Phan Văn Quang là một nhà thơ thuộc “trường phái phong trần”, vất
vả, cực nhọc suốt “một nửa đời luân lạc”. Đúng vậy, cho dù phải
trải qua “một nửa đời luân lạc”, anh vẫn muốn thiết tha ôm gh́ lấy
quăng đời ấy, không chối từ, phủ nhận nó bao giờ. Anh đă viết: “Bạn tôi
nói: dù nghèo đói mấy cũng đừng chê đời.
Vợ tôi nói: dù nghèo đói cũng đừng xa nhau. Con tôi nói: dù nghèo đói cũng
đừng bỏ con. V́ những lẽ đó tôi đă làm thơ và sẽ măi măi làm thơ”
(3). Ngẫu nhiên trùng hợp, Phan Văn Quang không chỉ yêu đời như một quan
niệm của Hermann Hesse, một nhà văn Đức từng đoạt giải Nobel văn chương:
“Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên
dại này” (4).
Ở Phan Văn
Quang, không có sự đổ vỡ tan hoang, trầm trọng về niềm tin vào cuộc đời,
về lí tưởng, lẽ sống, hệ giá trị như Hesse và thế hệ nhà văn Đức, Phương
Tây, sau Đệ II Thế chiến. Ở anh, anh cũng như bạn anh, ḷng yêu đời trong
cơ cực được diễn đạt là “đừng chê đời”, chứ không phải là đừng
chán đời (đừng yếm thế) – hai chữ “chán đời”, thường thấy trong
thơ sĩ phu Đàng Ngoài ôm mối hận “phù Lê” như Phạm Thái (thời Quang Trung),
Cao Bá Quát (thời Tự Đức)… Thơ Phan Văn Quang ngoài ư thức và tâm niệm
“đừng chê đời”, c̣n thể hiện t́nh nghĩa và trách nhiệm
trong hoàn cảnh nghèo đói, mặc dù anh chỉ dám khiêm tốn gói gọn
trong chức năng người chồng, người cha, và cao quư hơn thế, là người thơ.
(1) Phan Văn Quang, Ta
ôm một nửa đời luân lạc (TÔMNĐLL.), tập thơ đầu tay, Hoàng Phủ ngọc
Tường đề tựa, Hội VHNT. Quảng Trị xuất bản, 1993, tr. 3 – 4.
(2) Phan Văn Quang, Mưa
nắng quanh đời (MNQĐ.), tập thơ thứ hai, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1997.
(3) Nhiều tác giả, C̣n
đây thương nhớ, tuyển tập thơ, Hội Văn học – nghệ thuật Quảng Trị xuất
bản, 1993, tr. 64.
(4) Hermann Hesse (1877 –
1962), Câu chuyện ḍng sông, giải Nobel 1946, bản dịch Phùng Khánh
& Phùng Thăng, Nxb. Lá Bối & Nxb. An Tiêm, bản in lần thứ 6, 1974, tr. 5.
Theo lời giới thiệu đầu sách (ở một trong sáu lần xuất bản), Câu chuyện
ḍng sông đă trở thành Thánh Kinh mới của mấy thế hệ tuổi trẻ Tây Đức
và Phương Tây, sau Đệ II Thế chiến, mặc dù nội dung cuốn tiểu thuyết này
là sự t́m đến giá trị giáo thuyết Phương Đông (h́nh tượng nhân vật trung
tâm là Tất Đạt [Siddhartha], một chàng trai trẻ từ bỏ Bà La Môn, quyết tâm
tu khổ hạnh, rồi trở về với đời sống thương gia, t́m chân lí trong việc
làm giàu, đánh bạc, chung sống với một kĩ nữ, sinh con, và để qua đó, nhằm
học tập ở thực tế bằng chính sự trải nghiệm của bản thân về hạnh phúc –
khổ đau – dục vọng; cuối cùng là sự giác ngộ Đạo Thiền – Lăo Trang bên
một bờ sông vắng). Việc xem Câu chuyện ḍng sông là Thánh Kinh mới
không phải là hiện tượng nhất thời của tuổi trẻ Tây Đức và Phương Tây sau
Chiến tranh thế giới lần II do sự đổ vỡ đức tin Thiên Chúa giáo…
(5) MNQĐ., sđd., tr. 46.
(6) TÔMNĐLL., sđd., tr. 16.
(*) Kôbô Abê (Kobo Abé),
Khuôn mặt người khác, Phạm Mạnh Hùng dịch, Nxb. Đà Nẵng – Nxb. Thanh
Hoá, 1986.
(**) Henrich Boll (tác giả
giải Nobel 1972), Lạc lối về, Huỳnh Phan Anh dịch, Nxb. Văn Nghệ
TP. HCM. tái bản, 1997.
(7) TÔMNĐLL., sđd., tr. 23.
(8) TÔMNĐLL., sđd., tr. 11.
(9) TÔMNĐLL., sđd., tr. 21
- 22.
(10) MNQĐ., sđd., tr. 37 -
38.
(11) MNQĐ., sđd., tr. 35 -
36.
(12) MNQĐ., sđd., tr. 23.
(13) MNQĐ., sđd., tr. 7.
(14) MNQĐ., sđd., tr. 52 -
53.
(15) MNQĐ., sđd., tr. 28 -
29.
(***) “Văng đường”,
“văng hồn”. Đây là chữ “văng” trong từ ghép thường dùng “lai
văng”, “khách văng lai”, “lai văng đường”, “văng sanh đường”. “Văng”
là đến thăm viếng nơi nào đó, khác với “văn” trong từ ghép “văn
cảnh”, có nghĩa là đến ngắm cảnh, mặc dù người ta vẫn nói, “văng
cảnh chùa”. Ở bài thơ trên, “văng đường” chính là “lai văng
đường” (nhà thăm viếng ở một doanh trại…) hay “văng sanh đường”
(nhà phúng điếu c̣n đặt quan tài)? Và “văng hồn”, có nghĩa là thăm
viếng hương hồn người chết; câu thơ phải là: văng hồn, em trong
Huế đau thương? Đề nghị tác giả Phan Văn Quang đính chính lỗi in ấn.
(16) MNQĐ., sđd., tr. 11 -
12.
(17) MNQĐ., sđd., tr. 22.
(18) MNQĐ., sđd., tr. 34.
(19) TÔMNĐLL., sđd., tr. 4.
(20) Xem: Lời tựa của Hoàng
Phủ Ngọc Tường, TÔMNĐLL., sđd., tr. 3.