TRẦN
XUÂN AN
m ù
a
h è
b
ê n
s
ô n g
(nỗi đau hậu chiến)
tiểu thuyết
nnhà
xuất bản
1997 & 2003
CHÚ THÍCH II
1. Phần lớn cư dân ở Quảng Trị vốn gốc châu Hoan (Nghệ
- Tĩnh). Riêng họ Hoàng ở làng này và một số họ khác ở làng khác lại có
gốc ở Bắc bộ.
Huyện Địa Linh (Do Linh) vốn là đất của hai huyện: Đăng
Xương (Triệu Phong), Minh linh (Vĩnh Linh). Đăng Xương nguyên là đất châu
Ô; Minh Linh ngày xưa thuộc châu Ma Linh. Do đó, Do Linh ngày nay là vùng
giao thoa của Ô và Ma Linh thời cổ. V́ địa giới thay đổi, nên khó xác định
ranh giới 232 năm (1075-1307): Sông Thạch Hăn? Sông Hiếu (Điếu Ngao, Cửa
Việt)? Cầu Trúc Lâm (ranh giới Đăng Xương và Địa Linh, xem mục “Cầu Hà
Thượng”, ĐNNTC., sđd., “cuối chú thích II.1 này”, tr. 189)? Sông Ô Giang (xem
mục “Sông Minh Lương”, ĐNNTC., sđd., tr.150 - 151)? Ở đây, cũng nêu thêm
vấn đề: Liệu vùng đất châu Ô xưa có ranh giới phía nam là sông Ô Lâu (thuộc
Hải Lăng) và ranh giới phía bắc và sông Ô Giang (thuộc Do Linh) chăng? Hay
địa phận châu Ô rộng đến huyện Hương Trà...?
Dẫu sao, vẫn có thể xác định rơ 2 điều :
a. Do Linh (hoặc Gio Linh) chắc chắn phải là vùng đất
giao thoa giữa châu Ô và châu Ma Linh.
b. Chưa rơ ranh giới 232 năm (1075 - 1307) là con sông
nào trong 4 con sông kể trên. Tuy nhiên, phỏng định chung vẫn nghiêng về
con sông lớn ở giữa - sông Hiếu (nếu hiện tượng đoạt ḍng chảy, đổi ḍng
chảy theo quy luật địa lí tự nhiên trong khoảng 7 đến 9 thế kỉ qua không
đáng kể) : Chính sông Hiếu là ranh giới lịch sử 232 năm (1069 - 1307),
trên vùng đất Việt Thường thị (thuộc nước Văn Lang của vua Hùng, trước
công nguyên Tây lịch; về sau, thuộc địa phận mà người Tàu gọi là Tượng Lâm,
Nhật Nam, đồng bào Chăm gộp vào nước Lâm Ấp (“Champa”).
Đây là vấn đề riêng, không thuộc đề tài của cuốn tiểu
thuyết "Mùa Hè Bên Sông" này. Tác giả đă hoàn tất một cuốn khác về vấn đề
lịch sử xa xưa ấy (Kinh - Mường, Môn - Khmer, Kiratas “Cà Lơ”, Chăm, Hoa,
các sắc dân Thủy - Lục Chân Lạp): "Nước Mắt Có Vị Ngọt".
Tham khảo và xem thêm :
* Lê Quư Đôn, "Phủ biên tạp lục", hai tập (sáu quyển),
bản dịch của Lê Xuân Giáo, Tủ sách Cổ văn, Uỷ ban dịch thuật Phủ QVK. đặc
trách văn hoá xb., 1972 - 1973.
* Quốc sử quán triều Nguyễn, "Đại Nam nhất thống chí",
tập I (kinh sư, phủ Thừa Thiên và đạo Quảng Trị), tập II (tỉnh Quảng B́nh,
tỉnh Quảng Nam...), Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Viện Sử
học và Nxb. Thuận Hóa, 1992, và các thư tịch cổ khác.
* Lm. Nguyễn Văn Ngọc, bài “Xứ Cửa Tùng” (gồm Vĩnh Linh,
Gio Linh ngày nay, trong đó có tổng Bái Trời), Tạp chí Cửa Việt, số 9,
1991, tr.72 - 77.
* Nguyễn Cửu Sà, bài “Về nguồn gốc các giếng cổ ở Gio
Linh”, Tạp chí Cửa Việt, số 9, 1991, tr. 78 - 80.
* Đen-vô (Aldophe Delvaux) (xem chú thích I.24, 50) có
đề cập đến vụ “sát tả” 09.1885, tại tổng Bái Trời, sđd. (BAVH.), tr. 81 -
82.
* Gia-bu-i-dơ (Jabouille), bài "Một trang viết về lịch
sử tỉnh Quảng Trị", Những người bạn cố đô Huế [BAVH., 1923], tập X, Phan
Xưng dịch, Nguyễn Vy hiệu đính, Nxb. TH., 2002, tr. 439...
* Lm. Nguyễn Văn Ngọc, bài Sự thành lập các làng cổ ở
Quảng Trị”, Tạp chí Cửa Việt, số 10, 1991, tr.70 - 76.
* Nguyễn Lương, bài “Mấy ư kiến về bài: Sự thành lập
các làng cổ ở Quảng Trị”, Tạp chí Cửa Việt, số 15, 1992, tr. 88 - 89.
2. Siêu ngă: cơ chế tâm
lí theo Phơ-rớt gồm có ba phần: siêu ngă (le sur-moi), bản ngă (le moi) và
hạ ngă (le ça). Siêu ngă là phần văn hóa, đạo đức đă được giáo hóa mà
thành. Hạ ngă là phần bản năng, dục vọng thấp hèn mà li-bi-đô (ẩn ức t́nh
dục) là chính (!).
Siêu ngă và hạ ngă luôn xung đột nhau, tạo nên bản ngă... Văn hóa nói
chung bao gồm hệ thống luân lí, đạo đức, phong tục, tập quán, tôn giáo,
văn học nghệ thuật dân gian và bác học, học vấn... Mọi người, mọi xă hội
phải cùng nhau tạo ra sức ép văn hoá cần thiết để ngăn chặn hạ ngă (le ça)
đồng thời giải toả hạ ngă (le ça) bằng học tập, lao động và những hoạt
động lành mạnh, có ích.
3. Tận tín thư bất như vô thư: Quá tin vào sách, chẳng
bằng không có sách (Mạnh Tử, thiên Tận tâm, hạ).
4. Một số trào lưu tư tưởng, triết học, tôn giáo, một
số khái niệm, thuật ngữ khoa học được suy nghĩ, nghiền ngẫm và quan niệm
theo cách riêng của tác giả, không hoàn toàn đúng như vốn có. Có thể đối
chiếu để thấy sự khác biệt. Đây không phải là sự sa-đích mà chỉ là ư kiến
riêng của tác giả về những vấn đề có đề cập đến các tư tưởng, triết học,
tôn giáo, các khái niệm, thuật ngữ khoa học nói trên. Các vấn đề, các
trường phái ấy đă có văn bản của chúng (đă được in thành sách báo).
5. Bất bạo động, bạo động dả tất tử; bất vọng ngoại,
vọng ngoại dả tất ngu. Ngă hữu nhất kế kính hiến chư đồng bào, đồng nhân,
tự do chi chí [?], thị chi học: Đừng bạo động, bạo động (khởi nghĩa với vũ
khí) là chết; đừng vọng ngoại, vọng ngoại (trông chờ, ỷ vào người nước
ngoài) là ngu dốt, dại dột. Ai là người đồng nhân, đồng bào, ai là kẻ thật
yêu tự do, tôi có một kế sách kính tặng, ấy là học (nâng cao kiến thức mọi
mặt, tiếp thu các thành tựu khoa học - kĩ thuật hiện đại). “Đồng nhân”:
cùng một đức nhân, thương người, nhân đạo với tất cả; cùng một dân tộc (Phan
Chu Trinh).
6. Tiên trách kỉ, hậu trách bỉ: trách ḿnh trước, trách
người (và hoàn cảnh) sau.
7. Luật pháp (quân pháp) bất vị thân: luật pháp (hay
quân pháp, pháp chế quân đội) không thiên vị “ngay cả” đối với người thân
thích.
8. Xem thêm: Kinh Thánh:
- Tiểu mục “Người trai trẻ giàu có” (Lu-ca: 18: 18-30);
- Tiểu mục “Ví dụ về các ta-lâng” (Ma-thi-ơ: 25:14-30);
- Tiểu mục: “Lời ví dụ về các nén bạc” (Lu-ca: 19:
11-28).
Xin lưu ư cái-biểu-hiện và cái-được-biểu-hiện trong các
ẩn dụ: ít nhiều thể hiện tư tưởng bóc lột, quan hệ chủ - tớ rất phong kiến,
tư sản, khá tàn nhẫn.
Chủ nghĩa xă hội, theo quan điểm mới, là chủ nghĩa tư
bản nhà nước, là chủ nghĩa tư bản nhưng giám đốc, tổng giám đốc là người
cộng sản, cũng rất năng động, cùng tập thể lănh đạo, tự hạch toán kinh
doanh theo quy luật thị trường, nhưng chỉ ăn lương của nhà nước, v́ hạnh
phúc của nhân dân và nhân loại. Chủ nghĩa xă hội không thể không bóc lột
“giá trị thặng dư” để tái sản xuất mở rộng. Chỉ có một điều khác nhau: nhà
tư sản làm giàu cho cá nhân nhà tư sản; nhà cộng sản làm giàu cho đất nước
và nhân loại, quan hệ chủ - thợ là quan hệ đồng chí.
9. Các câu chuyện Thiền học được rất nhiều người biết
đến:
- Chẻ tượng Phật;
- Qua sông vứt bè (bè là Phật pháp);
- cùng với phương châm tu thiền: “Phùng Phật sát Phật”;
ư niệm dục và thiện căn...
Kinh sách, tượng thờ, chùa chiền, nghi thức tụng niệm,
kể cả chân sư đắc đạo, đều là “phương tiện” của người tu học; cứu cánh
chính là sự kiến tánh, “kiến tánh thành Phật”. Không ai tu thay ai được.
Phật tại tâm. “Mỗi người tự thắp đuốc mà đi”.
10. Nữ tu: lẽ ra phải viết đúng và đủ là “nữ tu sĩ”
hoặc “tu nữ”. Trừ những từ ngữ cố định, nay có thể chăng mượn một số từ tố
Hán - Việt, cấu tạo theo ngữ pháp thuần Việt, như “nữ tu”?
11. Kinh Thánh của Đạo Tin lành. Thầy Tiếng, nhân vật
trong tiểu thuyết này, sử dụng Kinh Thánh Tin lành giáo nên khác cách
phiên âm (với KT. TCG.). Kinh Thánh c̣n là một trong vài ngọn nguồn chính
của Kinh Co-ran Đạo Hồi (Is-x-lam: Isxlam) mặc dù Đạo Hồi xem Do Thái giáo,
Thiên Chúa giáo là dị giáo.
Xem thêm: Lm. Nguyễn Tự Do, "Ngài Cứu thế", Tủ sách Lời
Chúa xuất bản, Sài G̣n, 1970.
Câu nói cuối cùng của Đức Phật: “Bốn mươi chín năm
thuyết pháp, ta không nói một lời nào” hiểu như ư niệm “vô ngôn”, “vô tự
chân kinh”.
12. B́nh Tây sát tả: đánh đuổi thực dân Pháp và Thiên
Chúa giáo (tả đạo: tôn giáo không chân chính). Đó là tên gọi một phong
trào yêu nước chống ngoại xâm, thế kỉ XIX. Có trường hợp, tên gọi ấy gắn
liền với chức danh, chẳng hạn: danh hiệu của vị tướng quân anh hùng Nguyễn
Duy Hiệu (Nguyễn Hiệu): “B́nh Tây sát tả đại tướng quân”. (Nhưng dẫu sao,
Nguyễn Duy Hiệu cũng chỉ thuộc hàng ngũ quan cấp tỉnh, không bị thực dân,
tả đạo căm ghét như chúng đă căm ghét Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết).
13. Một số hồi kí của ngụy quân ngụy quyền, như hồi kí
của tướng ngụy Hoành Linh Đỗ Mậu, đă được trích đăng trên báo Tuổi Trẻ (Tp.
HCM.), và của một cựu phóng viên UPI., trên tạp chí Cửa Việt...
14. Thơ Lư Bạch (bài “Giang thượng ngâm”):
Tạm dịch:
... Từ, phú của Khuất B́nh (Khuất Nguyên)
làm mờ cả mặt trời, mặt trăng
Lầu, đền của Sở vương (vua nước Sở)
thành g̣, núi hoang vu...
15. Những tư liệu báo chí và sách đă xuất bản được ghi
xuất xứ kèm theo cuốn tiểu thuyết này chỉ có mục đích tránh những nhát búa
ŕu vô lối của dư luận đông đảo. Xin lưu ư: tất cả đều là đối tượng của
khoa học, do đó không phải là phạm thượng khi dám đặt vấn đề trước các bậc
đại nhân (được nh́n nhận như những nhân vật lịch sử), các tôn giáo, các hệ
tư tưởng... Đồng thời, cũng nhằm chứng minh: cốt tủy của Phật giáo, Thiên
Chúa giáo (tương tự như TLG.) có thể khế hợp với nguyên lí xă hội chủ
nghĩa, thậm chí là tiền đề của nguyên lí ấy (xem trang ở giữa tiết 4,
chương VIII của tiểu thuyết này), theo quy luật kế thừa và phát triển
trong lịch sử tư tưởng: "Phủ định của phủ định".
Và cũng xin lưu ư thêm: Trên tinh thần khoa học, chúng
tôi không dám khẳng định các chi tiết cụ thể, sinh động về hành trạng
chính trị, nhất là về đời tư của các nhân vật lịch sử hiện đại (giữ vai
tṛ chủ yếu nửa sau thế kỉ XX) có đề cập trong tiểu thuyết này là đúng với
sự thật lịch sử. Đó chỉ là những "thông tin chưa kiểm chứng" trên các đài
phát thanh nước ngoài, những dư luận trong đời sống, trên sách báo...
Chúng tôi chỉ làm công việc phản ánh dư luận xă hội đồng thời minh định
các "thông tin", dư luận ấy, với điều kiện hạn chế của người viết tiểu
thuyết, trong khi chờ chính sử hiện đại được công bố. Tuy nhiên, tôi vẫn
băn khoăn, liệu bộ chính sử hiện đại có được trung thực, hay các nhà sử
học hiện nay chỉ biên soạn sử để tuyên truyền, và đành chấp nhận thua kém
cả những bộ sử thời phong kiến về tính trung thực? Phương châm đồng thời
cũng là nguyên tắc ngày xưa khẳng định quyền hạn và tính độc lập của các
nhà chép sử, đại ư: Trong nước có ba đại quyền tối thượng: quyền sử gia,
quyền Trời, quyền vua. Trong ba loại quyền to lớn ấy, quyền sử gia c̣n
được đặt trước cả quyền Trời, quyền vua. Sử gia phải có quyền bất khả xâm
phạm (không một ai, một thế lực nào có thể làm sức ép, chi phối, cưỡng bức,
giam tù, giết hại, kể cả quyền lực đế vương). Phương châm - nguyên tắc ấy
là kim chỉ nam và là quyền hạn được xác định, nhưng cũng là vũ khí để đấu
tranh trước các loại sức ép. Vũ khí phương châm - nguyên tắc đó của sử gia
không phải chỉ được sử dụng trong thời xa xưa mà trong mọi thời, kể cả
thời toàn xă hội xem quyền Trời là không có thật. Thời đại nào quyền bất
khả xâm phạm của sử gia được tôn trọng và bảo vệ với cơ chế cụ thể, có
hiệu lực, được trang trọng ghi vào pháp luật, thời đại đó tự thắp sáng
tính ưu việt của nó trong lĩnh vực rất cần sự trung thực, quang minh chính
đại này.
Trước khi bộ chính sử hiện đại thật sự trung thực được
công bố, nhà xuất bản và bạn đọc có thể cắt bỏ hoặc lướt qua (xem như
không có) các chi tiết như trên đă viết, để tránh bị các lực lượng, các cá
nhân thù địch, tâm địa không tốt lợi dụng với mục đích xấu.
16. Đoạn này, nhân vật Quyển có nói một số ư chưa rơ.
Đấy là các vấn đề: về hiện trạng xă hội, trong đó có lĩnh vực kinh tế; về
quy luật khách quan của sự phát triển (tiến hóa, thăng hóa)... Riêng về
khía cạnh chuyển hóa giai cấp trong thời ḱ quá độ, mở cửa này: ngay tại
các công ti liên doanh với nước ngoài, các công ti trách nhiệm hữu hạn của
các nhà tư sản dân tộc vẫn phải có tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, Đoàn
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Công đoàn cơ sở, để thực thi công tác
xây dựng, phát triển Đảng...
17. “Con đường đau khổ”, tiểu thuyết ba tập của A.
Tôn-x-tôi (Aleksei Tolstoi), bá tước thời Sa hoàng, lưu vong sau 1917. Một
thời gian sau, ông lại về nước, trở thành nhà văn Liên Xô. Đây là bộ tiểu
thuyết đồ sộ phản ánh Cách mạng Nga trước 10.1917 (lịch cũ) đến những năm
đầu thập niên hai mươi thế kỉ này. Lưu ư: Đồng thời và sau A. Tôn-x-tôi
vẫn có Pa-téc-nác (Paternak) và Xon-den-nít-xưn (Solzenitsyl)!
18. Về một số nhân vật Thiên Chúa giáo hư cấu ở Tp. HCM.:
Trong tiểu thuyết này, có đề cập và khắc họa một cựu
linh mục, một số cựu giáo dân Thiên Chúa giáo. Đó là những người đă từ bỏ
Thiên Chúa giáo từ lâu để trở về với văn hóa - lịch sử dân tộc. Ngoài ra,
có duy nhất một nhân vật là cô Bân (mẹ của nhân vật Hiền Lương), vẫn c̣n
đi xem lễ ở nhà thờ TCG. theo “áp lực” của giáo xứ và do quán tính của nếp
“đạo ḍng”, nhưng trong thâm tâm đă từ lâu “nhạt đạo”.
Tiểu thuyết này không nhằm phản ánh về thực trạng Thiên
Chúa giáo ở nước ta hiện nay.
19. Về lập trường, quan điểm viết sử của Quốc sử quán
triều Nguyễn, thể hiện ở Thực lục qua ba kỉ IV (1847 - 1883), V (1883 -
1885), VI (1885 - 1888), tác giả tiểu thuyết này (Trần Xuân An) đă căn cứ
vào hai bản phàm lệ của kỉ V, kỉ VI và chủ yếu căn cứ vào thời điểm phân
kỉ ở Thực lục để minh định: Chính triều (1847 - 06.9.1885); ngụy triều
(06.9.1885 - 1888...).
a. Chính triều: lập trường, quan điểm yêu nước, chống
Pháp, chống tả đạo TCG.; và ít nhiều xen lẫn lập trường, quan điểm bảo
hoàng ngu trung trong sự kiện tứ nguyệt tam vương: kỉ IV, kỉ V (1847 -
06.9.1885, ngày Nguyễn Văn Tường bị Pháp lưu đày).
b. Ngụy triều: lập trường, quan điểm của ngụy triều
Đồng Khánh, nịnh hót Pháp, nịnh hót tả đạo TCG.; và bôi nhọ người chống
Pháp, chống tả đạo TCG.; đồng thời cũng vừa sử dụng bọn tả đạo TCG. ở các
địa phương để đánh dẹp phong trào Cần vương vừa phê phán chính bọn tả đạo
TCG. ấy đang manh tâm phục thù, cướp chính quyền ở phủ, huyện, làm suy yếu
ngụy quyền Đồng Khánh bù nh́n: kỉ VI (12.9.1885 - 1888...).
Ở “Đại Nam thực lục, chính biên” (kỉ IV, V, VI) không
có sự đảo ngược sự thật lịch sử. Nhưng rơ ràng là riêng ở kỉ VI (12.9.1885
- 1888), Quốc sử quán triều Nguyễn đă thể hiện cách đánh giá sự thật lịch
sử theo tiêu chí ngược, trái nghịch với chủ nghĩa yêu nước của dân tộc,
trái nghịch với công lí của nhân loại về độc lập dân tộc và tự do chính
đáng của nhân dân (không xâm hại đến nền độc lập dân tộc và chủ quyền Đất
nước). Xin phân biệt rơ: cách viết sử xuyên tạc bằng sự đảo ngược sự thật
lịch sử với cách viết sử có đánh giá sự thật lịch sử (gồm cả nhân vật
lịch sử) theo tiêu chí ngược. Ở cách thứ nhất, người chống Pháp bị đảo
ngược thành kẻ cấu kết với Pháp. Qua Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu
(thực ra là do Lương Khải Siêu...) viết về Từ Dũ, Nguyễn Văn Tường một
cách phi khoa học, thiếu cứ liệu - luận cứ, luận chứng (đổ tội làm mất
nước là do hai người này và do Trần Tiễn Thành). Như thế, vô h́nh trung (thực
ra là một cách cố t́nh) Phan Bội Châu (Lương Khải Siêu...) đă ngụy biện
cho Dục Đức, Hiệp Ḥa, Tuy Lư vương, Hồng Hưu... và phần nào cho Trần Tiễn
Thành... (II.19.a). Ở cách thứ hai, người chống Pháp là xấu (!), như
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết...; và cũng phi lí thay, người nịnh hót
Pháp lại là tốt (!), như Đồng Khánh, Nguyễn Hữu Độ... Quốc sử quán triều
Nguyễn đă thể hiện rơ cách viết này ở kỉ VI (12.9.1885 - 1888), đó là cách
viết sử theo hệ giá trị phản quốc, nhằm lưu lại sự thật cho hậu thế minh
xét. Hậu thế chính là các thế hệ hiện nay.
Xét về tính khoa học, Thực lục về các kỉ IV, V, VI đạt
ở mức rất cao, trong sự so sánh đồng đại. Quốc sử quán triều Nguyễn trích
dẫn khá đầy đủ các văn bản như quốc thư (Đồng Khánh gửi Chính phủ Pháp,
bôi nhọ Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết...), chiếu, dụ, cáo thị (về
phong trào Cần vương và vai tṛ của Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết...),
bản án (De Courcy, De Champeaux kết án Nguyễn Văn Tường; ngụy triều Đồng
Khánh kết án Nguyễn Văn Tường và ba thành viên khác của nhóm chủ chiến...),
tấu, sớ, đặc biệt là mật dụ (sắc dụ gửi Nguyễn Văn Tường, sắc dụ gửi hoàng
tộc, từ Tân Sở gửi về...)... Đó là các văn kiện của phía triều đ́nh Đại
Nam và phía thực dân Pháp. Ngoài ra, sử quan c̣n ghi chép các vụ việc với
diễn biến khá chi tiết mà vẫn rất cô đọng. Hơn nữa, nhờ phương thức làm
việc tập thể (II.19.b), mỗi thành viên Quốc sử quán đều phải lưu danh để
chịu trách nhiệm (II.19.c), nên Thực Lục (IV, V, VI) đạt được tính khách
quan - một yếu tính hết sức cần thiết của sử học. Rất tiếc, ở kỉ đệ lục,
đó chỉ là ghi chép một cách khách quan theo lập trường, quan điểm nói trên.
Trên đây chỉ là nhận định khái quát chung. Xin xem thêm
các soạn phẩm biên khảo của tác giả về giai đoạn lịch sử này (qua việc
nghiên cứu nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường, 1824 - 1886) [danh mục sách
ở những trang cuối sách này].
Ở đây, tác giả tiểu thuyết chỉ chú thích thêm để làm rơ
hơn nhận định của nhân vật ông giáo Hiền, sư Tâm Tự, nhân vật Hành và một
vài nhân vật khác (xin xem các trang trong tiểu thuyết này, bản 2001:
12-13, 101-102, 127-128, 187, 198-200, 224-225, 231-232, 384-385, 407-408,
425, 464-466, 481, 494-497).
[Xem thêm: 258-259, 360-363, 444-445].
Xin vui ḷng xem: Cách thức t́m số trang tương ứng ở
bản 2003 này ở "bảng liệt kê số thứ tự trang của các trang thuộc bản vi
tính 11. 2001 có đính chính - bổ sung".
20. Về các nhân vật hư cấu ở làng quê bên sông Bến Hải:
Qua tâm trạng và kí ức của những nhân vật hư cấu, điển
h́nh cho vài ba thế hệ hiện c̣n sống ngay trên mảnh đất chôn nhau cắt rốn,
bên bờ nam ḍng sông lịch sử Bến Hải, cả một giai đoạn lịch sử hơn một thế
kỉ đau thương và hùng tráng (từ 1858 đến 1975, cùng hai thập niên sau đó)
đă được tái hiện theo tính cách, tư tưởng và số phận riêng của từng nhân
vật. Ông giáo Hiền, sư Tâm Tự, ông Nộp, ông Hiệu Điên ở quê nhà, và cả cựu
linh mục Tiếng hiện ở TP.HCM., đều thuộc thế hệ đến nay đă ngoài bảy mươi
tuổi, là các nhân chứng đồng thời là người trong cuộc, từ những năm 20 của
thế kỉ XX đến thời điểm vài ba năm cuối thế kỉ vừa trôi qua. Học và Nông
thuộc thế hệ kế tiếp, cùng được sinh ra, lớn lên trên một làng quê, có
cùng một thầy giáo tiểu học thời chín năm chống Pháp dưới sự lănh đạo của
Đảng và Mặt trận Việt Minh (1945 - 1954), cùng chung một mái trường trung
học đệ nhất và đệ nhị cấp Nguyễn Hoàng ở thị xă Quảng Trị, nhưng ḍng sông
Bến Hải đă như một vết thương lịch sử, cắt ngang t́nh đồng hương, đồng môn
của họ. Hiền Lương (con gái của Nông - Bân) từ thị xă Thủ Dầu Một, tỉnh
B́nh Dương (Nam Bộ) về thăm quê, gặp Hành (con trai của Học - Ngoan), và
kí ức của những người già sống lại một thời đă xa, c̣n ở hai người trẻ
tuổi này, họ không thể không trăn trở, thao thức, suy tư về lịch sử, một
giai đoạn lịch sử c̣n in đậm dấu vết trên những gương mặt người thân thuộc,
láng giềng, ngay trên từng tấc đất làng thôn, từng gợn sóng của ḍng sông
Bến Hải quê nhà... Sinh ra đời sau Ngày Giải phóng 30.4.1975, mặc dù lớn
lên trong một gia đ́nh mà bên ngoại là người Bắc Ḱ di cư, Thiên Chúa giáo
toàn ṭng, người cha nuôi dạy là giáo dân tân ṭng dưới chế độ cũ, nguyên
là sĩ quan ngụy, nhưng bản thân người cha và Hiền Lương đă thật sự "nhạt
đạo", nên cô gái ấy vẫn rất gần gũi về tư tưởng với Hành, con trai của hai
liệt sĩ cách mạng. Mặt khác, cả Hành lẫn Hiền Lương đều thuộc thế hệ được
học hành trong nhà trường của chế độ mới, do đó, sự thể họ dễ đồng cảm với
nhau cũng là chuyện b́nh thường...
TRẦN XUÂN AN
Sửa chữa, bổ sung đến ngày hai mươi ba, tháng
mười,
năm Đinh sửu (1997), lúc 15 giờ 40 phút;
và vào quư tư, năm Tân tị (2001), tại Tp. HCM.
Sửa chữa, bổ sung lần thứ ba, quư tư năm Quư
mùi HB.3 (2003).
CƯỚC CHÚ của phần CHÚ THÍCH II:
(II.19.a) Thật ra, Phan Bội Châu chỉ lên án "quyền
gian" trong vụ phế truất Dục Đức bằng vài ḍng chữ ngắn ngủi khi viết về
Phan Đ́nh Phùng (NTPCPBC., VNVQS., sđd., tr. 89). Ai cũng biết Phan Bội
Châu ám chỉ Tôn Thất Thuyết, người trực tiếp ra lệnh trói và Bộ H́nh cách
chức Phan Đ́nh Phùng (lúc ấy, Phan Đ́nh Phùng c̣n chủ ḥa). Ngoài ra, Phan
Bội Châu không viết một chữ nào về vụ Hiệp Ḥa (thân Pháp) và vụ Kiến Phúc
(do Hồng Hưu).
(II.19.b) Phương thức biên soạn tập thể đúng
nghĩa: Không phải mỗi người trong ban biên soạn phụ trách một phần rồi đem
ghép lại thành một bộ sách hoặc một cuốn sách, mà các tư liệu, chi tiết sự
kiện, diễn biến lịch sử, hành trạng nhân vật lịch sử, kể cả nhận định,
b́nh giá hiện nay đều phải được tập thể cân nhắc, lấy ư kiến chung, rồi
phân công người chấp bút, sau đó tập thể biên tập lại. Hơn nữa, c̣n phải
xuất bản để trưng cầu công luận bằng nhiều h́nh thức công khai, gồm việc
lấy ư kiến nhân chứng c̣n sống (trong điều kiện hiện tại)...
(II.19.c) Ngoài ra, Quốc sử quán triều Nguyễn
c̣n ghi tên họ thật, phẩm hàm của các viên bút thiếp thức, đằng lục... (rất
tiếc là c̣n thiếu quê quán; xin xem ở “Quốc triều hương khoa lục”).
(II.21.a) Ngoài ra, c̣n có một cuốn hồi kí
nhan đề: “Mẹ và Quốc hội”, của một cán bộ cách mạng lăo thành tên là
Nguyễn Văn Trấn. Trong đó có một số chương viết về Miền Bắc (1954 - 1975).
(II.22.a) Về mặt lí lịch cá nhân, vấn đề mă di
truyền hay thường gọi là gien hoặc huyết thống là rất quan trọng (nên vấn
đề phả hệ ḍng tộc luôn luôn được đặt ra, và hoàn toàn có cơ sở khoa học
thực nghiệm). Tuy nhiên một lần nữa xin nhấn mạnh đến yếu tố đồng biến, dị
biến - đột biến gien (gien trội, gien lặn, gien đột biến) và đặc biệt quan
trọng là điều kiện xă hội, môi trường sống.
Xin xem thêm chú thích về Nguyễn Công Trứ,
tiết 5, chương VII và chú thích tiếp theo II.23: Ư thức không ngoan cố,
trung quân mù quáng, mà phải sáng suốt theo lẽ biến dịch của lịch sử trong
quan niệm chính thống của Nho giáo. Đó là về phía kẻ sĩ, với điều kiện
phải nhận thức sáng suốt, không phải là thái độ xu thời hèn hạ, vô sỉ. Đối
với triều đ́nh, phải chính nghĩa, tiến bộ hơn triều đại cũ, phải có thái
độ bao dung, không cố chấp, thực sự chiêu hiền đăi sĩ. Ngay trong khuôn
khổ ư hệ Nho giáo cũng đă có hướng mở cho sự trói buộc, một khi đạo lí
theo giáo điều trung quân đă trở thành sự trói buộc tai hại đối với kẻ sĩ
do sự mù quáng, không hiểu nổi sự biến dịch lịch sử (triều đại này thay
thế triều đại kia); một khi triều đại mới xứng đáng với vai tṛ lịch sử
đương thời, so với triều đại cũ đă bại vong, và biết xoá bỏ định kiến, thù
hận, biết "dụng nhân như dụng mộc".
(II.22.b) “Tuyên ngôn về nhân quyền và dân
quyền” cũng như hiến pháp xă hội chủ nghĩa đều có khẳng định sự tôn trọng,
bảo vệ các quyền sống - quyền tự do cơ bản của cá nhân.
(II.25.a) Có lẽ để chính xác hơn, thay v́ bốn
chữ hoài-nghi-khoa-học, nên xác định thuật ngữ là đặt
vấn đề nghiên cứu khoa học hoặc đặt dấu hỏi khoa học.
(
xem tiếp : chú thích
III )