( phần 2 )
6
Hừng đông, trời c̣n bảng lảng sương mù và lạnh buốt.
Đà Lạt thường có vẻ bề ngoài của một người nhàn hạ hơi lười biếng. Cửa
nhà luôn đóng kín, ánh ngày được lọc qua các khung kính ngay cả những
hôm âm u, nhợt nhạt như sáng nay. Đà Lạt đi ngủ sớm lại thức dậy muộn,
tất nhiên chỉ là vẻ bề ngoài.
Ngồi quây tṛn ở quán
nhỏ đầu đường Nhà Chung, năm chúng tôi uống cà phê. Tôi kiểm nghiệm lại
nhận xét hôm nào về cô giáo Tơ Thu, bạn cùng khóa của Hoàng và Cử. Trong
chiếc áo khoác có cổ lót lông cừu, Tơ Thu vẫn co người v́ lạnh, cái lạnh
hồng! Khác cánh con trai, đàn ông, các cháu bé và con gái ở đây, trời
càng lạnh, lại càng hồng xinh đôi má. Không, đỏ au, như đánh phấn hồng,
gợi lên h́nh ảnh tiên đồng hay thiên thần trong tranh vẽ. Đó là sức sống
Đà Lạt, chất bồng lai, tiên giới của nơi này? Và những thiên thần, tiên
đồng da nâu nữa, ửng lên màu bồ quân rất duyên! Ờ, có thể lắm, ư niệm
thiên đường, thượng giới của loài người khởi từ độ cao, nơi đất như lẫn
vào mây trời, từ những đôi má trắng hồng, nâu mận chín chăng. Riêng lúc
này, trước Tơ Thu, cảm xúc tôi lệch mất! Tôi không lắng nghe tiếng nói,
tiếng cười có vẻ thú vị trong cuộc chuyện tṛ, cứ đẩy xa ư tưởng của
ḿnh, nh́n da tay cô sinh viên Huế đă phơn phớt xanh lông măng rất gợi
cảm. Tôi bật cười trong ḷng với gương mặt thờ ơ, lơ đăng của tôi khi
nghĩ về chất nông dân nơi ḿnh. Bao sợi lông măng xanh phớt trông mơn
mởn gợi cho tôi vẻ tươi tốt, non tơ trên đất phong nhiêu, theo một nếp
chủ quan trong cảm nhận! Không thể có sự đột biến nhanh về tơ tóc như
thế được. Nhưng, với thơ, cần ǵ khoa học thực nghiệm? Tơ Thu trong mắt
tôi như một biểu tượng hơn là một con người cụ thể, có thật, đang mỉm
cười nghe Nam nói. Tôi đâm ra mơ màng, theo cảm xúc thơ ca chưa được
tinh lọc.
Chia tay với các bạn
Thăng Long, tôi và Nam đi về phía Ty Văn hóa. Trên đường, học sinh đă
đến trường, bao người ra khỏi nhà bắt đầu một ngày. Tôi nghĩ, thây kệ
Nam với thư giới thiệu, với các vị có thẩm quyền. Tôi quên đi các công
thức, định lí, hệ luận toán học, nghe những ngôn từ run lên, chói sáng
hiện ra trong rung cảm. Bất giác tôi ứa nước mắt trong niềm sáng tạo đầy
hứng khởi. Tôi không rơ Lộc Biếc, Tơ Thu và bao đứa bé Đà Lạt, cùng
những ai đó nữa, có thể chỉ gặp một bận, thoang thoáng t́nh cờ, tại sao
lại ḥa nhập thành một biểu tượng, biểu tượng ấy đang chiếm lĩnh lấy tôi.
Tôi như một kẻ nhập đồng, với vẻ thư thả, về Phố Trời!
Nam bỏ tôi ngoài cổng
Ty Văn hóa, vào hỏi nhà thơ có nước da xanh xao vốn rất quen với tôi
ngoài Huế. Nhà văn Đan Sử ngoài cái thư gửi đến cơ quan báo ở đây, c̣n
có một cái khác gửi cho nhà thơ tập kết rồi vào Trị – Thiên chiến đấu
trước bảy lăm này. Gặp anh Thứ chắc cũng vui đây.– Tôi nghĩ –.
Nam nhanh chóng bước
ra, nói với tôi:
- Anh Cao Hồng Thứ
c̣n đi thu mua lương thực!
Tôi cảm thấy hơi tiếc.
Hai chúng tôi lại bước trên những con đường dốc. Hai bên đường, là các
biệt thự đầy hoa chung quanh, là thông xanh, dường như càng rét lạnh
càng xanh ngắt. Đi khá xa, dễ chừng suốt mấy cây số, chúng tôi vẫn không
nói ǵ. Tôi chỉ hồi tưởng những kỉ niệm với anh Thứ thời ở Huế.
- Đi thế này là giáp
mặt hiện thực cuộc sống đấy chứ, sao Khoai có vẻ lănh đạm thế. – Nam
động viên tôi –.
Tôi bỏ dở tứ thơ hồi
năy từ lâu rồi, để thu vào mắt bao h́nh ảnh khác, chợt nghe Nam nói, tôi
cười cho Nam bớt áy náy:
- Cảm ơn Nam đă cho
ḿnh đi thực tế một chuyến thế này. Cũng vui, thích quá đi chứ! Nhưng
làm sao làm thơ về thủ tục hành chính, tổ chức! Cái đó là chất của
truyện.
Nam cười to:
- Ông nhầm. Để làm
thơ hay về một đóa hoa, một tiếng chim hót, ông phải hiểu cả ba ngàn thế
giới, tầm mắt phải trải ít ra là một ngàn chín trăm bảy mươi tám năm,
phải xuyên suốt ít ra là bốn tỉ rưỡi thiên hạ hiện tại.
Tôi cáu:
- Nói chuyện với Nam
chỉ muốn nói bằng nắm đấm! Bổ sung thêm ư tưởng của Mộng Liên Đường, Cao
Bá Quát có nói, đại để như thế, núi sông ngh́n cơi trong bụng, sách vở
vạn cuốn trong mắt. – Tôi gỡ gạc –.
Nam đứng lại, bắt tay
tôi:
- Ông đúng là số một.
Nhất Đỗ Khoai!
Tôi cười, khôi hài
hơi dung tục:
- Đỗ và Khoai chỉ là
thứ chót và dưới chót của ngũ cốc, – Tôi tiếp –, trên bo bo, lọai hạt
“bọc nhựa”, đầu ra, đầu vào y chang. Hết bồng lai, giang hồ với cuồng sĩ,
xin phàm tục một chút!
Nam bỗng thở dài:
- Khoai cứ hạ Khoai
như thế, làm ḿnh ngượng.
Đằng trước là cơ quan
báo Li Ang Di.
Người tiếp chúng tôi
là một nhà thơ. Anh ấy ăn mặc có vẻ khá lịch sự. Áo sơ mi trắng muốt,
bên ngoài là bơ lu dông màu đen, quần ủi phẳng, nếp li rất sắc, giày da
bóng lộn. Tôi không ngờ nhà thơ ấy mới từ Trường Sơn về phố trong hơn ba
năm nay. Tôi ngồi cạnh Nam trước bàn nước, chợt nh́n xuống đôi dép gọt
ra từ lốp xe, hai quai chéo là dải đeo vai của túi ḿn cơ lây mo dưới
chân tôi.
- Thưa anh, hôm trước
đến trao lá thư của anh Đan Sử, nhưng chưa được gặp anh. – Nam nói –.
- Tôi cũng được anh
Lê Phạn đưa đọc. – Nhà thơ Đỗ Từ chợt đăm chiêu –. Uống nước đi, kẻo
nguội mất.
- Cám ơn anh. – Nam
nhắc tôi uống trà –.
Tính Nam bao giờ cũng
vậy, trong công việc cứ thích đi ngay vào vấn đề, không ṿng vo:
- Em đi dạy học, có
điều, nói theo anh Đan Sử, làm báo tốt hơn. Nếu được hay không, anh cứ
nói thẳng.
Anh Đỗ Từ cười:
- Cái háo hức với
nghiệp viết tôi cũng đă từng. Song tôi có quyền ǵ đâu. Tôi quá sai lầm
khi về Đà Lạt này.
Nam lẫn tôi đều giật
ḿnh.
- Nói thật nhé, – Anh
Đỗ Từ tiếp –, tôi đang làm hồ sơ, xin chào chốn núi rừng này để về biển
hay đồng bằng. Đà Lạt lúc này không phải là đất thơ ca … Nếu cậu muốn về
làm báo để làm thơ, (hoặc làm ở đài cũng được), cậu phải gặp ông Vơ Phả.
Và c̣n nhiều “cửa ải”. Khá mệt đấy. Anh Lê Phạn cũng tùy thuộc thôi …–
Bớt nâu sậm ở g̣ má anh giật giật –.
- Em biết. Thật ra em
không có ư định đi vào các “cửa ải”. Nhưng được anh Đan Sử quư mến, nên
cũng thử …– Nam bỏ lửng câu nói, rồi tiếp –. Em chẳng dám có ư định …
- Ông ấy đang ở bên
Đài, cậu nên gặp ông ấy. Anh Lê Phạn có tŕnh bày vấn đề với ông Vơ Phả
rồi.
Chúng tôi bắt tay anh
Đỗ Từ, một bàn tay khá mảnh khảnh, và lại theo đường cũ trở về.
Nắng đă lên, chấp
chóa trên những ngọn thông. Phía trên kia, xa xa sau đồi Cù trời đang
bay mưa. Tôi thấy nắng từng vạt như đang trôi từ ngọn đồi này sang thung
lũng nọ. Nam cúi đầu nh́n bao sợi lá thông khô đă ngả nâu trên mặt đường.
Tôi đoán Nam đă nản. Nam tự tin ở chuyện thơ, chuyện kí, c̣n “cửa ải”,
tôi thừa biết Nam “ngấm” từ trong lớp, dưới mái trường đại học, từ người
yêu của Nam, cô gái có cái tên của ḍng sông lặng lờ, b́nh thản nhất
nước, Sông Hương, cô nữ sinh Trưng Trắc đỗ vào đại học với điểm số cao,
nhưng đành phải ngày ngày cắm cúi với kim chỉ, cần mẫn trong phiền muộn,
chua chát.
- Cứ lao vào thực tế
“cửa ải” một lần này nữa rồi thôi, Khoai ạ.
- Tùy. Được cái thực
tế xót cay làm quái ǵ.
- Khoai cứ nói vậy!
Đừng sợ thực tế.
- Sợ mỏi chân, sợ vô
ích, dẫu mỏi chân và vô ích cũng là thực tế cuộc đời.– Tôi nói luôn để
đùa Nam –. Ông nên tiếp tục ước mơ có cái thẻ hội viên Hội Văn bút Quốc
tế để thâm nhập thực tế ở đâu đó ngoài đất nước ḿnh.
- Ừ, Hội ấy chỉ có
giá trị ở các nước tư bản. Tuy nhiên, nghe đâu tại các nước tư bản, Hội
với Hiếc chả là cái quái ǵ cả. Thực tế ở Miền Nam trước bảy lăm đấy. –
Nam nói –. Ḿnh chỉ ước mơ tầm phào cho vui. Đó chỉ là mộng mơ vớ vẩn.
Chưa bao giờ ḿnh có ư định vượt biên. – Nam ngẫm nghĩ, lại nói –. Dẹp
mọi mộng mơ tầm phơ tầm phào. – Chợt Nam nhấn mạnh –. Cái chính là có
tác phẩm, tác phẩm cực hay. Chưa viết được bây giờ, sau này hẵng viết.
Được sống tại Tổ quốc ḿnh trong thời ḱ quá độ này là cực ḱ may mắn.
Nhiều người cầm bút không hiểu họ may mắn. Chất liệu vốn tự nó là đă rất
tiểu thuyết, chả cần hư cấu ǵ thêm. Nhà văn là chứng nhân mà!
- Độc ác! Nam muốn
nh́n rơ cuộc sống nhân dân xung đột khốc liệt để Nam viết tiểu thuyết ư?
– Tôi đùa –.
- Đúng là hiện thực
ấm êm, b́nh lặng, hạnh phúc quá, như thiên đàng, tiên cảnh, chẳng có ǵ
cho bọn ḿnh viết cả, mặc dầu mục đích của người cầm bút là v́ sự ấm no,
hạnh phúc, cả tự do … Hơn nữa, ông thấy, ḿnh không hề có khuynh hướng
tiên thiên bất hạnh. Bọn ḿnh khao khát sự thăng hoa, vươn lên, thành
đạt, cả vĩnh cửu nữa kia. Đỗ Khoai và Nguyễn Trần Nam bất diệt, bất tử
bằng lao động nghệ thuật! Hai nhân cách và tài năng vĩ đại! Chúng ta vào
đời từ mức dưới “âm độ”. – Nam đùa với giọng điệu khẩu hiệu, h́nh như
anh tuôn ra từ nỗi trăn trở lâu ngày hơn là nói, cơ hồ viết văn bằng
miệng, thứ văn hoạt kê đau xót –.
Tôi bật cười:
- Từ âm phủ lên thiên
đàng, thiên đàng cũng chỉ là âm phủ! Ừ, mà thôi, ghé vào đây mua điếu
thuốc thơm đă.
Ghé vào quán nhỏ, sau
hai phút, chúng tôi thả khói Sa-mít (Samit) thơm lừng theo gió. Nắng
lành lạnh, với tôi rất thú. Khi chẳng có ǵ hi vọng, cũng chẳng có ǵ để
buồn. C̣n Nam, tôi biết Nam nói thế nhưng Nam buồn lắm. Nam lấy con
người làm văn nghệ của chính Nam để bỡn cợt với con người b́nh thường
cũng của chính Nam. Nỗi đau của kẻ bị từ chối!
Đài Phát thanh Li Ang Di ở gần hồ Xuân Hương. Chúng
tôi hỏi một vài người mới biết chỗ ông Vơ Phả làm việc. Đó là một ngôi
nhà ở lưng chừng đồi, bên ngoài có trạm gác. Anh công an trẻ tuổi nh́n
chúng tôi, gật đầu, bảo hăy chờ dăm phút. Không biết chiếc kính cận với
dáng người cao gầy nom rất trí thức của Nam khiến anh ta cảm t́nh chăng.
Anh công an mỉm cười, hướng dẫn hai chúng tôi vào, sau khi điện thoại
xin ư kiến ông Vơ Phả.
Hơi ngài ngại, Nam gơ
cửa:
- Cứ vào. – Một giọng
trầm xứ Huế –.
Nam đẩy cửa vào, tôi
vào theo. Ông phó bí thư Tỉnh ủy kiêm phụ trách Tuyên giáo đứng dậy,
ch́a tay. Chúng tôi bắt tay ông. Tôi thấy ḿnh hơi run. Ông Vơ Phả, dáng
người tầm thước, da nâu, có một chiếc răng bịt vàng, nụ cười cởi mở
nhưng đôi mắt nghiêm nghị. Ông chỉ chỗ cho chúng tôi ngồi, đó là hai
chiếc ghế trước bàn giấy, nơi ông đang làm việc. Tôi giấu sự bối rối
bằng cách nh́n ra khung cửa sổ gắn kính thủy tinh. Trời vẫn nắng, gần
trưa rồi.
- Anh Lê Phạn có nói
với tôi việc này. Trong hai anh, ai là Nguyễn Trần Nam? – Ông Vơ Phả lại
cười, hỏi –.
Nam hơi mừng khi thấy
sự quan tâm về lá thư giới thiệu:
- Thưa chú, cháu là
Nguyễn Trần Nam.
- Tôi đă nhắn lại với
anh Lê Phạn, anh cứ yên tâm đi dạy học, bởi c̣n phải xem sao đă, phải
làm việc với nhiều nơi mới có thể quyết định. Anh dạy ở trường nào?
Nghe Nam trả lời, ông
hơi cau mày. Một lúc, ông nói:
- Bây giờ, anh đến
bàn nước viết thật ngắn gọn sơ yếu lí lịch. – Ông đưa giấy bút cho Nam
–.
Nam nói khẽ lời cảm
ơn.
Ngồi đối diện với
Nam, tôi thấy Nam viết hết một mặt giấy, theo cảm quan của người viết
tiểu thuyết! Thật buồn cười, anh cố phức tạp hóa để lí lịch có nhiều
tuyến nhân vật, nhiều t́nh huống. Nam cố ư giảm bớt phần có liên quan
với cách mạng, làm rơ thêm kịch tính phía dính líu với ngụy, tuy cơ bản
là đúng. Tôi biết Nam không có ǵ đùa nghịch ở đây. Rất thành tâm, Nam
muốn anh phải là người đi lên bằng chính tài năng, nhận thức của chính
anh: bước tới chân lí và hiện thực cách mạng với gánh nợ của cha anh,
gông cùm của định kiến, “chủ nghĩa lí lịch”, rồi anh sẽ trả hết nợ, thứ
nợ anh không vay, rồi gông cùm sẽ rơi rụng, bằng sự tỏa sáng của chính
anh. Xuất thân như thế, được như vậy mới đẹp! Thành tâm của ḷng tự
trọng, tự tin, của cảm quan tiểu thuyết bi kịch có kết thúc lạc quan,
chói sáng! Tôi định can Nam nhưng không kịp, khi anh viết thêm dưới lí
lịch: Gor-ki (Gorki), A. Tôn-x-tôi (A. Tolstoi), Nguyễn Du, Phạm Tuyên …
và cả Ăng-ghen (Engels) nữa! Anh tự tin đem đến bàn giấy ông Vơ Phả!
Ông phó bí thư Tỉnh
ủy mỉm cười:
- Được. Anh để đấy,
tôi nghiên cứu, sẽ trả lời sau. Anh chờ nhé.
Nghe vậy, Nam định
cáo từ. Ông nói:
- Nói thật, c̣n cách
hành văn nữa. Con cái tôi có đứa học văn đấy, nhưng văn phạm quá yếu.
Lớp trẻ bây giờ … – Ông lắc đầu –.
Nam lắng nghe, hơi
nóng người. Thấy ông không nói hết câu, ngừng lại, Nam chờ, nhưng không
nghe ông nói ǵ thêm.
- Thưa chú, nhà văn
Đan Sử đă giới thiệu. Chẳng lẽ …
Ông gật đầu. Nam đợi
ông đề nghị cho ông xem thơ, hỏi đăng báo nào, được nhận xét, giới thiệu
trên báo ra sao, kí sự viết thế nào, song ông chẳng nói ǵ nữa, cũng chả
xem ḍng lí lịch nào cả.
Nam và tôi xin chào
ông để ra về.
Dọc đường về, Nam có
vẻ buồn. Nam nói nghèn nghẹn:
- Ra bến xe luôn. C̣n
chuyến xe chiều. Có lẽ tối nay sẽ phải đạp xe từ Đa Công và Bảo Nghĩa.
Tôi không biết nói ǵ
với Nam, chỉ im lặng.
- Thật ra tài văn
chương ḿnh đă đến đâu! – Giọng Nam nghe tức tưởi –.
Có lẽ Nam đă tự thú
nhận anh chả là ǵ cả ở chốn làng văn, làng báo. Anh lại nói:
- Đang ở khởi điểm
của nghiệp viết! Chỉ mong có điều kiện. Làm sao để đi nhiều, biết nhiều
để có tầm nh́n, tầm nghĩ? Con cóc cứ ở trong hang, nhảy ra, nhảy vào th́
cóc vẫn cóc!
Tôi buồn khi thấy Nam
tự châm biếm. Nam Lại nói:
- Bảo Nghĩa là cái
hang sao? Đó là một hiện thực hay, có thể cô đặc lại, ít ra, vài trăm
trang tiểu thuyết, mươi bài thơ. Có điều, phải biết rộng, nghĩ sâu đă
rồi viết. Đến bao giờ …
- Ḿnh thấy sau tài
năng, c̣n phải có tâm thế tốt … Tâm thế này chỉ có thể viết về nỗi đau
đời, bất măn. – Tôi bật cười, chua xót –. Đau đời, bất măn lại có thể bị
tù, lại càng đau đời nặng hơn, bất măn nặng hơn. Luẩn quẩn. Lại càng
luẩn quẩn.
- con kiến mà leo
cành đa
leo phải cành cụt
leo ra leo vào
con kiến mà leo
cành đào
leo phải cành cụt
leo vào leo ra! (6)
– Nam tự mỉa mai –.
Tôi cười ngặt nghẽo vời Nam. Bến xe nội tỉnh, nơi tôi,
Lộc Biếc, Nam, Huyện sớm hôm nọ từ đây về huyện Công, nơi chúng tôi chia
tay Khúc Văn, đă trước mặt.
Ngồi ăn cơm dĩa, chờ giờ quầy vé mở cửa, tôi ngước
mắt t́m những cụm hoa diếp dại nở vàng trên vách đá. Bỗng dưng, tôi nhớ
Lộc Biếc biết bao.
- Đau đời, bất măn làm cóc ǵ! – Nam cười buồn –.
Phải bản lĩnh. Tự lực cánh sinh là chính. Hăy làm thơ cho nhân dân ḿnh,
Đất nước ḿnh. Thế thôi. “Ngă hữu thốn tâm vô dữ ngữ” (7), Nguyễn Du
viết vậy. Tất nhiên nỗi đau ḿnh khác cụ Nguyễn. Nỗi đau của kẻ bị từ
chối, chứ không phải nỗi đau do ư hệ trung quân Nho giáo lạc hậu và do
“sự rạn vỡ của ư hệ” ấy!
Lần thứ ba tôi nghe Nam nói điều này, từ những năm
c̣n học đại học. Tôi im lặng ngước nh́n những cụm hoa diếp dại. Tôi nhớ
Lộc Biếc biết bao. Tôi mỉm cười, rùng ḿnh trong niềm cảm xúc về vẻ đẹp
của những sợi lông măng phơn phớt xanh trên lưng bàn tay với những ngón
tay tuyệt vời, thon tṛn, trắng hồng của Tơ Thu. Tôi lạ cho tôi quá đỗi!
Tôi là gă con trai đa t́nh sao? Không. Tôi không tin như vậy. Tôi sẵn
sàng chịu cảm giác xấu hổ, v́ tội lỗi (dù chỉ trong tâm tưởng), sẵn sàng
ăn năn, sám hối với chính ḿnh. Không. Tôi không ngụy biện cho chính tôi.
Tơ Thu chỉ gợi cho tôi một vẻ đẹp mong manh của thứ t́nh cảm nhẹ như tơ
trời, thoáng đến thoáng đi. Tơ Thu c̣n là vẻ đẹp mảnh mai rất Huế đă
mọng tṛn sức sống Đà Lạt ôn đới. Có lẽ chính xác hơn, như ư tưởng hồi
sáng sớm tôi đă trực nhận, Tơ Thu là biểu tượng, Tơ Thu là nghệ phẩm,
trong cảm xúc thẩm mĩ chủ quan riêng tôi. Chỉ Lộc Biếc, chỉ Lộc Biếc
thôi, sau hai mối t́nh thầm kín của tuổi mười bảy và mười chín! Chỉ Lộc
Biếc thôi, trong t́nh yêu tuy đơn phương vẫn đích thực! Tôi hoảng hốt
đến đau xót khi cảm thấy rằng đó là t́nh yêu đương duy nhất và cuối cùng.
Tôi miên man suy tưởng, mắt nh́n mấy cụm hoa diếp dại
nhưng thật ra đang nh́n vào đáy trái tim ḿnh. Nam ngồi buồn rầu, đôi
mắt sau làn kính cận trở nên đờ đẫn như người sắp ốm. Tôi hỏi Nam có
được khỏe không, Nam bảo hơi ớn lạnh, có lẽ do trời rét, nắng hanh. Tôi
giật ḿnh, hỏi bà chủ quán, bà chỉ vào một góc phố. Tôi đi mua giúp Nam
mấy loại thuốc cảm, xuyên tâm liên và hai loại ǵ đó được in bên ngoài
bằng loại chữ A-ra-b (Arab).
Uống xong, Nam nói như thể năy giờ anh chưa tự cắt
đứt ḍng suy nghĩ từ nơi làm việc của ông Vơ Phả đến đây:
- Ḿnh thấy ông Phả hơi thiếu tế nhị với tâm lí người
già, cứ nghĩ thế hệ của ông ấy là nhất. Thật ra hồi Pháp thuộc có mấy
người đi học! Thi cử sàng lọc, đói nghèo sàng lọc, chính sách ngu dân
sàng lọc. Pháp chỉ đào tạo tay sai cho chúng trên sự sàng lọc, bỏ quên
đại đa số ấy. Phân tích tiếng Việt theo văn phạm tiếng Pháp! Ông ấy cũng
chẳng phải nhà thơ, nhà báo ǵ cả, chỉ là nhà chính trị, thấy con ông ta
dốt rồi từ đó thấy bọn ḿnh đều dốt! Mấy ông già đều thế, kể cả ba ḿnh.
– Nam càu nhàu –. Họ đâu chấp nhận kiểu chấm câu tu từ! Kiểu chấm câu tu
từ là bậc thầy của kiểu chấm câu chuẩn!
Tôi thông cảm với Nam. Nam tự ái là phải. Trường đại
học có mấy người như Nam đâu, tôi biết, nhưng không nên khen Nam nữa. Có
thể ông Vơ Phả thấy Nam quá tự tin nên đă cho Nam một liều thuốc đắng
chữa bệnh tự măn? Tôi nói điều này với Nam. Nam cau mặt, gật đầu, cơ hồ
sợ vỡ đi một ảo vọng về cuộc đời!
Tôi vào quầy vé đứng xếp hàng với hai tờ công lệnh
trên tay. Lúc này, quầy chưa có người bán, song giữa các lan can kiểu xà
kép dựng ngay giữa nền nhà, trước các ô cửa nhỏ chỉ lọt một bàn tay, để
hành khách khỏi chen lấn, giành chỗ nhau, đă có nhiều người. Tôi là
người thứ chín.
Lúc ô cửa của quầy vé, bên trên có để hai chữ Đa Công,
bắt đầu có bàn tay đầu tiên đưa tiền với giấy tờ hoặc chứng minh thư ǵ
đấy vào, hành khách bỗng nhốn nháo hẳn lên. Giờ bán vé xe đă bắt đầu.
Hàng cán bộ, được bán trước. Giáo viên cũng thuộc hàng này. Một cụ già
đứng bên hàng nhân dân nổi cáu, rủa khẽ:
- Đúng là xếp hàng cả ngày! Việc Nhà nước là nhất,
việc cá nhân là rác cả! Từ sớm tinh mơ đến giờ vẫn chưa mua nổi cái vé!
Tôi im lặng, không biết nói ǵ. Tôi đang hồi hộp v́
hai tờ công lệnh của tôi chưa có dấu đỏ nơi đến. Tôi thở phào cảm ơn sự
may mắn, khi chỉ liếc qua mấy dấu đỏ tự bao giờ, ḍng chữ ghi ngày đến,
ngày đi đă quá xa, cô nhân viên bán vé đă thu tiền, xé vé đặt vào tay
tôi.
Thế là không trung thực rồi, có điều Nam và tôi biết
làm sao được!
Xe rời bến lúc khoảng một giờ trưa. Trời Đà Lạt lúc
này thoáng rải đôi làn mưa lại thoắt nắng, nắng vàng tươi, rồi thoảng
dăm làn mưa trong khoảnh khắc âm u. Bốn mùa trong một giấc ban trưa.
Chúng tôi lim dim mệt mỏi. Khi xe chạy qua Trường Phổ
thông trung học Nơ Trang Long, tôi thấy Khúc Văn với ai đó đang từ sân
trường bước ra cổng. Tôi chỉ kịp vẫy tay, không biết Khúc Văn có thấy
không. Tôi lại nhắm mắt để nghỉ ngơi đôi chút. Mệt ră rời, nhất là khắp
đôi chân!
Xe tránh một vạt bắp đang phơi trên mặt đường nhựa,
cả chiếc xe du lịch ngược chiều, khiến tôi mở mắt. Tôi chợt thấy người
đàn ông trung niên đang đọc Rơ-mác (E. M. Remarque) bằng bản dịch cũ ở
Miền Nam. Rơ-mác là nhà văn viết về lính Đức thời hai cuộc thế chiến và
hậu chiến.
Thời hậu chiến ở đâu cũng khổ. Tôi nhủ thầm, ḿnh
chưa đến nỗi gánh tiền lạm phát đi hớt tóc như ở một số nước châu Âu
thời đó.
Có lẽ đă mỏi mắt v́ xe rung khiến cuốn sách cứ rung
theo, người đàn ông gạ chuyện cho quên đường dài:
- Anh đi dạy học ở Công? – Một giọng Bắc khá nặng –.
- Vâng. – Tôi đáp –.
- Trước tôi cũng đi
dạy học. Các thầy giáo bây giờ cơ cực quá. – Người ấy nói bằng ngữ điệu
tự thán, cảm thông –.
- Vâng. Mọi người chứ,
có riêng ǵ giáo viên.
- Miền Nam ngày trước
mức sống rất chênh lệch, giàu sụ và nghèo rớt mồng tơi. Giáo viên ở mức
giữa, hơi dưới giữa. Nhưng trung b́nh cộng vẫn hơn Miền Bắc trung b́nh
cộng. Đại đa số dân quê Miền Nam vẫn khá hơn …
Tôi thấy mệt quá, c̣n
Nam thật sự hơi cảm lạnh rồi. Tôi ngồi rướn tới che gió cho Nam. Ngẫm
nghĩ một lúc, tôi thấy cứ nói chuyện với người đàn ông này. Cuộc sống
vốn vậy, hơi đâu mũ ni che tai. Làm thơ, đừng sợ cuộc sống cơ mà! Nhưng
ông không nói ǵ nữa, tiếp tục đọc sách. Trang sách nhảy múa trên hai
tay kê trên đùi ông. Tôi định bụng sẽ nói: “Phải cộng thêm vào hai trung
b́nh cộng ấy một bên là chính nghĩa với khát vọng tương lai, một bên là
ngụy, thực dân, đế quốc với nỗi đau quá khứ”. Nhớ mẫu chuyện của Lộc
Biếc, Huyện và Nam trên xe về Công hôm nào …
Tôi gục đầu vào hai
cánh tay đang vươn ra vịn vào lưng ghế phía trước. Tôi nhớ Lộc Biếc vô
ngần. Nhớ muốn khóc.
Tôi thiếp đi trong
tâm trạng ray rứt, yêu thương. Bỗng chiếc xe xóc mạnh, có lẽ do một ổ gà.
Tôi suưt va vào người khách bên cạnh. Cuốn sách nằm hờ hững năy giờ trên
tay ông rơi xuống sàn xe. Tôi khẽ xin lỗi trong khi cúi xuống nhặt.
Người đàn ông trung niên biết không phải tại tôi, ông nói liền hai lần
hai chữ “cảm ơn”.
- Có lẽ anh mệt v́ đi
đường xa?
- Không. Cảm ơn. –
Tôi đáp –. Không phải v́ đường xa hay khí hậu đâu. Đă khỏe lại rồi.
Nh́n qua, tôi thấy
Nam lim dim mắt như đang ngủ. Tôi đặt tay lên trán Nam, trán cũng không
nóng lắm. Nam mỉm cười mệt mỏi.
- Anh có thích Rơ-mác
này không? – Bàn tay người đồng hành nâng cuốn sách lên –.
- Ông ấy viết rất
phản chiến, – Tôi đáp –, về những người tuổi trẻ Đức trong guồng máy vô
nhân đạo, điên rồ, ngu muội nhất trong lịch sử loài người. Như Khơ-me Đỏ.
Người đàn ông sáng
lên đôi mắt hơi đượm buồn:
- Bọn lính ngụy chúng
tôi cũng thế. Tôi bị bắt lính và đă đào ngũ. Tuy ngụy là ngụy … nhưng
chưa đến nỗi như phát xít!
Tôi giật ḿnh. Thấy
cũng hay, tôi nói:
- Những tên phát xít
mang gương mặt Con Người. Tôi tin mọi người nói chung là tốt, chỉ thiểu
số không tốt. Bi kịch ở chỗ số không nhiều ấy lại nắm được quyền lực,
lại tạo được phe trục … Anh có nghĩ các nhân vật chính của Rơ-mác là
điển h́nh cho một bộ phận lính phát xít Đức có lương tri không? Chỉ một
bộ phận …– Tôi lặp lại mấy chữ –.
- Có những tên phát
xít cực ḱ hung ác. Lịch sử đă làm rơ điều đó. Chúng bị kích động, bị
nhồi sọ, hay bản chất hung ác vốn tiềm ẩn, gặp điều kiện để bộc lộ. Ở
đâu, thời nào cũng có kẻ hung ác tự bản chất như vậy. – Người đàn ông ấy
nói –. Nhưng chúng tôi không phải phát xít!
- Anh có thích “Chinh
phụ ngâm” của ḿnh không? Đó là một khúc ngâm phản chiến, – Tôi nói –,
dù được viết dưới nhăn quan phong kiến. “Chinh phụ ngâm” rất đẹp về ngôn
từ, rất lớn ở chỗ đă lên án chiến tranh phi nghĩa do triều đ́nh tiến
hành để trấn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân, hay lên án chiến tranh phi
nghĩa của các tập đoàn phong kiến, Trịnh và Nguyễn. Khát vọng hạnh phúc,
ḥa b́nh lớn biết chừng nào! – Rơ ràng tôi đă bị Rơ-mác lôi vào câu
chuyện –.
- Rơ-mác, Đặng Trần
Côn là các nhà nhân bản, kể cả Đoàn Thị Điểm hay Phan Huy Ích. – Người
đàn ông trung niên nói –. Anh, anh biết không, tôi chỉ ao ước cán bộ
cách mạng hiểu chúng tôi như hiểu các nhân vật mà Rơ-mác đă yêu thương
đến xót xa, trút hết tâm lực vào đó. … Như hiểu người lính Đức trong
truyện “Mặt trận phía tây vẫn yên tĩnh”! … Như hiểu đôi t́nh nhân yêu
nhau trong “Một thời để yêu, một thời để chết”, dưới bom đạn giữa một
thành phố hoang tàn! Đa số chúng tôi là vậy. Xin hiểu cho …
Tôi thấy người đàn
ông này cũng hay. Tôi đợi ông nói thêm điều ǵ nữa, song chỉ có sự im
lặng. Cơ chừng ông hơi ngượng khi trót bộc bạch nỗi ao ước hơi tội
nghiệp của những nạn nhân, mà ông ta là một trong số đó.
- Tôi thấy h́nh như
anh là nhà văn. – Tôi nh́n ông ta, bày tỏ niềm thân thiện –. Anh hăy
viết. Tôi tin người lính ngụy Miền Nam sẽ có tiếng nói của họ sau khi
thức tỉnh.
Người đàn ông lắc đầu:
- Không. Tôi chưa hề
viết văn. Điều đó vượt quá sức tôi. Tôi chỉ là người đọc. Trước đây, là
giáo viên (bấy giờ được gọi là giáo sư trung học đệ nhị cấp), rồi là
lính đào ngũ.
Bây giờ, tôi mới để ư, thấy đôi tay sần chai của ông
ta đang như thể bấu vào cuốn sách, với một niềm xúc động mănh liệt đang
ḱm nén. Tôi không biết nói ǵ nữa.
Tôi gục đầu xuống đôi
cánh tay vươn ra vịn vào lưng ghế phía trước. Tối nay, tôi và Nam c̣n
phải đạp xe vào Bảo Nghĩa. Mong trời đừng mưa. Dường như tôi ứa nước mắt.
Tôi lại nghĩ, Rơ-mác, dẫu sao, cũng đă góp phần phản chiến ở Miền Nam
này. Nhưng thôi, quên đi. Mong trời đừng mưa đêm nay.
7
Trời chưa tối, các em học sinh đă tề tựu ở sân trường.
Từ lớp một đến lớp chín, mỗi em một thanh củi mang từ nhà đến, chất
thành mấy đống ngổn ngang.
Nam chỉ bị cảm nhẹ,
đêm trước từ Đa Công vào, anh ngủ say, hôm sau lại lên lớp b́nh thường.
Bây giờ Nam đang cùng Huyện hướng dẫn các em sắp xếp củi lại: cứ hai
thanh ngang rồi lại hai thanh dọc chồng lên. Ba chồng củi như vậy nằm
giữa sân trường. Một sợi dây thép thường dùng để buộc được căng từ cột
cờ, dưới lá cờ đỏ sao vàng, dưới lá cờ thi đua của Liên chi đội Đội
Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trường Bảo Nghĩa, đến một cọc nhỏ đóng
giữa bao đống củi. Trên lưng chừng dây thép, một lon sữa ḅ rỗng, đục lỗ
hai đầu cho dây thép xuyên qua. Lon sữa rỗng được vấn vải tẩm dầu. Lon
ấy được buộc bằng một sợi cước nối với cột cờ. Một dải vải khác được tẩm
dầu thả xuống đất, cũng từ lon ấy.
Mười lăm giáo viên,
nhân viên và gần hai trăm rưỡi học sinh kết lại quanh đống củi. Cô Lụa
bắt nhịp cho mọi người cất lên tiếng hát, tiếng hát của hai ṿng tṛn
đồng tâm.
Vầng trăng mười lăm
nhô lên sáng ngời. Trăng Trung thu. Lộc Biếc chưa bao giờ thấy một vầng
trăng đẹp như vậy. Sáng ngời. Nền trời hôm nay lại trong vắt. Cao xanh
vời vợi. Hai mươi hai tuổi ở thành phố Sài G̣n, làm sao cô biết trăng
cao nguyên đẹp thế nào. Lộc Biếc ngẩng mặt ngẩn ngơ ngắm. Tâm hồn cô
không c̣n tù túng, đang trải ra với bát ngát lũng đồi mờ mờ sương nhạt,
với ánh trăng muôn trùng, thênh thang. Ngay cả Khoai cũng thế. Lớn lên ở
một làng ven rú cát, lại gần ven biển, Khoai cũng chưa hề thấy trăng với
nền trời có vẻ đẹp sáng và trong như vậy. Khoai ngẩng mặt lặng lẽ chiêm
ngưỡng. Trước vầng trăng này, Khoai muốn xóa đi cái tôi của anh.
Anh Giảng nói vài lời ngắn gọn, bật lửa châm vào ngọn
đuốc, trao cho một em học sinh lớp bảy của Nam. Em ấy là liên chi đội
trưởng. Cầm ngọn đuốc bập bùng cháy sáng, cậu bé nhỏ con nhưng có giọng
nói sang sảng tên Ngày chạy quanh một ṿng trong tiếng reo ḥ, vỗ tay
gịn giă, rồi cất lên một bài diễn từ rất mạch lạc. Lại tiếng vỗ tay,
khi Ngày châm đuốc vào dải vải tẩm dầu từ chiếc lon thả xuống. Lửa leo
lên theo dải vải, và lon sữa ḅ bùng cháy. Sợi cước đứt, chiếc lon như
mang lửa từ hai lá cờ, thứ lửa tinh thần, theo dây thép xẹt một làn mạnh
xuống ba chồng củi đă được rưới dầu sẵn. Lửa bùng lên. Tiếng hát của
thầy tṛ vang lên đón chào vầng trăng Trung thu, vầng trăng của tuổi thơ.
Trời tháng tám âm lịch ở cao nguyên se lạnh. Lửa bừng
sáng rực rỡ. Hơn hai trăm rưỡi gương mặt ngời chói, lung linh. Tiếng hát
các em cũng sáng lên. Hai lá cờ bay bay.
Rồi các tiết mục văn nghệ bên đống lửa bùng.
Không có một chiếc bánh, cây kẹo nào cả!
Lộc biếc hát một bài ca thiếu nhi, lại thêm một bài
nữa. Gió bạt nhẹ tiếng hát của cô, có nhiều lúc nḥa đi ca từ, tan vào
mênh mang. Xong hai bài hát, cô trở về chỗ đứng, thấy niềm vui trong
ḷng đă chen vào chút ǵ nghèn nghẹn. Cô biết, đêm nay, học sinh của
trường cô, một ngôi trường ở vùng kinh tế mới, dẫu sao cũng có một đêm
khác đi với bao nhiêu đêm b́nh thường. Đêm b́nh thường, cho dù đêm trăng,
chỉ tù mù riêng mỗi nhà một ngọn đèn dầu. Với Lộc Biếc, cô biết, trăng
thành phố quá vô nghĩa, cô cũng hiểu, lửa giữa hoang sơ này mới thật lửa.
Trăng với lửa tuyệt vời ở đây tuổi thơ cô không có được. Có những vẻ đẹp
bao đứa trẻ thị dân không thể có cơ may cảm nhận bằng t́nh rẫy nương
trong máu.
Vầng trăng cổ tích! Cổ tích có chút châm biếm thói
ích kỉ của chú Cuội khư khư giữ kín thuốc giấu, có niềm khát vọng chữa
lành mọi vết thương đau trần thế, và c̣n có cả hai tâm trạng cô đơn
ngh́n năm vời vợi – nỗi nhớ trần gian –, dân dă thôi nhưng sâu thẳm hơn
cả Xen Ê-xuy-pe-ri (Saint-Exupery). Lộc Biếc ngẩng mặt lên vầng trăng,
vầng sáng của cô Hằng. Vâng, ích kỉ đồng nghĩa với cô đơn và cô độc, tuy
có vợ có chồng ngày ngày bên nhau. Và cũng bởi ích kỉ, cây đa thần dược
thành nơi phóng uế phàm tục! Vâng, ích kỉ sẽ tự đày ḿnh vào một hành
tinh hoang vắng. Vầng sáng tự ngàn xưa mờ mờ in dáng cây đa cổ thụ như
một vết nhơ đa nghi, ích kỉ, cô độc!
Và lửa! Lửa bái hỏa giáo. Lửa Pơ-rô-mê-tê (Prométhé)
cứu con người khỏi mông muội, chống lại sự độc ác của Thần Tối cao giam
hăm loài người trong sự ăn sống nuốt tươi, trong bóng tối. Lửa, cuộc
cách mạng vĩ đại của trần gian thời tiền sử. Lửa khát vọng sống. Lửa,
nguyên tố của nguyên tố và của trái tim Con Người. Lửa truyền thống.
Lộc Biếc cùng anh em giáo viên của cô, cùng các học
sinh của cô, hát với trăng, với lửa. Cô bàng hoàng phát hiện ra trăng và
lửa trong tâm thức cô không dính líu ǵ với tuổi thơ của đêm trung thu!
Trăng và lửa trong cô quá người lớn, thuộc về con người nói chung, dẫu
trong con người nói chung có cả tuổi thơ, trong người lớn nào cũng có
đứa trẻ của hồi ức.
Lộc Biếc sững sờ trước phát hiện về chính ḿnh. Cô
ngơ ngác nh́n Khoai, Nam, Huyện đang vỗ tay hát.
Lộc Biếc có cảm giác sự phát hiện của chính cô về cô
đă đẩy cô xa khỏi sân trường này. Lộc Biếc hoảng hốt. Lộc Biếc nắm chặt
hai bàn tay nhỏ bé của hai học sinh đứng hai bên cô. Hai em nh́n cô,
chẳng hiểu v́ sao.
Lộc Biếc lại hát to hơn, đến nỗi cô cũng không ngờ.
Không, đừng đẩy cô rời xa khỏi những ṿng tṛn yêu thương này, ṿng tṛn
tuổi thơ này!
Một Trung thu nghèo khó sao đẹp lạ lùng, năm ấy!
Lộc Biếc đâu ngờ chính bởi hạn chế của ḿnh và Bảo
Nghĩa, cô đă cùng sáng tạo ra một Trung thu khác hẳn ngh́n xưa, để trăng
trong tuổi thơ sáng ngời hơn nhờ trăng cổ tích, để lửa trong tuổi thơ
chói sáng hơn nhờ lửa của những loại lửa cô thốt nhiên bàng hoàng đến
bối rối nhớ. Đáng tiếc là sáng tạo ấy diễn ra một nửa chỉ nơi tâm tưởng.
Lộc Biếc quả thật đă không ngờ, “cái khó đă làm rơ
cái khôn”, mới mẻ và sâu thẳm: một đóng góp làm mới Trung thu.
8
Nam t́ tay lên bậu
cửa sổ của lớp học, nh́n bâng quơ ra vườn sau của trường. Những hàng dâu
tằm với hai sắc độ của màu xanh lá, xanh sáng non, xanh thẫm già, đang
lóng lánh sương trong nắng sớm. Những bụi chuối, chẳng lẽ do máy cày năm
nào dựng trường đă bạt đi lớp đất màu mỡ để lấy mặt bằng, nên c̣i cọc?
Và cỏ ống, cỏ tranh xanh tua tủa trên các luống khoai đă dỡ. Nam nh́n
ngắm vườn trường trong lúc học sinh lớp bảy, do Nam chủ nhiệm lẫn dạy sử,
cả ngữ văn tiếng Việt, đang viết tập làm văn. Thỉnh thoảng anh quay mặt
lại để nh́n các em. Cả lớp chỉ ba mươi hai em, có em ở tận khu B, khu C,
cách Phân hiệu A này đến sáu, bảy cây số đường đồi. Các em ở xa như vậy,
phải rời nhà từ rất sớm, lúc trời c̣n tối và lạnh buốt.
Nam lặng nh́n K’Bẻo,
một học sinh bị bệnh bạch tạng, tóc trở màu bạch kim, mắt xanh lơ, cận
thị nặng, phải ngồi ở bàn đầu, bên cạnh K’Bri, Ka Tem. Nước da của hai
bạn kia nâu sẫm, K’Bẻo lại trắng hồng, các sợi lông măng trên da cũng
trắng. K’Bẻo như một đứa trẻ châu Âu nghèo khổ, lạc loài ở buôn làng bên
C và ở trường này.
Nam đi tới, đi lui
giữa hai dăy bàn ghế. Anh cúi đầu nh́n bước chân ḿnh trên nền đất của
lớp học. Những giờ học sinh tập làm văn thế này, Nam nhớ ngày xưa thầy
giáo, cô giáo anh cũng hết tựa bậu cửa sổ lại đi tới, đi lui như thế.
Nam mỉm cười một ḿnh.
Nam lại nhớ chuyến
đi Đà Lạt với Khoai vừa rồi. Anh không c̣n băn khoăn ǵ nữa. Lời hứa hẹn
vẫn treo trên ấy, nhưng Nam vẫn hiểu đó là lời từ chối khéo. Anh không
c̣n hi vọng được chuyển qua làm báo. Dẫu sao, cũng cảm ơn tấm ḷng nhà
văn Đan Sử. Và thôi, đành vậy, chẳng buồn làm chi! Anh cố giữ ḷng được
b́nh thản. Bước vào đời, đi xin việc, trừ một số ít may mắn, c̣n phần
lớn đâu dễ dàng ǵ. Anh không đạt được nguyện vọng, cái chí nguyện nung
nấu suốt thời học sinh trung học, đến thời sinh viên phải tắt đi, để rồi
với hai cái thư của nhà văn Đan Sử, lại sục sôi, bùng dậy. Và lại tắt
ngấm! Thôi th́ đành vậy. Dẫu sao, Nam biết ḿnh không rơi vào trường hợp
thất nghiệp, phải quẳng bút, cầm cày, cầm cuốc hay lêu bêu, quay quắt ở
chợ trời. Bản lĩnh của một con người là không buông ḿnh vào nỗi chán
đời phiền muộn. Làm thơ, viết văn, có cần ǵ đâu ngoài cây bút và xấp
giấy trắng, với những khoảnh khắc thời gian rất một ḿnh. Anh đă có điều
kiện tối thiểu ấy. Nam tự nhủ, ḿnh phải b́nh tâm. Bản lĩnh là phải tự
lo liệu, đứng trông chờ vào ai, bất ḱ hội đoàn nào. Trước hết, phải có
tác phẩm. Cuối cùng, phải có tác phẩm. Suốt đời phải học, phải sống hết
ḿnh, phải chiêm nghiệm, trăn trở, sáng tạo, để có tác phẩm. Ngoài ra,
đều vô nghĩa. Chỉ có tác phẩm mới có ích lâu bền cho cuộc đời. Vấn đề
c̣n lại, ồ, phải đăng báo, xuất bản nữa chứ!
Hăy b́nh tâm, hăy
b́nh tâm. – Nam tự trấn an –.
Nam lại tựa lưng
vào vách gỗ. Những tấm ván được xẻ ra, đóng vội, chưa kịp bào nhẵn, đă
khô rút, để lộ ra những khe hở. Anh lắng nghe tiếng giảng bài của Lộc
Biếc ở lớp tám bên kia. Nam đă “bị” cô gái với giọng Sài G̣n lôi cuốn
vào một bài thơ.
Lộc Biếc hầu như
quên phắt phát vấn. Suốt nửa tiết dạy cô không hề đưa ra một câu hỏi nào
cho học sinh. Cô cứ thao thao giảng, giọng tràn đầy cảm xúc, có lúc bừng
lên chất trữ t́nh hùng tráng. Đây không phải là bài thơ cảm động đến rơi
nước mắt. Bài thơ này dậy lửa. Nam không ngờ trong cô giáo xinh đẹp,
thon tṛn, hồn hậu kia lại có ngọn lửa hào hùng đến vậy. Nhiều lúc, Nam
thấy Lộc Biếc h́nh như đang đứng trên giảng đường đại học chứ không phải
ở lớp tám vùng đất kinh tế mới này. Cô quên chính đối tượng cô truyền
thụ. Sâu sắc quá, tuyệt vời quá với các ngôn từ vừa chính xác, vừa đẹp,
vừa giàu h́nh ảnh! Có lẽ Lộc Biếc trót quen với phong cách đại học. Học
sinh bị thôi miên, nhưng chắc hẳn không nắm bắt được bao nhiêu nếu không
có dàn bài cô ghi trong lúc giảng với nét phấn nhiều lần Nam đă thấy. Có
lẽ Lộc Biếc trông khiêm tốn, nhỏ nhẻ thế kia, thật ra cũng hơi khoe ḿnh?
Nam mỉm cười. Đó là chất trẻ của giáo viên mới bắt đầu nghiệp dạy học.
Tuy nhiên, Nam thật ḷng cảm phục Lộc Biếc. Từ bé đến bây giờ, Nam chưa
thấy ai giảng bài sâu và hay đến vậy. Có thể sâu đến giật ḿnh nhưng
không bị lôi cuốn, có thể lịm người trong ngữ điệu nhưng biết không sâu.
Lộc Biếc hội đủ cả hai, mặc dù cô cũng đang chông chênh giữa các phương
pháp giảng dạy.
Soạn giáo án văn đă
mệt, dạy văn dẫu có phát vấn cũng mệt sức biết bao. Huy động cảm xúc rất
dễ răo thần kinh! Giảng văn là nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật của trái
tim! Lao động này cũng là lao động nghệ thuật, như Nam nghẹn thở, nóng
bỏng, thở hắt, trào nước mắt lúc làm thơ, viết văn. Đâu chỉ là lao động
trí tuệ!
Tiếng kẻng đổi tiết
vang xuống từ nhà tập thể – văn pḥng. Nam nghe Lộc Biếc vội củng cố
trọng điểm rồi hẹn các em ở tiết học sau. Nam c̣n phải trông các em lớp
bảy làm văn thêm một tiết nữa. Anh Quỳnh và Khoai đi ngang qua cửa, dọc
hành lang, nh́n vào mỉm cười với Nam. Nam cũng mỉm cười đáp lại.
Nam lại t́ tay vào
cửa sổ, nh́n ra vườn trường ngập nắng. Lúc này, Nam mới nh́n xuống những
đường giao thông hào chỉ cách nền trường khoảng một mét. Đầu năm, khi
mới tựu trường, anh Giảng đă cho học sinh vét bùn đọng, làm sạch cỏ từ
trên phủ xuống hay mọc ngay đáy và vách của hào. Bài giảng của Lộc Biếc
có liên hệ đến t́nh h́nh biên giới với chiến trận đang căng thẳng, khiến
Nam, cố quên đi trong thời gian nhận nhiệm sở, lại sực nhớ. Tổ quốc đă
ḥa b́nh đâu! Kẻ thù suốt bốn ngh́n năm, sau mấy thập niên ngỡ thắm t́nh
láng giềng, đồng chí, lại lộ rơ bản mặt bành trướng! Cảm hứng lịch sử
thắp lên ngọn đuốc trong anh, sáng ngời, soi tỏ. Và Lộc Biếc không c̣n
là Lộc Biếc nữa, mà gồm cả các cô giáo khác ở cấp một đang đứng lớp, trở
thành người em, người yêu của người cầm súng. Những ư thơ nở bừng, đằm
thắm trong sâu thẳm ḷng anh.
Nam vẫn t́ tay trên
bậu cửa sổ, nh́n ra vườn trường. Những giao thông hào, dâu xanh hai tầng
sắc độ, các khóm chuối cọc c̣i đang ngập nắng rực rỡ. Nam quên phắt
chính anh.
Những câu thơ đầu
tiên của bài thơ mới sáng lên chưa rơ nét kéo anh như kẻ mộng du lững
thững đến bàn viết. Nam hoàn toàn nhập thân vào h́nh tượng thơ ca. Anh
nắn nót câu đầu tiên với nét chữ tṛn rất con gái của Lộc Biếc! Cơ hồ
nét chữ Lộc Biếc đă ở trong anh lâu lắm rồi.
Lộc Biếc là tháng
giêng! Nét bút, ánh mắt học tṛ là tháng giêng! Nam cũng nhớ một bài thơ
của ai đó được phổ thành nhạc, hôm nào Lộc Biếc đă hát cho anh nghe. Nhà
thơ ấy cũng gọi đất cao nguyên là xứ sở của tháng giêng. Nam không muốn
lặp lại của người khác, nhưng bài hát ấy đă thành kỉ niệm của Lộc Biếc
và anh. Nam phân vân, anh cũng sợ rơi vào khuôn sáo …
Nắng bỗng phai nhạt
hẳn ngoài sân, ngoài vườn. Trời âm u, lắc rắc mưa. Rồi lại một hừng đông
mới. Bao nhiêu hừng đông trong một ngày cao nguyên!
Quên ḿnh đi, anh
mới thấy tấm ḷng của đất trời là của con người cao nguyên, của các cô
giáo quên tuổi thanh xuân ḿnh nơi đây. Không, đúng hơn, thanh xuân của
các cô gái trẻ cầm phấn trắng, trang sách ấy tươi đẹp bởi sự hi sinh
b́nh lặng.
Quên hết ca từ,
giai điệu để nhớ mỗi tấm ḷng. Tấm ḷng đến với tấm ḷng, ấy là thơ và
nhạc. Có ǵ mới mẻ đâu!
Kẻng báo hiệu đổi
tiết học, Nam tỉnh lại trong sự khuôn sáo!
Trong khi học sinh
nối nhau lên nộp bài, Nam không ngờ từ mông lung, bâng quơ, anh lắng
nghe Lộc Biếc giảng bài, một tứ thơ đến với anh. Liên tưởng này kéo theo
liên tưởng khác, những ấn tượng, những kỉ niệâm b́nh thường không ngờ sẽ
là thơ cũng đă thành thơ. Nhưng chỉ mới mươi ḍng, tứ thơ chưa trọn nổi
h́nh dáng! Và Nam lại nghĩ, có những giá trị không hề cũ, như tuổi trẻ
và sự hi sinh chẳng hạn, cứ măi sinh động trong sáng tạo! …
đây năm mười hai
tháng giêng
ngày đây mấy lần
nắng sớm
em như con chim
đồng ruộng
lên cao cứ muốn
hót hoài
lời ru này là
của ai
em hát tôi nghe
chiều nọ
thuộc rồi sao
tôi chỉ nhớ
mênh mông tấm
ḷng cao nguyên
tiếng hát em là
tháng giêng
gió xanh lay
từng ngọn tóc
trang vở đơm mùa
lộc biếc
lớp học bốn bề
tháng giêng
đường hào vây
quanh trường em
giữ ǵn tháng
giêng và nắng
tiếng hát vót
thành chông nhọn
thành hoa hồng
thắm khăn quàng
cao nguyên chót
vót ngh́n năm
đất vẫn hồng
thời mới lớn
bài ca ngỡ đă xa
xăm
lại bừng trên
môi nỗi giận!
đêm sao hứa ngày
nắng ấm
sáng xanh nương
rẫy lên mầm
giấc mơ gối lên
giáo án
sáng ḷng mực đỏ,
đêm đêm
tháng giêng
tháng giêng là em
là bao bài thơ
nét bút
tháng giêng
trong từng ánh mắt
ngôi trường đất
mới măi giêng!
yêu sao tấm ḷng
cao nguyên
quanh năm ngày
dài nắng sớm
biên giới giữa
ḷng kẻ đậm:
tiếng hát căm
hờn – yêu thương
em thành đóa hoa
pơ-lang
nở bên hàng rào
thẳng đứng
cho ai là người
cầm súng
biết hậu phương
hoài tháng giêng (8)
Hơn mười ngày sau,
Nam mới tạm hoàn tất bài thơ. Thơ anh đă nâng ḷng anh lên một tầm cao
khác trước, ít ra là thế. Anh đă biết quên ḿnh nhờ thơ ca và Bảo Nghĩa.
Đó là “Ngôi trường
tháng giêng”, như là một kỉ niệm, hơn là một bài thơ hay của Nam.
Măi ít lâu về sau,
Lộc Biếc mới thú thật, chính ba của cô, thời thanh niên của ông, ông đă
phổ mấy câu lục bát do mẹ cô sáng tác thời con gái để thành hóa t́nh yêu
của họ, một t́nh yêu ngỡ tan vỡ nhưng đă son sắt đến trọn đời.
cao nguyên ḷng
hoài tháng giêng
rừng dâng lộc
biếc cho thiêng t́nh hồng
em buồn, anh có
thương không
tim bé bỏng giữa
mênh mông Phố Trời … (9)
Lộc Biếc đă hát cho
Nam nghe năm ấy, có điều, cô không ngờ Nam đă “dự giờ” của cô bên kia
vách gỗ vào sáng hôm đó. Sáng hôm đó, Lộc Biếc đă sống thơ, c̣n Nam lặng
lẽ làm thơ.
9
Đầu tháng mười, đă
bắt đầu mùa khô. Lộc Biếc nh́n ra khung cửa ra vào ở căn nhà nữ. Nắng
vàng tươi trải mênh mông trên các quả đồi xanh dâu tằm, khoai sắn, và xa
hơn, trên các đồi trà của nông trường. Nắng lóa trên những mái tôn khu
K. Một vài người thong thả bước giữa nắng trưa, người Kinh bên người
Thượng. Đang mùa thu hoạch, có lẽ họ đă bàn bạc để gùi thóc lúa về nhà
trao đổi những hàng hóa ǵ đó với nhau. Ở xă Bảo Nghĩa này, chỉ có một
buôn làng Chiau Mạa (một nhánh của nhân tộc K’Hor?). Buôn này tạm cư ven
Đa Công thời chiến tranh, từ sau Ngày Giải phóng mới về định canh, định
cư ở C, cách làng mới của dân Quảng Ngăi ở A mươi quả đồi, một con suối
lớn. Lộc Biếc thấy thú vị khi người đàn ông Chiau Mạa ngậm tẩu thuốc lá,
nh́n vào chỗ cô ngồi, rồi nói ǵ đó với người Quảng Ngăi kia. Nắng cơ hồ
chói sáng ở miệng gùi đầy thóc vàng. Cô ngỡ đang ngắm một bức tranh với
những đường nét vừa thơ mộng, vừa mềm mại, vừa gân guốc, khỏe mạnh: gùi
trăng đi giữa nắng vàng. Lộc Biếc rất thích sáu chữ vừa nảy ra trong đầu
cô. Như một câu thơ! Nhưng thôi, Lộc Biếc đă quên rồi mơ ước làm thơ. Từ
năm lên đại học, cô lại mê những trang văn nghiên cứu, phê b́nh văn
chương. Từ đó, Lộc Biếc theo đuổi các thao tác khoa học của bộ óc và của
trái tim. Cô thích những khám phá, phát hiện, đặc biệt là những sáng tạo
trên các văn bản nghệ thuật ngôn từ. Cô không rơ cô có kiêu hănh không,
khi cô nghĩ khác với câu nói chấm biếm khá nổi tiếng của một nhà văn
nước ngoài: “Nhà phê b́nh văn học là nhà văn hỏng”. Trái với câu nói đó,
Lộc Biếc thấy có nhà thơ, nhà văn viết đôi tác phẩm rất thành công,
nhưng trí tuệ, kiến văn họ quá xoàng. Họ có năng khiếu, chỉ cậy vào trực
giác, cảm tính. Nhưng nhà phê b́nh chỉ có thể thành công với một học vấn
uyên bác. Lộc Biếc nh́n ra nắng, mỉm cười với ư tưởng hơi học tṛ vừa
rồi. Chính từ ư tưởng ấy, thời sinh viên của cô, Lộc Biếc đă miệt mài
học tập, ước mơ thành nhà nghiên cứu, phê b́nh văn chương như cô nghĩ.
Là một cô gái dịu ngọt, Lộc Biếc vẫn thích mạnh về trí tuệ! Niềm kiêu
hănh rất học tṛ, không phải sai nhưng vẫn c̣n phiến diện!
Lộc Biếc cúi xuống
các trang luận văn tốt nghiệp của cô, lại lơ đăng nh́n ra nắng trưa đang
rực rỡ.
Theo đề nghị của
anh Giảng, chị Phước và anh Quỳnh, trong tuần lễ tới, ngày nhà trường sẽ
tổ chức đại hội công nhân viên chức, cả đại hội Công đoàn luôn thể, cô
sẽ báo cáo một chuyên đề tự chọn cho thêm phần sinh động, hấp dẫn. Anh
Giảng c̣n nói, đó cũng là khí thế, khí thế của hậu phương trong thời
điểm mặt trận biên giới đang căng thẳng.
Lộc Biếc muốn làm
một cái ǵ mới, song không cách nào kịp được. Vả lại, thư viện nhà
trường qua nghèo nàn, Lộc Biếc chỉ bỏ mỗi một giờ để cùng cô Nhân, nhân
viên thư viện, lục t́m tư liệu. Chả là, thư viện nhỏ xíu, chẳng nhiều
nhặn ǵ. Hầu hết, sách giáo khoa sờn rách rách của cấp cơ sở. Tuy vậy,
rất lạ là trong mớ sách tham khảo ít ỏi, có dăm cuốn ở thành phố Hồ Chí
Minh cô không tài nào mua được … Dẫu sao, những tư liệu cô cần vẫn không
có ở đây! Lộc Biếc định giở lại cuốn khóa luận tốt nghiệp được đến năm
phiếu A trên sáu phiếu trong buổi bảo vệ ở trường đại học. Lộc Biếc đă
mất đến năm tháng trời cho luận văn này: “Chân, thiện, mĩ và khát vọng
tự do sáng tác qua t́nh h́nh văn học hai miền Nam – Bắc suốt hai mươi
mốt năm bị chia cắt, 1954 – 1975”. Xuất sắc, nhưng “có vấn đề”!
Các cô giáo sau
giấc ngủ trưa ngắn, đă ra thùng nước dành riêng cho cánh nữ rửa mặt,
đang vào chuẩn bị soạn giáo án.
Lộc Biếc không đủ
thời gian để viết gọn lại, ngày đại hội quá gần kề, cô đành dùng ch́ đỏ
để gạch dưới các luận điểm, luận cứ chính. Rồi cô thử tŕnh bày trong óc
các luận điểm, luận cứ ấy một cách thật gọn nhưng vẫn đầy đủ. Lộc Biếc
thấy trước sự hấp dẫn của buổi báo cáo chuyên đề là nhờ các đoạn b́nh
thơ, b́nh văn. Cô cố gắng b́nh thật sinh động để dẫn chứng.
Cùng các bạn giáo
viên nữ, Lộc Biếc hoàn toàn chú tâm vào công việc, quanh hai chiếc bàn
lớn. Mấy hôm nay, cô không ra làm việc ở chái đầu hồi cạnh nhà nam nữa.
Cô muốn giữ … bí mật!
Nắng hắt chênh
chếch qua khung cửa, lan vào nền đất ẩm ướt của căn nhà, men dần vào các
bàn chân con gái hồng hào, nhỏ nhắn. Buổi chiều ở nhà tập thể này thật
êm ả, trừ ở chái đầu hồi, cánh đàn ông con trai đang bàn luận, bông đùa
ǵ đó rất rôm rả.
Các cô gái làm việc
cho đến khi nồi bo bo xay nhỏ ra để nấu đă sôi sùng sục sau bếp, bốc hơi
thơm lừng.
Lộc Biếc lại ngẩng
mặt, chăm chú nh́n theo một người đàn bà khá lớn tuổi. Có lẽ bà thấy
khói bếp, đă đi vào chái sau xin châm lửa vào tẩu thuốc lá. Tẩu chạm trổ
rất đẹp. Người đàn bà Chiau Mạa này thật đẹp lăo với mái tóc bạc trắng,
vẻ đẹp chất phác, khỏe khoắn của núi rừng cao nguyên.
Lộc Biếc mỉm cười
với bà, một h́nh ảnh trước đây cô chỉ gặp trong tranh, trong phim. Mái
tóc bà trắng chói dưới nắng xiên khoai cuối chiều, giữa lối đi đă có
bóng dáng học tṛ tan lớp. Cô ngỡ đó là h́nh ảnh Mẹ Âu Cơ thời huyền sử.
Lộc Biếc bỗng thấy
tiếc, cô không đủ thời gian, tư liệu để viết bài báo cáo về văn học Tây
Nguyên. Đó là ư tưởng bất chợt lóe lên.
Năm cô giáo cấp một
dạy buổi chiều cũng đă lên nhà tập thể, với năm nụ cười trên môi.
Khi cất luận văn,
rau ngồi nhặt ra giúp cô Lài cho vui, Lộc Biếc thấy đề tài cô đă chọn
nghiên cứu ở đại học vẫn bức xúc nhất, trăn trở nhất, và có ư nghĩa
nhất ở thời điểm này.
10
Sáng chủ nhật, Hoán,
anh Quỳnh và anh Giảng đă ra thăm nhà ở huyện lị Đa Công. Suốt một tuần
dạy học, lúc này nhóm giáo viên trẻ bỗng thấy hẫng đi trong sự yên tĩnh,
rănh rỗi. Nam cũng không có cảm hứng thơ cho đỡ trống vắng. Cũng như
Huyện với Khoai đang đọc sách, Nam đặt mắt vào trang chữ trên bàn, nhưng
cả ba người đều thấy cần phải đi rong đâu đó.
Lộc Biếc cố quên đi
nỗi nhớ nhà, nhớ không khí sôi động của Sài G̣n bằng cách đọc đi, đọc
lại cuốn luận văn và suy nghĩ thêm. Cô phát hiện ra nhiều ư tưởng trong
đó hăy c̣n chưa chín. Cũng như quả trên cành, ư tưởng cũng cần có thời
gian để vượt qua độ xanh chát. Lộc Biếc đang nỗ lực trong lặng lẽ, song
cô nhận thấy nỗi nhớ vẫn canh cánh bên ḷng chưa khuây. Phần lớn v́ nỗi
nhớ nhà này, Lộc Biếc dạo này gầy đi.
Năm hôm nay, cô
cũng ít th́ giờ để chuyện tṛ, bàn luận chuyên môn với nhóm cấp hai như
tuần trước, chỉ trừ ở hai bữa ăn hàng ngày, những khắc ra chơi giữa các
buổi dạy.
Chợt người em trai
bên chồng của chị Xinh đạp xe đến: chị Xinh mời bốn giáo viên mới về
trường tới nhà chơi. Và như một giải thoát, cả bốn người bước ra khỏi
khuôn viên nhà tập thể, cơ chừng thoát khỏi nỗi trống vắng nặng nề đang
đeo đuổi trong tâm tư họ.
Bốn người cảm thấy
nhẹ nhơm hẳn đi, khi bước trên con đường rộng giữa hai dăy nhà cùng kiểu
dáng, mái tôn vách ván, liền căn này với căn kia. Họ lại chuyện tṛ,
bông đùa với nhau.
Nhà chị Xinh, cô
giáo đầu tiên nắm chặt tay Lộc Biếc hôm cô mới đến nơi này, ở đầu xóm
trung tâm. Đó là ngôi nhà đă tách khỏi khu liên kế, cất lên giữa một
mảnh vườn nhỏ, giống như bao ngôi nhà nông thôn khác. Chị Xinh ra tận
ngơ để đón. Chị đă ngoài ba mươi tuổi, dạy tiểu học trước Ngày Thống
nhất ở Quảng Ngăi mười năm, vẫn gọi các đồng nghiệp trẻ của ḿnh theo
cách gọi truyền thống.
- Về trường cả
tháng rồi, hôm nay các thầy cô mới đến nhà chơi đây. Quư hóa quá! – Chị
Xinh với giọng Huế đă hơi pha, đon đả chào –.
Và không đợi trả
lời, chị Xinh nói luôn:
- Các thầy cô vào
nhà uống nước. Hồi năy, đứa em ra rẫy, có nhờ mời nhắn, cứ sợ không ai
tới, lo nồi xôi nếp mới mất may xưa! – Chị Xinh cười thật tươi –.
- Dạ, cảm ơn chị
Xinh, vậy th́ hên cho bọn em quá. Lâu nay quên mất nếp gạo, “may xưa”
lại “hên nay”. Cảm ơn chị trước cái đă. – Nam cười giữa những nụ cười bè
bạn –.
Chiếc bàn chữ nhật
làm bằng gỗ thông với hai băng ghế đặt giữa căn nhà chính, trước bức rèm
vải đă cũ vốn ngăn nơi tiếp khách với bàn thờ. B́nh nước ủ trong cái ấp
nước có vỏ nhựa được chị Xinh lấy ra, rót vào các tách nước bằng sành.
Nước chè xanh!
Nam và Khoai quá
cảm động với không khí gia đ́nh rất miền Trung ở đây. Huyện cũng vậy,
anh nâng tách nhấp một ngụm trước tiên, không đợi chủ nhà mời. Nước nóng
bỏng. Huyện cười, đặt tách xuống, liếm môi.
- Nhanh nhẩu đoảng!
– Lộc Biếc cười khanh khách –.
- Buổi sáng quên
thói quen lót ḷng, gặp nước chè xanh thích quá là say ngất ngư đấy! –
Nam nói rất chân thật với nụ cười –.
- Say càng tốt! –
Huyện vờ nói liều –.
Lộc Biếc sực nhớ,
suốt tháng nay cô quên bẵng chuyện điểm tâm. Trong khó khăn chung, ai
cũng giống ai, nói lên việc nhịn bữa sáng không gây cảm giác nào ngoài
sự thân mật của những người cùng một nhà, mặc dầu là nhà tập thể. Có
những điều, trước đây sẽ rất ngượng khi nói ra với nhau, nhất là việc ăn
uống.
Khoai vẫn tỏ ra
khoan khoái khi nhấp từng ngụm nước chè xanh. Anh nh́n chăm chăm các
nong tằm được đặt trên giá gỗ nhiều tầng, mỗi giá như vậy đến sáu nong
lớn. Tằm đang độ ăn rỗi, nghe rào rào rất thú vị. Cả hai căn hai bên đều
rộ lên tiếng ăn của tằm. Khoai và Nam rời ghế, chăm chú quan sát. Trên
các giá gỗ, dưới lưng nong tre đều có nét sơn đỏ ghi các chữ viết tắt:
Đ. 6, HTX. x. BN., h. C. (10).
Lộc Biếc và Huyện
cũng bước khỏi bàn nước, đến gần, thích mắt với các thân tằm trắng lẫn
vào lớp lá dâu xanh mượt. Tằm chưa đến độ trở màu trong, đang ăn rất
nhanh. Đây cũng là lần đầu tiên bốn người bạn trẻ được thấy tằm ăn rỗi.
No mắt, Khoai lại
nh́n một sào tre dài bắc ngang hai mối dây buông xuống từ đ̣n tay mái
nhà. Trên sàn tre lủng lẳng các túm khoai lang củ c̣n nguyên dây, dây đă
cắt đi phần ngọn có lá. Khoai ngơ ngác. Chẳng lẽ để giống cho mùa sau? Ở
quê Khoai, chỉ bắp, ớt mới vậy. Ồ, như thể bị treo tay hay “án treo”!
Nam cười một thôi
dài trước khi đọc lớn:
- thân tằm rồi
phải nhả tơ
c̣n khoai, Khoai
ạ, đang chờ …
Lộc Biếc phá ra
cười khi Khoai đọc tiếp:
- vô soong!
Khoai nói liều,
thật ra chưa rơ sào củ này sẽ được sử dụng vào việc ǵ. “Án treo”? Sao
anh liên tưởng quái gỡ thế! Anh hơi ngạc nhiên về ḿnh.
Bé Ngoan, con gái
của chị Xinh, chạy vào. Cả bốn người ngưng tiếng cười đùa nh́n ra: anh
Ruộng đang bước vào ngơ. Huyện bao giờ cũng nhanh nhẩu, bước ra vin tay
vào khung gỗ, tay kia đưa lên chào vui:
- Kính chào đồng
chí bí thư!
Anh Ruộng đan những
ngón tay vào nhau, đưa lên quá đầu:
- Kính chào các
đồng chí chiến đấu! – Anh Ruộng cười, đùa lại –.
Chị Xinh ở dưới nhà
bếp chào vọng lên.
Lát sau, chị bưng
lên hai dĩa xôi đầy bốc khói. Bên cạnh chị, Ngoan với chồng chén đũa,
trên chồng chén là dĩa muối mè nhỏ. Lộc Biếc và Nam đỡ lấy, đặt xuống
bàn.
- Sáng nay phải ở
nhà coi chừng tằm, nhân có nếp mới, thổi xôi mời các thầy cô cho vui. –
Chị Xinh ngồi xuống ghế với Ngoan –.
Nam nói:
- Thời buổi này,
vậy đă là đại yến!
Mọi người cùng cười.
Bây giờ ai cũng đă biết sào củ dùng để ghế vào cơm hoặc xôi. Các lát
khoai ngọt sắc, do củ đă khô bớt nước sau vài hôm được treo như vậy.
Chị Xinh vui vẻ mời
khách dù khách đă nâng chén đũa.
- Chúng em đang ăn
rỗi như tằm, cảm ơn chị Xinh. – Nam đùa tếu –.
Lộc Biếc hơi đỏ mặt
nhưng vội vui ngay:
- Nếp mới thơm quá
chừng. Lần đầu em thấy nếp thơm như vậy.
- Nếp, tẻ, gieo ở
rẫy đều vậy, có điều năng suất thấp. – Anh Ruộng nói –. Đất này là đất
dâu tằm, cây công nghiệp.
- Nhà anh Ruộng
cũng ở xóm này chứ? – Huyện nh́n qua –.
Anh Ruộng gật đầu:
- Cách đây mươi nhà.
Ḿnh sức khỏe kém, nên chỉ làm vườn thôi.
- Chị Ruộng khỏe
gấp đôi mọi người, đúng là anh Ruộng khéo chọn. – Chị Xinh nói, đơm thêm
xôi vào chén cho anh –. Không ai giỏi bằng chị Huân nhà anh.
- Chị Huân? – Nam
nói –. Ồ, quư nhất. Người vợ như thế đúng là một huân chương.– Nam tinh
nghịch bằng cách nhấn mạnh chữ huân –.
- Hay! Đúng là huân
chương cho đồng chí thương binh chống Mỹ: Cao Văn Ruộng! – Huyện chơi
chữ tiếp, trong sự vui vẻ của cả bàn –. Nhưng Mỹ đây phải hiểu là Xấu
(11).
Lộc Biếc khẽ hỏi:
- Anh Ruộng bị
thương hồi năm mấy hở anh?
Anh Ruộng chỉ tay
vào bao tử:
- Hồi sáu bảy kia.
Mỹ bắn một phát toác mất một góc dạ dày. Lại bị bắt. Nằm ở bệnh viện thị
xă Quảng Ngăi, tôi cưa xích trốn mất dù vết mổ chưa lành hẳn. – Anh cười
hề hề –. Bệnh tôi ăn xôi nghe đâu rất hợp.
- Không. Loét kia.
– Huyện nói –. Nhưng loét hay không xôi vẫn bổ dưỡng!
Lại hai dĩa đầy nữa
được bưng lên.
- Mời các thầy cô
ăn thật no nghe. – Chị Xinh vui vẻ –.
- Không mời học tṛ
Ngoan sao? – Nam nói, cười với Ngoan.–.
Ngoan bẽn lẽn.
Khoai thấy anh Ruộng
ăn không được nhiều, chắc hẳn v́ bao tử đă hẹp lại. Lâu nay, Khoai để ư
thấy sáng sáng anh Ruộng đến trường dạy học, đầu buổi hoặc cuối buổi ghé
vào văn pḥng hay căn nhà nam uống nước dăm phút. Các cô giáo cấp một
cùng khối nói rằng năm ngoái, phải dạy thay cho anh Ruộng nhiều buổi,
người dạy thay nhiều nhất vẫn là cô hiệu phó. Anh Ruộng hay nghỉ ốm, do
vết thương cũ làm sức khỏe anh giảm nhiều. Khoai đơm thêm cho anh Ruộng
một chén xôi, cố ư không để một lát khoai ghế nào vào chén, mặc dù Khoai
và các bạn lâu nay cũng đă quen không ăn được nhiều như trước.
Anh Ruộng hỏi Khoai:
- Đồng chí Khoai cùng
quê với đồng chí Nam?
- Vâng. Em là người
gốc ở làng ngoại của Nam, nhưng không bà con ǵ cả. Làng em với làng Nam
gần nhau, học với nhau từ nhỏ, lúc vào cấp hai đến khi vào đại học, bây
giờ cũng dạy cùng trường.
- Làng Nam, làng Khoai tên ǵ? – Chị Xinh, chăm chăm
nh́n Nam, chờ câu trả lời –.
- Làng Đường Đàn và
làng Thuận Xá. – Khoai đáp –.
- Tôi vốn người làng
Đường, Quảng Trị đây! Chẳng lẽ …– Chị Xinh hơi xúc động, nh́n Nam như
muốn nhận mặt – … chẳng lẽ Nam là con ông Sao, thiếu tá hồi ngụy …
Nam gật đầu trong lúc mọi người lắng nghe.
- Thôi, quá bất ngờ!
Chị Xinh hồi nhỏ hay ra nhà Nam, lấy đất sét dưới Ruộng lên cho Nam chơi,
Nam không nhớ sao?
- Hồi đó em c̣n quá
nhỏ. – Nam cảm động mỉm cười –.
- Chị Xinh cũng người
trong họ Nguyễn Trần đây, Nguyễn Trần của làng Đường ḿnh đó. – Chị Xinh
rơm rớm nước mắt –. Lúc Nam mới về trường, tôi đă linh tính …
- Nhưng sao đồng chí Xinh lại vào Huế, rồi vào Quảng
Ngăi? – Anh Ruộng hỏi, thật ra anh cũng đă biết –.
- Gia đ́nh vào Huế từ
năm sáu mươi. Sáu lăm lại gặp ba bé Ngoan đi lính ngụy, đóng quân ngoài
đó. Tôi làm dâu Quảng Ngăi từ sáu sáu. Bé Ngoan được sinh ra, cuối sáu
sáu.
Nam vuốt tóc bé Ngoan.
Ngoan là học sinh lớp bảy đo Nam làm chủ nhiệm, không ngờ cũng có bà con
với anh. Nam bâng khuâng không biết nói ǵ. Cả bàn bỗng lắng lại mấy
phút.
Lộc Biếc thấy bữa ăn
đă xong, lặng lẽ rót nước ra những cái tách. Anh Ruộng muốn gợi thêm
chuyện t́nh chị Xinh, song rồi thôi. Chị Xinh bồi hồi nhắc lại kỉ niệm ở
làng Đường:
- Hồi nhỏ, Nam thích
chơi đất sét lắm. Một cục đất nặn một tượng to, rồi phân chia từ tượng
to ấy thành mấy tượng nhỏ. Cứ thế, nặn hoài. Khô rồi lại rưới nước cho
mềm ra, nặn lại. Tượng đều là tượng khỉ, con vật cầm tinh, v́ Nam tuổi
bính thân!
Cả bàn bật cười.
Khoai chợt nhớ lời cô Lụa hôm nào, lúc cả nhóm cấp hai soạn giáo án:
“Tôi thấy bốn đồng chí này giống nhau quá!”. Ừ, đều là tuổi khỉ cả mà.
Nhưng con vật cầm tinh giống nhau, chỉ thế, c̣n giống nhau ǵ đâu?! Thần
thoại, liêu trai cho có chuyện đùa!
Chị Xinh lại hỏi thăm
chuyện nhà, chuyện làng nước. Lộc Biếc lắng nghe để hiểu một làng quê cô
chưa hề đặt chân tới bao giờ.
Lộc Biếc mỉm cười,
sửa một câu thơ cổ:
- “tha hương ngộ …
cố hương”! (12)
- Này, Lộc Biếc, đừng
lấy thơ Tế Hanh để sửa nhé. Lấy thơ Quảng Ngăi sửa thơ Tàu là …– Khoai
ngừng lại –.
- Là quá hay.– Lộc
Biếc cười khanh khách, thích thú –. “Mặt Nam là quê hương”! (12)
Nam vuốt mặt, cặp
kính cận lấp lánh phía trên bàn tay anh:
- Đừng chê quê hương
tôi nghe chưa! – Nam cười –. Ví bản mặt “ cận thị” này với Quảng Trị là
xúc phạm Quảng Trị đó.
- Xin thua! – Huyện
nói –. Trường liên tưởng của ba đồng chí chiến đấu này phải nói là một,
số dzách! Một sáng chủ nhật quá tuyệt. Có điều, ngon nhất là t́nh cảm,
kế đến là xôi nếp mới, chứ không phải thơ! Phải không anh Ruộng?
Anh Ruộng cười x̣a:
- Thôi, tôi phải về
trông gà, trông qué kẻo tan mất cái vườn, luống cải, luống ng̣ …– Anh
bắt tay mọi người, rồi bước ra cửa –. Có xôi mới có thơ, “có thực mới
vực được đạo” –. Anh ngoái lại –.
Cả nhóm bạn cũng chia
tay với mẹ con chị Xinh. Đến đầu ngơ, chị Xinh nói:
- Cậu Nam với mấy
thầy cô biết nhà rồi, thỉnh thoảng ghé chơi nhé.
- Nếu ngày nào cũng
có xôi thế này … – Huyện cười phá lên –.
Nắng đă rất to, vàng
rực cả con đường đất đă khô ráo c̣n lồi lơm vết chân người, vết bánh xe.
Cả bốn người đi ngược đường với anh Ruộng để về trường.
Dọc đường, Khoai suưt
buột miệng chào nhưng lúng túng v́ không biết người đàn ông khoảng bốn
mươi tuổi vừa đạp xe ngang qua tên ǵ. Ông ta nh́n Khoai và Nam, rồi vẫn
đạp xe đi thẳng.
- Nam nhớ anh ấy
không? – Khoai nói –. Người ngồi bên cạnh anh em ḿnh hôm ở Đà Lạt về
đó.
Nam gật đầu:
- Không ngờ! Hôm nào
gặp lại, mượn cuốn Rơ-mác xem lại thử.
- Anh ấy ở đây chứ
đâu! – Huyện nói –. Làm nghề sửa, vá xe đạp đầu xóm anh Ruộng. Anh ta
tên là Trà. Ḿnh có lần ghé quán cóc của anh Trà rồi … Vừa bán bánh kẹo,
thuốc lá, vừa sửa xe đạp.
- “Lăo” đó không
xoàng đâu. Ḿnh đă nói chuyện với anh ấy. – Khoai nói –.
- Rơ-mác? “Một thời
để yêu, một thời để chết”? – Lộc Biếc hỏi, rồi nói thêm –. T́nh yêu đẹp
trong đau đớn, có điều, Tây quá!
Khoai gật đầu. Nam
nh́n xuống đôi dép cao su quai vải của ḿnh.
Dọc đường về, một số
em học sinh lấp ló trong cửa, đợi thầy cô đi ngang qua là chạy ra, ṿng
tay cúi đầu chào. Lộc Biếc quá cảm động bởi t́nh cảm học tṛ trong cách
biểu hiện đáng quư như vậy, cách biểu hiện ngỡ chỉ c̣n thấy trong sách
viết về thời Nho học. Cô lại nghĩ, như có lần nào đó Nam đă nhắc lại một
ư của Lục Du: “Muốn làm thơ hay phải học ở ngoài thơ”, muốn nghiên cứu
văn học và dạy văn tốt, sao sáng nay cô suưt đắm ḿnh vào luận văn?! Lộc
Biếc tin rằng chiều nay cô sẽ nghĩ sâu hơn những ǵ cô đă viết ở khóa
luận, ít ra là có một sáng chủ nhật thư giăn, biết tận mắt thế nào là
tằm và tơ ... Phải vừa là mọt sách, vừa là cánh chim, cánh bướm hay chú
dế mèn!
Bốn người về đến sân nhà tập thể, cũng vừa gặp ba cô
giáo đi thăm gia đ́nh học sinh về. Dưới ba chiếc nón lá, ba gương mặt
mười tám, hai mươi được hơi nắng phả vào, tươi hồng lên.
Năy giờ, Khoai chạnh nghĩ về những tượng khỉ bính
thân thuở thơ ấu của Nam, lại băn khoăn măi về điềm lành, điềm dữ dạo
gần đây anh mới để ư. Khoai tự bảo, sao anh thi thoảng lại có những khía
nh́n bi thảm từ sự vật ngẫu nhiên gặp, như “án treo”, người bị treo tay,
chân hẫng đất, khác nào vận vào ḿnh! Có lẽ nào là Kiều với ám ảnh vô
thức, ai đó đă lí giải? Ám ảnh ấy có xui khiến gặp phải bất hạnh trên
bước đường tương lai? Cơ sở nào để anh mắc phải “bệnh” này? Thây kệ
chúng! Khoai mỉm cười nh́n nắng ngoài sân.