Sông Tiền Đường bây
giờ không c̣n là nơi thanh tẩy cho Kiều đổi kiếp, trở lại làm người lương
thiện nữa!
Liệu sự hiện hữu có
thật của linh hồn, giả định theo thần học, có cứu rỗi được con
người? Thực trạng sa đoạ, suy đồi về lĩnh vực này ở các quốc gia Thiên
Chúa giáo, từ cổ đến kim, từ Tây sang Đông, nhất là thời hiện đại, không
chứng minh điều đó.
Liệu Đêm Thuư Kiều
có phải là một bài thơ tự vấn ḿnh và nêu vấn nạn về đời với tất cả niềm
thành khẩn? Tôi thấy Nguyễn Tấn Sĩ tài hoa, rất tài hoa ở phương thức sáng
tác trữ t́nh tự phê và phê phán với nhiều từ ngữ sắc bén. Ở bài Khúc
phố (14), anh bảo đó là “sự trải nghiệm”, là “niềm vui hắc
ín”, và anh biết rơ như một nhà khoa học h́nh sự, “bánh xe qua điểm
chỉ ngày hè”, nhưng ở đoạn kết trùng lặp y nguyên như ở bài Bỏ quên
(14) là cả một ư thức… đáng phàn nàn (vay mượn một chút xanh…
của trời xanh ở những quán cà phê “trải nghiệm”!). Nhưng dẫu
sao, nhà thơ cũng chỉ là con người với hằng số chung: dục vọng song hành
tồn tại với điểm trực vô thức – hữu thức của thiên lương. Nhà giáo
cũng thế chăng? Không ảo tưởng về con người, tôi vẫn tin rằng, có thật
nhiều tấm gương không t́ vết! Tất nhiên giới nhà giáo trên khắp hành tinh
này cũng chỉ là con người, có điều, hơn những con người tầm thường khác là
biết sám hối, biết ăn năn tội, biết tự phê và phê b́nh, để sáng lên tấm
gương mẫu mực (mô phạm) về sự chiến đấu và chiến thắng dục vọng thấp hèn?
Đấy là điều các nhà đạo đức học gọi là tính người ở con người, thiên chức
giáo dục ở nhà giáo; nhà lí luận văn học gọi là tính hiện thực chân
thật nhưng là sự thật được nh́n nhận, thẩm định, phản ánh dưới ánh
sáng của thiện năng và mĩ học ở nhà thơ và ở các nhà văn học
nghệ thuật khác.
Đêm Thuư Kiều
là một tiêu
biểu của sự gắn bó hữu cơ, biện chứng của thật – tốt – đẹp? Hi vọng và hi
vọng vậy thay…
Phần Cơi sống
của Nguyễn Tấn Sĩ không chỉ có thế. Suy tư, cảm xúc của anh hướng về nhiều
sự vật, con người khác trong đời sống chung quanh, trong chiều dài thời
gian, và đă được thể hiện một cách rất thơ ca. Đó là vùng đất mũi Cà Mau,
là phế tích Phật viện Đồng Dương và Tháp Lạn, là suối Tiên và huyện Giằng
trên đất Quảng Nam, là người thầy (cũng là người anh, người bạn). Đó là
cuộc thi hoa hậu, là nghĩa địa – cái chết…
Cứu láng giềng
Lẽ ra, phải viết cho
đầy đủ là Cứu nước láng giềng, nhưng tôi muốn dùng chỉ ba chữ ấy để
gần gũi hơn, đậm thêm t́nh hữu nghị với Campuchia.
Nguyễn Tấn Sĩ trải qua
đến gần mười năm tuổi trẻ trong bộ đội, hầu hết thời gian tại ngũ là ở
trên đất nước bạn, đất nước của Nụ cười Ăng-co (Angkor Thom, Angkor Vat).
Với bẩm tính thi sĩ, trong t́nh yêu đương, anh đă trải nghiệm bằng cả trái
tim; trong cơi đời chung quanh, anh trải nghiệm bằng tất cả tâm hồn, tất
cả ư thức (ư thức hoà hợp, hoặc ư thức phê phán); trên nước láng giềng
Campuchia, chiến đấu v́ sự an lành của đồng bào dọc biên giới Tây Nam, v́
mục tiêu đánh bại cái ác diệt chủng Pôn-pốt – I-iêng Xa-ry (Polpot – Ieng
Sary), anh trải nghiệm bằng tất cả sự dũng cảm, ư chí, nghị lực và bằng
tất cả lương tâm con người.
Về những trải nghiệm
với ư thức nghĩa vụ trên đất nước láng giềng Campuchia, Nguyễn Tấn Sĩ đă
viết ít ra là 10 bài thơ và một trường ca thơ (gồm 8 khúc (20)). Đó là
những bài thơ anh viết ngay tại mặt trận, nhưng cũng gồm cả những bài được
viết sau khi anh xuất ngũ, về lại Quảng Nam quê hương, cầm lại viên phấn
trắng trước bảng đen, cầm lại cây bút đỏ trước bao trang vở trắng học tṛ.
Ngoài ra, cũng có đôi bài anh cảm nghĩ về cuộc chiến tranh chống Pháp,
chống Mỹ. Ở những bài viết về Campuchia, lạ một điều là anh ít nhắc đến
súng đạn, gươm dao, mặc dù không thể không nhắc đến chúng. Tôi là người
chưa từng mang súng, cầm gươm bao giờ, nhưng h́nh như tôi cảm t́nh với
khẩu súng, kể cả họng súng và viên đạn, nhưng rất ớn lạnh khi nh́n lưỡi lê
hoặc dao găm. Mức sát thương của lưỡi lê đâu có bao nhiêu, so với súng đạn!
Biết vậy, nhưng h́nh ảnh lưỡi lê máu me vẫn gây cảm giác rợn người cao hơn.
Vốn rất yêu mến câu thơ “đầu súng trăng treo” trong bài Đồng chí
của Chính Hữu, tôi lại thấy không thú vị ǵ, thậm chí hơi rờn rợn về h́nh
ảnh “chiều mỉm cười trên đầu lưỡi lê” trong bài Thao thức trăng
suông (21) của Nguyễn Tấn Sĩ, mặc dù anh bảo tôi, đó là một bài nhiều
người khen hay, cảm động. Vâng, đó là một bài rất cảm động, nhưng có mỗi
một câu thơ ấy là tôi thấy … không ổn!
Ít nhắc đến súng đạn,
gươm dao, mà thường suy tư, liên cảm về các di tích lịch sử – văn hoá
Kh’mer, chừng như anh chàng nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ này luôn xác định cho
chính ḿnh và trước mọi người, anh chiến đấu chống bọn diệt chủng Kh’mer
Đỏ là v́ sứ mệnh bảo vệ văn hoá, văn hoá không chỉ là các di tích, mà văn
hoá ở từng người dân Campuchia cụ thể. Và hơn thế nữa, măi đến năm 2003,
khi xuất bản tập Lời hát khẽ, anh trang trọng đề từ ngay ở trang đầu tập:
“… Tôi đă ngủ đâu
trời cơ man giông
băo
đời cơ man tiếng
thét gọi không lời
Nuôi kỉ niệm màu
xanh rừng trên áo
tôi sống ở trong
đời
người lính sống
trong tôi…”
Tôi càng quư mến
Nguyễn Tấn Sĩ khi đọc Tṛ chuyện cùng tượng đá. Đây là một bài thơ
được cấu trúc với 3 phân đoạn, mỗi phân đoạn có tiêu đề riêng, do đó người
đọc có thể tập trung cảm nhận của ḿnh vào từng phân đoạn một, không bị
chiều dài của bài thơ làm lan man. Có một điều, tôi thích bản cũ trong tập
Mặt trời và cơn khát hơn. Nhưng bản cũ chỉ gồm 2 đoạn. Tôi đành mạn
phép Nguyễn Tấn Sĩ để làm một sự lắp ghép (22).
“ĐÁ // cười chi đá
ơi / bóng thời gian mưa nắng / đi qua cay đắng / đi trong câm lặng / đá
cười / Bay-on, tôi chưa hiểu hết Người / khi chưa hiểu đá / những ngọn lửa
chiến tranh nghiệt ngă / thịt xương tơi tả / đá cười? / Bay-on, thà Người
nói bằng lời / như giọt thốt nốt ban mai ngọt nửa chiều men đắng / nhưng
đá hỡi cứ hoài nín lặng / điệu múa quanh Người bí ẩn cả đôi tay // NGƯỜI
// Bay-on, tôi có người mẹ khô gầy / bồng con đợi ngàn năm / nụ cười hoa
trái mọc / nước mắt rơi suối nguồn tuôn / vô tận nỗi buồn / thành đá //
Bay-on, Người như quen như lạ / năm tháng binh đao gởi lại nụ cười /
Bay-on, tôi không đến đây để làm người chiêm ngưỡng / bao triều đại đi qua
/ nụ cười c̣n măi… // NỤ CƯỜI // tôi chỉ là người lính thôi / đang rượt
đuổi tận cùng cái ác / chặn bàn tay hoả thiêu tiếng hát / bàn tay chôn nụ
cười / và Bay-on, tôi đă gặp người / trước khi gặp đá / có em bé Khơ-me
đói lả / có người mẹ t́m con vừa gục xuống đêm qua / hạt gạo tôi mang từ
khó nhọc mẹ già / kịp nhỏ xuống bờ môi khô giọt cháo / và tôi gặp đôi môi
Bay-on trong nụ cười tái tạo / bàn tay xưa trên mạch đá lần t́m…”.
Chính hai ḍng thơ,
“Bay-on, tôi chưa hiểu hết Người / khi chưa hiểu đá”, là cái
mốc Nguyễn Tấn Sĩ dựng lên trong mạch cảm nhận của người đọc, để từ cái
mốc ấy, ta cùng anh liên cảm đến người mẹ già ở quê hương và h́nh tượng Mẹ
Bồng Con (23), tên một ngọn đèo ở dải đất Miền Trung. Đó là h́nh tượng của
người phụ nữ Việt Nam nhẫn nại, kiên tâm, chung thuỷ, người phụ nữ của một
đất nước luôn phải đứng trước thách thức sống c̣n, phải tiến hành những
cuộc chiến tranh chống xâm lược từ mọi phía, suốt bốn ngh́n năm lịch sử.
Mặc dù anh không nhắc đến tên ngọn đèo này, nhưng ḥn vọng phu Mẹ Bồng Con
không thể là một h́nh tượng khác trong tâm thức anh, khi Nguyễn Tấn Sĩ
viết: “Bay-on, tôi có người mẹ khô gầy / bồng con đợi ngàn năm / nụ
cười hoa trái mọc / nước mắt rơi suối nguồn tuôn / vô tận nỗi buồn / thành
đá // Bay-on, Người như quen như lạ / năm tháng binh đao gởi lại nụ cười”.
Nguyễn Tấn Sĩ hiểu chất đá, thực ra là bản chất của h́nh tượng
Nụ cười Bay-on của Campuchia, bằng cái hiểu của một người Việt Nam, có quê
hương là Tam Kỳ, thị xă tỉnh lị của Quảng Nam, vốn ở ngay chính giữa đường
sắt thống nhất xuyên Việt. Khi đă hiểu chất đá đó, hiểu theo tâm
thức riêng của anh, anh cho rằng anh đă hiểu Nụ cười Bay-on. Tôi
muốn nhấn mạnh sáu chữ được chia làm hai ḍng này: “vô tận nỗi buồn /
thành đá”, như đă mạn phép nhấn mạnh hai ḍng trên kia, tôi xem
là cái mốc trong mạch cảm xúc, suy tưởng của Nguyễn Tấn Sĩ.
Không ai trách Nguyễn
Tấn Sĩ cố t́nh chủ quan khi hiểu Nụ cười Bay-on như vậy. Có lẽ anh không
quan tâm lắm đến Phật học? Không quan tâm đến Phật học với nụ cười Đức
Phật Thích Ca, làm sao anh hiểu nổi Nụ cười Bay-on? Nhưng hỏi thế là tôi
đùa với anh đó thôi. H́nh tượng Jésus Christ buồn bă cúi xuống, giang hai
cánh tay với hai bàn tay ngửa ra như ban phát, như đón chờ, như phân trần,
hoặc ngước nh́n lên Trời cao (Jéhova) với ánh mắt tôn thờ, ngóng trông,
cam chịu, có lẽ Nguyễn Tấn Sĩ hiểu sâu sắc. Cũng có thể Nguyễn Tấn Sĩ có
bề sâu hơn khi ngẫm nghĩ về Nụ cười La Joconde của Léonard de Vinci. Nhưng
rốt cuộc, Nguyễn Tấn Sĩ vẫn giũ bỏ, lăng quên hết tất cả mọi thứ triết lí,
triết học, tôn giáo, chỉ lấy h́nh tượng Mẹ Bồng Con chờ chồng đi đánh giặc
ngoại xâm trở về đoàn tụ trong độc lập, tự do của Việt Nam để hiểu Nụ cười
Bay-on!
Nhà thơ cho phép ḿnh
chủ quan một cách đầy sáng tạo như vậy. Nhưng cũng v́ mang bản tính thi sĩ,
anh quên đi một vài câu cước chú cần thiết.
Tôi thấy bài viết cũng
không cần phải tổng kết…
Tôi đoán rằng, Nguyễn
Tấn Sĩ rất sợ “tổng kết” về thơ ca của ḿnh, v́ như thế rất “tổn thọ” cho
một đời thơ đầy sáng tạo, c̣n măi khát vọng và năng lượng sáng tạo như anh.
Nguyễn Tấn Sĩ vẫn c̣n nhiều tập thơ chưa xuất bản, và nhất là c̣n nhiều
tập thơ khác trong trái tim anh.
TP. HCM., khởi viết từ 14
giờ 12 phút, ngày 03. 10. HB4 (20. 8 G. thân HB4);
viết xong vào lúc 11 giờ
12 phút ngày 05. 10. HB4 (22. 8. G. thân, HB4).
TRẦN XUÂN AN
(*a) Xin xem thêm: Trần
Xuân An, Giữa ṿng tay Tam Kỳ và bè bạn, bút kí, Kỉ yếu 40 năm
(1955 – 1995) thành lập Trường Trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ, Quảng Nam –
Đà Nẵng, 1995, tr. 58 – 70. Trong bút kí này, nhân vật S. là Nguyễn
Tấn Sĩ.
(1) Nguyễn Tấn Sĩ (Sỹ),
Mặt trời và cơn khát (MT. & CK.), tập thơ, Hội Văn học – nghệ thuật
Quảng Nam – Đà Nẵng xuất bản, 1991; & Lời hát khẽ (LHK.), tập thơ,
Hội Văn nghệ Quảng Nam xuất bản, 2003.
(*b) Chữ đầu ḍng thơ viết
hoa hay không, tôi giữ nguyên theo văn bản của tác giả. Xét về ngữ pháp,
viết hoa chữ đầu ḍng thơ hay không, đều sai. Đây chỉ là cách tŕnh bày
bài thơ trên giấy cho đẹp, tuỳ theo mỗi tác giả.
(2) MT. & CK., sđd., tr. 9.
(3) Đọc Tṛ chơi của
Bônđarep, MT. & CK., sđd., tr. 23.
(4) Không đề, MT. & CK.,
sđd., tr. 5.
(5) MT. & CK., sđd., tr. 12
– 13.
(6) MT. & CK., sđd., tr.
14.
(7) MT. & CK., sđd., tr. 17
– 18.
(8) MT. & CK., sđd., tr. 21
– 22.
(*c) Điểm trực tự động,
có tính phản xạ của thiên lương có chức năng “kiểm duyệt” ấy, gọi tắt là
điểm trực thiên lương (phần được giáo hoá bằng văn hoá, giáo dục,
trở thành bản năng cao đẹp, có sức đề kháng tự giác kiểu phản xạ, phản ứng
trước cái xấu, cái ác trong mỗi con người, trong xă hội) được Phật học gọi
là a lại gia thức, được Sigmund Freud gọi là le sur-moi (siêu
ngă). Tôi không muốn dùng nhóm thuật ngữ cùng hệ thống khái niệm của S.
Freud, bởi có nhiều kẻ đă vận dụng chúng với mưu toan diễn dịch, xuyên tạc
(giải mă các h́nh ảnh được mă hoá, do bị siêu ngă kiểm duyệt!), với mục
đích quy về libido (ẩn ức t́nh dục).
(9) LHK., sđd., tr. 40.
(10) LHK., sđd., tr. 25 –
26.
(11) MT. & CK., sđd., tr.
7.
(12) LHK., sđd., tr. 19 –
20. Theo quan niệm dân gian về hồn vía, người nam có 03 hồn 07 vía, tương
ứng với câu lục; người nữ có 03 hồn 09 vía, tương ứng với câu bát.
Trên đây, tôi chỉ phân tích
theo h́nh tượng thơ trong 02 tập thơ của anh. Trong thực tế ngoài đời, tôi
được biết Nguyễn Tấn Sĩ cũng có một người yêu xin phép anh để đi lấy chồng
như vậy. Đó là một cô giáo, giảng viên trường cao đẳng, rất xinh đẹp, trí
thức, chủ động biến t́nh yêu đương thành t́nh bạn. Tôi cũng được biết rằng,
suốt hơn 20 năm nay, Nguyễn Tấn Sĩ đă chung sống hạnh phúc với một người
vợ xinh đẹp, đảm đang, đức hạnh.
(13) LHK., sđd., tr. 37.
(14) LHK., sđd., tr. 33 &
tr. 56. Nguyễn Tấn Sĩ điện thoại cho tôi biết rằng, đoạn kết này chỉ thuộc
bài Khúc phố. Anh thấy cũng không cần phải đính chính lỗi in ấn này.
(15) LHK., sđd., tr. 43 –
44.
(16) LHK., sđd., tr. 45 –
46.
(17) LHK., sđd., bài Nhớ
mùa thu Thanh Tịnh, tr. 51. Lẽ ra, bài này Nguyễn Tấn Sĩ phải chú
thích cho đầy đủ: Bài Tôi đi học, Anatole France (1844 – 1924), nhà
văn Pháp, là tác giả. Thanh Tịnh chỉ là dịch giả tài hoa. Thiết tưởng, ta
cũng cần nhớ nhà văn Pháp ấy, người đă dùng ngọn bút của ḿnh để vạch trần
chủ nghĩa thực dân Pháp tại Việt Nam.
(18) LHK., sđd., tr. 75 –
76.
(*d) Trần Xuân An, Nước
mắt có vị ngọt (tập truyện liên hoàn, 1999); Suy nghĩ về lịch sử cổ
đại nước ta (khảo luận sử học, 2004).
(19) LHK., sđd., tr. 71 –
72.
(*e) Dương Khuê (1839 –
1902).
(*g) Thơ Nguyễn Khuyến:
“… Cờ đang dở cuộc, không c̣n nước / Bạc chửa
thâu canh, đă chạy làng / Mở miệng nói ra, gàn bát sách / Mềm môi chén măi,
tít cung thang / Nghĩ ḿnh mà gớm cho ḿnh nhỉ / Thế cũng bia xanh, cũng
bảng vàng”.
(20) Như đă nói, đây là
phần thơ đă in ở tập MT. & CK., lại được tác giả Nguyễn Tấn Sĩ chọn lọc,
bổ sung, sửa chữa, in lại ở tập LHK.
(21) LHK., sđd., tr. 3.
(22) MT. & CK., sđd., tr.
35 – 36; LHK., sđd., tr. 92 – 94.
(23) Ở đây, chắc chắn
Nguyễn Tấn Sĩ không nói đến nàng Tô Thị, vốn là một h́nh tượng cổ tích
mang ư nghĩa giáo dục luân lí. Anh đă có một bài khác viết về Tô Thị. Xem:
LHK., sđd., bài Nàng mới ra đi, tr. 69 – 70.
Đă gửi:
1.
Nguyễn Tấn Sĩ (06. 10. 2004).
2.
Tạp chí Đất Quảng (06. 10. 2004).