán tính, Nông vẫn đi nhà thờ
xưng tội, rước lễ như một người tự buông xuôi theo ḍng đời. Trong tâm hồn
Nông đă có một sự nổi loạn.
Lừng khừng, buồn nản,
bảy năm đi lính, Nông cứ theo thời hạn mà thay quân hàm, rồi lại bị phạt,
bị an ninh quân đội để ư, bị cố t́nh làm trễ quyết định thăng cấp, cuối
cùng chỉ là thiếu úy.
Có nhiều lần cô Bân nhận
thấy, nhiều điều nghe Nông kể lại trong khuya khi hai vợ chồng sắp đi vào
giấc ngủ mỗi tối. Quán tính của cuộc đời lôi người ta đi. Ư nghĩ có trăn
trở, thao thức mấy, cũng khó trở thành một nổi loạn, một phản kháng chống
lại sự cuồng dại, buông xuôi của đám đông với sức ́, đà tuột của xă hội!
Đấy chỉ là ư nghĩ từ suy tư của cá nhân.
Cô Bân có cảm giác không
rơ ràng về điều đó, không diễn được ra lời.
6
Mười hai giờ khuya.
Giờ này ở Thủ Dầu Một,
cô Bân ch́m vào giấc ngủ rồi, như thường lệ. Nhưng ở quê chồng, ngôi làng
ven sông Bến Hải, đêm nay cô Bân khó ngủ c̣n v́ một lẽ, ngoài những lí do
khác, đó là những xúc động, những ư nghĩ trong cuộc chuyện văn với cô Hà
hồi chiều.
Cô Bân cũng tự biết,
không phải mọi điều người ta nói ra, trong thâm tâm họ cho là đúng hết. V́
tự ái, cô Bân vẫn khăng khăng cố chấp một số điều mà cô đă hoài nghi và
thậm chí đă chắc chắn sai mười mươi.
Thời tuổi nhỏ, những năm
mới lớn, cô Bân thi thoảng c̣n nghe ông cố nội, ông nội và cả một số bà
con ruột thịt kể lại về hiệp ước Vẹc-xay (Versailles) giữa Nguyễn Ánh với
Pháp hoàng. Trong việc đó, vai tṛ thực dân của cha cả Bá Đa Lộc (Pigneau
de Béhaine) là quá rơ. Đâu chỉ Bá Đa Lộc, về sau, rơ nhất là trong các vụ
phản loạn lật đổ triều đ́nh, c̣n có cả cố đạo Du (Marchand), cố đạo Trường
(Legand de la Liraye), cố đạo Xuyên, cố đạo Hắc Nho (đều là người Tây,
người Pháp)! Cô Bân nghe kể, các “ngài” ấy đă kích động giáo dân Nam, Bắc
chống phá triều Nguyễn thế nào, hứa hẹn thế nào về một nước Đại Nam
“được” “bảo hộ”, Đạo Chúa trở thành quốc giáo! Và chẳng hiểu sao ông cố
nội, ông nội cùng những bà con ruột thịt của cô Bân không thể quên được
chuyện Hà Nội và mấy tỉnh lân cận thời Ngạc Nhi (Françis Garnier), thời Lí
Ba Lợi (Henry Rivière) xâm chiếm, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu tử tiết,
và nổi bật lên gương mặt Nguyễn Văn Tường - người mà giáo dân căm thù tột
đỉnh, lần thứ nhất (1873-1874), mưu tính bắt cóc ông ta, rồi lần thứ hai
về sau (1881-1885), quyết tâm hạ bệ, đánh đổ ông ta! Phu Chi Nhi (Puginier),
giám mục Pháp, tên thực dân này lại trở thành ân nhân của giáo dân Hà Nội,
Hưng Yên...!!! Cô Bân hiểu thực chất của vấn đề qua lời kể ngọt ngào, đầy
luyến tiếc “công đức” thực chất là tội ác phản quốc, xen lẫn cảm tưởng
ngậm ngùi của đức tin nô lệ ở những con người đă được tập luyện vừa đi,
vừa đọc kinh, và quỳ đầu gối sùng bái trên “chặng đường thánh giá”, “chặng
đường của Chúa Giê-su tử đạo”. Từ đó, thấm dần vào cô “thú đau thương”,
“hạnh phúc được tủi nhục v́ Thiên Chúa”, “ước vọng và tinh thần sẵn sàng
chết v́ Thiên Chúa” để về với Nước Chúa vĩnh hằng, c̣n sá ǵ Tổ quốc ở
cơi tạm trần gian này! Cô Bân c̣n mơ hồ nhận thức ra sự thật : V́ tôn thờ
Chúa Giê-su tử đạo, nên không có tôn giáo nào có số lượng tín đồ tử đạo
lớn như Thiên Chúa giáo. Thế th́ trách ǵ thảm họa “sát tả” của triều
Nguyễn! Cô Bân đă bao lần giật ḿnh, thức tỉnh như thế, cũng đă bao lần
lại đắm ch́m, mê muội trong đời sống hằng ngày với cảm thức tín đồ như thế.
Cô Bân làm sao quên được
hôm thiếu úy Nông, chồng cô, mời vị linh mục người Quảng B́nh, trước kia
là cha đạo ở Quảng Trị, từng làm lễ rửa tội cho anh, nay đă trả lại áo
chùng đen tu sĩ để về lại đời sống người thường, đến nhà vợ chồng cô ăn
một bữa cơm tối. Năm ấy, một ngàn chín trăm bảy mốt, linh mục đă gần năm
mươi tuổi, chẳng hiểu v́ sao ông lại về với đời sống trần phàm. Ông đă làm
lại cuộc đời một cách trung thực, với rất nhiều dũng cảm. Ông lập gia đ́nh
riêng và dạy học. Lần này gặp Nông, ông đă bớt xúc động.
Trong bữa cơm, hai người
nhắc lại những năm tháng ở trường Thánh Tâm và thị xă Quảng Trị, với những
kỉ niệm của họ. Ông nói, khi bữa cơm đă đến lúc dùng món tráng miệng:
- Nhớ năm ngoái, khi gặp
lại cậu ở Sài G̣n, sau mấy năm từ độ chia tay ở Quảng Trị, ḿnh có ư mong
cậu đọc lại Kinh Thánh, với con mắt khoa học. Nói cách khác, chúng ta cần
lấy khoa học rọi vào tôn giáo. Từ nhiều thế kỉ trước, các nhà tư tưởng,
các nhà khoa học tự nhiên và xă hội đă làm điều này. Những vấn nạn đă được
đặt ra và người ta đă từ lâu phủ nhận Thượng đế (II.15). ... Tại sao Chúa
tạo ra con người như một sản phẩm sai lầm? Tại sao Chúa phạt con người
bằng lụt hồng thủy, cứu gia đ́nh Nô-ê rồi “phạt” bằng tội loạn luân như
một tất yếu? Chắc cậu c̣n nhớ chuyện cha con ông Lót sau khi thành Sô-đôm
bị Chúa thiêu hủy? Môn siêu h́nh học trong trường phổ thông đă gián tiếp
trả lời qua việc tŕnh bày có hệ thống các quan niệm hữu thần và vô thần,
duy tâm và duy vật. Riêng về Tân ước, ngay Tin Lành giáo cũng phủ nhận Đức
Mẹ đồng trinh. Trên cơ sở văn bản Kinh Thánh, có người c̣n nghĩ Giê-su chỉ
là đứa con rơi... Và tại sao Chúa Giê-su cứu thế bằng cách rao truyền
thuyết mạt thế như một báo động cấp bách, và thỏa hiệp, hay ít ra không hề
chống lại chủ nghĩa đế quốc, bấy giờ là La Mă, mà chịu chết bởi quan cai
trị La Mă một cách hèn yếu, cam đành đến vậy? Chính Giê-su đă góp phần đưa
đến thảm họa mất nước hai ngàn năm của dân tộc Do Thái chăng? Nhiều vấn
nạn nữa, trong đó có lịch sử giáo hội Việt
Nam, một giáo hội vốn là sản phẩm của chủ
nghĩa thực dân, một giáo hội đă đẩy dân tộc ḿnh vào chỗ mất nước. Kinh
Thánh có phải là vũ khí tâm lí chiến, tư tưởng chiến để đế quốc La Mă xâm
lược thời xưa? Nay các nước Phương Tây cũng dùng nó với mục đích ấy? - Ông
ngừng lại, nhấp ngụm trà, hơi bối
rối, nói tiếp -. Thử nghĩ, nhưng không nghi ngờ ǵ nữa, rơ là những tiếng
chửi thề “đ.m.”, “fuck you”, đều xuất hiện từ thời nguyên thủy! Trong
những huyền thoại của Cựu ước, có cái lơi hiện thực, phản ánh thực tế lịch
sử các nhân chủng và nhân tộc. Cậu đă đọc chủ nghĩa Mác - Lê. Mác đă lật
ngược vấn đề rất hay, phải không? Tóm lại, tôi không tin có một Thượng đế
kém thông minh, độc ác đến vậy. Đạo Phật vô h́nh trung cũng đă phủ nhận
Thượng đế khi Phật phát hiện chúng sanh ăn thịt nhau để sống, kể cả cỏ cây
có sự sống. Nếu bảo quả đất này là địa ngục, rơ địa ngục này được lập ra
bởi một Thượng đế quá độc ác. Thế giới này do quỷ Sa-tăng cai quản, đúng
hơn. Sa-tăng sáng tạo ra quả đất này. Và Thiên Chúa, nếu có thực, vẫn bất
lực trước quỷ dữ Sa-tăng? Đấy cũng là một lí lẽ để thấy Thiên Chúa không
có chăng? Mác-xít đă đúng, duy vật, tiến hóa luận, vô thần luận đă đúng
chăng? Tất cả mọi nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác đă có trước Mác. Mác
chỉ kế thừa, phát triển thêm, Mác vẫn là nhà khoa học, nhà cách mạng lớn.
Ga-li-lê, Cô-péc-níc, Căm-pa-nen-la, Xanh Xi-mông, Hê-ghen... là những
tiền bối của Mác.
Nông chẳng nói ǵ, anh
lặng nghe ông linh mục trung thực, dũng cảm ấy. Đúng là những tín điều đă
bị lật lại từ bao thế kỉ... Đúng là những vấn đề lịch sử đă được xới lật,
nh́n nhận lại, ở những năm gần đây, ở một vài người...
- Về chuyện cũ ở thị xă
Quảng Trị, điều mà cậu băn khoăn, đó là vụ cậu đă vô ơn với thầy giáo tiểu
học, tố cáo Học với mật vụ: Thật ra, sau khi cậu vào lính, tôi được bọn
mật vụ cho hay, lúc chúng say rượu, rằng cậu đă trúng kế li gián của bọn
chúng. Bọn chúng muốn tranh thủ cậu, nhưng cậu lừng khừng, nên đă tung tin
Học sắp ám sát cậu, để cậu phải tự vệ. Bọn mật vụ tạo điều kiện thuận lợi
để cậu nhờ chúng bảo vệ và tố cáo Học. Chúng buộc cậu vào thế phải hạ thủ
trước. Thế là cậu phải chống cộng để tồn tại. - Ông ngậm ngùi -. Cuộc đời
buồn, chính trị bẩn, là thế đấy!
Nông sững người khi nghe
ông nói. Nông rợn ốc trên hai cánh tay, rợn cả ṿm ngực. Sự thật quá kinh
rợn. Mật vụ nắm biết Học c̣n rơ hơn Nông!
Đêm ấy, Nông nghiệm lại
lời ông cựu linh mục từng là ân nhân. Vấn đề quy luật tự nhiên, sinh vật
ăn thịt nhau, cả sự thể bầy người nguyên thủy quần hôn, tạp hôn thuở xa
xưa, từ trước và từ thời gia đ́nh Nô-ê... như một tất yếu lịch sử chả có
ǵ phải bàn. Chỉ riêng chuyện tố cáo Học làm anh bao năm không nguôi ân
hận, đau ḷng, hóa ra là vậy. Vừa nhẹ nhơm vừa khắc khoải, anh nghe ngực
tràn một niềm đau cay đắng, nghẹn ngào. Và Nông cứ đau đáu nghĩ ngợi về
vấn đề cốt tủy nhất: ḷng yêu nước, đă trở thành lẽ sống, thành triết học
của người Việt, làm sao có thể dung hợp được với ư thức tự nguyện chịu
chết trên cây thập giá của đế quốc với ảo tưởng về một Nước Chúa trên trời
nào đó? Nông thấy ḿnh bị lừa đến thê thảm. Anh đă ngu dốt đến thế sao!
Rồi sẽ c̣n bị lừa ǵ nữa? Nông nghiền ngẫm, lật ngược, lật xuôi măi cuốn
“Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, một cuốn sử được viết dưới
thời thực dân.
Trong bữa cơm ấy, cô Bân
lắng nghe tất cả. Cô cũng bàng hoàng. Nhưng rồi mọi người vẫn đi nhà thờ
nghe giảng Kinh Thánh, rước vào miệng Ḿnh thánh Chúa, biểu tượng của thịt
và máu Chúa Giê-su, như mọi ngày. Nếu không phải là ông linh mục đă rửa
tội cho Nông lúc nhỏ, cô Bân đă chẳng chịu nghe lấy nửa lời. Guồng máy của
tín điều tôn giáo vẫn chạy theo quán tính với sức ám thị êm ái về sự cam
chịu. Người ta vẫn hiểu Kinh Thánh theo cách của người ta xưa nay với
giọng giảng thiêng liêng trong nghi thức thiêng liêng của linh mục, mục sư,
trong giáo đường, nhà nguyện thiêng liêng. Tỉnh tỉnh, mê mê, lơ mơ trong
sinh hoạt tôn giáo đă trở thành một nhu cầu, một tập quán nhiều đời. Ám
thị với nhiều h́nh thức...
Rồi cô Bân cũng đă quên
đi lời ông cựu linh mục. Chú Nông cũng vậy. Cái quay vẫn búng sẵn trên đời.
Vâng, trên đời, chứ không phải trên trời. Con người quay theo nhịp quay
của nó, cứ vô thức, hữu thức, rồi lại vô thức. Cô Bân cũng quên mất, chú
Nông cũng chẳng nhớ chính lời chú dặn cô và cả Hiền Lương, rằng để chống
lại ám thị phải biết cách xới, lật, ngược, xuôi mọi vấn đề! (II.15).
7
Không giờ mười lăm.
Không giờ bốn lăm.
Cô Bân dần dần ch́m vào
giấc ngủ mỏi mệt. Trong chập chờn: gương mặt chú Nông lại hốc hác, chớm
những sợi bạc trên mái tóc, khi mới tuổi bốn mươi, từ trại cải tạo ngụy
quân trở về. Trở về, vào những năm tám mươi, chú Nông thẫn thờ chiêm
nghiệm. Chú toan nổi điên đưa vợ con lên một khu rừng thật hẻo lánh, xa
vắng bóng người để ở ẩn. Nhưng đấy chỉ là ư nghĩ điên rồ. Biết là điên rồ,
chú Nông vẫn nuôi dưỡng ư định ấy mấy năm trời. Có nhiều lần, chú đă vượt
biên, khi cả nhà, khi một ḿnh (sẽ bảo lănh vợ con sau), với ư định xin
được định cư ở một nước nào đó chẳng dính líu đến chiến tranh Việt Nam,
như Thụy Sĩ, Hi Lạp ǵ đó. Một cách tỉnh táo nhưng cũng rất bức bối, chú
Nông bảo với bạn bè cũ, kẻ thù chính là tất cả các nước dính líu đến cuộc
chiến vừa qua, từ thời Pháp thực dân đến nay. Trong đó, đặc biệt là đế
quốc Tây Ban Nha, phát-xít Nhật, đế quốc Mỹ. Trong đó, gồm cả các nước
thực dân, đế quốc như Anh, Bồ Đào Nha, có dính líu ít nhiều! Trong đó, gồm
cả Nga Sa hoàng, Liên Xô, Trung Quốc, theo chú Nông, đă dính líu! Cộng ḥa
Liên bang Xô-viết, đấy là đế quốc đỏ gồm Nga và mười mấy nước bị sáp nhập;
có thể nói, kể cả phong trào xích hóa để trở thành thuộc địa đỏ Xô-viết
Nghệ - Tĩnh! Chú Nông gần như phát rồ, tự đánh lừa, tự vuốt ve nỗi đau đă
trót làm lính ngụy, trót theo “thập ác” bằng cách vin níu vào danh từ, vào
sự sai lầm về h́nh thức - biểu trưng có tính quốc tế của phong trào cách
mạng vô sản, phong trào vốn xem nhẹ biểu trưng dân tộc.
Thực ra, không phải chú
Nông không hiểu rơ: Tội ác xâm lược nước ta và các nước Á - Phi - Mỹ la
tinh là từ sự câu kết của Giáo hội Thiên Chúa giáo với thực dân, đế quốc.
Sự liên minh ma quỷ ấy tất yếu phải dẫn đến việc tự khai sinh, lớn dậy của
phong trào cộng sản trên thế giới - một liên minh đối trọng, một lực lượng
chính nghĩa và tiến bộ, theo hệ tư tưởng nhân văn xă hội chủ nghĩa và cộng
sản chủ nghĩa. Không c̣n con đường nào khác!
Trong chập chờn giấc ngủ,
cô Bân thấy gương mặt chú Nông cúi gầm trên sách và báo chí, mang từ chợ
trời, từ nhà sách về. Dần dần, chú Nông căm thù luôn cả các nước tư sản đế
quốc kinh tế với h́nh tượng con bạch tuộc nhiều ṿi, con đỉa hai ṿi - ẩn
dụ về các tập đoàn tư bản liên quốc gia đối với các nước nghèo và lao động
chính quốc.
Rồi, Đổi mới, chú Nông
quyết định không đi Mỹ như tự hứa bao năm trước, mặc dù công an có gọi chú
lên lập hồ sơ theo diện H.O. (sự thỏa thuận của Mỹ và Việt Nam), v́ đây là
cuộc chiến tranh Việt - Mỹ, cũng như trước đây, chiến tranh là chiến tranh
Việt - Pháp.
Con người ngăm ngăm đen,
cương nghị, gân guốc, lại làm thơ, vẽ tranh. Hiền Lương và chú Nông tâm
đắc với nhau dù tranh luận với nhau cũng nhiều về văn học nghệ thuật, cả
về triết học, văn hóa, đặc biệt là về lịch sử. Văn chương, triết học...
thời Đổi mới đă sâu rộng hơn, dân chủ hơn... và cũng không ít sai lệch,
xuyên tạc nghiêm trọng, bên cạnh sự nh́n lại, đánh giá lại để đạt tới sự
chính xác, chân thật hơn... Một trong những cuốn sách về sử học cả chú
Nông lẫn Hiền Lương đều tâm đắc, rất tâm đắc, đó là cuốn “Nước Đại Nam đối
diện với Pháp và Trung Hoa” của giáo sư tiến sĩ người Nhật T-su-boi
(Yoshiharu Tsuboi), mặc dù vẫn c̣n khía cạnh này nọ, ở một đôi chỗ, do
quan điểm tư sản, bảo hoàng chi phối, như phê phán chỗ dựa giai cấp của
triều đ́nh là nông dân nghèo, không thấy được thuế ruộng Bắc ḱ là ưu đăi
cho thành phần đông đảo và cơ bản đó; vụ Dục Đức bị truất phế v́ không đủ
tư cách đạo đức để làm vua, v́ sự lên ngôi của Dục Đức chỉ gây khó khăn
cho nhóm chủ chiến (Dục Đức đă câu kết với “tả đạo”), lại quy kết do tham
vọng của phụ chính là muốn giành ngai vàng cho Kiến Phúc; và đánh giá sai
lạc về hệ thống sơn pḥng, lực lượng hương binh...
Nhưng cô Bân vốn chẳng
có đủ học vấn, lại thiếu th́ giờ để đọc, để suy luận, cô buông ḿnh theo
đà quay của suy nghĩ cũ vốn đă hằn trên năo trạng. Cô Bân biết ḿnh hơi cố
chấp, cực đoan, mặc dù chú Nông đă bao lần khuyên cô đừng tự và đừng bị
khoét sâu mặc cảm. Trong các thủ đoạn chính trị, có thủ đoạn khoét sâu mặc
cảm để li gián, chia rẽ. Phải chăng, người Mỹ, Pháp, Nhật... trở lại Đông
Dương, cần tăng sâu độ đau mặc cảm của lính ngụy, người theo các tôn giáo,
nhất là giáo dân Thiên Chúa giáo, để tạo nên hậu thuẫn trong cuộc thực dân
về kinh tế trong giai đoạn Mở cửa này? Đúng hơn, vừa đánh vừa xoa, để các
lực lượng mặc cảm với chế độ mới vừa yếu đi, vừa có thể làm hậu thuẫn về
việc làm ăn kinh doanh, một khi chế độ mới là cộng sản đă bắt tay với Mỹ,
Pháp, Nhật và các nước cựu thù? Và Nhà nước hay lực lượng tôn giáo, xă hội
nào đó phải cần một đối sách thời Mở cửa, mặc dù chỉ đồn miệng? Chú Nông
thấy việc đời quả thật quá bối rối! Chú Nông ngao ngán thở dài, khi tâm sự
với cô Bân điều đó.
Đêm đă khuya, những ư
tưởng vốn không rạch ṛi, khúc chiết và rất nhiều sự việc chỉ là những
h́nh ảnh cảm tính rời rạc chưa thành ư tưởng trong đầu óc của cô Bân lúc
ban ngày, bây giờ chỉ hiện ra trong khoảng chập chờn giấc ngủ như những ấn
tượng, những cảm giác lờ mờ, lơ mơ, chẳng hạn có những mẩu đối thoại giữa
hai cha con, chú Nông và Hiền Lương, vẫn c̣n lưu lại trong kí ức cô Bân,
nhưng cô cũng không thật thấu hiểu. Cô Bân cảm giác những điều trừu tượng
ấy hơn là nắm bắt, thấu hiểu một cách chính xác chúng.
Đến bảy giờ sáng, cô Bân
mới thức dậy. Cô đă thiếp ngủ trong trăn trở, mệt mỏi, và tỉnh dậy trong
ră rời, ê ẩm. Khi mở mắt ra, theo quán tính, cô Bân ngỡ đang c̣n ở nhà tại
Thủ Dầu Một, và ư nghĩ đầu tiên là về sạp vải ở lầu một của chợ.
8
Ăn sáng một cách uể oải,
ngồi nghỉ, đi quanh trong vườn một ḿnh cho thanh thản trở lại, cô Bân vẫn
bần thần v́ giấc ngủ trằn trọc, những chuỗi hồi tưởng lơ mơ trước khi ngủ
đêm qua. Đúng là hồi tưởng lơ mơ của tiềm thức chập choạng, chập chờn
trong không khí nóng hực của gió nam lửa và dịu nồm trở ngọn về khuya. Cô
chẳng thấu hiểu, vâng, chẳng thấu hiểu những điều trừu tượng ấy, cô chỉ
cảm giác về chúng, những điều ẩn khuất, đau đáu, trăn trở ở chú Nông, ở
ông cựu linh mục và bạn bè chú. Buồn buồn trong trạng thái ră rượi, cô Bân
trở vào nhà. Hiền Lương vẫn mê mải trước khung tranh. Chú Cận dưới nhà
ngang đục đục bào bào. Bông Bưởi đang đọc sách. Thím Cận mỉm cười với cô
Bân trong khi tay vẫn thoăn thoắt thái cây chuối để nấu cháo cho bầy lợn
đang ủn ỉn trong chuồng.
Ngồi bên cạnh chuyện tṛ
với thím Cận, cô Bân thấy nhói trong tâm vết thương tội lỗi ngoại t́nh cũ.
Vết thương ấy đeo đẳng trong cô không bao giờ lành lặn.
Chuyện tṛ mà hồn để đâu
đâu.
Thím Cận hơi áy náy.
Thím đoán chừng cô Bân đă quen với nếp sống của người thành thị, suốt ngày,
năm này sang tháng nọ, chỉ ngồi ở sạp vải đủ màu thơm thơm giữa chợ, khó
quen với cảnh vật và nhịp sống nông thôn, cũng có thể mất ngủ v́ mùa này
Quảng Trị khô khao, hừng hực nóng, kể cả lúc đêm về, mà chính thím, sinh
ra, lớn lên, già đi ở đây cũng thấy nhừ cả người.
Ngồi bên cạnh thím Cận,
cô Bân thấy con gái út đang quay lưng về phía ḿnh say sưa vẽ tranh. Cô
Bân mỉm cười, thầm thừa nhận Hiền Lương có mái tóc dài và cái lưng, đôi
vai, đôi tay, cả dáng ngồi quá duyên dáng, xinh đẹp. Đúng là Hiền Lương
đẹp mọi bề.
Cô Bân chợt chạnh ḷng
khi nghĩ về sự thân thiện giữa con gái út của cô với Hành. Cô quư Hành.
Hành cao, gầy, gương mặt trí thức. Nhưng cô Bân thấy Hiền Lương cũng như
Hành cần thực tế, tỉnh táo mà sống.
T́nh yêu, hăy xem là cơn
gió thoảng.
Nói thế, đúng là vô tâm
như đá tảng, nhưng đó là một lời tàn nhẫn có ư nhắc nhở một cách thô bạo.
Cô Bân bỗng mừng là cô
đă ra thăm quê chồng, biết được t́nh cảm của Hiền Lương và Hành lúc c̣n
chưa thắm thiết, chỉ mới cảm t́nh chứ chưa phải t́nh yêu.
Nhưng, cô Bân nghĩ, ḿnh
có một cuộc ngoại t́nh điên dại, u mê thế, có quyền ǵ dạy bảo Hiền Lương
nhỉ! Một cảm giác tự khinh nghèn nghẹn, đăng đắng trong cổ làm cô Bân bất
giác thở hắt.
Cô Bân nhận thấy, mỗi
khi khó ngủ, bần thần, ră rượi thế này, tinh thần cô hơi u uất, day dứt.
Cô chuyện tṛ gượng gạo với thím Cận một lúc nữa rồi lên nhà trên, đứng
sau lưng Hiền Lương. Hiền Lương mải mê trau chuốt lại bức tranh vẽ Bông
Bưởi. Cô Bân tự nhủ thầm: Mẹ đă rơi vào bùn, sẽ biết cách ngăn con vấy
phải bùn chứ!
Bông Bưởi trong đời thực
và trong tranh quá chừng chất phác đáng yêu. Đấy là một vẻ đẹp thanh khiết,
tràn đầy một trời hồn nhiên với những nét b́nh dị đến b́nh thường. Đấy
không phải nét đẹp của gương mặt, dáng h́nh. Đấy là tuổi mười lăm trong
sáng với nếp nghĩ của một vùng quê giản dị mà sâu sắc đă in sâu tự bao giờ,
chính Bông Bưởi, phải gọi là h́nh tượng nhân vật Bông Bưởi, cũng không hề
hay biết.
Cô Bân lặng lẽ ngắm,
thấy tâm hồn dịu lại, tươi tắn lên, và cô Bân cũng chẳng hiểu tại sao.
9
Khi cô Bân quay gót,
Hiền Lương mới biết năy giờ mẹ đă đứng nh́n cô vẽ tranh. Cô mỉm cười với
mẹ, và sực nhận ra mẹ cô không nh́n thấy cái mỉm cười ngô nghê của người
mới chợt thoát ra khỏi cảm hứng sáng tạo ấy. Hiền Lương lại tiếp tục, hồn
đăm đắm vào h́nh tượng Bông Bưởi, với cây cọ, với bảng màu trên tay.
Cô Bân bước ra cửa phía
chái đầu hồi, đứng nh́n ra vườn, tay trái vừa níu vừa tựa vào cột xi măng
sát bậc thềm lên xuống. Cô Bân nh́n cây và lá, cả khoảnh vườn đang xanh
ngời lên trong nắng.
Cô Bân thương chú Nông
cả tuần nay cô quạnh một ḿnh trong Thủ Dầu Một. Cô đă dự định sửa lại nhà
cửa thật kiên cố, nhất là cửa nẻo với các loại khóa bảo đảm, để khi đi xa,
chẳng cần ai phải ở lại trông nhà mà vẫn yên tâm. Nhưng dự định ấy xem ra
cũng khó thực hiện.
Cô Bân ngó ra vườn, bâng
quơ. Cô nhớ đến anh chàng cao to, trắng trẻo, điển trai với cái răng khểnh
đểu cáng, đôi môi ươn ướt đa t́nh đă khiến cô điên dại, khổ đau. Đạc! Cô
Bân thương Hiền Lương, sợ hăi khi nghĩ đến lúc Hiền Lương biết được cha
ruột của nó. Hiền Lương sẽ ra sao? Cái anh Đạc ấy, năm nay cũng đă năm
mươi hai tuổi v́ cô Bân đă năm mươi tṛn. Đạc vượt biên, không một lá thư
gửi về. Mười tám năm nay, không một chữ liên lạc. Nghe đâu, khi man khai
lí lịch, Đạc bỏ hết các chi tiết đỏ trong ba đời làm ruộng, lại khác cả
quê quán, tên tuổi người thân. Đạc đổi đỏ thành trắng! Ở Ca-na-đa, Đạc
phấn đấu làm giàu, có được số vốn kha khá, lấy một cô vợ Tây. Nay h́nh như
Đạc đang làm ở văn pḥng đại diện của một hăng tư nhân Mỹ tại Xin-ga-po.
Qua một người bạn ở trường đại học của Đạc trước kia, cô Bân biết thêm,
những năm là sinh viên Đạc chẳng học hành ǵ, bận lo tranh đấu chính trị,
và bằng cử nhân có được, cũng như giấy hoăn dịch gia cảnh, là nhờ lo lót,
bằng cao học sau bảy lăm lại nhờ chiếu cố! Nếu biết được Đạc như thế, chắc
Hiền Lương sẽ ̣a khóc tức tưởi, khóc suốt cuộc đời! Cô Bân cũng thấy không
ngờ chính cô lại có một thời u mê đến vậy. Con người, đâu phải ai cũng lỡ
lầm, đểu cáng như cô đă lỡ lầm, Đạc đă đểu cáng. Không phải cô ảo tưởng về
con người, nhưng cô tin chắc người tốt bao giờ cũng nhiều hơn kẻ đă ít
nhiều vấy bùn vào nhân cách. Cô Bân nh́n những đọt lá lay động trong nắng
gió. Cô lại nghĩ, không ảo tưởng về con người, nhưng điều cô tin nhất là
khả năng nhận thức được cám dỗ, cạm bẫy lẫn dục vọng trong mỗi con người,
và ḷng sám hối, ăn năn của kẻ có tội. Con người đích thực là con người
khi biết sám hối, ăn năn với tất cả chiều sâu của thành khẩn, tận đáy ḷng.
Cô Bân chẳng hiểu những
ư tưởng sâu sắc, chân thành mà cô khó suy tư bằng ngôn ngữ, chỉ bằng tâm
cảm kia, đă làm thanh thản phần nào cho những cắn rứt của trái tim cô.
Cô thương Hiền Lương quá.
Những mảnh vườn, những thửa ruộng, những xóm nhà và ḍng sông Bến Hải này,
đâu phải là quê hương đích thực của Hiền Lương. Những ǵ Hiền Lương được
hun đúc, được trao truyền một cách vô thức, hữu thức, về quan niệm sống,
cách sống, từ chú Nông và cô Bân, mà đặc biệt, từ chú Nông, có lẽ phần lớn
là từ làng quê này đây. Làng quê này, chưa bao giờ Hiền Lương có một
thoáng nghi ngờ rằng không phải làng nội của nó. Và cái tên nó mang suốt
đời nó, Hiền Lương, cũng đă trở thành máu thịt của tâm hồn nó. Hiền Lương
không ngờ chính Hiền Lương đă ngộ nhận về gốc gác bên nội của ḿnh, với ư
niệm quê hương cụ thể trong chính tâm thức Hiền Lương. Quê ngoại Hà Nội
của ḿnh, Hiền Lương cũng chưa bao giờ có dịp ra thăm. Hiền Lương thực sự
không có quê hương cụ thể là một làng quê, một góc phố nào. Hiền Lương là
người Việt Nam, thế thôi. Nhưng những ǵ h́nh thành nơi Hiền Lương, ngoài
ư niệm đă là ngộ nhận, về gốc gác nội tộc, và những ǵ ảnh hưởng ở cô Bân,
ở chú Nông, ở thầy cô, nhà trường, môi trường B́nh Dương, chắc chắn c̣n do
chính bản thân Hiền Lương tự thân làm nên. Hiền Lương làm nên chính Hiền
Lương từ ngộ nhận, ước lệ xă hội, từ tiếp nhận ảnh hưởng và đề kháng ảnh
hưởng, các ảnh hưởng bởi cha mẹ, nhà trường, bạn bè, môi trường sống, một
cách vô thức, hữu thức, ngấm ngầm và quyết liệt, theo những chuẩn giá trị
của thời nó sống, và những chuẩn ấy cũng vô thức, hữu thức được Hiền Lương
tiếp nhận, đề kháng nữa. Mă di truyền của Đạc cũng góp phần làm nên Hiền
Lương sao? Biết đâu Hiền Lương giống ông cố, ông bác nào của Hiền Lương ở
Củ Chi, họ Vơ, mà Hiền Lương chẳng bao giờ biết. Nhưng chắc chắn không có
bản sao về nhận thức, tâm hồn. Điều ấy c̣n tùy thuộc vào tri thức, cảm
thức thế hệ, và môi trường, và vân vân, rất nhiều vân vân nữa. Hiền Lương
chịu tác động và đă tác động ngược lại.
Thương Hiền Lương đă yêu
một quê nội mà thật ra không phải là quê nội huyết thống của Hiền Lương.
Làng quê bên sông Bến Hải này chỉ là một, duy nhất một quê nội, phải gọi
đúng tên là quê hương tâm linh, của Hiền Lương, hay quê hương ân nghĩa,
của Hiền Lương. Cần khẳng định chăng, cái ngộ nhận, v́ không hề biết, về
bản quán, không hề là ngộ nhận! Bởi văn hoá Bến Hải, t́nh thương Bến Hải,
đă trở thành máu thịt của chính Hiền Lương, cộng với chân lí, tri thức
thời đại mà thế hệ Hiền Lương sống, trong sự tiếp nhận, đề kháng ảnh hưởng.
Song cái quan trọng là phần Hiền Lương làm nên chính Hiền Lương, phần ấy
mới thực giá trị của Hiền Lương... Ồ, chẳng hiểu sao cô cứ lẩn quẩn ư
tưởng này.
Cô Bân không thể diễn
đạt nên những điều mà thật ra cô chỉ cảm. Cô Bân cảm được điều đó, ngay
tận cốt lơi của vấn đề, nhưng chưa bao giờ, chẳng bao giờ lí giải thật
minh bạch.
Cô Bân nghĩ, phải dặn
Hiền Lương đừng bao giờ yêu những người mang họ Hoàng của Nông, Dương của
cô và Vơ của Đạc. Phải thật tế nhị nói với Hiền Lương điều này. - Cô Bân
tự nhủ.
Cô Bân lặng lẽ nh́n ra
vườn cây lá, xanh ngắt, lung linh những phiến nắng. Cô Bân bồi hồi. Cô Bân
cảm thấy bản thân cô cũng như bao nhiêu người khác, cứ sống trong những
điều trực cảm, chẳng bao giờ lí giải một điều ǵ thật đến đầu đến đũa, cứ
mung lung, rối rắm, mơ hồ, v́ thế, chắc chắn có những lệch lạc, sai lầm,
có những đúng đắn, chính xác không ngờ chăng. Không hiểu, và chẳng thể nào
lí giải, cô Bân chỉ trôi theo trực cảm. Cô Bân đang đắm vào ḍng trực cảm
ấy, trong khi vẫn nh́n ra vườn đang xanh cây lá và chấp chới nắng.
Cô Bân bước vào nhà.
Hiền Lương mỉm cười với mẹ, hỏi mẹ có mệt trong người không, sao nét mặt
hơi phờ phạc thế kia. Cô Bân cũng nhếch khẽ môi mỉm cười, lắc đầu.
H́nh tượng Bông Bưởi, cô
bé mười lăm tuổi, trong bức tranh Hiền Lương đang gọt sửa, lại sáng lên
một ánh sáng hài ḥa với những sắc độ tươi tắn, phả vào tâm hồn cô Bân một
cảm giác trong sáng, tinh khiết, b́nh dị đến thư thả, nhẹ nhơm.
Bỗng dưng cô Bân ứa nước
mắt xúc động.
TXA.
CƯỚC CHÚ chương VII:
(18) Nguyễn Công Trứ
(1778 - 1859), người Hà Tĩnh, quê quán rất gần với quê quán Nguyễn Du
(1766 - 1820), chỉ chênh lệch nhau 12 tuổi, nhưng hai ông đối lập nhau
hoàn toàn về tính cách, tư tưởng chính trị - xă hội lẫn quan niệm sống và
xây dựng sự nghiệp. Nguyễn Công Trứ là con trai Nguyễn Công Tấn, tri phủ
dưới thời vua Lê chúa Trịnh. Thân sinh Nguyễn Công Trứ từng dấy binh, nổi
dậy chống Tây Sơn - Nguyễn Huệ, nhưng thất bại. Bản thân Nguyễn Công Trứ
đă từng dâng Thái b́nh thập sách (mười sách lược xây dựng nền thái b́nh
thịnh trị) khi vua Minh Mạng tuần du ra Bắc. Năm 1819, ông thi đỗ giải
nguyên, ra làm quan, trải qua hai triều Minh Mạng, Thiệu Trị. Suốt đời ông
luôn tận tụy với công việc được triều đ́nh nhà Nguyễn giao phó, cho dù có
lúc thăng (hữu tham tri Bộ H́nh), lúc giáng (cách tuột chức, làm lính thú),
và giáng rồi lại thăng. Ông được nhân dân lập đền thờ khi c̣n sống. Một
câu nói rất nổi tiếng của ông: "Lúc làm quan, ta không lấy làm vinh,
nên khi làm lính, ta không lấy làm nhục".
Ở đây, chỉ là sở thích
cá nhân về thưởng thức của nhân vật Nông, không liên quan đến chế độ Mỹ -
ngụy. Cũng giống như trong thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ hào hùng,
lại có rất nhiều người thích Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm và nhiều
tác phẩm có âm điệu đau thương, bi thiết khác. Xin phân biệt sự khác biệt
về sở thích thưởng thức (thị hiếu thưởng ngoạn) của mỗi cá nhân với khí
hậu thời đại, cảm hứng thời đại trong sáng tác. Tôi không nói đến mảng văn
chương thực hiện nhiệm vụ tuyên tuyền chính trị mà dưới chế độ phong kiến
hầu như rất ít, chủ yếu v́ không có phương tiện truyền thông đại chúng như
báo chí, phát thanh, truyền h́nh.
(Xin xem tiếp chú thích
II.23).
TXA.
(
xem tiếp
chương VIII )