ĐỌC THƠ HOÀNG PHỦ NGỌC
TƯỜNG
1
Trước Ngày Thống nhất
(1975), những năm c̣n là học sinh trung học rồi sinh viên đại học, mặc dù
ở thị xă Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng hay cố đô Huế, thỉnh thoảng tôi vẫn
được nghe lén thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường qua Đài Phát thanh Giải phóng. Cùng
với một số trí thức, văn nghệ sĩ Miền Nam thuở bấy giờ đang đấu tranh ở
nội thành hoặc đă thoát li lên chiến khu, ra Miền Bắc, thường được Đài
giới thiệu, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một gương mặt thơ ca tôi chỉ nghe
chứ chưa được thấy bao giờ. Chẳng qua, thời anh trực diện đấu tranh
ở Huế, tôi vẫn c̣n quá bé (lại ở tận trong Nam bộ). Năm tôi lên mười
(1966), đang ở Quảng Trị, nhà giáo Hoàng Phủ Ngọc Tường đă “lên xanh” cầm
súng chiến đấu.
Sau Ngày Thống nhất
(1975) khoảng mươi tháng, bấy giờ tôi đă có thơ đăng trên tuần báo Văn
Nghệ Giải Phóng (*), nên khá mạnh dạn đến 26 Lê Lợi, cơ quan của
Hội Liên hiệp Văn học – nghệ thuật Thừa Thiên – Huế, ghé vào, gửi một chùm
thơ 09 bài. Cũng không nhớ rơ, một hoặc hai tháng sau ǵ đó, lúc Hội Văn
nghệ B́nh Trị Thiên đă thành lập, tôi nhận được giấy mời đến để trao đổi
về biên tập.
Sau khi gặp nhà thơ
Xuân Hoàng, nhà văn Tô Nhuận Vỹ, tôi mới được chuyện tṛ đôi câu với nhà
văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Có lẽ đêm trước bận thức khuya để viết, sáng hôm
ấy anh đến muộn. Đó là lần đầu tiên tôi gặp anh. Sau khi tôi chào các anh
để về, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường c̣n giữ tôi lại, cho địa chỉ, bảo tôi đến
nhà anh chuyện tṛ cho vui. Tôi không ngờ một người có dáng vẻ nghiêm nghị,
bấy giờ c̣n có chút nào khắc khổ nữa, lại cởi mở và dễ thân t́nh đến vậy.
Từ đó đến nay, gần ba
mươi năm, thỉnh thoảng tôi vẫn có dịp gặp anh, khi hội họp, khi đi thực tế
do Hội Văn nghệ tổ chức (1976 – 1978), khi gặp gỡ chuyện văn. Nhiều lần,
không chỉ trà lá, mà c̣n bia rượu nữa, lúc ở nhà riêng của anh và chị Lâm
Thị Mỹ Dạ, lúc ở quán xá. Nhưng điều đáng nói nhất, đó là lời anh động
viên, khuyến khích tôi sáng tác, giới thiệu thơ tôi trên tạp chí Văn Nghệ
B́nh Trị Thiên, Sông Hương, và sau này, tạp chí Cửa Việt. Hoàng Phủ Ngọc
Tường cũng là người đề tựa, cùng nhà văn Xuân Đức cấp giấy phép cho tập
thơ đầu tay của tôi (1991).
Bây giờ, tôi lại thử
đọc thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, đọc trong những hồi ức về những ǵ có
thể gọi là kỉ niệm ấy. Ấn tượng trong tôi lâu nay về anh, Hoàng Phủ Ngọc
Tường là một trí thức Miền Nam tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ và
là một nhà văn có làm thơ, trong đó có thơ yêu đương, thơ tâm trạng riêng.
Nhưng qua hai tập thơ được tuyển chọn lại, cùng một số bài được anh sáng
tác sau hai tập ấy, trong Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường (tập 4) (1),
tôi có cảm giác vừa hụt hẫng về mặt này, vừa tràn trề về mặt kia.
2
Nhà thơ Nguyễn Trọng
Tạo viết về anh trong những cuộc rượu: “Mỗi lúc như vậy, giá có cái máy
ghi âm, chép ra chắc sẽ có hàng ngh́n trang sách sinh động với một giọng
văn hấp dẫn đặc biệt. Điều ấy chứng tỏ rằng, tri thức cuộc đời và sự
nghiền ngẫm nội tâm trong anh là vô cùng phong phú. Những bài tuỳ bút anh
viết ra mới chỉ là cái phần bề nổi của chính anh mà thôi” (2). Anh
Nguyễn Trọng Tạo c̣n cho rằng: “Phải chăng Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng
làm thơ bằng máu của ḿnh, làm thơ như “viết di chúc để mà chết”…”,
sau khi đă khẳng định “nhà thơ như nghe thấy được tiếng nói của
chính ḿnh từ thế giới bên kia vọng lại, và thế là hai thế giới âm dương
cùng hoà quyện vào nhau” (2). Ở bài viết ấy, Nguyễn Trọng Tạo chỉ nhận
định về tập thơ thứ hai của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Người đi hái phù dung
(1995).
Thú thật, tôi không có
cái may mắn như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, được nghe thấy “phần bề sâu” của
anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, mặc dù cũng có dăm ba lần bia rượu với anh. Anh
Nguyễn Trọng Tạo không nói ǵ đến mảng thơ kháng chiến chống Mỹ của Hoàng
Phủ Ngọc Tường. Các anh Hồ Thế Hà, Ngô Minh cũng thế. Chỉ có nhà thơ Thanh
Thảo lướt qua mảng này, và khẳng định bài thơ tiêu biểu nhất của Hoàng Phủ
Ngọc Tường về đề tài chống Mỹ là Tôi đi trên những con đường rừng cũ
(1971 [?]), nhưng rồi cũng xoáy sâu về mảng Người đi hái phù dung.
Tôi hơi ngạc nhiên về
sự thể đó.
Theo ấn tượng chủ quan
của riêng tôi về Hoàng Phủ Ngọc Tường, anh có nhiều, rất nhiều tâm trạng,
bao nỗi suy tư về cuộc kháng chiến chống Mỹ mà anh trực tiếp tham gia. Từ
1963, anh đă đấu tranh ở nội thành. Sau đó 03 năm (1966), anh thoát li
“lên xanh” hẳn, cho đến Ngày Thống nhất (1975), anh mới về lại Huế.
Thật ra, sau gần 30
năm thống nhất Đất nước, đến lúc này, cũng cần nói cho công bằng: Số lượng
trí thức Miền Nam như anh (tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài G̣n, bảo vệ
thành công luận văn cử nhân triết học tại Đại học Văn khoa Huế, giáo sư
trung học Quốc Học Huế), tham gia kháng chiến chống Mỹ không phải là nhiều,
và lại là nhà văn, nhà thơ nữa, th́ càng quá hiếm quư. Do đó, với cái nh́n
chủ quan có tính trực giác về anh, tôi nghĩ mảng thơ Người đi hái phù
dung kia, phần lớn cũng chỉ là hệ quả của bao tâm trạng, bao nỗi suy
tư trong quăng đời kháng chiến, nhất là thời hậu chiến mà thôi. Hiểu một
cách nào đó, Người đi hái phù dung vừa là phần bề sâu của tâm tư
anh thời trẻ mà anh đă từng gạt qua, phủ định nó để lên chiến khu, nay anh
phục hồi và thăng hoá lại nó, nhưng đồng thời cũng chỉ là “bề nổi của tảng
băng ch́m” (theo lối nói của Ernest Hemmingway), mà phần ch́m của tảng
băng ấy chính là tâm trạng, suy tư trong thời kháng chiến chống Mỹ, và về
sau, những lúc ngẫm nghĩ lại thời kháng chiến ấy, nhưng chủ yếu vẫn là về
thời hậu chiến. Nói rơ ra, ở giai đoạn hoà b́nh về sau, có lẽ anh không
thể nói bằng ngôn ngữ trực tiếp, bộc trực, không thể “nói thẳng, nói thật”
về thời kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là về hiện thực xă hội hậu chiến,
nên chỉ biết lặng lẽ buồn. Ngay việc bị hạn chế tự do ngôn luận, tự do
sáng tác đă là nỗi buồn quá lớn! Nhưng anh cũng chỉ đ̣i cho được
mỗi một “quyền được buồn”. Hoàng Phủ Ngọc Tường tự đề từ: “Mỗi người
chỉ thực là chính ḿnh trong căn nhà của nó. Thơ cũng vậy. Thơ cần phải
trở về căn-nhà-ở-đời của nó là nỗi buồn. Một quyền của thi sĩ là quyền
được buồn” (3).
Không kể do nguyên
nhân thể chất như bệnh tật, suy nhược hầu như không có ở Hoàng Phủ Ngọc
Tường (anh bị bệnh sau khi đă tái bản Người đi hái phù dung), thực
chất của trạng thái tâm lí buồn với các cấp độ, sắc thái của nó (buồn
bực, buồn bă, buồn đau…) chung quy là hệ quả tâm lí của con người nói
chung và cũng của riêng anh, trước thực tại bất như ư, sự đổ vỡ của niềm
tin, lí tưởng, hi vọng, ước muốn… Có thể khái quát thành 03 dạng buồn:
buồn về ḿnh, hoàn cảnh riêng tư; buồn về kiếp người nói chung; và buồn về
hiện thực kháng chiến – xă hội hậu chiến. Nói gọn hơn: buồn riêng tư,
buồn kiếp người và buồn đời.
“Quyền được buồn”
có một thời
gian khá dài, bị cấm ngặt, chỉ trừ một số nét buồn bi tráng. Bởi lẽ,
buồn là uỷ mị, là làm giảm sút tinh thần chiến đấu. Buồn bị quy
vào phương diện thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan cộng sản
chủ nghĩa của bản thân ai đó đă “có vấn đề”, và cũng bị quy vào phương
diện “bôi đen chế độ” (!), “chống đối chế độ” (!). Nói theo cách nói của
cán bộ tuyên truyền, “cách mạng là ngày hội của quần chúng”, không
có lí do ǵ để buồn! Thật là “tả” khuynh quá đáng, suy diễn và quy chụp
đến mức đáng sợ! Từ một tiên đề không sai, người ta lại suy diễn ra những
hệ luận chỉ với mục đích thiển cận và nhằm trói buộc những người sáng tạo!
Do đó, cần nói thẳng,
nói thật thêm một điều, “quyền được buồn” c̣n là quyền được cân
bằng tâm lí b́nh thường của con người và của văn chương, sau một thời gian
dài xă hội đă vui, phải vui, vui thật cũng có, vui giả cũng khá phổ biến.
Ở nhà thơ Hoàng Phủ
Ngọc Tường, qua 02 tập thơ của anh, cho dù chia làm hai mảng khác nhau,
thơ kháng chiến chống Mỹ và thơ yêu đương, tâm trạng riêng, vẫn
có một mối tương quan nhất định và dĩ nhiên.
3
Những dấu chân
qua thành phố
Để t́m ra được chân
dung tâm hồn, con người sâu thẳm đích thực của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc
Tường, phải bắt đầu từ tập thơ này.
Năm 1963, phong trào
Phật giáo trước đó và ở thời điểm đó dâng cao hào khí bi tráng, chế độ Ngô
Đ́nh Diệm sụp đổ. Bấy giờ, nhà giáo Hoàng Phủ Ngọc Tường mới 26 tuổi. Năm
anh 28 tuổi (1965), Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng, tôi chỉ là thằng bé lên chín,
từ Quảng Trị vào Huế chơi, nào biết anh là ai trong đoàn biểu t́nh, chỉ
thấy biểu ngữ nâng cao, bàn thờ Phật “xuống đường”, trầm hương nghi ngút
và chuông mơ vang lên khắp các đường phố Huế để chống Thiệu – Kỳ (4). Suốt
03 năm “tham gia phong trào yêu nước của sinh viên học sinh và trí thức
Huế với tư cách tổng thư kí Tổng Hội Sinh viên Huế” (5) (1963 – 1964)
và đơn thuần là một giáo sư trung học đệ nhị cấp tại Trường Quốc Học (1964
– 1966), Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn đang là một trí thức trẻ xấp xỉ tuổi ba
mươi. Rất tiếc là thơ anh không có bài nào trực tiếp ghi nhận những thao
thức, trăn trở, những dấn thân hào hùng của anh, bạn bè anh và nhân dân
Huế trong thời đoạn lịch sử ấy. Điều đó, chỉ được anh hồi ức lại trong 05
năm về sau. Có thể đọc thấy qua một bút kí anh viết về anh và Trịnh Công
Sơn (6). Nhưng cố nhiên đó không phải là thơ. Riêng Năm năm ta đi,
cũng được viết vào năm 1971:
“… Chắc bây giờ
trên những lối đi xưa / Dấu giày ta đă đọng vết rêu mờ / Đă ngủ yên dưới
hàng cây im lặng / Bước ta đi giữa ngày tháng ưu tư // Khi ta nhớ, hương
sầu đông đầy ngơ / Khi ta yêu, phượng thắm dấu môi son / Thù hận chín giữa
phố hè lửa đỏ / T́nh yêu ta cùng mọc giữa căm hờn // Chào những bầy hoa
ngũ sắc ven đường / Cười sặc sỡ bên khung trời thơ ấu / Chào giă từ con
cầu trắng đêm sương / Ta đi qua giữa tâm hồn giông băo // Thành phố tắm
đời ta trong sắc biếc / Nên cỏ hoa mang đầy dấu tâm hồn / Máu đă viết nên
ngh́n trang sử đẹp / Nuôi đời ta khôn lớn giữa đời dân…” (7).
Hoàng Phủ Ngọc Tường
bấy giờ không thể không trải qua những “ngày tháng ưu tư”, “thù
hận” Diệm, Cẩn – Thiệu, Kỳ và đế quốc Mỹ trong “lửa đỏ” phố thị,
đồng thời “t́nh yêu” Đất nước dâng lên với ngọn triều “căm hờn”
của ḍng sông Hương vốn phẳng lặng. Với “tâm hồn giông băo”, người
trí thức trẻ ấy đă thực sự dấn bước trên con đường lịch sử của một phân số
nhân dân hướng về Mặt trận Giải phóng và một phân số khác, đông đảo hơn,
quyết tâm “cách mạng quốc gia”, đơn thuần là cách mạng dân tộc, dân chủ và
dân sinh, không thuộc đảng phái nào. Tuy khác chính kiến, nhưng tất cả đều
cùng tuần hành chung dưới rừng cờ biểu ngữ.
“… Lời đất nước
giương trùng trùng biểu ngữ / Người đi lên, tóc lộng nắng như cờ / Đường
áo trắng hôm nay thành sông lửa / Nổi đuốc thiêng nh́n rơ mặt quân thù…”
(7).
Hiện thực được phản ánh
khá chân thực. Tuy nhiên, phải thấy rằng không một ḍng nào anh nhắc đến
phong trào đấu tranh Phật giáo. Nếu đọc kĩ, ta cũng chỉ phân vân hỏi rằng,
phải chăng đây là câu thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường phản ánh một cách hết sức
mơ hồ về những toán lính ngụy đang lái xe Dodge, GMC. đi “hốt” những bàn
thờ Phật “xuống đường” đấu tranh chống chính quyền Thiên Chúa giáo
do Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu (4) ?
“Không thể mặc cho loài bán nước / Vung bàn tay cướp đoạt
những thiêng liêng” (7).
Phải chăng một trong
những lí do nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, giáo sư triết học Trường Trung
học Quốc Học Huế, đă lên chiến chu chống Mỹ chính là để bảo vệ Phật giáo
trước sự đàn áp khốc liệt của chính quyền Thiên Chúa giáo Diệm – Thiệu?
Dẫu xuất phát từ
nguyên cớ trực tiếp là Phật giáo bị đàn áp hay nguyên nhân cơ bản là khát
vọng độc lập, trong không khí đấu tranh có thật đó, chàng tuổi trẻ trí
thức Hoàng Phủ Ngọc Tường đă quyết tâm lên chiến khu. Ngày lên đường, ở
trên “xanh”, anh chỉ có thể nh́n ngắm khắp cả Tổ quốc bằng cái nh́n của
tâm hồn và ước vọng thống nhất. Hành trang (8) mang theo của anh
có ǵ?
“Tôi trèo lên đỉnh
Trường Sơn / Nh́n thấy quê hương nguyên h́nh chữ S / Thấy con sông Hồng đỏ
máu ra khơi / Thấy mũi Cà Mau nhọn vút chân trời // Đêm giă từ thành phố /
Ánh đèn ngoại ô / Hành trang cũ: / Niềm kiêu hănh lâu đời / Và nắm cơm
gian khổ chuyền tay / Từ những chuyến đi xưa c̣n măi đến hôm nay”.
(Huế, ngày lên đường,
05. 1966)
Hoàng Phủ Ngọc Tường
quyết tâm nối tiếp công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của bao thế hệ
trước, qua suốt bốn ngh́n năm lịch sử. Bài thơ c̣n vẽ nên một dáng đứng
tuổi trẻ hào hùng trong mạch sử thi truyền thống.
Chính với ước vọng
thống nhất, Hoàng Phủ Ngọc Tường khắc hoạ h́nh tượng người lên đường, cầm
súng, qua những câu đối thoại giữa người thầy giáo với học tṛ về bản đồ
Việt Nam chỉ c̣n một nửa, trong một tiết học địa lí. Và chính sử kí đă
thôi thúc nhà giáo ấy lên chiến khu như Nguyễn Trăi ngày xưa. Niềm thôi
thúc ấy càng rơ hơn khi cuộc đối thoại xoáy vào một vấn đề lưu cữu (thù
hận lương – giáo, thực chất là giữa người Việt yêu nước với giáo dân bị
thực dân, đế quốc lợi dụng) suốt cả một trăm mấy mươi năm qua trong Mùa
Giáng sinh 1966:
“… Em hỏi thầy: Bom
Mỹ / Có giết trẻ con không? Rằng: Làng quê khói lửa / Nào thương Chúa Hài
Đồng / Em nhớ bày máng cỏ / Ở trong hầm ca-nông…” (9).
Hành vi rất chính trị
đó, cũng không tránh được sự sát hại của lính Mỹ đối với mẹ của người học
tṛ. Điểm đỉnh của câu chuyện bằng thơ đọng và mở ở câu kết, neo vào ḷng
người đọc: “Đừng hỏi nữa em ơi! / Thầy lên đường đánh Mỹ”. Phải trả
lời cho thế hệ học tṛ bằng hành động lên đường, cầm súng! Bài Câu hỏi
có thể được quần chúng nhân dân nhớ lâu, nhớ sâu bởi các chi tiết tinh lọc
và vần, chứ không phải bằng ngôn ngữ thơ. Khác với nhà thơ liệt sĩ Ngô Kha
(cũng là giáo sư trung học như anh), mặc dù hai người là bạn rất thân,
Hoàng Phủ Ngọc Tường từ độ mới lên chiến khu ấy, đă cố gắng vứt bỏ hết
những ngôn từ bay bướm, tinh tế, giàu h́nh ảnh với sự chạm trổ, khảm giát
lóng lánh một cách đài các, cầu ḱ, khó hiểu trong thơ.
Chính Hoàng Phủ Ngọc
Tường đă tự biểu hiện chính ḿnh qua h́nh tượng người thầy giáo sử địa ấy.
Hoá ra, qua bài Câu
hỏi và bài Hành trang, ta thấy sự chọn lựa con đường đấu tranh,
việc lên chiến khu rừng thẳm đầy gian khổ của anh quá đỗi đơn giản và anh
dễ dàng thích nghi đến thế. Tôi không thể tin như vậy. Nhưng tôi tin chắc
một điều, có một thời ḱ, v́ trách nhiệm trước người đọc và v́ yêu cầu của
nhiệm vụ chính trị, nhà thơ cần phải “lột xác” thật nhanh, phải giấu đi
những trăn trở về tư tưởng, những thử thách của bao khó khăn gian khổ.
Chính Trần Độ, về sau, khoảng năm 1976, cũng bảo thế trong một cuộc họp
mặt người viết ở 26 Lê Lợi, Huế: Trí thức đă trăn trở, “lột xác” từ
1945 hoặc từ 1954 kia, chứ không đợi đến những năm sau này; cho nên, chỉ
có lao vào cách mạng chứ không trăn trở, thao thức “chọn đường” ǵ nữa!
Phải chăng từ mười năm trước tư tưởng chỉ đạo đă thế, nên thơ Hoàng Phủ
Ngọc Tường khuyết đi những mảng rất lớn. Hầu như sau Ánh sáng và phù sa
của Chế Lan Viên (1960), rất ít bài thơ trăn trở, thao thức “chọn đường”
được đăng tải. Thậm chí, có thể bị khiển trách, bị làm kiểm điểm nếu c̣n
trăn trở, thao thức “chọn đường”! Do đó, tôi rất ngạc nhiên nhưng lại hiểu
ra ngay, sao mảng thơ “lên đường” này của Hoàng Phủ Ngọc Tường lại sơ lược
đến thế. Tâm hồn anh, tư tưởng anh không thể “sơ lược” như vậy.
Có lẽ phải ngẫm nghĩ lại,
ngẫm nghĩ sâu hơn về ư thức lịch sử của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong quá
tŕnh bản thân anh đă dấn thân, tham gia vào công cuộc chống chính quyền
Thiên Chúa giáo của Diệm – Thiệu và đế quốc Mỹ. Tôi thấy đây là một trong
những trọng điểm trong niềm thao thức, trong quyết tâm của anh. Ở bài
Những dấu chân qua thành phố (10), anh viết:
“Như thời gian gió cuốn triều dâng / Lịch sử đă qua đây trăm
lần / Những người đi sau nối theo người trước / Thành phố này in dấu những
bàn chân // Từ những năm xưa đánh Tây giữ nước / Hoả mai nón dấu, súng
thần công / Đến bây giờ trên mặt thành cỏ biếc / Đá trăm năm c̣n tạc dấu
chân trần // Nắng vẫn chiếu huy hoàng trên cẩm thạch / Những bàn chân đạp
đổ ngai vàng / Đất rung chuyển nhịp chân vệ quốc / Ṿm cửa ô, kèn Nam tiến
c̣n vang…”.
Bằng h́nh tượng dấu
chân lịch sử, phải chăng anh đă h́nh dung lại thành cổ Phú Xuân, nơi
Nguyễn Huệ của phong trào Tây Sơn đă đánh tan quân Trịnh để tiến tới thống
nhất Tổ quốc? Cũng với h́nh tượng dấu chân lịch sử ấy, anh cảm nhận lại
cuộc kinh đô quật khởi 23 tháng 5 Ất dậu (1885); và anh tiếp tục h́nh
dung, cũng bàn chân lịch sử ấy, vào thời Cách mạng tháng tám (1945), đă
đạp đổ ngai vàng, buộc vua bù nh́n Bảo Đại thoái vị.
Rất tiếc là khi viết
Tôi đi trên những con đường rừng cũ (11), anh không nhớ lại Tân Sở
(Cam Lộ) với tuyến đường thượng đạo B́nh Định – Nghệ An – Hưng Hoá, thời
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và phong trào Cần vương.
Ở Trở lại đất Hùng
(1975) (12), Hoàng Phủ Ngọc Tường suy nghĩ về tiếng trống đồng (từng khiến
sứ giả nhà Nguyên bạc tóc khi nghe), suy nghĩ về 99 ngọn núi Nghĩa Lĩnh (h́nh
tượng đàn voi trăm con; một con voi trong đàn voi ấy đă ngoái đầu ra sau,
nên bị chém đầu). Anh lại suy nghĩ về phút giây Nguyễn Trăi cùng người cha
là Nguyễn Phi Khanh chia tay nhau ở Lạng Sơn, cột mốc số 0 của bản đồ Đất
nước, trong bài Ngọn cỏ làm chứng (13):
“Nơi đây một người
con trai lau nước mắt từ biệt cha / Nỗi riêng chung, cỏ hoa làm chứng đến
bây giờ / Từ cây số không, bắt đầu những ǵ ta có / Nên lịch sử mỗi đời
người cũng bắt đầu từ đó”.
Và cũng theo mạch sử
thi ấy, anh chọn cho ḿnh một chỗ đứng, ngay trên lầu hoàng cung nhà
Nguyễn, để Lại nhớ về chiến khu xa thẳm (14), khi Đất nước ta đă
hoàn toàn thống nhất, sau cuộc chiến tranh dài dằng dăïc (1858 – 1975), mà
trong đó, giai đoạn kháng chiến chỉ kể từ Cách mạng tháng Tám là quăng
thời gian chính nhà thơ đă được lớn lên, tham gia chiến đấu.
Cũng từ cảm hứng và ư
thức lịch sử, cộng với suy nghĩ về thi sĩ cộng sản người Pháp Paul Éluard,
nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đă viết từ năm 1969:
“Pha máu làm mực /
Kê lịch sử làm bàn / Trải đời tôi làm giấy / Viết tên Người Việt Nam”
(15).
Hoàng Phủ Ngọc Tường
không chỉ kháng chiến với trái tim một người yêu nước mà c̣n bằng bộ năo
của một người cộng sản nơi anh.
Cảm hứng, ư thức lịch
sử và ư chí cộng sản chủ nghĩa là trạng thái tinh thần chủ đạo, chung nhất
của những nhà thơ Miền Bắc và những nhà thơ Miền Nam tham gia kháng chiến
chống Mỹ dưới ngọn cờ của Mặt trận Giải phóng, nhưng ở Hoàng Phủ Ngọc
Tường, có sự nổi trội, đậm đặc hơn.
Cũng không thể không
ghi nhận sự thành công và nhất là tấm ḷng nhà thơ đối với quê nhà. Hoàng
Phủ Ngọc Tường c̣n viết một chùm thơ về một vùng đất Quảng Trị đă được
giải phóng từ 1972. Trong đó, bài thơ Bàn tay trên trán (16) viết
về người mẹ Gio Linh có cái tên rất Việt cổ: Mẹ Nậy. Đó là một bài thơ rất
cảm động. Cũng là cảm hứng sử thi về Đất nước, nhưng ta c̣n thấy được tuổi
thơ của chính nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường trên đất đai Quảng Trị quê
hương bản quán qua những câu thơ rất gần gũi:
“… Như quên đi ḿnh
đă lớn nhiều / Với thời gian ồn ào biến động / Con gặp lại trong cơn mê
nóng bỏng / Một tuổi thơ chân đất chạy khắp làng / Và cánh đồng xưa nắng
chang chang / Lũ chuồn chuồn bay qua những tháng ngày óng ả / Như quên
ḿnh đă lớn nhiều / Với đất nước những năm lo nghĩ / Vầng trán con dưới
bàn tay mẹ / Lại hiện về giấc ngủ thơ ngây…”.
Cảm hứng – ư thức lịch
sử, hay có thể gọi là t́nh tự dân tộc, quê hương, Đất nước và ư chí kháng
chiến, quả thật, đă xuyên thấm toàn bộ tập thơ Những dấu chân qua thành
phố của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ở bất ḱ bài nào, với chủ đề ǵ, kể cả
chùm thơ khi anh viết ở Bắc Kinh (Trung Quốc), Cáclôpherơ (Bungari)…
Về mảng thơ kháng
chiến chống chế độ Thiên Chúa giáo Diệm – Thiệu và đế quốc Mỹ, giải phóng
Miền Nam, thống nhất Đất nước của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, nếu từ một
góc độ văn học khác để tiếp cận, ta sẽ không thấy một dấu vết bi quan, dao
động nào. “Quyền được buồn” đă được nhà thơ giấu kín v́ ư thức
trách nhiệm.
Ngoài ra, nếu cần
thiết phải nói đến lập trường, tâm thế sáng tác trong tương quan
với hiện thực chiến tranh chống Mỹ ngụy mà nay đă trở thành lịch sử, th́
cũng đă đến lúc, sau 30 năm thống nhất Đất nước. Phải chăng không thể để
muộn hơn? Ở một số bài thơ khác, nếu đọc bằng đôi mắt sử học, người ta c̣n
thấy anh miêu tả hiện thực với thái độ địch – ta quá “quyết liệt”
bằng thủ pháp cường điệu! Ở đây, tôi không nói đến Diệm – Thiệu và các
tổng thống đế quốc Mỹ, tôi chỉ muốn nói đến những người quốc gia, dân tộc
chủ nghĩa, yêu nước nhưng không cộng sản, không thể vô thần một cách phi
truyền thống. Dẫu sao, nếu nói theo cách của Chế Lan Viên sau này, cũng
cần phải “trừ đi”, để nhận thức hiện thực lịch sử về giai đoạn ấy
trong thơ ca cho thật đúng đắn, công bằng. Tuy nhiên, như ở một bài viết
tôi đă viết, thơ ca không phải là sử kí. Thơ ca không chỉ phản ánh hiện
thực bên ngoài mà chủ yếu là tấm gương phản ánh tâm thế nội tâm của nhà
thơ trước hiện thực ấy (**). Nhà thơ lại đang trực diện đấu tranh với quân
bán nước Diệm, Thiệu và đế quốc Mỹ, v́ vậy, tất nhiên trái tim nhà thơ
phải sục sôi căm thù, không thể có sự b́nh tâm cần thiết của nhà sử học.
Không thể đ̣i hỏi nhà thơ phải có cái nh́n hai phía, nh́n từ ta sang
địch và ngược lại, nh́n từ địch sang ta, để có nhữngï nhận định
khách quan, khoa học. Nếu đ̣i hỏi như vậy, thế giới này không c̣n một nhà
thơ nào cả! Phải vậy chăng? Tôi tin rằng cuộc đời vốn đa dạng, nhiều vẻ (với
cái nh́n bao quát đồng đại), và dân tộc cũng như nhân loại không chỉ tồn
tại vài ba thế hệ (với cái nh́n xuyên suốt lịch đại). Vấn đề là hiện thực
chiến tranh 130 năm (1858 – 1975 – 1989), đặc biệt là 30 năm (1945 – 1975)
khốc liệt nhất, hào hùng nhất ấy, dù thế nào đi nữa, cũng đă và đang h́nh
thành nên một giai đoạn văn học trên toàn cơi Việt Nam nước ta với tính đa
dạng, nhiều vẻ của nó. Và hiện thực chiến tranh ấy sẽ măi măi c̣n được
vang vọng, tái hiện, tái tạo trong văn học tương lai, như ta và măi măi
sau này, các thế hệ vẫn c̣n suy tư, chiêm nghiệm về thời đại vua Hùng; về
thuở đánh bại đế quốc Nguyên – Mông; về thời Lê Lợi – Nguyễn Trăi cùng
nhân dân viết B́nh Ngô đại cáo bằng máu và khát vọng độc lập, tự do; về
thời mở đất phương Nam và đau thương chinh chiến do Trịnh – Nguyễn phân
tranh, cùng vai tṛ lịch sử của Quang Trung, Gia Long trong sự nghiệp
thống nhất non sông Đàng Trong – Đàng Ngoài… Nhưng cho dẫu nh́n xa, nh́n
rộng là vậy, Hoàng Phủ Ngọc Tường và những nhà thơ, nhà văn đồng đội Giải
phóng quân của anh vẫn măi để lại trong văn học sử những ǵ đă viết, không
thế lực nào có thể bôi xoá được, mặc dù trong đó, một số trang viết chỉ
c̣n có giá trị như những tư liệu.
4
Người hái phù
dung
H́nh như có khá nhiều
năm sau Ngày Thống nhất (1975), Hoàng Phủ Ngọc Tường thi thoảng mới làm
thơ. Có lẽ hơn mười năm, anh chuyên chú với thể văn bút kí, nhất là sau
thành công của Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đặt tên cho ḍng
sông (1984)… Rất tiếc là ở cuối mỗi bài thơ, không phải bài nào anh
cũng ghi ngày tháng năm và nơi sáng tác để có thể xác định, chứ không chỉ
là phỏng đoán.
Người hái phù dung
là tập thơ
tích đọng lại sau hơn 20 năm (1976 – 1997). Ở Tuyển tập, tập 4, gộp
vào phần Người hái phù dung, c̣n một số bài thơ khác, được viết vào
năm 2001. Thời điểm muộn nhất là cuối mùa đông năm Tân tị, 25. 12. 2001.
Người hái phù dung,
mảng thơ
yêu đương và thơ tâm trạng riêng tư (xin được tạm gọi như thế), trước hết
là vẻ đẹp chóng tàn của hiện thực cách mạng xă hội ở Đông Âu và Liên Xô.
Phải chăng, theo anh, đó cũng là vẻ đẹp mong manh, thoắt thắm thoắt phai
của loài hoa phù dung?
Mặc dù tâm trạng trong
bài thơ mang tên Bài ngâm “đùa chơi” (17) chỉ có ở anh vào năm
1991, hoặc tâm trạng đó vốn đă có trước (kể từ 1885) nhưng chỉ được anh
thể hiện vào năm 1991 ấy, năm có sự kiện Liên Xô sụp đổ, sau khi một loạt
nước thuộc hệ thống chế độ xă hội chủ nghĩa ở Đông Âu đă tan hoang. Vài
ḍng chữ này, tôi viết về anh, cũng chỉ là cảm nhận phỏng đoán trên cơ sở
văn bản nghệ thuật là phần thơ thứ hai của anh.
Bài ngâm “đùa chơi”,
Hoàng Phủ
Ngọc Tường đề tặng Irina Zisman, không thuộc tập thơ Những dấu chân qua
thành phố (1976), mà ở tập Người hái phù dung (1995 &
1997). Tự bài thơ đă toả ra hết những cung bậc suy tư, t́nh cảm trong tâm
trạng anh, một trí thức yêu nước đồng thời là một đảng viên cộng sản, cho
dẫu anh thuộc vào những người trí thức được kết nạp Đảng rất muộn.
“Đùa thôi nhé,
thiên đường mộng ảo / Thế giới vỡ tan ngoài chân mây / Cầm giấc mơ xanh
vàng tím đỏ / Ngoảnh lại nh́n nấm mọc đầy tay // Ta đi hết một thời trai
trẻ / T́m thanh gươm nghĩa khí ngh́n thu / Đùa thôi nhé sắc cỏ vàng trên
mộ / Anh hùng xưa biệt dấu sương mù // Và tất cả những điều đă nói / Bằng
con tim máu nóng dâng trào / Cũng đùa thôi, nhớ chi hoài mệt óc / Chuyện
nói cười một thuở gian lao // Ta t́m lại h́nh hài hoá bướm / Chút tự do
quả thực trên đời / Rũ sạch hết đam mê hoang tưởng / Núi thông nhiều, ta
hăy rong chơi // Chú tiều ơi, chú tiều xưa cổ / Lời du ca lảnh lói gọi ta
về / Cuộc phong trần ta may c̣n hồ rượu / Để cùng người kết bạn sơn khê //
Tiều rằng đă từ lâu chẳng dại / Ḱa như tranh vân cẩu trên trời / Những
tấn kịch thánh thần sa nước mắt / Thế gian này cũng chuyện đùa thôi… //
C̣n cho ta một trời mây bay / Một vầng trăng soi sáng mặt mày / Mai chú
lại lên đồi hái củi / Ta về rừng gối đá ngủ say” (17).
Phải chăng Hoàng Phủ
Ngọc Tường đă cười cợt hết thảy một cách đau xót, buồn bă, trước sự sụp đổ
hầu hết các nước thuộc hệ thống xă hội chủ nghĩa, ngay cả “thành tŕ” Liên
Xô, và trước t́nh trạng ở 03 nước rưỡi c̣n lại, chủ nghĩa xă hội đă chuyển
qua kinh tế thị trường trong lộ tŕnh hoà nhập với thế giới tư bản chủ
nghĩa? Anh chỉ biết quay về với Lăo Trang qua h́nh tượng chú tiều xưa cổ,
t́m lấy tự do cá nhân theo tiêu dao du và tề vật luận trong Nam Hoa
kinh, với giấc mộng “không biết Trang hoá bướm hay bướm hoá thành Trang”!
Thế giới hiện thực này, đối với anh, cho dù dụi mắt bao lần, anh cũng
thấy rơ là y hệt trên trời cao, mây nhẹ như là áo trắng, bỗng chốc hoá
thành chó đen, trong thơ Đỗ Phủ (“Thiên thượng phù vân như bạch y / Tu
du hốt biến vi thương cẩu”).
Dẫu cho thế cuộc ra
sao, người đọc cũng thấy được Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà thơ đă từng
dám phản kháng, quyết tâm dấn thân theo sự chọn lựa của ḿnh với ước muốn
chất chứa tất cả Đất nước và nhân dân vào trái tim ḿnh, theo một lí tưởng
đại đồng bao năm đeo đuổi mà bây giờ anh tự trào là “đam mê hoang tưởng”.
Hẳn anh cũng tự nhận thấy thế, khi những câu kết bài thơ gợi ta liên tưởng
đến Côn Sơn ca của Nguyễn Trăi (“Côn Sơn có suối đàn cầm / Mưa
tuôn đá sạch ta nằm ta chơi…”):
“… C̣n cho ta một
trời mây bay / Một vầng trăng soi sáng mặt mày …”.
Dẫu sao, anh cũng
không phải rơi vào bi kịch Huyền thoại Sisyphe (1942) của Albert Camus
(1913 – 1960): hết ḷng hết sức lăn tảng đá lên núi, rồi lại hạnh phúc (!)
buông tay, cho tảng đá rơi xuống chân núi, và lại tiếp tục như bi kịch dă
tràng, như bi kịch loài người. Huyền thoại Sisyphe được Bùi Giáng
phỏng dịch nhan đề là Xe cát biển Đông!
H́nh ảnh con dă tràng
cũng được Hoàng Phủ Ngọc Tường nhắc đến trong bài Lời ngu ngơ của một
gă mù chữ (18). H́nh như đó là một bài thơ thể hiện một ước muốn,
bằng một thứ ngôn ngữ mới của trái tim anh, anh nhận thức lại thế giới
của riêng anh và cả thế giới của loài người, như thể sau một lần hành tinh
này lại được tái tạo.
“Và khi thế giới
được tái tạo trong ngôn ngữ mới / ta đọc hết nét ngu ngơ trên biển / của
con dă tràng tiền sử / mê mải / viết / tên em”.
Điều đó, anh đă chiêm
nghiệm, trong bài Gửi cho người (19):
“Tài hoa cũng
chuyện đùa chơi / Làm sao thưa hết một lời yêu thương / Anh đi t́m khắp
thiên đường / Chỉ c̣n một đoá vô thường gửi em”.
Nỗi đau “vỡ mộng” ở
anh, tôi đoán rằng, không phải đến 1991, mới oà vỡ thành Bài ngâm “đùa
chơi”, mà từ lâu rồi, trước đó… Phải chăng đây là những ǵ anh đă giấu
kín trong tập Những dấu chân qua thành phố? Đúng là chùm thơ lục
bát có tên chung Đoản khúc ở rừng (20), thể hiện những thoáng buồn
rất b́nh thường trong những tháng ngày đang cầm súng trên Trường Sơn ở các
chiến khu Trị – Thiên. Đó là nỗi buồn ngay sau ngày rời Huế lên đường
kháng chiến: “Hoa nào nở buổi lâm hành / Con chim nào hát ngày anh lên
đường / Đêm đông nghe đổ mưa nguồn / Nghe thời gian xoă sợi buồn xuống vai”
(20). Đó là nỗi nhớ về người yêu đă xa, phía dưới miền xuôi phố thị
kia: “Xa rồi, em đă như mây / Vùi trong trí nhớ những ngày gấm hương …”
(20). Đó là tâm trạng người kháng chiến ở chiến khu nhớ về thuở nồng
thơm yêu dấu đă không c̣n vết tích kỉ niệm trong trí nhớ ai đó: “… Vỗ
tay vách đá vọng âm / Nhớ niên hoa, chợt bâng khuâng nụ cười” (20).
Nhưng những bài thơ thương nhớ, buồn bă và luyến tiếc bâng khuâng ấy một
thời bị “niêm phong” giấu kín, không thể in được trong tập Những dấu
chân qua thành phố (1976). Gần đây mới có thể in ở Người đi hái phù
dung (1997). Những cảm xúc ấy giả định không có ở người kháng chiến,
mà chỉ vui vẻ, hồ hởi thôi, th́ mới là máy móc, bất b́nh thường. Điều đáng
chú ư, chính là nỗi đau “vỡ mộng” chăng? Trước hết là thực tế núi rừng
gian khổ, đói cơm nhạt muối, sên vắt, sốt rét, tất nhiên không phải là
sách vở trong thư viện đại học. Khi đă quen với gian khổ như thư sinh
Nguyễn Trăi ngày xưa quen chịu đựng với sơn lam chướng khí, anh lại tự
đương đầu với nỗi buồn có chiều sâu nhận thức và “vỡ mộng” chăng? Với sự
trải nghiệm, quan sát của bản thân, tôi tin ai cũng có thể chịu đựng được
gian khổ, nếu họ có ư chí, nghị lực và khát vọng cao cả. Hoàng Phủ Ngọc
Tường có thừa những cái ấy, sao anh vẫn buồn đến thế này?
“Thôi em xa thẳm
Trường Sơn / Ngày xưa anh vẫn cô đơn đă thường / Đêm qua nằm nhớ mưa nguồn
/ Con chim tắt lửa kêu buồn mấy năm // Thôi em ṛng ră suối khe / Anh về
mắc vơng nằm mê đợi người / Đêm qua nhớ lũ đười ươi / Lang thang rũ một
trận cười trong mây” (21).
Có bao giờ ta nghe nói
đến hay tận mắt chứng kiến “rừng cười” với những cơn dịch cười vô
nghĩa lí, kéo dài đến kinh hoàng, sởn gáy? Đó c̣n là một phủ nhận sự vô
nghĩa lí của chiến tranh giữa con người với con người, nước này với nước
kia? Và c̣n ǵ nữa chứ không chỉ thế…
Điều tôi cảm nhận về
Bài ngâm “đùa chơi” phải chăng vốn có cơ sở như thế?
Thôi em cảm tạ chờ
mong
Ngày anh đi hái phù
dung chưa về
Đêm qua hương đă
tàn mê
Mày ai c̣n dấu
trăng thề như in (21).
Hoàng Phủ Ngọc Tường
là nhà thơ suốt một đời đi t́m cái đẹp mong manh và chóng tàn phai? Và ai
là người chung thuỷ đợi chờ? Phải chăng ḷng chung thuỷ mới vĩnh cửu (trong
ư nghĩa tương đối), c̣n nhan sắc vốn chóng tàn phai? Không phải anh không
khát vọng vĩnh cửu. Thực ra, hơn ai hết, anh quá yêu vĩnh cửu và luôn luôn
cháy bỏng khát vọng về cái đẹp vĩnh cửu (chẳng hạn như nhan sắc cùng thuỷ
chung, măi măi không bao giờ héo úa, phản bội). Có điều, sao anh lại buông
ra tiếng thốt như lời ngăn, lời khuyên “thôi đừng hoài công” với
những giá trị mà nhan sắc cùng thuỷ chung chỉ là một trong những giá trị
đó. Bàn tay lao động ư? Tuổi trẻ ngày xanh ư? Con người nhân văn ư? Thôi,
chẳng c̣n ǵ! Ngay tṛ chơi, cuộc rượu t́nh bạn cũng tàn! Trường Sơn kháng
chiến ư? Chờ đợi con người lí tưởng đích thực như hoài vọng, như nghinh
vọng ư, mặc dù để rồi thất vọng mà thôi, cho dù ư thức hoài vọng, nghinh
vọng con người lí tưởng đích thực (21) cũng là một giá trị?
Phải chăng Hoàng Phủ
Ngọc Tường muốn thông qua những h́nh ảnh cụ thể để nói đến ư niệm phổ quát
về cơi sống mong manh, dâu bể (“thương hải biến vi tang điền”;
“bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”), mà Nguyễn Du gọi là “cơi
người ta” này? Cho dù thời gian và vật chất trong ư niệm là vô thuỷ vô
chung, vô cùng, vô tận, nhưng ở dạng cụ thể, ngày tháng như vó ngựa câu
qua cửa sổ, kiếp người, kiếp hoa chỉ là hạt bụi trong băo gió. Nhưng
vĩnh cửu và chóng tàn là hai mặt của một chỉnh thể nhận thức –
khát vọng: biết rằng tất cả những ǵ ta thấy được đều chỉ là phù dung, phù
du nhưng làm sao cấm được ḷng ta khát khao vĩnh cửu tuyệt đối trên trần
gian này!
Rốt lại, thực chất
Đêm qua chỉ là một nỗi buồn bầm thẫm, khi chợt đến lúc nỗi buồn ấy đă
chín và rụng rơi, như quả táo Newton, nhưng không phải là t́nh cờ giúp anh
phát hiện quy luật vật lí mới, như đă giúp Newton thức ngộ về quy luật
trọng lực trong thế giới tự nhiên (vạn vật hấp dẫn đối với quả đất), mà về
thế sự, thời cuộc, và lí tưởng vỡ tan trong quy luật âm dương ảo hoá (thiện
hoá ác, ác hoá thiện; “quá mù sa mưa”…), quy luật âm dương (thiện, ác; và
muôn vạn cặp đối lập cụ thể khác) tương khắc tương sinh và quy luật quân
b́nh âm – dương (như mưa – nắng thuận hoà…). Có lẽ tôi đă đẩy liên
tưởng thơ ca và đồng sáng tạo khi đọc thơ đi quá xa!
Đêm qua
chỉ là lúc trái “vỡ
mộng” chín rụng, vỡ oà.
Người hái phù dung
chủ yếu vẫn
là một mảng thơ ghi lại những cảm xúc, trầm tư về những chủ đề muôn thuở,
khắc khoải nhất của triết học và của tâm thức con người ở mọi nơi, mọi
thuở:
- Thời gian
- Kiếp người
- T́nh yêu – hạnh phúc
- Cô đơn – khổ đau
- Cái chết
- Tự do
- Hư vô (hay linh hồn,
thượng đế) …v.v…
Phải chăng, tất cả
những chủ đề triết học của các triết gia cũng là niềm khắc khoải của mọi
con người b́nh thường nhất ấy đă được nhà thơ tư tưởng Hoàng Phủ Ngọc
Tường chiêm nghiệm thông qua những khoảnh khắc tái hiện cảm xúc trước hiện
thực sinh động, thường ngày, trên ư niệm tất thảy đều là vẻ đẹp mong manh,
thoáng chốc, vẻ đẹp có thật mà rất đỗi hư ảo như hoa phù dung?
Bài thơ Dù năm dù
tháng (22), tôi được đọc lần đầu tiên trong một tuyển tập thơ nhiều
tác giả được xuất bản ở Huế giữa những năm 80 gần đây, dễ chừng cũng hai
mươi năm rồi. Ở bài thơ này, có lẽ lần đầu tiên ư niệm mong manh, thoáng
chốc, có thật mà hư ảo của biểu tượng hoa phù dung cổ điển xuất
hiện trong thơ của tác giả Những dấu chân qua thành phố. Nhưng cụ
thể hơn, ở đây là thời gian phù dung. Bài thơ được kết cấu theo
dạng tŕnh bày – gút lại. Theo tuần tự, đó là vẻ mong manh, thoáng
chốc của một ngày; vẻ mong manh, thoáng chốc của một tháng; vẻ mong manh,
thoáng chốc của một năm; rồi vẻ mong manh, thoáng chốc của một đời. Ngày,
tháng, năm và cả đời người đều được biểu hiện bằng hai màu trắng và tím (màu
mới nở và màu úa tàn) của hoa phù dung. Đoạn kết gút lại ư niệm về tính
chất mong manh, thoáng chốc đó bằng cách nâng cao lên ư niệm ấy trong sự
đối lập với ư niệm vĩnh cửu. Dù năm dù tháng c̣n là một bài thơ rất
đẹp về ngôn từ, h́nh ảnh. Dù năm dù tháng được thể hiện trong nhạc
điệu lục ngôn, hầu như chủ đạo vẫn là nhịp hai hoặc nhịp hai – bốn, đều
đặn, trầm lắng, chỉ hai câu bắt đầu bằng hai từ “nhưng”, “nhưng ḷng
anh \ vẫn khôn nguôi” và “nhưng trái tim \ mang vĩnh cửu”, là
nhịp 3 \ 3, như tiếng thốt nên lời phản đề nhức nhối, da diết. Thực sự có
vĩnh cửu chăng? Đó là thời gian vô cùng vô tận? Là sự trường tồn
ṇi giống, huyết hệ? Là khát vọng về cái đẹp vĩnh hằng trần gian mặc dù đó
là ảo vọng (tuy chỉ là ảo vọng nhưng khát vọng về cái đẹp vĩnh hằng trần
gian ấy vẫn không bao giờ tàn lụi một khi loài người c̣n tồn tại)? Là hi
vọng về giá trị văn chương vĩnh viễn không bao giờ đổ vỡ? Hay trái tim hữu
hạn mang chân lí vĩnh cửu? Dẫu cho với một ư nghĩa nào đó hoặc bao gồm tất
cả các ư nghĩa ấy, th́ đoạn kết được thể hiện trong sự đối lập ư niệm (mong
manh, thoáng chốc – vĩnh cửu, vĩnh hằng) cũng làm cho phù dung càng
phù dung hơn, nhưng cái phù dung ấy vẫn là một hạt ngọc của sợi
dây chuyền thời gian được xâu kết bằng muôn muôn triệu triệu hạt ngọc.
Phải yêu đời lắm,
Hoàng Phủ Ngọc Tường mới buồn như thế về tính chất phù dung của thời gian,
đời người…
Và cũng phải yêu
nàng thơ (hoặc yêu vợ) lắm, Hoàng Phủ Ngọc Tường mới viết được Nơi
tôi gửi bóng (23). Cũng kết cấu tŕnh bày – gút lại như thế,
bài Nơi tôi gửi bóng lại đạt được một cái kết bất ngờ. Cách cấu tứ
này không phải là mới, nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường đă vận dụng một cách tài
hoa và nhuần nhị, nhờ vào h́nh ảnh, ngôn từ và chiều sâu tư duy. Ẩn dụ
h́nh tượng chiếc giếng nước được tŕnh bày đến 06 khổ thơ, đến đoạn kết,
bất ngờ bật sáng lên, trở thành h́nh ảnh nàng thơ (hoặc người vợ). Đây là
hai khổ thơ làm nên đoạn kết ấy:
“Có ǵ đâu xa xôi /
Sao mà em bỡ ngỡ / Giếng thẳm sâu đời tôi / Là đời em đó thôi // Giữ hoài
cho màu nước / Sáng hoài như ḷng tin / Đừng để thấy trong em / Gương mặt
tôi tan vỡ”.
Cũng thuộc loại kết
cấu tŕnh bày – gút lại như thế, ta c̣n thấy anh sử dụng ở bài
Bốn mùa (24). Xuân, hạ, thu, mỗi mùa đều có một loài hoa biểu trưng
nhất theo Hoàng Phủ Ngọc Tường, đó là bông cỏ dân dă, phượng đỏ thế hệ,
cúc vàng nữ sĩ, duy mùa đông, bất ngờ và thú vị thay, khi “hoa vắng nở
trên cành / gương mặt em xinh đẹp / làm hoa cho riêng anh?”. Nhưng đối
với thơ, đâu chỉ là cách cấu tứ! Tứ thơ mới là điều không thể non kém.
Và điều tôi muốn nói,
là Hoàng Phủ Ngọc Tường vốn là một trí thức, một văn nghệ sĩ đă từng nung
nấu lí tưởng. Anh tham gia kháng chiến không phải v́ nghĩa vụ quân sự bắt
buộc hoặc không thể chọn lựa được con đường theo chính kiến ḿnh (giả định
chính kiến anh xưa nay không phải là “con đường” Hồ Chí Minh). Từ
thành phố Huế, anh lên đường vào chiến khu v́ lí tưởng độc lập, tự do và
chủ nghĩa xă hội. Có nung nấu khát vọng lí tưởng xă hội chủ nghĩa đến thế
nên anh mới “vỡ mộng” đau đớn như thế khi nh́n thấy lí tưởng được thực
hiện trong thực tế đáng chán, tŕ trệ, mất tự do, dân chủ như thế nào, và
nhất là khi hệ thống xă hội chủ nghĩa trên thế giới hầu hết đă sụp đổ,
thoái trào đến mức vô phương cứu văn (?).Chịu đựng cơn đau đớn “vỡ mộng”
này chưa nguôi, lại bị số phận giáng cho một nỗi đau riêng tư tức tưởi
nhất. Điều này, tôi chỉ có thể đọc thấy trong thơ của anh như một sự phỏng
đoán. Phỏng đoán qua thơ? Vâng, chỉ là phỏng đoán. Thơ vốn là thể loại hư
cấu nữa! Chỉ tấm ḷng anh, nỗi đau anh là thật. Phải chăng đó là sự đổ vỡ
trong … chút t́nh thơ của anh? Một khi đă yêu nàng thơ đến
thế (qua ba bài thơ Dù năm dù tháng, Nơi tôi gửi bóng và
Bốn mùa, anh không đề tặng ai), bỗng dưng, t́nh yêu đương
rất thơ đó đổ vỡ ngoài ư muốn của anh, Hoàng Phủ Ngọc Tường rơi vào
nỗi buồn bi thảm nhất. Này đây là thơ anh viết, Về chơi với cỏ (25):
“Thưa rằng người đă
quên tôi / Tôi về chơi với ngọn đồi cỏ may / Một đường hoang một dấu giày
/ Một người ngồi một tháng ngày bóng nghiêng // Cảm ơn người trái đào tiên
/ Tôi về lăng đăng nơi miền cỏ gai / Cỏ gai hoa thắm mặt người / Trinh nữ
ơi trinh nữ ơi – tôi buồn / Thôi người ở lại soi gương / Tôi đi về phía
con đường cỏ lau / Nợ người một khối u sầu / T́m người tôi trả ngày sau
luân hồi // Mai kia rồi cũng xa người / Tôi về ngủ dưới khung trời cỏ hoa
/ Có nàng xoă tóc tiên nga / Quỳ hôn cát bụi khóc oà như mưa”.
Đó là sự ra đi, thoát
khỏi nàng thơ cụ thể một cách cao thượng. Không những không oán
trách, anh c̣n cho rằng ḿnh dẫu sao cũng mang nợ. Nợ ǵ? Phải chăng trót
để nàng thơ ấy trĩu một khối u sầu trong trống vắng, khiến nàng
thơ không thể cam chịu được nữa, để rồi sau bao ngày tháng anh rong
ruổi, lúc quay về, sự đổ vỡ không ngờ đă xảy ra? Mối t́nh Nàng Trương (Vũ
Thị Thiệt) và chiếc bóng trên vách ư? Hay đó là sự thật nhăn tiền đau đớn
giữa anh và sự lạt ḷng của nàng thơ? Dẫu sao, anh cũng tự trách
ḿnh, vẫn gọi nàng thơ ấy là trinh nữ theo quan niệm “chữ trinh kia
cũng có dăm bảy đường” của Nguyễn Du (trong ư hướng an ủi của ông)? Cuối
cùng, anh vẫn hi vọng một ngày kia rồi anh cũng sẽ chết, nàng thơ
ấy trót v́ u sầu mà lầm lỡ với ai đó sẽ hối hận, “quỳ hôn cát bụi khóc
oà như mưa”?
Tôi thấy h́nh như
Hoàng Phủ Ngọc Tường c̣n có chất hiệp sĩ, như trong một lần trả lời phỏng
vấn trên tạp chí Cửa Việt, anh tự nhận ḿnh chính là “hiệp sĩ mặt buồn”.
Phải chăng anh c̣n là “hiệp sĩ mặt buồn” cao thượng kiểu lăng mạn chủ
nghĩa trong sự đổ vỡ chút t́nh thơ riêng tư này, giữa thời ḱ tục
dụng chủ nghĩa, cạm bẫy giăng đầy này. Tôi cầu mong sao sự đổ vỡ chỉ là
trong thơ, và chỉ trong thơ mà thôi.
Phải chăng không những
lí tưởng cách mạng xă hội, và thời gian – kiếp người, cùng những giá trị
như bàn tay lao động, tuổi trẻ ngày xanh, con người nhân văn, cuộc rượu
t́nh bạn, Trường Sơn kháng chiến, ư thức hoài vọng, nghinh vọng con người
lí tưởng đích thực (21)… đều là phù dung, mà cả t́nh thơ cũng
quá đỗi phù dung! Tất cả chỉ là vẻ đẹp mong manh, thoáng
chốc, có thật mà hư ảo. C̣n nỗi đau khổ trong trái tim anh, nỗi cô đơn của
anh, cũng phù dung chăng?
Có lẽ từ những nguyên
nhân đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường ở giai đoạn về sau, càng có khuynh hướng suy
tư, chiêm nghiệm lại chủ đề cô đơn, cái chết, hư vô – linh hồn…
Có một điều, tôi thấy
anh không bao giờ nói đến Thượng đế theo quan niệm tôn giáo (đấng siêu
h́nh được nhân hoá). Anh vẫn là một thi sĩ vô thần, mặc dù có lẽ anh tin
có linh hồn (một dạng siêu vật chất).
Cô đơn của anh lắm khi
là sự xa lánh mọi người, để một ḿnh anh đối diện với chính anh trong
thiên nhiên cỏ cây sương khói. Bài Thiền định (26) kể về một
“ngày ấy” xa xôi nào đó và cả bây giờ: “Tôi vẫn ngồi trong gió heo
may / Một phiến hồ thu, nước lại đầy / Ngày không thiên sứ / chiều
không nắng / Chỉ một ḿnh tôi với bóng mây // Em kể tôi nghe chuyện núi
đồi / Chỉ là ảo tưởng đấy mà thôi / Tôi nh́n trong khoảng mông lung ấy /
Chỉ có tôi ngồi với bóng tôi ”, và cuối cùng xa lánh với cả người con gái
ấy: “Em gọi tên tôi khắp mọi nơi / Gọi tôi vang động cả ṿm trời / Tôi
ngồi im lặng như lau sậy / Mờ mịt như màu sương khói thôi”. Niềm cô
đơn trong thời trẻ tuổi chưa dấn thân, chưa tranh đấu chính là sự t́m quên
thực tại chiến tranh? Niềm cô đơn này ở một nhà thơ từng có cả cuộc đời
dấn thân, kháng chiến quyết liệt, bền gan nhất, phải chăng là một sự phản
kháng lại thực tại hậu chiến?
Bài thơ viết về hư
vô – linh hồn được nhiều người đọc, b́nh và nhớ là Địa chỉ buồn
(27). Đạm Tiên trong Truyện Kiều như một ám ảnh về định mệnh bất hạnh
của kiếp tài sắc. Ở bài thơ này, đường phố âm hồn của tài sắc mang tên
bóng quế Đạm Tiên! Đó là nơi có vầng trăng soi chiếu giấc ngủ anh, và từ
chốn vĩnh hằng, nàng tiên nào đó lặng nh́n. Đó là nơi có những giọt lệ nến
trong thơ Lư Thương Ẩn cứ chảy hoài từ thuở sơ sinh như tiền định. Và,
“những chiều Bến Ngự giăng mưa / chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi / tôi ra mở
cửa đón người / chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang // nhà tôi ở phố
Đạm Tiên / “dưới ḍng nước chảy, bên trên có cầu” / cây sầu đông, cây sầu
đau / thương tôi, cây cũng nở màu hoa râm”. Đây phải chăng là trạng
thái tâm lí nhập thân (đồng nhất nhân vật Thuư Kiều với chính ḿnh) của
nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường – anh bị ám ảnh (như Thuư Kiều bị ám ảnh) về
kiếp nghệ sĩ tài hoa mà “bạc mệnh cũng là lời chung”? Phải chăng tận chiều
sâu của trạng thái này chính là niềm phản kháng, phê phán xă hội như rất
nhiều nhà nghiên cứu đă nhận định về Truyện Kiều?
Nhà thơ Nguyễn Trọng
Tạo cho biết rằng, luận văn cử nhân triết học của Hoàng Phủ Ngọc Tường là
“Cái chết (La mort)” (28) và Nguyễn Trọng Tạo, Hồ Thế Hà cũng đă b́nh luận
nhiều về chủ đề này trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tôi cảm nhận thêm một
điều là ở thời tuổi trẻ, Hoàng Phủ Ngọc Tường chấp nhận cái chết tích cực,
chết v́ sự sống như trong bài ca dao về cây sầu riêng, “một cây ngă xuống,
vạn chồi mọc lên”; ở giai đoạn sau này, cái chết thường xuyên trở đi trở
lại như ám ảnh không rời trong tâm thức một “gă t́nh si kêu gào vĩnh
cửu” (29) Hoàng Phủ Ngọc Tường, một nhà thơ từng tiếc nuối thời gian
chóng qua (Dù năm dù tháng), phải chăng tận chiều sâu là một thái
độ phản kháng thực tại?
Điều quan trọng nhất,
đáng quan tâm nhất là quan niệm về tự do. Ở bài Người khát vọng bầu
trời (30), anh viết hồi kỉ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trăi, 1980, bấy
giờ, quan niệm tự do của anh mới mạnh mẽ biết bao! Đó là tự do cho cả dân
tộc và cho mỗi con người. Cho dù trước kẻ thù ngoại xâm nhà Minh hay trước
bọn gian thần bạo chúa nhà Hậu Lê, Nguyễn Trăi vẫn bất khuất. Kín đáo
trong bài thơ này là khát vọng tự do, dân chủ của Hoàng Phủ Ngọc Tường và
của cả dân tộc trong thời chưa Đổi mới (1986), chưa Cởi trói
(1987). Nhưng tư tưởng tự do, dân chủ, cơ chế đối trọng của anh không thấy
thể hiện trong thơ, mà chỉ loé lên trong vài bài báo! Tự do, dân chủ và cả
công bằng, b́nh đẳng nữa, trong Người đi hái phù dung, thực chất
chỉ là tự do cá nhân trong sự chối từ xă hội kiểu tiêu dao du, tề vật
luận của Trang Tử, thể hiện qua Nam Hoa kinh:
“… Con chim nào
giấu mặt trong sương / Khi chiều xuống cùng tôi tṛ chuyện / Chim hỏi tôi:
Người từ đâu đến? / Thưa chim rằng: Tôi từ cỏ sinh ra // Tôi trở về t́m
trong hương cỏ / Dịu dàng một chút b́nh yên / Tự do nhiều khi là im lặng /
Để đừng nghe ai gọi tên …” (31).
Thật dễ thương biết
bao trong đối thoại kiểu tề vật luận với tinh thần b́nh đẳng giữa vạn vật,
muôn loài, nhưng tự do không chỉ là rong chơi, ngao du sơn thuỷ hoặc
“dưới cây kia tôi ngồi hát nghêu ngao” (31) kiểu tiêu dao du nữa,
mà c̣n là ư thức tự giải phóng ra khỏi thân thế (vốn như một thứ trói
buộc cho dù tập ấm hoặc nô lệ truyền kiếp) và im lặng (vô công, vô vi),
và vô danh.
Phải chăng đó cũng là
một cách phản kháng tiêu cực, quá tiêu cực, của một trí thức, trong thời
tuổi trẻ, vốn đă đấu tranh không chùn bước trong cơ chế dân chủ tư sản
Miền Nam trước Ngày Thống nhất (1975), cũng đă lên đường kháng chiến chống
Mỹ, từng hiểu thấu đáo thế nào là tự do, dân chủ, đối lập, đối trọng lẫn
các mệnh đề của chủ nghĩa Marx? Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường như thể đă
đành quên “tự do của người này là điều kiện tự do của người khác”, “tự do
là sự nhận thức được tất yếu” (“tất yếu” phải là tất yếu khách quan, xét
theo quan điểm đồng đại, so sánh với các nước trên thế giới, không phải là
thứ “tất yếu” bị áp đặt, xuyên tạc để bảo vệ nền chuyên chế độc tài, ở các
nước nào đó!).
Trong tất cả các nhân
quyền, Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ đ̣i mỗi một thứ tự do được bày tỏ thái độ,
mà nói theo ngôn từ của anh là “quyền được buồn”. Thực chất
quyền được buồn là quyền được bày tỏ công khai trên báo chí, bằng văn
chương thái độ bất b́nh trước những ǵ chướng tai gai mắt, và cũng theo
cách như thế, được quyền bày tỏ cả nhân sinh quan riêng của ḿnh, sáng tạo
riêng của ḿnh… Tôi nghĩ, thực chất đó là quyền biểu đồng t́nh hay phê
phán (và chấp nhận sự đồng t́nh hay phê phán phản hồi) một cách xây dựng,
đó là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản… Thật ra,
“quyền được buồn” cũng c̣n hạn chế lắm, nhưng thử tưởng tượng không
một ai trong nước được quyền bày tỏ nỗi buồn bực, buồn chán của ḿnh trước
bao điều trái tai gai mắt xem! Thật khủng khiếp!
Và như đă nói, khi
buồn (âm) quân b́nh với vui (dương), con người mới thật sự cân
bằng tâm lí, để không đến nỗi bất b́nh thường, máy móc hoá!
Dẫu sao, tôi vẫn cảm
nhận được những nét tiêu cực một cách tích cực của Hoàng Phủ Ngọc Tường
qua Người hái phù dung.
Người hái phù dung
là mảng thơ
đẹp nhất của anh về ngôn từ, h́nh ảnh, nhạc điệu, màu sắc thơ, tuy có đôi
chỗ (rất ít) có lẽ hơi sáo ṃn như anh Nguyễn Trọng Tạo đă chỉ ra. Phải
nói thêm, thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đẹp trong trẻo và uyên áo. Nếu vừa
thích v́ đẹp, vừa trách sao thơ anh càng về sau càng buồn đến tuyệt vọng,
th́ chỉ có một cách là đọc thêm truyện kí của anh. Thang thuốc, như đối
với mọi nhà văn, trước hết là cho ḿnh, anh cũng đă tự kê đơn, có đủ cả
thứ hàn, thứ nhiệt và thứ b́nh, trong sự tương tác lẫn nhau giữa các thứ
như thế!
5
Có lẽ Hoàng Phủ Ngọc
Tường là một nhà thơ đồng thời là một nhà văn có tấm ḷng quư mến đặc biệt
đối với những người làm văn thơ trẻ tuổi hơn anh.
Cách đây gần 20 năm,
bấy giờ tôi c̣n ở Quảng Trị, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường và các anh trong Ban
Biên tập Tạp chí Sông Hương, gồm nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, nhà văn Tô
Nhuận Vỹ, nhà thơ Vơ Quê và nhà văn Nguyễn Khắc Phê, có một lần ghé đến
nhà tôi để thăm hỏi. Đêm đó, tôi có viết một bài thơ rất mộc mạc để kính
tặng:
Tấm ḷng
bất ngờ trước những tứ
thơ
những trang văn, vẫn
có ngờ được đâu!
bàn tay t́m đến nỗi
đau
trái tim nghe tận
nguồn sâu mạch đời
tấm ḷng rộng mở đến
tôi
cái nh́n gắng trải
khắp trời Nắng – Mưa
bao điều đă viết và
chưa
cơ hồ thấm thía như
vừa đọc xong
văn chương tự những
tấm ḷng
măi trong veo ngan
ngát ḍng Sông Hương
các anh vào, nắng vườn
dương
cứ bâng khuâng ở bên
đường làng quê
tôi ngồi đến cạn đèn
mê
ánh trăng vằng vặc lại
về trong tôi.
TXA.
Quảng Trị, 1885
Bài lục bát Tấm
ḷng là một kỉ niệm đáng nhớ c̣n đọng lại trên giấy.
Về nhà thơ Hoàng Phủ
Ngọc Tường, tôi c̣n nghĩ, chính anh mới là một chiếc cầu nối tuyệt vời
nhất giữa hai bờ Bến Hải về văn học nghệ thuật. Không ai hiểu văn nghệ sĩ
Miền Nam – Miền Bắc trước và sau Ngày Thống nhất (1975) hơn anh. Rất tiếc,
anh đă bị bệnh suốt mấy năm nay, đến mức chỉ ngồi trên xe lăn, nói năng
rất khó. Tôi vui mừng xen lẫn với ngạc nhiên như thể được chứng kiến một
sự ḱ diệu, là anh vẫn tư duy rất minh mẫn, viết lách rất tài hoa, và càng
cảm thấy mừng khi những ngày gần đây anh chuyện tṛ rơ tiếng hơn. Tôi cũng
hi vọng 02 cuốn tiểu thuyết tôi mới xuất bản trong năm ngoái, Ngôi
trường tháng giêng và Sen đỏ, bài thơ hoà b́nh (**), đă được
anh đọc. Không rơ t́nh trạng sức khoẻ như thế, anh có đọc tiểu thuyết hay
không. Trong Ngôi trường tháng giêng, nhà văn Đan Sử (có nghĩa là
sử đỏ, sử viết bằng máu) chính là nhân vật được h́nh tượng hoá từ
nguyên mẫu rất thật là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Trong những năm tháng
anh bị bệnh tật đến mức ấy, chị Lâm Thị Mỹ Dạ đúng là một người vợ hiền,
thuỷ chung, chịu thương chịu khó với sự nhẫn nại bền bỉ đến mức không một
ai không kính phục.
Tôi vẫn cứ nghĩ rằng,
nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường sẽ c̣n viết hay và viết nhiều hơn nữa. Hi
vọng “phần ch́m” ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, anh Nguyễn Trọng Tạo có nói đến,
sẽ được viết ra trên hàng ngàn trang giấy hay ít ra cũng sẽ được ghi âm
lại. Và giá như có một thư kí bên cạnh chị Lâm Thị Mỹ Dạ để cùng chị giúp
việc cho anh! Đó là cả một tài nguyên quư báu, mất đi sẽ không bao giờ có
thể t́m lại được.
TP. HCM., khởi viết từ 08
giờ 10 phút, ngày 22. 10. HB4 (09. 9. G. thân HB4);
viết xong lúc 16 giờ 28
phút, ngày 24 . 10. HB4 (11. 9. G. thân HB4).
TRẦN XUÂN AN
(*) Trước đó, vào năm 1973,
tôi đă được một tuần báo ở Sài G̣n, cụ thể là nhà văn Từ Kế Tường (Nguyễn
Đan Trường), giới thiệu là một người thơ mới với bài Tiếng chuông xưa
(Tuổi Ngọc, số 103, năm 1973).
(1) Hoàng Phủ Ngọc Tường,
Tuyển tập (TTHPNT.), (4 tập, Trần Thức tuyển chọn từ Những dấu
chân qua thành phố, tập thơ, Nxb. Giải Phóng, 1976 và Người đi hái
phù dung [1995], Nxb. Thuận Hoá tái bản, có bổ sung, 1997), tập 4, thơ,
Nxb. Trẻ TP. HCM. & Công ti Văn hoá Phương Nam, 2002.
(2) TTHPNT., tập 4, bài bạt
của Nguyễn Trọng Tạo: Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, một cơi tâm linh,
sđd., tr. 187.
(3) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 5.
(4) Trần Tam Tỉnh (linh mục),
Thập giá và lưỡi gươm (nguyên tác tiếng Pháp: Dieu et Çésar,
Nxb. Sudest-Asie, Paris, 1978), linh mục Vương Đ́nh Bích dịch, Nxb. Trẻ,
1988, tr. 133 – 158… Chế độ độc tài Ngô Đ́nh Diệm (1955 – 1963) thực chất
là con đẻ của Mỹ và chủ yếu là con đẻ của Thiên Chúa giáo, một thế lực
phản quốc kể từ thời Tự Đức (1847 – 1883), Hàm Nghi (1884 – 1885 – 1888)
đến 1963, điều đó ai cũng rơ, nhân chứng lịch sử cho đến nay vẫn c̣n sống
khá nhiều. Riêng cái gọi là chế độ đệ nhị cộng hoà do Nguyễn Văn Thiệu
đứng đầu, v́ Thiên Chúa giáo rút kinh nghiệm từ vụ Ngô Đ́nh Diệm, và v́
Nguyễn Văn Thiệu không lộ liễu chường ra nhăn hiệu thập giá, nên nhiều
người c̣n ngộ nhận. Để tiện tham khảo và để dễ hồi ức lại bối cảnh lịch sử
giai đoạn 1963 – 1975, xin trích một vài đoạn từ sđd.: “Cuộc binh biến
đầu tiên do “Minh đại ca” [Dương Văn Minh – TXA. chua thêm (ct.)] chỉ huy
đă bị lật nhào ngày 30 tháng giêng 1964 bởi một nhóm tướng trẻ do Nguyễn
Khánh điều khiển. Khánh lại phải cuốn gói ngày 13 tháng 9 để nhường cho
một “tên Thổ trẻ”, tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ. Như một phép lạ, ngày
27 tháng 10 năm 1964, xuất hiện một chính phủ dân sự của Phan Khắc Sửu [tín
đồ đạo Cao Đài, làm quốc trưởng đến 1966 [?] – ct.], chẳng mấy bữa lại bị
lật đổ, ngày 20 tháng chạp trong một cuộc “đảo chính bỏ túi”. Nguyễn Khánh
lại lên ghế chủ tịch, bằng một cuộc trở về yên ổn ngày 28 tháng giêng
1965, để ba tuần sau đó lănh án “lưu vong”, làm đại sứ lưu động, rồi sau
đó làm chủ một quán ăn tại Paris. Vụ lật đổ thứ sáu đưa ông tướng hung
hăng Nguyễn Cao Kỳ lên cầm đầu chính phủ. […] Có một nhân vật ngồi ung
dung trong văn pḥng ḿnh tại Sứ quán Mỹ cứ giật dây, điều khiển các con
rối và thay đổi chúng tuỳ thích, đó là Cabốt Lốt [Lodge – ct.]…” (sđd.,
tr. 143 – 144); “Chẳng bao lâu, y [Nguyễn Cao Kỳ – ct.] đă đành chịu
đóng vai nh́ bên cạnh một tướng cao mưu, xảo kế hơn, đó là Nguyễn Văn
Thiệu.
Tay này đă trở lại đạo Công giáo dưới chế
độ Diệm. Một số người cho rằng y theo đạo Công giáo v́ những động cơ chính
trị, hơn là v́ lí do tôn giáo [và vợ y là một tín đồ Thiên Chúa giáo –
ct.]” (sđd., tr. 145);
“Trong bối cảnh như thế, thái độ của Giáo hội [Thiên Chúa giáo – ct.] Việt
Nam như thế nào? Sau một lúc
bị gạt ra ŕa bởi nhóm tướng tá đảo chính và Hoa Kỳ đang muốn chơi con bài
Phật giáo, người Công giáo lại giành được thế mạnh chính trị vào năm 1965.
Quả thế, trong vụ khủng hoảng Phật giáo và sau khi Diệm bị đổ, người Mỹ cứ
ngỡ rằng có thể dựa vào Phật giáo để thực hiện mục tiêu của ḿnh. Nhưng
Giáo hội Phật giáo thống nhất, mặc dầu có nhiều xu hướng và ư đồ khác nhau,
vẫn không tán thành chiến tranh và không chống lại việc thương thuyết với
Cộng sản. Một điều chắc chắn, theo cây bút Xunbecgơ trong tờ Nữu Ước thời
báo [Newyork Time – ct.] ngày 15. 3. 1965, tổ chức Phật giáo không đồng
t́nh với kiểu cách của Oasinhtơn [Washington DC., thủ đô Mỹ – ct.], mà lại
nghiêng về phía các ước nguyện của Việt cộng. Mất hứng trước thái độ của
Phật giáo, Lầu Năm Góc quay lại luôn phía Công giáo và chơi cho hết ván
bài này…”
(sđd., tr. 149 – 150); “Năm 1967, […]. Tại Việt Nam, các
binh sĩ Mỹ đă đặt lên ngôi tổng thống một người Công giáo (Nguyễn Văn
Thiệu) và đưa vào thượng viện đa số nghị sĩ Công giáo (35 ghế trên 60)…”
(sđd., tr. 155).
Xin xem thêm: Trần Xuân An,
Mùa hè bên sông, tiểu thuyết, bản đă sửa chữa, bổ sung lần thứ ba,
in vi tính ngày 19. 12. 2003 (trọn vẹn gồm 745 trang [kể cả phần chú thích,
phụ lục] và phần ngoài sách gồm 15 trang [một bài thơ viết về Quang Trung
cùng các chú thích sử học], cỡ sách 13 cm x 19 cm).
(5) TTHPNT., tập 4, sđd.,
phần gấp b́a 1.
(6) Xem thêm: Hoàng Phủ
Ngọc Tường, Như con sông từ nguồn ra biển (truyện kí, 1971), trong
Tuyển tập HPNT., tập 2, Nxb. Trẻ, 2002, tr. 9 – 38.
(7) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 32 – 33 & bài Đường phố ấy, sđd., tr. 21 – 23.
(8) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 14.
(9) TTHPNT., tập 4, bài Câu
hỏi, sđd., tr. 18 – 20.
(10) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 15 – 17.
(11) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 11 – 13.
(12) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 64.
(13) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 65.
(14) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 79 – 82.
(15) TTHPNT., tập 4, bài
Tôi viết tên Người, sđd., tr. 26 – 28.
(16) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 52 – 56. Nậy có nghĩa là lớn.
(**) Chẳng hạn về cuộc tiến
công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 (báo chí Miền Nam gọi là “biến cố Tết
Mậu thân”), bài thơ Dấu dép cao su trong vườn mẹ của Hoàng Phủ Ngọc
Tường chỉ đúng và rất đúng với anh và đồng đội Giải phóng quân của anh
cũng như với các gia đ́nh cơ sở cách mạng ở Huế, kể cả ngoại thành. Trong
hiện thực lịch sử, vào thời điểm đó, lính Mỹ đầy khắp Huế và cả Trị –
Thiên, nên bộ phận thanh niên, sinh viên học sinh tiến bộ, nhất là thân
cách mạng, rất căm phẫn. Chính tôi, thuở bé, đă chứng kiến được không khí
căm phẫn ấy. Nhưng đó là một biến cố đau thương, tang tóc đối với một phân
số khá lớn nhân dân Huế vốn là những người dân tộc chủ nghĩa (trung lập,
bị kẹt giữa hai gọng ḱm “tả đạo” và cộng sản), rất sợ hăi chủ nghĩa vô
thần, đấu tranh giai cấp, nhất là những ai họ xem là “thân” Liên Xô, Trung
Quốc (họ cho rằng Liên Xô, Trung Quốc cũng như Pháp, Nhật, Mỹ). Cho nên,
không khí Huế sau Tết Mậu thân, cùng với chiến dịch tuyên truyền tâm lí
chiến của Mỹ ngụy (về Khe Đá Mài với hàng trăm tử thi bị thủ tiêu…) là khá
hăi hùng. Chính tôi, thuở bé, cũng đă chứng kiến được không khí tang tóc
ấy.
Nhân chứng lịch sử cho cả
hai phía ngụy và cách mạng, cũng như phía bộ phận nhân dân, ngụy quyền,
ngụy quân lớp dưới (bất đắc dĩ phải làm công chức hoặc đi lính cho ngụy)
hiện nay c̣n sống không phải là ít.
Cho nên, câu ngạn ngữ
Phương Tây “bên này dăy Pyrénnées là chân lí, bên kia là sai lầm”,
cũng có thể vận dụng ở trường hợp Tết Mậu thân Huế 1968 này chăng? Ở đây,
tôi chỉ nói về quan hệ giữa thi ca và sử học cũng như đặc trưng của mỗi
loại. Xin khẳng định lại một lần nữa để khỏi bị ngộ nhận: Tôi không có ư
cho rằng bài thơ Dấu dép cao su trong vườn mẹ phản ánh sai sự thật
lịch sử đối với nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường và đồng đội Giải phóng quân
của anh cũng như đối với bộ phận gia đ́nh cơ sở cách mạng ở Huế và ngoại
thành Huế. Nhưng đó không phải là sự thật lịch sử toàn cảnh Huế vào Tết
Mậu thân 1968.
(17) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 132 – 134.
(18) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 137 – 138.
(19) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 135 – 136.
(20) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 121 – 122.
(21) TTHPNT., tập 4, bài
Đêm qua, sđd., tr. 106 – 108.
(22) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 83 – 84.
(23) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 87 – 88.
(24) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 157 – 158.
(25) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 126.
(26) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 161 – 162.
(27) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 104 – 105.
(28) TTHPNT., tập 4, hai
bài đă dẫn, sđd., tr. 190 & tr. 200 – 201.
(29) TTHPNT., tập 4, bài
T́nh sử Hy Lạp, sđd., tr. 91 – 93.
(30) TTHPNT., tập 4, sđd.,
tr. 95 – 96.
(31) TTHPNT., tập 4, bài
Tôi biết nơi kia có một chỗ ngồi, sđd., tr. 109 – 110.
(**) Trần Xuân An, Ngôi
trường tháng giêng (tiểu thuyết) & Sen đỏ, bài thơ hoà b́nh (tiểu
thuyết), xuất bản cùng một lượt, Nxb. Thanh Niên, 2003.
(*) Trần Xuân An, Ngôi
trường tháng giêng (tiểu thuyết), Nxb. Thanh Niên, 2003.
Phụ chú
(ngày 9-7-2005): Xin chú thích thêm: 4 câu thơ về lá cờ Mặt trận Giải phóng và Cộng ḥa
Miền Nam Việt Nam. Đó là lá cờ chính thức và chủ yếu ở Miền
Nam, trước ngày Hiệp thương Thống nhất
(1976). Đoạn thơ ấy trích trong trường ca “Nước non ngàn dặm” của
Tố Hữu: “Lá cờ nửa đỏ nửa xanh, Màu đỏ của đất, màu xanh của trời, Ngôi
sao chân lư của đời, Việt
Nam – vàng của ḷng người hôm nay”.
Phải chăng đó là lá cờ ngược (sách lược tạm thời)? hay do vô thức chi phối
khi Tố Hữu cấu tứ? Có nên truy kích nhau trong phê b́nh văn học? Tôi (Trần
Xuân An), trong những năm về sau, đă mạn phép chữa nghịch lư lại cho hợp
lư hơn: “Lá cờ nửa đỏ nửa xanh, Màu đỏ hừng sáng, màu xanh biển ngời,
Ngôi sao chân lư của đời, Việt
Nam – vàng của tim người hôm nay”.
Tất nhiên, bấy giờ cũng như bây giờ, tôi không dám sửa thơ của người khác
(nếu không phải bạn bè, thân quen và có trao đổi chân t́nh) như vậy, nhất
là thơ của Tố Hữu (đă vào văn học sử khi ông c̣n sống). Ư tưởng này với
những h́nh ảnh ấy, tôi đă thể hiện trong một bài thơ của ḿnh vào năm
1976.
TXA.
Đă gửi:
Anh Hoàng Phủ Ngọc Tường
& chị Lâm Thị Mỹ Dạ (để
được góp ư trước khi gửi đăng báo, 25. 10. HB4);
Hoàng Dạ Thư (NXB. Trẻ, để
chuyển giúp, 01. 12. HB4… ).