41
Nh́n ra vạt đất bên kia
lối ṃn đă được các giáo viên, nhân viên làm sạch cỏ tranh, đánh luống lên
vồng, rồi trồng khoai lang chuẩn bị cho năm học sau theo chỉ tiêu của Công
đoàn trường, tôi sực nhớ một câu ca dao quê nhà:
thương ai rồi lại nhớ
ai
mặt buồn rười rượi như
khoai mới trồng!
và
mỉm cười. Hai buổi lao động cải thiện mức sống sau ḱ thi học ḱ hai, gồm
cả anh Giảng, cả Hạ, thật vui nhộn với lấm lem. Mưa đầu mùa xối xả những
buổi chiều. Đất ba dan trơn trượt, nhầy nhụa. Lộc Biếc cũng cầm xà bất làm
cỏ. Cỏ tranh có bộ rễ trắng phau, rất khỏe. Không làm sạch cỏ với rễ,
trồng khoai xem như vô ích: cỏ tranh lên vùn vụt, lấp cả lá khoai, và rễ
tranh đâm xuyên qua củ như đan! Lộc Biếc xuưt xoa v́ bỏng rộp tay. Rồi cô
cũng giành xà bất đánh luống, lại cắm dây khoai vào rănh giữa vồng, lấp
đất lại như ai! Tôi mỉm cười h́nh dung h́nh ảnh Lộc Biếc chiều kia, chiều
qua. Công đoàn với Ban Giám hiệu lo xa. Riêng nhóm “Cộng sản cấp tiến”
chúng tôi, không kể Ka Kring, không biết sang năm sẽ về đâu. Chúng tôi vừa
muốn được lên cấp ba, bậc phổ thông trung học, để dạy đúng với hệ được đào
tạo, vừa buồn buồn thế nào ấy. Chúng tôi sợ phải chia tay nhau, mỗi người
về một trường. Ở tỉnh này, mỗi huyện chỉ có một trường cấp ba (trung học).
C̣n các trường ở Đà Lạt, chẳng mảy may hi vọng ǵ! Mỗi người về một huyện,
xa nhau lắm.
Những luống khoai mới
trồng kia dàu dàu thế nào ấy. Bao liên tưởng bâng quơ giữa nắng ban trưa
thật vu vơ.
thương ai rồi lại nhớ
ai
mặt tươi tắn nắng, thở
dài gió trưa!
Đôi lúc phải đùa với ḿnh
một chút cho cuộc sống bớt buồn … Trước ḱ thi học ḱ hai, tôi thấy Nam
trăn trở nhiều, và buồn. Đó là lúc anh Giảng thông báo viết đơn xin thuyên
chuyển nếu có nguyện vọng. Chúng tôi đều viết đơn xin lên thành phố Trên
Trời cao. Tôi cũng nghĩ Nam sẽ như vậy. Nộp đơn sau Lộc Biếc, Huyện và tôi,
Nam lại xin vào xă Lộc Nam. Lộc Nam, một xă được phong danh hiệu “Xă Anh
hùng”. Từ Bảo Nghĩa vào đó phải thêm mấy chục cây số nữa! Xă ấy, toàn dân
đều là Chiau Mạa. Nam muốn vào đó để tích lũy thêm vốn sống. Suốt năm học
vừa rồi, Nam mong đợi tin tức từ ông Vơ Phả, anh Lê Phạn, anh Cao Hồng Thứ,
xem thử có được chuyển về làm báo hay không, nhưng chẳng tăm hơi! Vào Lộc
Nam, ở đấy chỉ có trường cấp một!
Hôm ấy, tôi hỏi Nam:
- Sao lại ngược đời vậy?
Vào đó thế nào được!– Tôi can Nam –.
Nam cười, không rơ vui hay
buồn:
- Để viết về người K’Hor,
Chiau Mạa anh hùng!
Nam đưa cho tôi một bài
thơ, anh viết hôm đạp xe vội qua B’Kẽh, nhắc nhủ, khuyên Ka Tem, K’Bẻo đi
học lại sau mấy ngày bỏ học. Khác với mục đích lần đi, thơ là “Khúc vào
mùa”:
rất vàng là nắng Tân
Rai
chạm vào nhánh lá tràn
vai nắng vàng
vác cây xà gạt, thênh
thang
bàn chân lội nắng, nắng
loang lối rừng
mùa mưa đă tới sau lưng
thơm vàng cái nắng là
mừng cái nương
(ngày mai thóc chảy về
buôn
như con lũ nắng trên
đường đang đi)
chồi lên kín rẫy xanh
ŕ
phát mau ta phát sá ǵ,
nắng đun
mau bùng lửa, phơi tro
mun
mưa tra hạt, mầm xanh
phun, rộng dài
rất vàng là nắng Tân
Rai
ngày mai gùi nặng đầy
vai nắng vàng (46)
Nam đă thể hiện h́nh tượng
cái tôi trữ t́nh trong bài thơ là một người nông dân Chiau Mạa, chứ đâu
phải là thầy giáo Nam. Anh hoàn toàn nhập thân vào người nông dân Chiau
Mạa điển h́nh. Đúng là nhà thơ nhân dân, biết quên đi “cái tôi đáng ghét”
của ḿnh!
Nam c̣n đưa tôi xem lại
một bài thơ khác, “Ka Đum”, viết về một cô gái Chiau Mạa, vốn là du kích
chống Mỹ, và rất tiên tiến trong những phong trào vận động nhân dân định
canh định cư ở các buôn làng. Bài thơ này anh đă hoàn tất trước đây mấy
tháng:
suối ầm ào trầm bổng
giữa rừng trăng
tiếng trống tiếng cồng
tưng bừng bên ngọn lửa
câu hát nồng nàn hương
lúa
ché rượu nghiêng cả
trời đất ngấm vào người
Ka Đum! Ka Đum! ngọn
lửa mùa vui
lửa mănh liệt, lửa cháy
bùng dưới vầng trăng rực đỏ
lửa, lửa hồn nhiên như
tiếng reo, lửa kiên tâm như ngọn lúa
lửa tỏa cao, từ trang
sách sáng mặt người
đôi tay pạp mở ḷng ra,
vỗ nhịp liên hồi
thác rơi trên mặt trống
ngh́n năm âm hưởng mới
lồng ngực căng, rung
như cánh rừng
băo nổi
cơn băo chói hồng, dậy
từng đêm thao thức băn khoăn
Ka Đum! Ka Đum! cồng
ngân sâu,
hương lúa ngút
hơi trăng
tan trong câu hát ngày
mùa,
trái tim này
nghiêng vào ḷng nọ
con mắt quay đi, con
mắt nh́n chăm Ka Đum
như câu đố khó
đă ngời lên, lóng lánh
giọt rượu vui
ơ buôn làng ơi! rừng
già ta qua,
trơ lại rừng
chồi
một sá lúa trăm cây cao
rạp xuống!
chạy quanh quẩn ngh́n
đời giữa núi cao rừng thẳm
nay địu con đi dựng lán
xây trường,
mỗi ngọn rau hạt
thóc ngát b́nh yên
Ka Đum! Ka Đum! trăng
tháng mười
hồng rực Tây
Nguyên
bao ngọn lửa chừng như
huyền hoặc
tiếng trống chạm ṿm
sao,
lịch sử vượt
nghin năm tít tắp
giọng hát suối rừng:
bao nhiêu cô gái Ka Đum! (46)
Tôi biết Nam muốn nhập
thân vào đời sống thuần K’Hor, thuần Châu Mạ. Đó là một ư định tốt, lại
rất khó. Làm sao tâm hồn, nếp nghĩ thuần K’Hor hoặc thuần Châu Mạ, nhưng
vẫn trí tuệ, vẫn hiện đại, quả thật vô cùng khó. Chính Ka Kring cũng là
một tổng ḥa lạ, nữa là Nam. Tôi nói với Nam điều đó.
Nam bảo:
- Viết là mục đích sống,
là lẽ sống. Phải sống hết ḿnh để viết. Ḿnh không c̣n cách nào khác là
phải liều. Dạy cấp nào là điều không c̣n quan trọng nữa. Mọi cái đều không
quan trọng, so với việc có tác phẩm. Không trông mong ǵ vào tấm ḷng nào
đâu, nhất là kẻ có ḷng lại có chức quyền! Nghịch lí thế đấy! Tất cả đều
phải tự thân lo lấy thôi!– Nam cười buồn, nói tiếp –. Sống một chỗ măi làm
sao mà viết! Cạn vốn sống!
Nam không nói điều sâu kín,
song tôi biết, có thể đó là một dạng phản ứng của tâm trạng bất măn chăng.
Biết đâu, Nam cũng không rơ. Khó rơ được ḷng ḿnh, ai cũng thế. Tôi cũng
chỉ đoán chừng. Đúng là tuyệt, nếu làm báo, cắm vào nơi nào đó vài tháng,
về thành phố suy nghĩ, đến thư viện đọc sách tham khảo, rồi lại suy nghĩ …
Nếu cần, trở lại chốn cũ để nhập thân, ḥa ḿnh … Nhưng đúng rồi, phải tùy
điều kiện xă hội, bản thân, phải tự lo liệu.
Tôi nói:
- Làm báo, người ta không
cho đâu! Bí mật mà!
- Nếu vậy, ai đọc báo làm
ǵ! Báo chí, không có ǵ bí mật cả, trừ an ninh, quốc pḥng. Báo chí phải
trung thực. Trung thực, mới có người đọc. Và sợ ǵ!? Bí mật th́ báo chí
làm ǵ!
Nam nói xong, lại cười
sằng sặc. Thật ra, nói thế thôi, chứ Nam hiểu hết. Báo chí ḿnh, cũng như
văn nghệ đều “lành” mà chưa “mạnh” cả! “Trung” nhưng chưa “thực”!? Một dạo
khá lâu, Lộc Biếc muốn viết lí luận, phê b́nh, nhưng cũng rùn vai rụt cổ.
Cái hăm hở thuở sinh viên mới ra trường dần dần teo lại. Suốt năm học vừa
rồi, Lộc Biếc như bị án treo, từ buổi báo cáo chuyên đề đầu năm. Khi Ka
Kring về trường, biết cô có tài hội họa, Nam nẩy ra ư định mới.
- Này Khoai, giá như mấy
anh em ḿnh được làm một tờ báo nhỉ!– Nam nói –. Có cây bút thơ, cây bút
lí luận, phê b́nh, lại có cả cây truyện ngắn, cả cây hội họa nữa. Đủ bộ
rồi c̣n ǵ! Cả bọn được về Hội Văn nghệ của tỉnh th́ tuyệt vời!
Tôi chỉ cười. Thực tế đi,
bạn ơi. Không trông mong ǵ đâu. Hăy thực tế làm những ǵ đó ḿnh thích
trong điều kiện của ḿnh. Tôi nghĩ vậy, cũng chỉ nói với Nam, có lẽ hơi
mỉa:
- Hiện thực có những
nguyên tắc “bị hạn chế”, sao ông cứ mơ tưởng hăo! Hội Văn nghệ tỉnh ḿnh
đă có đâu! Ông chưa ngấm nỗi đau bị từ chối à?
Nam vẫn thế, rất thực,
thực đến đắng chát nhưng lắm khi cũng hăo huyền. Có điều, anh hăo huyền,
lại ư thức rơ ḿnh hăo huyền. Hăo huyền như một các tiếu ngạo chăng.
Trưa nay, nh́n ra sân nắng,
lối ṃn nắng và vạt đất trồng khoai ngập nắng, trong lúc bạn bè đang nghỉ
giấc trưa, tôi lại nhớ Lộc Biếc, nhớ với niềm yêu da diết.
Hôm nào đó, nhân bàn gẫu
chuyện viết lí luận, phê b́nh, cô nói:
- Khó trung thực lắm. Em
thích nghiên cứu, viết các chuyên đề, chuyên luận ở mảng đề tài nào ít
đụng chạm thôi. “Án treo”, thấy sợ rồi!– Cô lại rùng ḿnh –. Năm nay, có
bốn vụ ở trường ḿnh: chi Xinh, anh Quỳnh, Huyện, và Lộc Biếc. Phải vậy
không? Nhưng đừng đánh đồng Lộc Biếc với ba vụ h́nh sự thường phạm kia!
Tôi gật đầu, chợt thấy có
những linh cảm đă trở thành nhăn tiền, đặc biệt là vụ chuyên đề. Đến lúc
này tôi mới hiểu trực giác của tôi, về tính cách Lộc Biếc, về nhiệt t́nh
tuổi trẻ nói chung, về các mâu thuẫn bức xúc trong ḷng hiện thực, về độ
chênh đáng kể giữa sách vở và thực tiễn, giữa nói và làm, đă mách bảo
trước cho tôi. Có rất nhiều nạn nhân như Lộc Biếc do sách báo tô hồng,
tuyên truyền đối ngoại. So sánh khập khiễng, là chưa có “thằng bán tơ” nào
xúc xiểm để tôi hoặc ai đó phải bị “rút ngược dây oan” như các củ khoai ở
nhà chị Xinh. Nghĩ thế, tôi chỉ trả lời ngay vào câu hỏi của Lộc Biếc:
- Đúng rồi …– Định nói
thêm, nhưng tôi im lặng –.
Lộc Biếc nói, như muốn tôi
khẳng định rơ:
- Anh không thấy sao, kể
cả vụ chuyên đề của em, có người xếp nghiêm trọng thứ tư, đều là chuyện
phẩm chất, nhân cách nhà giáo cả?
Tôi nhẩm trong đầu: chị
Xinh, hủ hóa trong quan hệ nam nữ; anh Quỳnh, gian lận tài sản chung;
Huyện, nhục h́nh học sinh; và Lộc Biếc, báo cáo chuyên đề “gây xáo trộn tư
tưởng”. Nhưng tôi không đồng ư cách xếp thứ tự, và rơ ràng tôi không bao
giờ ngu dốt đến mức đánh đồng cả bốn vụ được!
- Trung thực là phẩm chất,
nhân cách nhà giáo … Tất nhiên, kêu đ̣i trung thực, kêu đ̣i bảo vệ nhân
cách nhà văn, nhà giáo như Lộc Biếc hoàn toàn khác hẳn sự vi phạm tính
trung thực, vi phạm đến nhân phẩm, đánh mất nhân cách của ba người kia.
Phải nói là khác hẳn một trăm tám mươi độ. Nhưng vẫn có ư kiến này nọ như
muốn cấm chỉ việc kêu đ̣i trung thực và nhân phẩm, nhân cách kia đấy! Và
cũng ư kiến tương tự như thế nhưng thực tâm là tán thành, chỉ đùa lại mà
thôi.
- Đúng vậy đó, anh Khoai.
Có kẻ bảo, kêu đ̣i trung thực, nhân phẩm, nhân cách là xúc phạm nhà giáo,
nhà văn, khác nào chửi họ là công cụ máy móc, là văn nô, là bồi bút! C̣n
anh Nam th́ đùa, ngay cả việc em ca ngợi Phùng Quán, Trần Quang Long thôi
là đă nhục h́nh các giáo viên, các người làm thơ, viết văn cùng thời, khác
nào bảo họ “đánh đĩ cây bút …”!– Lộc Biếc cười khanh khách –.
Tôi cũng cười. Quả là như
vậy thật. Biết thế nào được, cuộc đời! Đúng … Trung thực là giá trị nhân
cách cao nhất …
Trưa nay, ngồi một ḿnh
nghĩ bâng quơ, tôi cũng mỉm cười nhớ Huyện. Huyện bảo:
- Ḿnh sẽ làm kinh tế để
tài trợ cho các bạn. Làm báo văn nghệ, lương bao nhiêu đâu! Nhuận bút th́
thi thỏang!
- Nhưng ai cho Huyện làm
kinh tế!– Tôi bật cười –.
Đúng là một tṛ hăo huyền
trẻ con tất, những thơ, văn, báo chí, kinh tế! Đúng là nạn nhân của một
thời nửa chiến tranh, nửa hậu chiến, nạn nhân của thể chế nửa phong kiến
phi dân chủ, nửa xă hội chủ nghĩa! Đắng chát nhận ra sự thật với một nụ
cười.
Có lẽ, trưa nay, một buổi
trưa gần kết thúc năm học, bâng quơ hồi tưởng những mẩu rời của cuộc sống
bên ngoài lẫn bên trong của các giáo viên trẻ, bạn bè, tôi có thoảng chút
nào dư vị bất măn. Tâm trạng thật của con người vốn thế. Bất măn, tuy chỉ
hơi chua chát, thoáng mỉa mai thế sự, phảng phất chút hư vô, song vẫn sáng
suốt khẳng định mặt sáng của hiện thực thời ḿnh sống. Bất măn cũng là
tính người.
Khát vọng cống hiến của
thanh niên, và cơ chế xă hội không thể không mâu thuẫn? Biết làm thế nào
được!
Phải vậy không, Lộc Biếc
với ước mơ trở thành nhà nghiên cứu, phê b́nh, trên sách báo, trên giảng
đường đại học? Phải vậy không, Huyện với ước mơ làm vị bác sĩ bào chế hóa
dược? Phải vậy không, Nam với ước mơ sẽ có điều kiện để trở thành nhà văn,
nhà thơ tư tưởng? Và phải vậy không, Ka Kring với quan niệm hạnh phúc là
làm cô giáo đồng thời làm họa sĩ? Ồ, c̣n tôi nữa chứ! Tôi cũng ao ước ḿnh
là nhà văn, mặc xă hội diễn ra theo ư chí ai đó, theo lô gích khách quan
với những sáng, những tối của nó, tôi khiêm nhường, cẩn mật ghi lại thành
h́nh tượng hư cấu, thật hơn sự thật ngổn ngang, bao nỗi đời hiện thực. Tôi
cũng dấn thân với tư thế riêng của ḿnh. Phải vậy không tôi? C̣n bao nhiêu
người khác nữa! Đó là nỗi đau xót nhất của người viết văn. Tôi vẫn biết
trái tim tôi luôn cháy bỏng khát vọng được đăng tải trên báo chí và xuất
bản thành sách những trang viết của ḿnh. Chân thiện mĩ và khát vọng tự do
sáng tác, tự do báo chí, tự do xuất bản! Đó là nhân quyền và đó cũng là
quyền công dân ở một nước có hiến pháp!
Nh́n ra ngoài sân nắng,
lối ṃn nắng, vạt khoai mới trồng ngập nắng, tôi nghĩ đến những nhánh lá
khoai già đang hiu hiu chết để sống lại, non tươi. Tôi bỗng đau với quy
luật tàn ác, cường bạo của tự nhiên. Cỏ tranh phải bị “đào tận gốc, trốc
tận rễ” để khỏi tranh giành, ḱm và hăm các lá khoai, nhánh khoai đang héo
hắt nhưng rồi sẽ được tái sinh. Cỏ tranh, biểu tượng của nông thôn với
triệu triệu người qua ngàn năm chân đất, trên bao mái nhà yêu dấu. Cỏ
tranh, thương, quư biết chừng nào! Thế mà tự ngh́n xưa, cỏ tranh vẫn được
trồng, đồng thời vẫn bị “đào tận gốc, trốc tận rễ” v́ chúng đứng không
đúng chỗ của chúng! Không đúng chỗ, bi kịch là ở đấy! Bi kịch là do quy
luật tự nhiên …
Lộc Biếc! Chút ngẫu nhiên
đă trở thành cơ may, một t́nh huống tốt đă mở ra cho thơ tôi đi vào trái
tim em, cả cuộc đời tôi đi vào công việc, miếng ăn, trang viết, giấc ngủ
em, có điều vẫn bản tính cố hữu, lóng cóng, dại dột, tôi nào dám nói với
em điều ǵ. Tôi yêu em biết chừng nào! Tôi thầm lặng yêu em trong cô đơn,
đau buồn, câm nín. Mừng vui với t́nh huống “tốt” là tôi đáng xấu hổ. Nam
và Huyện cao thượng với tôi ư? Nhưng em có bao giờ thoáng yêu tôi! Hay
chính bản tính tự khép lại cảm xúc ḿnh với các cử chỉ vụng về của tôi đă
khiến em chan ngán, không thích gần gũi tôi? Không đúng chỗ, bi kịch là ở
đấy! Trái tim em không phải là chỗ của t́nh tôi! Tôi chọn trái tim em cho
thơ t́nh riêng của tôi, không đúng chỗ! C̣n trong các trang truyện của tôi,
em, nhân vật nữ với nhiều gương mặt, tên họ khác nhau, chỉ “đúng chỗ” một
cách quá đơn phương! Bi kịch cũng lại ở đó! Và đúng lúc? Biết thế nào là
đúng lúc! Điều kiện cần với điều kiện đủ!
Tôi có ǵ đáng khinh bỉ,
ghê sợ không khi nh́n vạt khoai mới trồng lại liên tưởng đến những ư nghĩ
rất tùy bút một cách bâng quơ, tản mạn? Tôi, củ khoai làng Thuận Xá, mẹ là
dân biển gần đó, bỗng rùng ḿnh cho bản năng tranh đoạt bẩn thỉu của vô
thức. Thật bỉ ổi!
Tôi nguyền rủa vô thức của
tôi rồi đó, Lộc Biếc yêu dấu! Tôi chỉ biết tôi yêu em vô ngần, yêu đến vô
cùng, Lộc Biếc ơi!
Chẳng lẽ tôi đang viết
trong đầu óc của ḿnh một phần của bản kiểm điểm cuối một niên khóa dạy
học? Phần sâu kín này tôi chẳng bao giờ đọc trong cuộc họp để nhờ bạn bè,
đồng nghiệp và lănh đạo góp ư. Tôi tản mạn hồi nhớ, tôi tự kiểm điểm để
làm trong sáng lại, thăng hoa lên tâm hồn, ư thức, cả vô thức tôi đây, ơi
yêu dấu! Tôi tự kiểm điểm tận sâu kín bản năng đáng xấu hổ của tôi đây,
bạn bè ơi! Tôi đang tập sự làm nhà giáo, đang rèn luyện để trở thành nhà
văn. Tôi đang suy ngẫm một hệ luận có mồ hôi của trải nghiệm, có nước mắt
của trăn trở trong tim ai đó: “Biến quá tŕnh giáo dục [cho học sinh]
thành quá tŕnh [nhà giáo] tự giáo dục [bản thân nhà giáo]”. Tôi đang soi
tôi vào trang văn của ḿnh để sửa chính ḿnh. Giữa học sinh cùng bạn bè
đồng nghiệp, tôi đă sinh nở ra một tôi mới mẻ.
42
Hồi hôm các giáo viên có
và không giảng dạy lớp chín đă họp lần thứ hai với Ban Giám hiệu. Các giáo
viên không dạy lớp này một tiết nào trong niên khóa bảy tám – bảy chín
nhưng có dạy trong các năm trước cũng tham gia ư kiến sôi nổi về trường
hợp của Nhi. Nhi, con gái rượu của ông Lịch, ủy viên Ban Chấp hành Hội Phụ
huynh học sinh trường. Ông đă bao lần đến trường với gương mặt, dáng điệu
đau khổ. Nhi là cô bé mười sáu tuổi, trắng trẻo, cao ráo, tóc dài đen mượt,
gương mặt xinh xắn nom khá sáng láng. Rất đáng tiếc là cô bé ấy lại học
quá kém tất cả các môn. Đă có giáo viên kết luận: “Nhi không thể học được”.
Khi họp lần thứ nhất, đa số đă đồng ư không thể cho Nhi đủ điểm để lấy
bằng tốt nghiệp phổ thông cơ sở. Chốn này, vùng kinh tế mới, đi học xa
đường, khó khăn, gian khổ đủ điều, và hạnh kiểm của Nhi tốt, nhưng không
thể chiếu cố rồi lại chiếu cố. Tuy nhiên, đây là vấn đề số phận một con
người. Một con người là cả một vấn đề hệ trọng. Ban Giám hiệu, giáo viên
lại họp, đêm qua. Sáng nay lại họp một lần nữa.
- Không thể lường được tác
hại khi một y tá, dược tá, cán bộ có bằng trung cấp nông nghiệp … trong
tương lai lại kém học vấn phổ thông như Nhi. Kém văn hóa, học chuyên môn,
nghiệp vụ cũng kém. Và xă hội sẽ như thế nào? Khốn đốn, nghèo đói, oan
khốc … v́ dốt.– Hoán nói – Do đó, xin đau ḷng không vớt điểm em Nhi. Nhi
không có năng lực trí tuệ! Đành để Nhi ở lại lớp.
Mọi người, dẫu rất thương
Nhi, cũng đành biểu quyết đồng ư, v́ tương lai của Tổ quốc. Không phải
phóng đại. Thật là vậy. Hộ cũng bị đánh rớt, cho lưu ban v́ hạnh kiểm, tuy
Hộ đă có tiến bộ đáng kể trong thời gian Lộc Biếc chủ nhiệm.
Với biên bản ba cuộc họp
vừa rồi, cùng bản tổng hợp các báo cáo khác, đúng tám giờ sáng, anh Giảng
triệu tập cuộc họp tổng kết cuối năm. Giáo viên các phân hiệu đều tập
trung đầy đủ, cả các đội viên Đội Thanh niên Ánh sáng. Phong trào “dạy
tốt, học tốt”, thi đua “Về thăm Lăng Bác” đều được đánh giá cụ thể. Trong
bản báo cáo, hồi năy anh Giảng đă nêu lại các vụ việc được xem là tiêu
cực: vụ Lộc Biếc với chuyên đề, vụ cô Xinh quan hệ bất chính, vụ anh Quỳnh
hái dâu trộm, vụ Huyện nhục h́nh học sinh. Công đoàn cũng tổng kết mặt
sáng, mặt tối. Anh Quỳnh cũng một lần nữa tự phê bản thân. Như đă góp ư,
phê b́nh Ban Giám hiệu, các giáo viên lại xóay vào cái được, chưa được,
không được của Ban Chấp hành Công đoàn trường, ngọt lịm và rát bỏng. Lại y
hệt anh Giảng, anh Quỳnh cũng không chịu xem vụ “tự do, trung thực” của
Lộc Biếc là tốt, một cách miễn cưỡng.
B́nh xong, lại bầu lao
động tiên tiến.
Tôi thấy Lộc Biếc cố b́nh
thản nhưng rất đau ḷng, cay đắng. Luận văn của cô, ông trưởng Pḥng Giáo
dục K’Đăng c̣n giữ. Lộc Biếc không được xếp hạng lao động tiên tiến!
Nam ngồi cạnh chị Xinh, an
ủi chị. Chị Xinh, với bầu thai sáu tháng, xấu hổ, thút thít khóc. Tôi nghe
Ka Kring nói nhỏ với chị Xinh:
- Đừng buồn khổ, chị Xinh!
Chị cố thương đứa bé trong bụng. Chị buồn, chị khổ, ảnh hưởng đến cháu,
tội nghiệp. Làm thư viện, cấp dưỡng là việc nhẹ hơn lên lớp, cứ xem như
dưỡng thai. Nh́n sự việc thế là nh́n lạc quan. Cứ vui như em này … Chị
vui, sau này cháu sẽ thông minh, khỏe mạnh.
Chị Xinh gật đầu, chấm
khăn tay vào hai khóe mắt. Tôi muốn khóc khi nghe cô giáo lai Ka Kring
nói. Con người nhân hậu ấy lại cam ḷng “triệt sản” khi c̣n trinh nữ để
được có chồng, và oái oăm thay, người cô chọn để yêu, để cưới theo phong
tục K’Hor, Chiau Mạa, lại là Nam. Song tôi cũng thương Nam, làm sao Nam
vượt lên nổi ư thức tự vệ của cộng đồng, dẫu người Việt Nam nhân hậu vô
cùng.
Tôi lại giật ḿnh khi nghe
chị Trâm, cấp dưỡng viên, phê b́nh Suối Vui đă đi nhà thờ Thiên Chúa giáo
ở Minh Rồng hay Đa Phát ǵ đấy vào mỗi sáng chủ nhật. Nhưng anh Ruộng gạt
đi, anh bảo, luật pháp cho phép điều đó.
- Sao năm ngoái, thầy Lê,
hiệu trưởng, lại phê b́nh tôi? Tôi đă bỏ đạo cả năm nay!– Chị trâm ngơ
ngác nói –.
Cả pḥng họp cười ầm. Chị
Trâm chả hiểu sao cả, đỏ bừng mặt. Chị quên bẵng phần phê – tự phê xong
lâu rồi.
Một lúc sau, gần cuối buổi
họp, Lụa lại phê b́nh thêm:
- Tôi có ư kiến góp cho
các đồng chí: Lộc Biếc, Nam, Huyện, Khoai và Ka Kring. Năm đồng chí này
được nhà tập thể gọi là nhóm “Cộng sản cấp tiến”. Tôi thấy các đồng chí có
những ư tưởng không phù hợp với t́nh h́nh chính trị hiện nay trong sinh
hoạt. Các đồng chí không nên cấp tiến kiểu đó.– Lụa nh́n xuống đất –.
- Tôi hiểu đồng chí Lụa
muốn nói ǵ. Tuy nhiên, xin nêu ra thật cụ thể.– Lộc Biếc nói, hơi có vẻ
khó chịu về ư kiến của Lụa –. Chúng tôi không dám lập nhóm, lập hội lúc
này. Chúng ta đang sống và làm việc trong một giai đọan lịch sử mà mọi
quyền con người (nhân quyền) đều bị hạn chế, mặc dù các quyền ấy đă được
hiến chương Liên hiệp quốc, các hiến chương quốc tế lẫn hiến pháp nước ta
công nhận. Chúng tôi ư thức sâu sắc điều đó.
Tôi, thật ḷng cảm phục
Lộc Biếc, cũng chỉ im lặng!
Tôi cũng đóan Lụa đợi xếp
loại xong mới phê b́nh thêm, để khỏi ảnh hưởng xấu đến thành tích của đồng
nghiệp. Tốt đấy, nhưng cần ǵ thế nhỉ! Tốt hơn là phải chân thành, trung
thực với nhau trước khi b́nh bầu chứ!
Tôi, Nam, Huyện và Ka
Kring đă biết cô Lụa: Cô ấy nhiệt t́nh cách mạng một cách máy móc, chỉ tô
hồng, sợ nói thẳng, nói thật các hạn chế mà cuộc sống đang diễn ra, trong
trường, ngoài trường, tuy chỉ trong sinh hoạt giáo viên hằng ngày.
Tôi nghe cô Lụa phê b́nh
khá cụ thể, chỉ im lặng.
- Chúng tôi là giáo viên
nhân dân. Ai cũng có cái đầu để nghĩ, đôi tai để nghe, đôi mắt để thấy,
trái tim để cảm xúc. Chúng tôi là những người cộng sản, cho dù được kết
nạp và Đoàn hay không, hoặc đă bị khai trừ.– Lộc Biếc nói –. Chúng tôi
nghĩ, giáo viên nhân dân, người theo lí tưởng cộng sản khoa học, phải biết
căm ghét cái tiêu cực, buồn bực với cái hạn chế về các quyền con người,
phải yêu thương, trân trọng và nhân lên cái sáng: chân, thiện, mĩ. Chúng
tôi làm việc có sai sót, khuyết điểm, nhưng có tổ chức, có lănh đạo.– Lộc
Biếc lại hùng hồn –. Chúng tôi không là công cụ máy móc kiểu rô bốt, không
óc, không tai, không mắt, không tim. Chúng tôi có quyền nhận thức xă hội
một cách toàn cục với quan điểm duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, có
quyền cảm xúc trước cái đáng mừng, cả cái đáng đau ḷng. Người máy, tô
hồng một chiều, là nô lệ, bị nô dịch kiểu khác.
Lụa đưa mắt cầu cứu anh
Ruộng, anh Giảng. Cả hai lắc đầu. Và cuộc tổng kết kết thúc với bảng xếp
loại. Tất nhiên có ba người lọai C: cô Xinh, anh Quỳnh và Huyện. Lộc Biếc
bị xếp loại B. Tôi thấy tôi quả là thằng hèn loại A!
Khi bước ra sân, đứng
chuyện tṛ với nhau, bỗng mọi người thấy chiếc xe của Pḥng Giáo dục đỗ
xịch trước hàng rào. Lộc Biếc giật ḿnh, lo âu, song cố giữ b́nh tĩnh.
Huyện cũng thế. Ông K’Đăng, cán bộ khối phổ thông Nguyễn Kí và ông Binh
xuống xe.
Anh Giảng, anh Quỳnh, anh
Ruộng ra đón.
Sau hơn nửa giờ các vị
lănh đạo làm việc ở văn pḥng, nửa giờ lo âu, hồi hộp của Lộc Biếc và
Huyện, chúng tôi được mời vào gặp. Tôi cứ lo phen này chắc bị kiểm điểm,
phê b́nh thậm tệ. Chúng tôi, nhóm “Cộng sản cấp tiến”, chỉ năm người trước
sáu vị cấp trên.
Ông K’Đăng mỉm cười, đứng
dậy với vóc dáng cao lớn, da nâu sẫm, tóc gợn sóng, bắt tay Lộc Biếc rồi
mỗi người chúng tôi. Sau phút xă giao b́nh thường, tôi thấy Lộc Biếc vẫn
giữ được vẻ b́nh tĩnh, ung dung. Cô gái ấy không c̣n vẻ nhí nhảnh, dễ
thương, thay vào đó là vẻ chững chạc, tự tin, giấu được nỗi âu lo suốt cả
năm học nay. Lúc này, tôi càng nhận ra bản lĩnh tự tin của cô. Nam và
Huyện cũng cố đàng hoàng giữ nụ cười trên môi. Ka Kring hơi bối rối.
- Chúng tôi định đến dự
cuộc họp Hội đồng toàn trường hồi năy, nhưng rồi quyết định để các đồng
chí trong nội bộ kiểm thảo với nhau. Chúng tôi vừa nghe báo cáo lại.– Ông
K’Đăng ôn tồn nói với giọng pha thổ âm –. Đồng chí Kí cũng đang đọc lại
biên bản.
Tôi thấy ông Kí đang đọc
các ḍng chữ của Đồi Hương trong cuốn sổ to tướng b́a đen, có lẽ đọc đến
lần thứ hai.
- Chẳng có vấn đề ǵ. Thế
là tốt. Có tiêu cực, nhưng đă có biện pháp thích ứng. Đây là một trường có
nhiều nhân tố tích cực. Đúng là một trường trọng điểm của Pḥng Giáo dục
ta.– Ông K’Đăng lại nói –. Riêng các đồng chí, chúng tôi muốn gặp riêng.
Các đồng chí có ư kiến ǵ, cứ phát biểu trước.
Chúng tôi im lặng. Một
lúc, Nam nói:
- Thưa các đồng chí, không
c̣n ư kiến ǵ nữa ạ. Có điều, tôi xin mạn phép thưa rằng, cô Lộc Biếc với
vụ chuyên đề văn học, “Chân, thiện, mĩ và khát vọng tự do sáng tác …”, hồi
đầu năm, bị quy ngược là tiêu cực, và suốt cả quá tŕnh công tác, giảng
dạy năm học qua bị xếp loại B, tôi thấy hơi oan uổng, xin bất b́nh thay
cho cô ấy. Đó là ư kiến nhiều người, trong cuộc họp vừa rồi.
Ông K’Đăng gật đầu:
- Tốt. Không có vấn đề ǵ.
Đánh giá thế là hơi ép. Tôi phê b́nh Ban Giám hiệu trường này là đă quá
thủ thế. Lẽ ra phải duyệt trước rồi mới tổ chức cho cô Lộc Biếc báo cáo.
Quá mạnh dạn rồi quá thủ thế. Làm việc kiểu đó th́ không được, oan uổng
cho người khác, như cô Lộc Biếc. Bao người có tài, có tâm bị “chết” bởi
tâm lí thủ thế như vậy của lănh đạo. Đánh trống cũng ḿnh, bỏ dùi cũng
ḿnh, oan uổng cho bao người!– Ông K’Đăng tiếp –. Tôi và nhiều đồng chí ở
Pḥng Giáo dục đă đọc luận văn của cô.– Ông nh́n thẳng vào Lộc Biếc, vừa
nghiêm nghị, vừa trấn an –. Bản thân tôi cho là tốt, rất tốt. Song theo ư
kiến đa số, họ không hiểu hết, và cho là chưa nên. Thôi th́ … Ta làm ngành
giáo dục, lại bậc phổ thông, nên dạy, bàn luận có tổ chức những ǵ đă định
h́nh, cứ theo sách giáo khoa … Thôi th́ … Bỏ qua chuyện này. Tôi đề nghị
xếp loại A cho đồng chí Lộc Biếc. Đồng chí Giảng vẫn A, không hạ bậc. Các
đồng chí có ư kiến ǵ nữa không?– Nói xong, ông mở cặp rút ra cuốn luận
văn “Chân, thiện, mĩ và khát vọng tự do sáng tác …”–.
Ông trả cuốn luận văn ấy
cho Lộc Biếc. Cô đáp khẽ lời cảm ơn. Nét mặt Lộc Biếc tỏ lộ niềm cảm động,
vui mừng.
Ông Binh đằng hắng, sau
một quăng im lặng dài của mọi người:
- Nhân tiện đây, tôi cảm
ơn cácđồng chí trong việc bổ túc văn hóa cho tôi. Đó là một ưu điểm …
Không có đồng chí Hoán ở đây, nhớ cho tôi gửi lời cảm ơn. Xin bổ sung ưu
điểm này cho các đồng chí.
- Kính cảm ơn bác Binh đă
treo cho cháu cùng các đồng chí khác, các em học sinh, các vị phụ huynh
một Tấm gương hiếu học – thực sự cầu thị. Học ngay cả các giáo viên tuổi
cháu chắt ḿnh là cả một Tấm gương lớn và sáng.– Lộc Biếc cảm phục nói –.
- Cảm ơn. Tôi không có ư
định nêu gương. Chả là hồi trẻ không học được v́ hoàn cảnh kháng chiến,
tập kết ra Bắc lại kẹt lí lịch, cha tôi là lính lệ, lính Tây, cũng không
học được. Suốt đời phấn đấu v́ sự nghiệp của dân, của Đảng, nhưng chức vụ
cao nhất và cuối cùng chỉ là quyền bí thư Chi bộ xă.– Ông Binh cười –.
Thôi, nói là nói thế, nhưng ở vị trí nào ta cũng trung với nước, hiếu với
dân …– Ông không có vẻ ǵ là mặc cảm –.
Tôi ngỡ như bị ù tai, tuy
đây không phải là lần đầu nghe ông Binh tự nói về ḿnh. Tôi đợi sự phê
b́nh, góp ư ǵ nữa, song chỉ là những câu nói vui của ông K’Đăng, với ngụ
ư giúp chúng tôi bớt ảo vọng và giữ được sự tỉnh táo trên đường đời sau
này, nhất là trong việc sáng tác, báo chí, xuất bản. Sau đó, ông cho phép
chúng tôi ra khỏi văn pḥng.
Lộc Biếc cười nhẹ nhơm.
Chúng tôi cũng thở phào.
Nam vẫn trầm tĩnh nói:
- Trên con đường sáng tạo
văn chương và trau dồi chuyên môn, không có ǵ khiến chúng ta sờn ḷng,
chùn bước. Chúng ta rồi sẽ có tự do sáng tác, tự do báo chí, tự do xuất
bản và quyền được làm việc đúng với sở trường, với chuyên môn của ḿnh. Đó
là con đường nhân quyền và hiến pháp xă hội chủ nghĩa nước ta!
Tôi mỉm cười, tán thành
với Nam, và chợt nhớ lời Nam thường nói: giá trị văn chương thuộc về vĩnh
cửu, c̣n tất cả chỉ là nhất thời, rồi sẽ tan biến. Bây giờ, Nam c̣n nói
đến giá trị chuyên môn nữa …
Sau bữa liên hoan tổng kết
năm học, chúng tôi nghỉ trưa, chờ nhận giấy công lệnh kèm giấy ưu tiên cho
giáo viên miền núi về giao thông, cụ thể là mua vé xe được thuận lợi.
Khoảng ba giờ chiều, anh
Giảng cùng cô Phước, cô Đồi Hương đi họp báo cáo ở Ủy ban xă Bảo Nghĩa về.
Anh Giảng ném cặp lên bàn ở văn pḥng, càu nhàu nhưng miệng cười:
- Đồ điên hạng nặng!
Và anh triệu tập Ban Giám
hiệu, Ban Chấp hành Công đoàn trường cùng ba phân hiệu trưởng khác để nâng
bậc xếp loại cho anh Quỳnh. Hóa ra anh Quỳnh bán dâu trộm để giúp hai lần
cho vợ anh thư kí Ủy ban nằm bệnh viện, chữa bệnh lao phổi, với lời dặn
đừng nói cho ai biết! Khi anh Giảng báo cáo, anh thư kí Ủy ban không giấu
được xúc động, bèn minh oan cho anh Quỳnh. Anh Quỳnh thấy anh Giảng cáu
gắt, cũng đành thú nhận, là tín đồ Tin Lành, anh ấy sống theo lời Chúa,
“làm việc thiện bằng tay phải, đừng cho tay trái biết”, và chịu oan khổ,
nhẫn nhục để gần gũi với Thiên Chúa hơn!
Ngồi bên gian nhà nam, tôi
nghe khá rơ. Tôi nghĩ đến “thú đau thương” bệnh hoạn, đă trở thành thời
thượng triết học, thi ca nhiều nước, là phong trào của nhiều thời đại. Với
anh Quỳnh, trong trường hợp này, giữa đời sống thật, quả là lần đầu tôi
được chứng kiến. Gần Thượng đế hơn ư? Tôi cứ lật qua, lật lại câu hỏi siêu
h́nh, thần học ấy.
43
Học sinh lại đến lớp vào
sáng hôm nay. Đây là buổi cuối cùng của năm học. Các em được thông báo kết
quả một cách cụ thể hơn, đồng thời ghi chép kế hoạch ôn tập hè. Trong điều
kiện khó khăn, thầy và tṛ liên hoan tạm biệt chỉ bằng thơ, nhạc.
Đă chia tay với học sinh
lớp bảy của ḿnh, Nam bước ra hành lang. Bé Ngoan, Qua, Ka Tem, rồi sau đó
là K’Bri, K’Bẻo chạy theo anh. Nam quay lại, nghẹn ngào, nh́n các học sinh
suốt năm học anh lưu tâm nhất. Một lúc sau, Nam với đôi mắt đỏ hoe bảo các
em:
- Những ǵ thầy nói vừa
rồi trong lớp, các em nhớ nhé. Phải học. Luôn luôn tâm niệm như thế để
học. Học, đó là lối thoát cuối cùng cho bản thân, gia đ́nh và đồng bào.
Sau này, dẫu làm ǵ đi nữa, có học vấn vẫn hơn. Riêng với Ka Tem, thầy tin
em đă hiểu, cũng không thể quên được những ǵ thầy muốn nói với ba của em,
đó là đoàn kết trong b́nh đẳng.
Các em khóc nức nở. H́nh
như các em không nói được ǵ. Đứng trong lớp sáu, tôi thấy Nam một lần nữa
vẫy tay chào lớp bảy cùng các học sinh đứng khóc ở hành lang, rồi bước ra
sân. Anh lại đáp lời chào và chúc của học sinh các lớp khác đă tản ra, sau
buổi chia tay.
Học sinh với thầy giáo
quyến luyến tưởng không rời.
Sau đó mươi phút, tôi cũng
bịn rịn từ giă lớp sáu thân yêu của tôi.
Trong bữa ăn trưa cuối năm
học, các giáo viên, nhân viên vừa vui mừng được về phép, vừa bùi ngùi chia
tay, hẹn gặp lại sau một tháng.
Tôi cứ bâng khuâng nh́n
măi chú mèo đực ngồi trên thùng gỗ to làm chạn của bếp ăn. Tôi nh́n chú
mèo vô tư lự để che giấu niềm xúc động ngổn ngang trong ḷng ḿnh.
Để tránh cơn mưa buổi
chiều, chúng tôi đạp xe đạp đèo nhau ra Đa Công giữa nắng trưa.
Gặp Hạ từ nhà lên, Nam lại
nói to để dặn Hạ:
- Cho gửi va li sách nghe
Hạ. Giữ cẩn thận giúp nghe. Cảm ơn trước nghe.– Nam cười –. Gia sản đấy!
- Thầy yên tâm.– Hạ cũng
híp đôi mắt một mí cười –. Thầy cô về phép được vui!
Chúng tôi cảm ơn Hạ, trong
khi vẫn đạp xe đèo nhau. Nhiều học sinh đang đứng chơi dọc hàng hiên, ven
đường ṿng tay chào và chúc. Làm giáo viên nông thôn, những h́nh ảnh như
lúc này là phần thưởng cảm động nhất.
Ở đằng xa, thấy chúng tôi,
Ngoan chạy vào nhà gọi mẹ. Chị Xinh ra đứng đầu ngơ. Chúng tôi phanh xe
lại. Trong sân, cô giáo Cam Ly với Đồi Hương đang chia tay Hải. Tôi mỉm
cười, biết Cam Ly giữ kẽ, rủ Đồi Hương cùng ghé chào. Tôi định xin phép
chào vọng vào hai cụ già (ông bà nội bé Ngoan), nhưng thấy thế là thất lễ,
nên cả mấy người cùng nhau vào tận nơi để chào hai cụ.
Chị Xinh kéo Nam đến dưới
gốc cây trứng gà, vừa khóc vừa nói. Lộc Biếc giữ xe đạp với hai túi xách
hành lí, bên cạnh xe đạp tôi và Ka Kring đang ngồi. Những câu trước tôi
không nghe rơ, chỉ mỗi một câu chị Xinh nấc lên như không ḱm được đă thốc
vào tim tôi nỗi xót xa:
- Cậu Nam … đừng kể chuyện
… tôi … trong ni cho … ai nghe, … nghe cậu!– Chị Xinh dùng từ địa phương
–.
Đó là câu cuối chị Xinh
nói rồi khóc ̣a. Bé Ngoan cũng ôm tay mẹ khóc. Nam nói nhanh:
- Như Ka Kring dặn đó, chị
cố vui, lạc quan v́ thương đứa con trong bụng.– Nam cố gh́m xúc động nên
giọng anh hơi rắn lại và gấp –. Nó là một Con Người. Chị phải chăm lo cho
nó ngay lúc này, dạy dỗ nó sau này cho nên người.
Nam bước lại chỗ Lộc Biếc,
đạp xe đèo cô đi. Chúng tôi đạp xe theo anh. Nhận ra đạp hơi nhanh, anh
chậm lại.
Sau khi chào gia đ́nh ông
Binh, anh Ruộng, chúng tôi định đạp thẳng ra Đa Công. Dọc đường đất đỏ lầy
lội này, tôi cười chào các cô giáo đang vén ống quần, đi ngoằn ngoèo để
tránh các vũng nước ngầu đục lấp loáng nắng. Tôi sực nhớ hôm ăn xôi nếp ở
nhà chị Xinh lần đầu, chị có nhắc đến kỉ niệm với Nam hồi chị mười mấy
tuổi, Nam mới lên bốn. Đó là thú nặn đất sét thành tượng, một tượng khỉ
lớn, con vật cầm tinh, rồi vỗ nước vào nặn lại thành bốn tượng nhỏ, cũng
là khỉ tuổi thân. Với khát vọng được sống và viết có phong cách riêng, cá
tính riêng, tôi hơi khó chịu khi liên tưởng chúng tôi cùng một tuổi nên có
chung số phận hay có nhiều nét đường đời giống nhau. C̣n Ka Kring nữa? Tôi
mỉm cười thấy ḿnh vớ vẩn. Tôi vẫn cắm cúi đạp xe, bỗng phải phanh xe lại.
Anh Trà từ quán bước ra gọi Nam và chúng tôi. Gương mặt anh gầy tóp lại,
héo quắt, râu để dài như cỏ dại. Trông anh Trà, mới sau ba tháng không gặp
lại, già đi cả mươi tuổi.
- Mời các bạn vào quán
chơi một chốc đă.– Anh Trà mỉm cười tỏ thiện cảm –.
Nam ngập ngừng, nh́n trời,
vừa sợ cơn mưa chiều thường thấy vào mùa này, vừa muốn thuyết phục anh lần
cuối. Nam quay mặt lại hỏi chúng tôi. Hoán đang chở Huyện, cười:
- Th́ vào một chốc. Càng
mưa càng có kỉ niệm, sợ ǵ!
Sáu anh em ngồi trên hai
băng ghế gỗ của ông cử Trà sửa xe đạp c̣n có biệt danh là Trà-Rơ-mác. Với
tay lấy ấm nước, anh rót ra ba cái chén sứ sứt quai. Anh bước tới tủ kẹo
bánh, thuốc lá. Kẹo, bánh mời khách được đựng trên nắp của cái thẩu thủy
tinh. Anh Trà mở gói thuốc 475 đặt bên cạnh.
- Anh Trà cố gắng giữ sức
khỏe chứ.– Nam nói –.
- Cảm ơn.– Bất giác anh sờ
râu mép –. Các bạn được về phép, thích nhỉ! Cho tôi gửi lời thăm gia đ́nh.
Lát sau, cố nén sự sốt
ruột, tôi gạt qua những câu bâng quơ, vớ vẩn để nói:
- Anh Trà có nhớ chuyến xe
từ Đà Lạt về Công không? Tôi vẫn nhớ “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh” của
E-rich Ma-ri-a Rơ-mác (Erich Maria Remarque), cuốn sách anh đọc trên xe,
cả cuốn anh rất thích, “Một thời để yêu, một thời để chết”.
Anh Trà hơi thẹn thùng.
Lúng túng mấy giây, anh cười chữa thẹn:
- Vâng, nhớ chứ. Có điều,
cuộc sống ở Đức khác Việt Nam ḿnh bây giờ. Chiến tranh đă khác, hậu chiến
cũng khác. Ư tôi nói cả mấy cuốn Rơ-mác viết về Thế chiến hai, về các năm
sau khi Đức bị chia cắt … so với thời điểm này … Như thầy giáo Nam hôm ở
suối đá có nói, tôi cảm ơn, cố sống tích cực, nhưng ai cho ḿnh tích cực
mà tích cực!– Anh Trà nhếch mép cười –.
Có lẽ anh bất chợt nhớ
AQ., Chí Phèo của Lỗ Tấn và Nam Cao với một nỗi cay đắng, tự biếm nhẽ quá
thậm tệ?
- Ư em muốn nói là anh Trà
cần xem đứa bé c̣n phôi nay đă thành thai gần ra đời, trong bụng chị Xinh,
giọt máu của anh, như một Con Người cần được yêu thương, trân trọng, để nó
sẽ là Con Người chân chính.– Nam chậm răi nói sau phút trấn tĩnh –. Bây
giờ, anh Trà ạ, em xin thêm một ư về cuốn sách nọ, “Một thời để yêu, một
thời để chết”… Người lính phát xít trong phút thức tỉnh đă mở cửa kho để
giải thoát cho những nông dân Nga yêu nước. Anh ta đă chết bởi loạt đạn
của họ bên những đóa hoa dại có nhụy hồng trong đám cỏ gần đấy. Có người
trách những nông dân du kích Nga lấy oán trả ân, trách anh lính phát xít
Đức biết khoan hồng nhưng thiếu cẩn trọng, cảnh giác, nhưng vẫn có người
bảo anh lính phát xít Đức đă tự sát bằng cách đó, v́ lương tâm thức tỉnh.
C̣n câu chuyện của chúng ta ở đây tất nhiên không dính líu ǵ với cuốn
tiểu thuyết ấy, chỉ có một liên tưởng nhỏ, nhân tiện mà liên tưởng, tuy
khiên cưỡng nhưng cũng vui vui. Đó là liên tưởng nghịch. Em nghĩ,– Nam lại
nh́n anh ấy –, anh Trà hăy sống, sống đẹp trước bào thai chị Xinh mang,
sắp sinh nở. Vâng, anh Trà à, mong anh Trà sẽ sống, sống đẹp trước đứa con
của anh. Đứa bé ấy sẽ là đóa hồng cứu sống anh, khát vọng ḥa b́nh, nhân
bản của anh. Sự thật lịch sử về “phù Lê”, “tả đạo” với hai tên phản quốc
tiêu biểu là Tạ Văn Phụng, Trần Lục ở Bắc Ḱ thời Tự Đức – Hàm Nghi, sự
thật về chế độ ngụy, “tả đạo” Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Văn Thiệu ở Miền Nam,
anh đă nhận thức rơ, và đă từ bỏ, em không nói tới nữa. Em chỉ nói khát
vọng ḥa b́nh, nhân bản (lấy con người trần gian làm gốc). Khát vọng ấy sẽ
gặp lí tưởng của cách mạng vô sản, em tin vậy. C̣n cuộc đời, nó cứ bước đi
với các bước của lịch sử, chúng ta chỉ là những thành tố nhỏ thôi mà. Đă
lỡ một thời để yêu, nên có một thời để sống! Để sống, anh Trà ạ.
- Vâng …– Anh Trà run run
môi –.
Nam và chúng tôi mừng rỡ.
Lộc Biếc hỏi ngay:
- Thật không, như vậy chứ,
anh Trà?
- Vâng …– anh Trà nh́n
lăng –.
Tôi hơi thất vọng v́ âm
sắc tiếng “vâng” của anh có vẻ miễn cưỡng, qua chuyện.
- Sao anh không quư hạnh
phúc, quư t́nh yêu cuộc sống nhỉ! – Nam bần thần, hẳn cũng thất vọng –.
Đang cúi đầu, anh Trà
ngẩng mặt:
- Tôi từ bỏ đứa bé đang
c̣n là bào thai, cũng có nghĩa, tôi từ bỏ lương tâm, trách nhiệm của tôi
(một kẻ chính là cha đẻ của nó). Tôi hiểu chứ. Nhưng các bạn cũng hiểu suy
nghĩ của tôi rồi mà …– Giọng Bắc cố nặng âm địa phương của cố hương hơi
nḥe đi –.
Đôi môi dưới và trên các
sợi râu tua tủa của anh Trà hơi méo đi v́ xúc động.
Nam không biết nói sao,
chỉ cúi đầu rồi nh́n anh Trà:
- Cuộc sống sẽ khác đi.
“Sau cơn mưa, trời lại sáng”, một câu ngạn ngữ hay tục ngữ ǵ đó đă khuyên
bảo mọi người về niềm hi vọng như thế. Chẳng lẽ cứ lí lịch gia thế mấy
đời, mấy họ măi. Hiến pháp cộng ḥa xă hội chủ nghĩa nước ta chẳng quy
định mọi người đều b́nh đẳng về mọi nghĩa vụ và quyền lợi đó sao!
Nói thêm vài điều với
nhau, chúng tôi chào anh Trà. Bẻ một nhánh cây khô nhặt được trên đường,
tôi gạt bớt lớp bùn bám vào bánh xe và vè xe đạp. Nam, Huyện cũng thế.
- Hăy tin vào sức mạnh của
ḷng nhân hậu, anh Trà ạ.– Nam lại nói –. Không người Việt Nam nào cứu
nhau bằng ḷng thù hận. Người Việt Nam giải phóng nhau bằng ḷng nhân hậu.
Nghèo ḷng nhân hậu sẽ không tự cứu được bản thân mỗi người, bất ḱ ai
cũng thế.
Chúng tôi lại nghe anh Trà
nói “vâng”.
Nh́n trời, sợ cơn mưa ập
tới, chúng tôi chào anh Trà, cử nhân triết học, cựu sĩ quan đào binh, cũng
là anh thợ sửa xe đạp, bán quà vặt!
Đạp xe qua doanh trại bộ
đội, chúng tôi lại chào một vài người lính quen biết đang đánh bóng chuyền
trong đó.
Tới ngă ba Đa Rai, thấy
trên chiếc xe lam có nhiều cô giáo đang ngồi chờ khởi hành (Nghệ, anh
Quỳnh, anh Giảng đă ra Đa Công hồi sáng). Tôi lại gặp K’Vinh, một anh lai
Hy Lạp đang là giáo viên ở Bảo Thắng, t́nh cờ một hôm tôi quen. Chúng tôi
chào nhau với những câu hỏi thân mật.
Tôi không ngờ em Hộ đă đợi
sẵn ở ngă ba này để tiễn chân chúng tôi. Hộ nh́n thầy giáo Huyện với đôi
mắt đỏ hoe.
- Sang năm em học lại lớp
chín. Thầy c̣n dạy chúng em không?– Hộ hỏi thầy giáo Huyện, người thầy đă
phục thiện –.
- Chưa biết thế nào, tùy
Pḥng và Ty Giáo dục, Hộ à. Dẫu sao đi nữa, hăy cố gắng học tập, tu dưỡng
nghe Hộ!– Huyện đặt tay lên vai Hộ, nói khẽ với em, trong khi Hộ khóc, đôi
bàn tay chai sần của em run mềm nắm tay cô giáo Lộc Biếc, người đă tận tâm
yêu thương, phục hồi cho em ḷng tự trọng –.
Đạp xe ra Đa Công, dọc
đường, Ka Kring nói sau lưng tôi, bồi hồi:
- Sao em yêu nghề giáo dục
quá, anh Khoai ạ.
Tôi cũng nghĩ không khác
Ka Kring.
Hai bên đường, bạt ngàn
các đồi trà tươi lên sau những cơn mưa đầu mùa. Những ngọn cỏ mọc xen với
trà đâm vào tâm hồn nông dân của tôi buốt nhói như các ngọn cỏ lúa ở quê
nhà Thuận Xá, Quảng Trị xa lăng lắc. Cỏ ơi, hăy mọc đúng chỗ nào! Trà ơi,
xanh lên những chồi lá tơ non ngọt chát đi nào! Tôi liên tưởng nghịch đến
anh Trà. Anh Trà không phải là bạt ngàn trà trải khắp bao ngọn đồi kia. Là
người đau đáu khát vọng được b́nh đẳng, anh Trà có ngọn lá biếc nào trong
lương tâm, lương tri anh không, trước ṿm bụng mang đứa con máu thịt anh
với chị Xinh, nói như Nam, khác Rơ-mác, là đóa hồng sự sống? Tôi tin đóa
hồng ấy đă sáng bừng trong tâm anh Trà, sống lại trái tim anh …
- Phải vậy không Ka
Kring?– Tôi buột miệng –.
Ka Kring ngơ ngác:
- Phải ǵ, anh Khoai?
Tôi cười, chợt nhớ ḿnh
vừa buột miệng bất giác:
- “Sau cơn mưa, trời lại
sáng” ấy mà.
- Đừng mưa, ướt hết. Em
mong trời sẽ mưa thuận gió ḥa vào đêm nay, sau khi ḿnh đă đến nơi, dạo
quanh Đa Công và ăn tối. – Ka Kring thực tế nói –. Lúc đó, mặc mưa với
bóng đêm ngoài trời, chúng ta sẽ đóng cửa kính, hát ḥ, uống trà. Sáu anh
em, trên một căn gác ấm cúng ở nhà em. Cuộc đời bao giờ cũng dễ thương th́
tốt hơn.
Chúng tôi dắt xe lên dốc
rồi thả xe xuống dốc, với tay phanh hờ sẵn, cho hai cặp má phanh rà rà vào
hai vành xe.
Dọc đường, tôi lại xúc
động biết bao khi nghe Ka Kring bảo:
- Chị Lộc Biếc đă cứu cả
Hộ, cả Nhi, cả anh Huyện đấy, anh Khoai à. Và ông Mộ, sau một cuộc xung
đột dữ dội với Hộ, ông già huấn nhục man rợ ấy đă nghe ra lẽ phải. Lẽ phải
đă được Hộ sử dụng để đấu tranh, thuyết phục ông thân sinh của nó. Hộ
thắng lợi! Cũng hay chứ, anh Khoai? Đấy là tính biện chứng, quá tŕnh tác
động qua lại, trong quan hệ lí lịch, phải không anh Khoai?
Mặc dù đă biết, tôi vẫn
nghẹn ngào một lúc mới nói được:
- Trong các quan hệ xă hội
khác cũng thế … Anh cũng yêu nghiệp giáo dục quá, Ka Kring ạ. Không có ǵ
đẹp hơn khát vọng làm “y sư của tâm hồn”.