TRẦN
XUÂN AN
NGUYỄN
VĂN TƯỜNG,
“NHỮNG NGƯỜI TRUNG NGHĨA
TỪ XƯA,
TƯỞNG
KHÔNG HƠN ĐƯỢC”
KHẢO LUẬN VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH SỬ HỌC
Nhà Xuất bản
2003
Đă đăng trọn vẹn cuốn
sách này trên Tạp chí điện tử Giao Điểm, 05-2005:
http://www.giaodiem.com
( search )
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm
( link trực tiếp )
TRẦN XUÂN AN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824-1886)
VỚI NHIỆM VỤ LỊCH SỬ
SAU CUỘC KINH ĐÔ
QUẬT KHỞI (05 THÁNG 7. 1885)
(VÀI CHỦ ĐIỂM SỬ HỌC
SƠ LƯỢC CẦN THIẾT
KHI CẢM NHẬN BÀI
“GIẢI TRIỀU…” (1)
CỦA NGUYỄN VĂN TƯỜNG).
GIẢI
TRIỀU…
Tam
thập niên lai phí kỉ kinh
Vô
đoan dạ bán bách sầu sinh
Ḱ
khai tam sắc, vân lôi biến
Già
thính song xuy, kê khuyển kinh
Sơn
kính vạn trùng thương thuư liễn
Thần
tâm nhất dạng luyến đan đ́nh
Thị
phi nhiên phó thiên thu hậu
Xă
tắc quân vương thục trọng khinh?
CHIA TÁCH TRIỀU CHÍNH…
Ba chục năm qua phí trí ḿnh
Nửa đêm, gian tả! Ép buồn sinh
Cờ chia ra khoảnh, giông quyền biến
Kẹp siết theo roi, chó hăi kinh
Núi biếc vạn trùng, lo kiệu Ngự
Ḷng son một dạng, luyến sân Đ́nh
Đúng? sai? Ấy gửi ngh́n thu luận
Theo nước – pḥ vua, đâu trọng khinh?
(Bản dịch thơ từ nguyên tác chữ Hán).
Hai câu bổ sung:
CHIA TÁCH TRIỀU CHÍNH…
U trung thùy bạch thiên thu hậu?
Xă tắc quân dân thục trọng khinh?
Ḷng trung sâu kín, sau ai tỏ?
Tổ quốc, dân, vua, đâu trọng khinh?
1) MỘT BỐI CẢNH LỊCH
SỬ HOÀN TOÀN BẾ TẮC.
Tứ thơ “chia tách triều chính”
nhưng vẫn “nhất dạng” khởi từ t́nh huống mà Dụ Cần vương ghi rơ:
“Từ xưa kế sách chống giặc không ngoài ba điều: đánh, giữ, ḥa. Đánh th́
chưa có cơ hội [điều kiện thực lực – TXA. chua thêm (:ct).], giữ th́
khó lượng được sức, ḥa th́ chúng đ̣i hỏi không biết chán. Đương lúc sự thế
muôn vàn khó khăn như vậy, bất đắc dĩ phải dùng quyền [quyền biến – ct.]”
[1].
Hai mật dụ Hàm Nghi cùng Tôn Thất
Thuyết từ Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị) gửi về cho Nguyễn Văn Tường (02.6 Ất
dậu) và hoàng tộc (07.6 Ất dậu, 1885) cũng nói đến kế sách quyền biến với
nhiệm vụ “kẻ ở” của ông.
2) SỰ PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ LỊCH SỬ: "TỔ
QUỐC, VUA, DÂN, ĐÂU TRỌNG KHINH?".
NỖI KHỔ TÂM, L̉NG TRUNG NGHĨA CỦA NGUYỄN
VĂN TƯỜNG QUA MẬT DỤ HÀM NGHI GỬI VỀ TỪ TÂN SỞ (CAM LỘ, QUẢNG TRỊ).
Tất nhiên, “xă tắc, quân, dân, thục
trọng khinh?”, câu ấy đưa ra một sự chọn lựa với hành động chính trị cụ
thể trong t́nh huống lịch sử cụ thể, ai là “kẻ ở”, ai là “người đi”.
Chính trong mật dụ gửi về từ Tân Sở, Hàm
Nghi (và Tôn Thất Thuyết) đă dùng hai từ ấy với xác quyết: “Nay đại thần
Tôn Thất Thuyết cùng ta quanh quẩn, c̣n ngươi [:Nguyễn Văn Tường – ct.]
là phụ chính đại thần th́ ở lại mà thương đàm; kẻ ở, người đi đều lấy
ḷng yêu nước lo dân làm căn bản; trời đất cũng thực chứng giám…”
[2]. Mật dụ ấy cùng với Dụ Cần vương được gửi về và phát đi trong
một ngày (02.6 Ất dậu: 13.7.1885).
Nguyễn Văn Tường đă chọn lựa vị trí giáp
mặt với kẻ thù một cách trực diện, một vị trí mà Tôn Thất Thuyết không có
khả năng đảm đương. “Kẻ ở”, cũng là nhiệm vụ bà Từ Dũ giao phó cho
ông [3]. Nguyễn Nhược Thị Bích kể bằng thơ:
“Thấy người trước đón lên đường
Gửi rằng: “Có Nguyễn Văn Tường chực đây”
Phán rằng: “Sự đă dường này
Ngươi tua
[:lo; nên – ct.] ở lại, ngơ rày xử phân”
Vâng lời Tường mới lui chân
Giá ra khỏi cửa, dân lần dơi
theo”.
Và ở "Dậu Tuất niên gian phong hỏa kí sự":
“Thuyết – Tường sanh sự sự sanh
[?! – ct.]
Đem Hàm Nghi trốn bôn hành Khiêm Lăng
Cùng nhau bàn luận rứa răng
Thuyết đi hộ giá, Tường băng
về đầu
Khéo làm chước nhiệm
[:nhịn? “thành thực”? – ct.]
mưu sâu
Pháp quan mắc mớp tưởng đâu thiệt t́nh”
[4].
Cho dù với cách diễn đạt theo quan điểm
thuộc chính kiến nào đi nữa, hai đoạn thơ trên cũng phản ánh về một sự thật
lịch sử!
3) "L̉NG TRUNG SÂU KÍN,
SAU AI TỎ?".
“U trung thùy bạch thiên thu hậu?”.
Đó là nỗi băn khoăn của Nguyễn Văn Tường từ ngày 23.5 Ất dậu (05.7. 1885).
3.a. ĐẤU TRANH MẶT NỔI VÀ MẶT CH̀M.
Qua các tư liệu lịch sử có tính cùng
thời, sau khi đối chiếu, loại trừ, thấy rơ Nguyễn Văn Tường vẫn công
khai đấu tranh với De Courcy, De Champeaux, Silvestre, Nguyễn Hữu Độ trong
hai tháng sau đêm Kinh Đô Quật Khởi (22 – 23.5 Ất dậu, 1885). Hơn thế nữa,
ông c̣n ngầm chỉ đạo phối hợp với phong trào Cần vương.
3.a.1. ĐẤU TRANH VỚI THỰC DÂN PHÁP, BỌN TAY
SAI, CƠ HỘI.
Quốc sử quán triều Nguyễn đă ghi rơ [5],
tất nhiên với giọng điệu và cái nh́n của người chép sử bảo hoàng dưới chế độ
phong kiến. Dẫu vậy, qua đó, hậu thế vẫn thấy Nguyễn Văn Tường khẳng khái,
không hề chịu khuất phục khi đối mặt với kẻ thù đă thắng trận, với bọn tay
sai vốn đă từ lâu bán linh hồn cho quỷ thực dân và tả đạo:
“Lấy quyền tổng đốc Hà – Ninh là Nguyễn
Hữu Độ thăng thự Vũ Hiển điện đại học sĩ, sung Cơ mật viện đại thần, vẫn
sung Bắc ḱ kinh lược đại sứ.
Khi ấy Hữu Độ đă trở về Hà Nội, đô thống
Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy –
ct.], khâm sứ là Tham-bô [De Champeaux – ct.] bàn nói: Hiện nay
Bắc ḱ lắm việc, Hữu Độ ở đấy hiểu nhiều, nên trao cho điện hàm, sung viện
chức, và vẫn sung chức sứ ấy; phàm đốc, phủ, bố, án, ở các tỉnh Bắc ḱ cho
đến các phủ huyện, nếu nơi nào có khuyết, cho do Nha Kinh lược sứ chọn tâu,
chờ chỉ định đoạt. Nhiếp chính Miên Định, phụ chính Nguyễn Văn Tường phúc
tâu [cho thái hoàng thái hậu Từ Dũ – ct.] việc đó là tạm thời
[TXA. in đậm (:iđ)], nghĩ nên tạm nghe ư đó mà làm. Văn Tường nhân
phụng dụ [của Từ Dũ – ct.] nói: trải bày lư do. Lại nói: do
ngươi tuy việc thoả bàn vụ hợp thời nghi để xứng với lời khen của người mới
được. V́ ư ám chỉ chê Hữu Độ nương tựa vào thế quan Pháp, để được ngôi cao,
mà không phải tự bản ư do mệnh lệnh của Triều đ́nh vậy.
(Trước đây, Nguyễn Văn Tường cùng Tôn
Thất Thuyết cho rằng Hữu Độ ở Hà Nội phần nhiều hay nịnh hót, quan Pháp rất
được vui ḷng; Cơ mật viện nhiều lần đem việc tâu lên, chuẩn cho khiển giáng
hay triệu về, Hữu Độ đều được quan Pháp che chở, rất là đáng ghét
[iđ.].
Ngày tháng 7 năm ngoái, khuyên Bùi Hữu
Tạo lấy việc xây sinh từ [của
Nguyễn Hữu Độ – ct.] để tâu hặc, v́ muốn nhân đó để đẩy Hữu Độ đến tội.
Hữu Độ chứa sự bất b́nh đă lâu. Gần đây đô thống Pháp từ Bắc về Sứ quán, tức
th́ trước mời Văn Tường và Thuyết đến họp. Thuyết ngờ sợ cho là hẳn Hữu Độ
đă có ngầm chỉ thế nào, nên mới như thế, cho nên sau không chịu đi; bèn gây
hận; đến đây [Hữu Độ – ct.] về kinh, [ y – ct.] lại đến Sứ
quán, rồi về nhà riêng [của Hữu Độ tại Huế – ct.], uỷ đón nhiếp chính
Thọ Xuân vương Miên Định tới bàn với Văn Tường; và [Hữu Độ – ct.]
gièm [rằng – iđ. & ct.] không bàn với Thọ Xuân vương th́ đừng đi.
Kịp khi Hữu Độ tới Sở Thương bạc mà Văn Tường ở đó, hai người nói chuyện với
nhau, đă hơi có ư khiếm ḥa [:thiếu hoà khí – ct.]; Văn Tường phụng
dụ này, lời lẽ lại có ư chê ngầm theo kiểu b́ lí xuân thu [:bề ngoài với
lí lẽ khác nhau như mùa xuân với mùa thu – ct.]. Hữu Độ tiếp dụ, giận lắm,
nhân đó càng thêm để ḷng)”.
Qua giọng điệu và cách nh́n không được
trong sáng lắm của nhà chép sử triều Nguyễn, chúng ta gạt đi khía cạnh bị
nhuộm màu cá nhân hiềm khích, sẽ thấy rơ, thực chất, đó là cuộc đấu tranh
về vấn đề bố trí quan chức ở Bắc ḱ, vấn đề chống bọn tay sai, cơ hội,
Nguyễn Hữu Độ là tiêu biểu.
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, trước đó
đă “đặc biệt đem câu xem gió chuyển buồm trách Hữu Độ” [6]. Mà
đâu chỉ Nguyễn Hữu Độ! Cùng một giuộc với y, c̣n có Nguyễn Trọng Hợp [7],
Hoàng Cao Khải, Nguyễn Huy Lân… [8], và bất ngờ nhất, c̣n là Nguyễn Thân
(con trai Nguyễn Tấn), lẫn Phan Đ́nh B́nh!
Thực chất của vấn đề bố trí nhân sự ấy, xét
cho cùng, là vấn đề c̣n hay mất Bắc ḱ. Đó là nội dung của khoản 7
“ḥa”ước Patenôtre (1884). Và tại sao lúc đó, kinh đô đă thất thủ,
Nguyễn Văn Tường vẫn không chấp nhận “như quan Pháp có kiểm được quan Nam
nào nên làm hoán cách, có xin hoán cách ấy, tức làm hoán cách” [9], mà
chỉ miễn cưỡng, xem là tạm thời, c̣n đ̣i hỏi Pháp phải
trải bày lí do [10], mặc dù Từ Dũ đă chấp nhận? Phải chăng Nguyễn
Văn Tường đang dựa vào sức quật khởi của phong trào Cần vương đang dậy lên
khắp cả nước, và theo mật dụ Hàm Nghi gửi về: “cùng y [De Courcy –
ct.] giảng rơ về lí thế, cân nhắc về lợi hại, hết ḷng thỏa hiệp [:hiệp
bàn thỏa măn đôi bên – ct.], phàm những khoản ǵ bách thiết, phải chung
nhau bàn đổi” [11]?
Dẫu trong thế kẹt lịch sử như vậy, Nguyễn
Văn Tường vẫn đấu tranh trực diện với De Courcy, De Champeaux, Nguyễn Hữu Độ
mà ĐNLT.CB., tập 36, tr. 236 – 237 đă ghi, như đă tŕnh bày ở phần trên.
Việc Nguyễn Văn Tường phải kí phụ ước (30.7.1885) ấy với Silvestre, Nguyễn
Hữu Độ, đă được Nguyễn Nhược Thị Bích miêu tả:
“Pháp nhân lập ước hội đồng
Những điều lấn hiếp khó ḷng y theo
Văn Tường chẳng khứng thuận chiều
Trái t́nh, Hữu Độ mượn điều Bắc quy”
[12]
Từ năm 1921, ngay dưới chế độ thực dân,
Trần Trọng Kim đă viết một cách kín đáo:
Hợp ư thế nào được với kẻ bán nước, “đă
biết theo chính sách bảo hộ”, thực dân Pháp bảo ǵ nghe nấy!
3.a.2. ĐỐI PHÓ VỚI PHE
CHỦ "HOÀ" (TỪ DŨ, MIÊN ĐỊNH...) VỚI PHƯƠNG THỨC "KHÔNG BIẾT G̀ HẾT".
Một vấn đề gay cấn nữa là Nguyễn Văn Tường
không chỉ phải đối phó với Pháp và bọn cơ hội, tay sai, mà c̣n phải đối phó
với phe chủ “ḥa”, đứng đầu là Từ Dũ cùng Miên Định (giám quốc, nhiếp chính).
Miên Định là một người có tư cách hèn hạ đến mức ngửa tay xin tiền khâm sứ
Pháp, đến nỗi Đồng Khánh cũng cho là nhục quốc thể [14]!
Đối với thái hoàng thái hậu Từ Dũ, Nguyễn
Văn Tường phải làm ra vẻ bị Tôn Thất Thuyết lừa dối [15] (2). Ông ở trong
thế kẹt, nên phải vờ như giữa ông và Tôn Thất Thuyết chưa hề bàn bạc để khởi
binh đêm 22 – 23.5 Ất dậu (05.7.1885), mặc dù đấy là cuộc khởi binh bất đắc
dĩ, bị Pháp ép vào thế chẳng đặng đừng:
“Bằng c̣n ỷ thế quá ngang
Thời ta sẽ liệu quyết đường hơn thua!”
[16].
Biết sẽ có khả năng bị thất thủ, nhưng đến
lúc cũng “đành liều may rủi với trời” [17].
Cuộc Kinh Đô Quật Khởi chỉ nhằm phát động
tổng nổi dậy Cần vương trên toàn quốc để đấu tranh ngoại giao, chính trị.
Nguyễn Văn Tường giả vờ “không biết ǵ
hết” trong đêm 22 – 23.5 Ất dậu, 1885 [18] để ở lại làm nhiệm vụ đàm
phán của “kẻ ở”, trong khi Tôn Thất Thuyết là “người đi”.
Phương thức “không biết ǵ hết” được
Aldophe Delvaux cho là: “Ông phụ chánh thứ nhất (Tường) đă miễn cưỡng
hành động dưới ảnh hưởng ngông cuồng của ông Thuyết, bất chấp mọi lời khẩn
cầu của mẹ vua Tự Đức và ông hoàng Hoài Đức (em vua Thiệu Trị) [thay
Hồng Hưu – ct.] là những người chống lại các sự vận động của phái yêu
nước” [19] (3). Theo Delvaux, ấy là tin tức mật thám của Pháp trong buổi
sáng 04.7.1885 mà De Champeaux nắm được! Thật ra, Nguyễn Văn Tường đă cho
phép và đă thay mặt vua ra lệnh cho Tôn Thất Thuyết chuẩn bị kháng chiến,
lập đạo quân Phấn Nghĩa cho thêm thanh thế (1883 – 05.7.1885), để đấu tranh
với Pháp. Ngay trong những giờ phút sắp đến thời điểm nổ ra cuộc Kinh Đô
Quật Khởi, khi Tôn Thất Thuyết “lại nghiêm sức các quân dinh
kiểm soát, chỉnh đốn những đồ khí giới, Văn Tường với đ́nh thần cho rằng đó
cũng là thanh thế để pḥng bị vậy” [20].
Và tất nhiên, nếu cần, cũng phải lấy tấn công làm pḥng thủ.
3.a.3. VỚI PHƯƠNG THỨC "KHÔNG BIẾT G̀
HẾT", NHẰM PHỐI HỢP BÍ MẬT NHƯNG CHẶT CHẼ VỚI PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG.
Quả vậy, Nguyễn Văn Tường đă lănh đạo Cơ
mật viện họp bàn rất bí mật. Đă đến lúc không thể không thực hiện kế hoạch
chính Nguyễn Văn Tường cùng Thân Văn Nhiếp, Nguyễn Quưnh vạch ra, và Nguyễn
Văn Tường đă đích thân, tự nguyện tiến hành bước đầu từ 1864, 1866 [21]. Gần
hai mươi năm trước thời khắc lịch sử này, đó là việc tâu xin mở thượng đạo,
đặt cơ sở để khởi công xây dựng thành lũy Tân Sở, tuy c̣n dở dang. Khát vọng
kháng chiến c̣n thể hiện ở bài thơ “Bệnh trung kí phỏng đồng chí” [22]
(4) được viết vào quăng thời gian c̣n tiễu phỉ ở phía bắc, khoảng những năm
đầu của thập kỉ 70 (thế kỉ XIX). Và vào năm 1883, kế hoạch đó lại được tiến
hành một cách vữơng chắc với quy mô lớn [23]. Trong thời điểm cụ thể vào đầu
tháng 7.1885 này, Tôn Thất Thuyết cũng như Nguyễn Văn Tường, cả hai cùng
“nhất dạng”, nhất trí với sự tổng hợp phương thức: vừa kháng chiến vũ
trang (đánh), vừa “không biết ǵ” (đàm), phương thức ông đă từng đấu
tranh thắng lợi vào cuối năm 1873, đầu năm 1874. Thắng lợi ấy, ngay cả
“Quốc triều chính biên toát yếu” [24] lẫn “Việt
Nam sử lược” [25]
đều ghi nhận, và trích dẫn nguyên văn cuộc
đối thoại giữa Nguyễn Văn Tường với Philastre một cách thán phục (5). C̣n
đây là đoạn đối thoại giữa vua Tự Đức với triều thần và Nguyễn Văn Tường về
phương thức “không biết ǵ” kết hợp với tiến công vũ trang, sau khi
đă thành công:
“Vua bảo
[…] Viêm và Thuyết mùa đông năm ngoái [21.12.1873 – ct.] giết được
đầu sỏ giặc, làm mất khí thế của chúng, Nguyễn Văn Tường nhân đấy dễ làm
việc; Văn Tường nói: Tuy có trở ngại một chút, nhưng thực giúp được nhiều.
Đấy là lời b́nh tâm không khoe công. Viêm và Thuyết nên [được – ct.]
phong tước, giả lại chức quan” [26].
Đó là lúc thu hồi lại bốn tỉnh Bắc ḱ, sau
khi hạ sát Françis Garnier trong sự tức tối điên cuồng của Jean Dupuis,
Puginier, Rheinart và bọn “dữu dân” trong giáo dân (như tên ngụy tổng
đốc Trương, vốn là thợ rèn theo “tả đạo” chẳng hạn) [27].
Phương thức đó, mười năm sau (1883) vẫn c̣n
hiệu quả, với cái chết của Henry Rivière, cũng do quân Lưu Vĩnh Phúc trực
tiếp hạ sát, dưới sự chỉ đạo của Hoàng Tá Viêm, tại Hà Nội.
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết lại tiến
hành một lần nữa, dữ dội và quyết liệt hơn, ngay tại kinh đô Huế, 1885.
Dẫu thất bại, Nguyễn Văn Tường, sau
05.7.1885, vẫn tiếp tục đấu tranh. Bởi thế và lực so với 1873, 1874 đă ngặt
nghèo hơn, Nguyễn Văn Tường không c̣n ở tâm thế ung dung như mười hai năm
trước, mà đang vô cùng khổ tâm. De Courcy không bị hạ sát! Mang Cá và Ṭa
Khâm không bị triệt tiêu như mong muốn! De Courcy và De Champeaux lại đang
nhân danh Triều đ́nh để thao túng!
Do đó, phong trào Cần vương vũ trang đă
bùng lên khắp nước!
Quốc kế “chia tách triều chính”
nhưng vẫn “nhất dạng”, phối hợp bí mật nhưng rất chặt chẽ, là một
sáng tạo rất táo bạo, trong điều kiện thế và lực lúc bấy giờ!
Qua việc trích dẫn những tư liệu của
Puginier, theo giáo sư Nguyễn Văn Kiệm [28], chúng ta thấy rơ sự thật lịch
sử, với sự miêu tả của chính đối phương, về nỗ lực của Nguyễn Văn Tường:
“Vua Hàm Nghi đi theo Thuyết c̣n phụ chính Tường ở lại, vẫn giữ nguyên chức
tước, và sau một thời gian trá hàng, lại tiếp tục có những hành động đối
kháng. Chính theo lệnh của y mà khoảng 30.000 giáo dân đă bị hại chỉ trong
ṿng 2 tháng và hơn 1.000 người khác cũng chịu chung số phận do các quan lại
thi hành mệnh lệnh trên…”.
Delvaux, trong bài viết ở sách đă dẫn [29],
cũng miêu tả cảnh “sát tả đạo” trước và sau 05.7.1885, đặc biệt là sau ngày
lịch sử bi hùng ấy, tại B́nh Định, Quảng Trị, Nghệ An. Trần Trọng Kim, trong
“Việt nam sử lược” [30], cũng ghi rơ: “Tôn Thất Thuyết […]
làm hịch Cần vương truyền đi khắp nơi […]. Sách Tây chép rằng […]
dân bên đạo phải tám ông cố và hơn hai vạn người bị giết”.
Đối phương đă kết án Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết là “tàn nhẫn”, “hiếu sát”! Sự “tàn nhẫn”, “hiếu sát” (hai từ này
về sau cũng bị Trần Trọng Kim xuyên tạc!), theo cách nói của các gián điệp
thực dân trong lốt áo “tả đạo”, vốn đă khởi động từ lúc Pháp đánh chiếm
Thuận An (Huế, 1883). Bởi “tả đạo” cũng chẳng khác ǵ những năm trước đó, ở
Đà Nẵng, ở Gia Định, và ở Hải Dương, Ninh B́nh… (6):
“Ngoài thời Tây tặc lưới giăng
Trong thời tả đạo chạy quanh bốn bề” [31]…
cho nên, không thể khác
được, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, hai người thiết kế chiến lược và
chiến thuật cho công cuộc kháng chiến chống Pháp bấy giờ, với tư cách là hai
người lănh đạo cao nhất Cơ mật viện lúc ấy, đă phải kiên quyết. Sự kiên
quyết đó, Aldophe Delvaux đă viết lại theo giọng điệu thực dân ra vẻ khách
quan của y:
“Triều đ́nh thấy nguy cơ mất độc lập, đă
bàn bạc ngầm các phương kế để chận đứng sự lấn chiếm của Pháp.
[…] Tôn Thất Thuyết, […] Nguyễn Văn Tường đă lôi kéo Hội đồng Cơ
mật thoả thuận hai vấn đề quyết định như sau: Ra một mật lệnh cho các sĩ phu
định rơ ngày tàn sát cùng lúc tất cả giáo dân trong toàn quốc [! sic! –
ct.]. Sau khi loại kẻ tiếp tay cho quân xâm lược sẽ chuyển Triều đ́nh và
Chính phủ đến một pháo đài kiên cố, và đến các vùng hiểm trở bất khả xâm
phạm. Đó chính là Cam Lộ hay đúng hơn là Tân Sở, và đó là trung tâm liên kết
lực lượng ái quốc, là nơi Triều đ́nh sẽ tạm dừng chân. Các chuẩn bị ḱ quặc
để h́nh thành do những kỉ niệm quá khứ [của Nguyễn Văn Tường với vùng
đất Cam Lộ – ct.], thảm hại thay, lại đă được thực hiện một phần lớn”
[32].
Cũng về thời điểm 1883, theo Jabouille, phụ
trách Tổ chức công vụ Pháp, công sứ Pháp tại Quảng Trị:
“Các người chống Pháp nói rằng: “Những
người Thiên Chúa [giáo – ct.]
phản bội Tổ quốc để làm lợi cho nước Pháp. Chúng ta chỉ ḥa b́nh khi nào
người Pháp không có sự ủng hộ trong nước…”” […]. “Việc đánh lấy Thuận
An, và buộc chấp nhận đô hộ làm cho ông phụ chính Tường tức giận tột độ;
nhưng ông Tường âm thầm, cẩn thận đè nén sự tức giận để dùng nó vào một dịp
thuận lợi” [33].
Và sự thể, theo Puginier viết về thời gian
hai tháng sau ngày Kinh Đô Quật Khởi (22 – 23.5 Ất dậu, 1885), như đă trích
dẫn, chắc chắn chỉ v́ t́nh huống lịch sử bắt buộc, bởi, giáo dân thời
bấy giờ, nói như Đoàn Trưng từ trước 1866:
“Gia-tô nội ứng ghê thay
Giúp đem lương thực chẳng ngày nào không”.
Quả thật, đến 1885, sự nội ứng của “tả đạo”
Thiên Chúa giáo đă quá công khai!
Sách “Compendium…” của Raviê (Ravier),
có đoạn viết: “Bấy giờ mới nổi cơn băo táp rất dữ dội quá sức; từ khi
nước Nam có đạo chẳng hề bao giờ bổn đạo phải cực khốn cực nạn bằng bấy giờ;
v́ trước kia, khi cấm đạo, chỉ có quan quân đi bắt bớ mà thôi, c̣n dân ngoại
th́ chẳng lo việc ấy, lại cũng thương kẻ bị bắt bớ. C̣n lần này quan và dân
ngoại đều đồng tâm hiệp lực mà quyết tận diệt kẻ có đạo” [34].
Và theo Delvaux:
“… Các quan chức không muốn dính líu vào,
sợ có sự không may về sau [cách diễn đạt của Delvaux – ct.], nên để việc đó
cho các sĩ phu đảm nhận, c̣n riêng họ vẫn ở trong bóng tối.
Trong các tỉnh, trong khi các sĩ phu
chuẩn bị chiến đấu, th́ các vị quan lớn lo trấn an các công chức của chính
quyền bảo hộ cũng như các vị linh mục và giáo dân. Khi mọi việc chuẩn bị đă
xong xuôi rồi, các sĩ phu tiến chiếm thành tŕ của các tỉnh, và các quan
tỉnh th́ nhanh tay giao nạp các thành tŕ ấy, sau một vài sự phản kháng qua
loa; và như thế là những cuộc cắt cổ
[!sic! – ct.] bắt đầu” [35].
Các quan ở tỉnh th́ như thế, c̣n Nguyễn Văn
Tường? Nguyễn Văn Tường cũng không thể khác hơn:
“Tướng De Courcy lấy tin tức
[ở – ct.] ông Tường, ông này đều bảo đảm rằng sự trật tự an ninh đang
h́nh thành khắp nơi. [Trong khi đó – ct.], các tin tức báo động dồn
dập từ miền nam [tả ḱ – ct.] được gửi đến. Tướng Prudhomme muốn biết
tường tận t́nh h́nh thật sự các việc, đă được ông De Courcy chấp thuận và
cho phép đến các nơi ấy. Ông đi cùng ông De Champeaux trên chiếc tàu “Le
Lutin” và đến Quy Nhơn ngày 18.8 [1885 – ct.], và ông đă mục kích
toàn là máu lửa” [!sic ! – TXA. ct.] [36] (xem thêm chú thích
(10)).
Lại theo Jabouille:
“Một vài nhà truyền giáo trong tỉnh và
một vài ông quan cho biết rằng năm 1885, nhất là vào tháng 9, tỉnh Quảng Trị
đă là hiện trường của một cuộc tiêu diệt có phương pháp, được tiên liệu, có
tổ chức, để loại trừ các người theo đạo Chúa, gây ra bởi đảng của Văn thân,
có sự ủng hộ tinh thần của ít nhất là hai quan phụ chính…” [37].
Các “nhà truyền giáo” đó chính là Aldophe
Delvaux, Henry de Pirey – những kẻ đă ra vẻ khách quan, thực chất lại thù
hận sâu sắc Nguyễn Văn Tường, người đă bị chính phủ Pháp “đày cho chết”!
Gạt đi những xuyên tạc, bóp méo, bịa ra cái gọi là ư nghĩ quần chúng để bôi
nhọ của các tên thực dân, tả đạo trong các bài viết của chúng với mục đích
trả thù, phục hận, sẽ thấy sự thật lịch sử đă diễn ra.
Sự thật lịch sử ấy đă diễn ra, bởi lẽ,
Triều đ́nh Huế với lực lượng vũ trang khắp các tỉnh đang bị suy yếu, nhưng
thật sự lực lượng quân sự của Pháp cũng không lớn, nên vấn đề do t́nh thế
đặt ra là cần phải tiêu diệt bọn “dữu dân” nội phản, nhằm cô lập bọn
thực dân Pháp, biến chúng lâm vào t́nh cảnh như “cua găy càng”, mặc
dù chúng chiếm được kinh thành Huế, thậm chí chúng đặt được ách “bảo hộ” lên
cổ của dân tộc ta! [38] (6).
Và bởi lẽ, quan trọng, quyết định hơn, ấy
là không c̣n cách nào khác, trong điểm đỉnh tột độ của mâu thuẫn đối kháng,
giữa lực lượng dân tộc, yêu nước với bọn thực dân Pháp mà hậu thuẫn của
chúng là “tả đạo”. Đó là biện pháp chẳng đặng đừng trước sự lấn hiếp của
thực dân và “dữu dân”, để củng cố lại chính quyền nhằm làm hậu phương cho
phong trào Cần vương, chống Pháp bằng vũ trang và bằng thương thuyết. Biện
pháp bạo lực quyết liệt ấy, xuất phát từ t́nh thế: không c̣n hậu phương, hậu
thuẫn nước ngoài nào khác! Chúng tôi nhấn mạnh: không c̣n hậu phương,
hậu thuẫn nước ngoài nào khác! (7). Vả lại, đâu chỉ bởi mệnh lệnh của
Nguyễn Văn Tường phối hợp với Dụ Cần vương của Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết,
trong cuộc nổi dậy toàn quốc này, mà c̣n do chính sức mạnh quật khởi hoàn
toàn tự giác của nhân dân!
Chúng tôi đă đối chiếu với “Đại
Nam thực lục, chính biên”
đệ ngũ kỉ [39], và thấy rằng hiện thực máu lửa ấy là có thật. Tuy nhiên, c̣n
phải thấy rơ, Delvaux, Puginier, H. Ravier, Jabouille, các tên thực dân khác
đă thổi phồng con số giáo dân theo Pháp xâm lược đến mức kinh hoàng. Sự thổi
phồng quá đáng ấy (ngay cả trong vè “Thất thủ kinh đô” [40]),
là nhằm biện minh cho việc Pháp đặt ách đô hộ lên cổ dân tộc ta, nhằm kích
động giáo dân ở “mẫu quốc” và Ṭa thánh La Mă (8).
Như thế, chỉ có thể là: v́ t́nh huống lịch
sử, Nguyễn Văn Tường không thể bày tỏ cho mọi người biết, chính ông cùng Tôn
Thất Thuyết đă chuẩn bị, rồi cùng tiến hành cuộc Kinh Đô Quật Khởi, lại phối
hợp liên lạc thường xuyên với phong trào Cần vương cũng theo cách vừa tiến
công vũ trang (kẻ đánh), vừa “không biết ǵ” (người đàm), cho đến
ngày Nguyễn Văn Tường bị đày đi Côn Đảo; và uy tín Nguyễn Văn Tường quá lớn,
chúng đày ông tít tận Tahiti, gần nam châu Mỹ, sau nhiều thủ đoạn li gián
Nguyễn Văn Tường với Tôn Thất Thuyết (như vụ đốt nhà Nguyễn Văn Tường chẳng
hạn)!
Việc Nguyễn Văn Tường bị lưu đày, lại theo
Delvaux, ngoại vụ Paris tại Việt Nam, trong bài viết ở sách đă dẫn [41]:
“Một sự mâu thuẫn sâu xa chia rẽ tướng De Courcy và ông De Champeaux, nhất
là đối với vấn đề ông phụ chánh Tường. Vị tướng th́ quả quyết là ông Tường
luôn luôn liên lạc với ông Thuyết và [trước đó – ct.] lại nhúng tay
vào mọi cuộc âm mưu lật đổ, và đem xuống tàu đày đi Côn Đảo ngày 6.9
[1885 – ct.]… […] lại chuyển đến
Tahiti
[…]. Ông De Champeaux lại cho rằng ảnh hưởng của ông Tường là rất lớn…
[…]”.
Tất nhiên, Delvaux vẫn cài vào bài viết,
ngay cả ở đoạn văn trên những câu chứa đựng sự mị dân, sự thất thiệt, chẳng
hạn như sự “độ lượng” của chúng, thời điểm Nguyễn Văn Tường chết (xem thêm
chú thích (15)).
Chúng tôi cũng không trích dẫn để nhằm nêu
lên sự mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù, cách đối xử đối với Nguyễn Văn Tường,
theo quan điểm thực dân riêng của mỗi tên đầu sỏ giặc. Điều đáng lưu ư,
chúng “quả quyết là ông Tường luôn luôn liên lạc với ông Thuyết”, “ảnh
hưởng của ông Tường là rất lớn” [42]. Điều này khớp với “Đại Nam thực
lục, chính biên”: hai mật dụ Hàm Nghi gửi về, và chắc hẳn có những tập
tâu đối của Nguyễn Văn Tường gửi lên chiến khu Tân Sở. Việc án sát Quảng Trị
Tôn Thất Nam được ủy nhiệm lên Tân Sở họp với Tôn Thất Thuyết cũng đă được
ghi nhận rơ [43].
Phương thức “không biết ǵ”, khác
với lần thành công cuối năm 1873 bước sang 1874, là lần này (1885) không có
đoạn kết chiến thắng, nên Nguyễn Văn Tường không được dịp cùng Tôn Thất
Thuyết bày tỏ trước Tam Cung và đ́nh thần cùng nhân dân. Tuy nhiên, Quốc sử
quán triều Nguyễn biết rơ điều đó. Chi tiết Dụ Cần vương và mật dụ gửi
Nguyễn Văn Tường từ Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị) được viết một ngày, phát đi
và gửi về một lúc (02.6 Ất dậu, 1885) đă làm sáng tỏ. Và bản án chung
thẩm cáo thị của hai tên De Courcy, De Champeaux, vô h́nh trung, làm sáng tỏ
như một xác quyết của “lân sử” (tín sử). Chúng tôi sau khi nghiên cứu trọn
đệ tứ, đệ ngũ, đệ lục kỉ (tập 27 – tập 38) của “Đại Nam thực lục, chính
biên”, lưu ư đến “bản án” về Nguyễn Văn Tường, đă hơn một trăm năm trước
được Quốc sử quán cẩn thận ghi chép lại, thấy rằng bản án của thực dân đối
với Nguyễn Văn Tường, “kẻ thù không đội trời chung” của chúng, vô
h́nh trung mà hiển nhiên, là bản án đẹp nhất, rực rỡ nhất, chưa từng có
trong giai đoạn đầu chống Pháp của dân tộc ta, một giai đoạn lịch sử bi hùng
nhất với một nhân vật bi hùng nhất: Nguyễn Văn Tường!
Tất nhiên, phương thức “không biết ǵ”
cũng đă gây ra quá nhiều ngộ nhận và dễ bị xuyên tạc. Sóng đôi với ông,
người cùng thực hiện kế hoạch kháng chiến với ông (mặc dù Tôn Thất Thuyết
trước tháng 11 âl., 1881, hầu như không biết ǵ về Tân Sở, hệ thống sơn
pḥng và thượng đạo B́nh Định – Nghệ An), Tôn Thất Thuyết nhận tất cả
hào quang bi tráng. Nói thế, thực ra, Tôn Thất Thuyết cũng bị xuyên tạc, bôi
nhọ, nhưng kẻ thù khó ḷng xuyên tạc, bôi nhọ hơn, và hậu thế cũng dễ thanh
minh hơn, bởi Tôn Thất Thuyết là h́nh ảnh của người kháng chiến trong điều
kiện bế tắc chung của các nước Á, Phi, Mỹ la tinh thuở bấy giờ! Trong khi đó,
người ta dễ đánh đồng hoặc nhầm lẫn Nguyễn Văn Tường với cánh chủ “ḥa”, đầu
hàng! (Xem thêm chú thích (13)).
Phương thức tổng hợp, “không biết ǵ”
(kẻ ở, đấu tranh bằng thương thuyết) và chiến đấu vũ trang (người
đi, đấu tranh bằng quân sự), Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đă hợp
lực tiến hành, trong lần Kinh Đô Quật Khởi (05.7.1885), dẫu sao, cũng đă
sáng tỏ *.
3.b. NHIỆM VỤ LỊCH SỬ VỚI LẬP TRƯỜNG KIÊN
ĐỊNH, THÁI ĐỘ CHÍNH TRỊ "NHẤT DẠNG".
SỰ NGỘ NHẬN, XUYÊN TẠC.
THỰC DÂN PHÁP THAO
TÚNG TRONG SỰ NHÂN DANH TRIỀU Đ̀NH.
NỖI KHỔ TÂM CỦA NGUYỄN
VĂN TƯỜNG.
Trong hai tháng sau ngày Kinh Đô Quật Khởi
và bị thất thủ, từ 05.7 đến 06.9.1885, các nhà sử học thường quy hết trách
nhiệm cho Nguyễn Văn Tường. Cần thấy rơ, trong hai tháng ngắn ngủi ấy,
Nguyễn Văn Tường hết bị quản thúc bởi lính Pháp, đại uư Schmitz [44], lại bị
chi phối bởi De Courcy, Caspar, trực tiếp là De Champeaux, phó công sứ
Hamelin. De Champeaux trở thành thượng thư Bộ Binh, Cơ mật viện đại thần của
Triều đ́nh Huế!
Về cái án tử h́nh của Đặng Hữu Phổ (con
trai của pḥ mă Cát, đồng hương với Nguyễn Luận), Quốc sử quán triều Nguyễn
[45] đă ghi rơ nội dung: Đặng Hữu Phổ chống việc phủ Thừa Thiên sức cho
huyện Quảng Điền tăng cường quân số. Như thế, vô h́nh trung Đặng Hữu Phổ đă
tiếp tay cho Pháp trong việc Pháp yêu cầu Triều đ́nh không được tái vũ trang
[46]. Về phía Pháp, dẫu vậy Pháp vẫn xem Đặng Hữu Phổ nổi loạn! Và chính
Đặng Huy Xán, chú ruột của Đặng Hữu Phổ, đă lừa bắt ông, đem nộp cho giặc (theo
một số tư liệu và Đặng phả)! Vụ Lê Trung Đ́nh cũng như thế, nhưng ở dạng cụ
thể khác. Lê Trung Đ́nh lại tôn phù Tuy Lí vương [47], một nhà thơ chủ “ḥa”,
câu kết với Pháp thời Hiệp Ḥa, bị đày vào Quảng Ngăi! Do việc tôn phù này,
người ta tưởng Lê Trung Đ́nh là kẻ cơ hội! Đúng như một câu trong sắc
dụ của Từ Dũ lâu nay vốn do Nguyễn Nhược thị Bích viết thay: “Ba
tháng bỡ ngỡ, bốn biển ầm vang” [48]! Đặng Hữu Phổ, Lê Trung Đ́nh yêu
nước, chống Pháp, nhưng lại quờ quạng, thiếu sáng suốt. Sự chỉ đạo của Tôn
Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường cũng chưa sâu sát, cụ thể từng “bước đi”. Khởi
nghĩa hưởng ứng dụ Cần vương là đúng, nhưng chống Triều đ́nh lúc Nguyễn Văn
Tường c̣n giữ vị thế hay tôn phù Tuy Lí vương là sai (mặc dù Miên Trinh từ
chối)! Bởi lẽ, Nguyễn Văn Tường vẫn “nhất dạng” với Tôn Thất Thuyết
trong nhiệm vụ “kẻ ở”, “người đi”. Vả lại, quyết án Đặng Hữu Phổ là
do triều nghị, Triều đ́nh lại có cả De Champeaux ở vị trí trọng thần, chủ
chốt, quyết định! Từ Dũ, Miên Định chuẩn y! C̣n Lê Trung Đ́nh lại do chính
các tỉnh thần và Nguyễn Thân hội bàn, chém trước, báo cáo sau [49]! Do đó,
không thể quy hết mọi việc Pháp nhân danh Triều đ́nh để đổ cả cho Nguyễn Văn
Tường!
Ngoài hai vụ việc trên, trước sức ép của
Pháp, Nguyễn Văn Tường c̣n phải tự giằng xé và bị ngộ nhận bởi vài nỗi đau
ḷng khác.
Với chính trị, chúng ta phải thông cảm,
thậm chí có những việc rất khổ tâm, cũng phải vờ chấp nhận để qua mắt giặc
Pháp và phe chủ “ḥa”, chẳng hạn
như cùng Trương Quang Đản bốn lần viết thư cho Hồ [Văn] Hiển đưa Hàm Nghi –
linh hồn của cuộc kháng chiến – về lại Huế trong khi Pháp vẫn tiếp tục lấn
hiếp [50] [(9) và xem thêm chú thích (11)]. Thật ḷng, Nguyễn Văn Tường cũng
như Trương Quang Đản chỉ muốn rước vua Hàm Nghi về sau khi cuộc đánh
phối hợp với đàm đă đạt được mục tiêu có giới hạn với sự nhượng bộ
của Pháp, như Tôn Thất Thuyết đă nói với Phạm Hữu Dụng: “phải nên đoàn
kết [thoả hiệp tạm thời – ct.] với
quân Pháp; [Pháp – ct.] không lại lấn áp như trước, th́ mới đón xe
vua về” [51], đồng thời
theo hai mật dụ vua Hàm Nghi (cùng Tôn Thất Thuyết) gửi về từ Tân Sở cho
Nguyễn Văn Tường và hoàng tộc.
Nhưng cũng cần thấy rơ, sắc dụ về việc truy
bắt Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, treo giải cho ai bắt được, chém được,
chính Đồng Khánh về sau cũng xác nhận là do Từ Dũ ban hành (tất nhiên Từ Dũ
cũng đành phải theo yêu cầu của Pháp!) [52].
Hơn nữa, sử học phải phân tách rơ “hư
chiêu” và “thực chiêu”! Tất nhiên đó chỉ là hư dụ, chứ
không phải thực dụ (thực dụ trong t́nh huống này phần lớn phải
là mật dụ).
Tuy vậy, chúng ta cũng cần ghi nhớ, vào
cuối tháng 8, đầu tháng chín 1885, c̣n có một số sắc dụ khác của Tam Cung (đứng
đầu là Từ Dũ) với lời lẽ của những bản cáo trạng về sự câu kết giữa thực dân
cố đạo, giáo dân với thực dân viễn chinh Pháp, đồng thời khẳng định “thù
ghét [giặc Pháp – ct.], ai bảo là không nên. Không ǵ bằng cuộc
nghĩa cử đêm 22 tháng 5 năm nay [04 – 05.7.1885 – ct.]…” [53].
Trong t́nh huống kinh đô thất thủ, cực ḱ khó khăn, thất thế ấy, các sắc dụ
tố cáo công khai giặc Pháp và tả đạo đó đă chứng tỏ một tinh thần đề kháng,
bất khuất ở mức độ nhất định. Phải chăng chính Nguyễn Văn Tường đă tác động
rơ rệt vào các sắc dụ khá đanh thép này? Chính bản án cáo thị của hai đầu sỏ
giặc (De Courcy, De Champeaux) trong vài ngày sau đó sẽ làm sáng tỏ.
Ngoài ra, những ǵ Nguyễn Văn Tường làm
được cho việc tái củng cố vương quyền nhà Nguyễn từ triều đ́nh cho đến huyện
xă, cho phong trào Cần vương là những chỉ đạo vừa thành văn, vừa khẩu lệnh,
vừa công khai, vừa bán công khai, trong những lúc thoát khỏi đôi mắt cú vọ
của bọn De Champeaux, bọn chủ “ḥa” (thực chất là đầu hàng) (9), (10)…
Với chức năng, nhiệm vụ lịch sử vừa thoả
hiệp vừa đấu tranh của ḿnh, Nguyễn Văn Tường đă bị bọn thực dân cố đạo căm
hận, báng bổ:
“Puginier, giám mục ở Bắc ḱ, và
Camelbeck, giám mục ở Quy Nhơn, đă mở một chiến dịch điên cuồng tấn công
chống Nguyễn Văn Tường mà theo họ là kẻ thù lớn nhất của người Pháp và đồng
thời cũng là người An Nam điêu toa nhất
[(!?!) nói với Pháp thế này, lại làm thế khác – ct.] mà người ta có thể
gặp… Sự hợp tác của ông ta và De Courcy là một mưu mô [của ông ta – ct.]
nhằm đánh lừa người Pháp” [54].
Trong một mật dụ từ Tân Sở gửi về cho hoàng
tộc (07.6 Ất dậu [18.7.1885]), sau khi hiểu rơ những ǵ Nguyễn Văn Tường đă
tiến hành ở Huế, Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) đă viết:
“Nay đă có phụ chính huân thần Nguyễn
khanh [tức Nguyễn Văn Tường –
ct.] ở lại giảng nói, che chở nhiều việc, hơi được yên ổn; huân thần tâm
sự như thế, cáng đáng như thế, thực là đau khổ quá chừng. Nhân vật nước ta,
những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được. Trẫm cũng dụ cho đại
thần ấy hết ḷng bàn tính công việc, tâu chờ quyết định” [55].
Đó là mật dụ gửi cho hoàng tộc, Hàm Nghi (cùng
Tôn Thất Thuyết) đă viết về Nguyễn Văn Tường như vậy. Và, đúng ra, mọi sách
lược (xây dựng thành luỹ Tân Sở cùng những phương án kháng chiến, đánh – đàm,
với nhiều mức độ khác nhau, tuỳ t́nh h́nh… ) đều do Nguyễn Văn Tường góp
phần vạch ra, từ năm 1866 [56], Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) chỉ nhắc lại
ba phương án thích hợp. Điều đáng lưu ư trong mật dụ này là Hàm Nghi, Tôn
Thất Thuyết đă rất thấu hiểu và chia sẻ nỗi khổ tâm xé ruột của Nguyễn Văn
Tường trong nhiệm vụ lịch sử với vai tṛ đàm phán đă được phân công, từ sau
ngày Kinh Đô Quật Khởi và bị thất thủ.
Nỗi khổ tâm xé ruột của Nguyễn Văn Tường
c̣n phải kéo dài đến hơn một tháng rưỡi sau, tính từ ngày vua Hàm Nghi gửi
mật dụ về Huế, 07.6 Ất dậu (18.7.1885)!
Cũng cần phải khẳng định: Những nỗi đau
ḷng của Nguyễn Văn Tường là do phải thực hiện nhiệm vụ được giao phó của
vua Hàm Nghi và của nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế, hay nói đúng hơn, nhiệm
vụ ấy là do vận mệnh lịch sử của đất nước ấn định cho Nguyễn Văn Tường:
“Y
[Cô-ra-xy (De Courcy) – ct.]
thấy ta càng khuất, y càng ngày càng lấn, khiến Triều đ́nh không c̣n mặt
mũi nào, vạn bất đắc dĩ mà ta mới phải làm cái kế bỏ thành đi ra ngoài. Nay
đại thần Tôn Thất Thuyết cùng ta cùng quanh quẩn, c̣n ngươi [Nguyễn Văn
Tường – ct.] là phụ chính đại thần th́ ở lại mà thương đàm; kẻ ở người đi
đều lấy ḷng yêu nước lo dân làm căn bản. Trời đất thực cũng chứng giám.
Ngươi nên khéo thể tấm thịnh t́nh của tiên hoàng đối với nước láng giềng rất
có thuỷ chung và cùng y giảng rơ về lư thế, cân nhắc về lợi hại, hết ḷng
thoả hiệp [:hiệp bàn thỏa măn đôi bên, không phải “thỏa hiệp vô nguyên
tắc” – ct.], phàm những khoản ǵ bách thiết, chung nhau bàn đổi, cốt
khiến cho hai nước như anh em, vinh nhục cùng quan hệ, vui lo cùng chung
nhau mười phần chân thành, không c̣n dùng đến uy thuật. Lúc này ta mệnh cho
hồi loan, trên để phụng dưỡng ba cung, dưới để yên ḷng thần dân, khanh
[Nguyễn Văn Tường – ct.] cùng với Tôn Thất Thuyết trung trinh chói lọi,
muôn thuở cùng sáng, những phường nịnh tử gian phu, đều phải lặn h́nh giấu
bóng. Nam triều ta há chẳng hân hạnh ư, nước Đại Pháp chắc cũng vui vẻ mà
cùng giữ lấy cường thịnh vậy.
Nếu không như thế th́ các
miếu xă lăng tẩm và các vương công không kịp đi theo ấy th́ hết thảy uỷ cho
khanh [Nguyễn Văn
Tường – ct.]. Ta duy có chọn đất lánh ở, sợ trời vui trời, rường
cột cương thường, cả nước cùng thế, không đâu không phải là Triều đ́nh và
không phải là tôi con vậy. Trẫm quyết không cùng với họ tranh được thua vậy.
T́nh thế ví lại không thôi,
trẫm nguyện phái thêm cán viên, lấy đường đi khắp các nơi, nghiêm sắc cho
Ninh B́nh trở về phía bắc, bao nhiêu quan tỉnh, phủ, huyện đều để ấn lại mà
đi, người nào như có trung nghĩa, tài lược, không kể quan hay dân, đều cho
được tiện nghi làm việc
[nhân dân, sĩ phu khởi nghĩa, kháng chiến quyết liệt – ct.], cốt không
phụ tấm ḷng tốt của triều đ́nh dưỡng dục, tác thành, yên được bóng thiêng
liêng ở trời của liệt thánh, và đáp phó được nguyện vọng [khởi nghĩa
chống Pháp – ct.] tha thiết của thần dân trong nước. Khanh [Nguyễn
Văn Tường – ct.] nên nghĩ cho kỹ nhé, có muốn nên tâu đối, th́ gởi theo
đường trạm chờ xét cũng chẳng hại ǵ”
[57].
Đó là các phương án tuỳ theo
mức độ bức hiếp của thực dân Pháp và tả đạo. Nói rơ hơn, trong t́nh huống ấy,
có ba phương án:
Một là,
nếu Pháp và tả đạo tuân thủ “hoà” ước 1874, hay ít ra, “hoà” ước 1884, không
tăng cường sự lấn hiếp, nhà vua và Tôn Thất Thuyết sẽ về lại Huế.
Hai là,
nếu Pháp và tả đạo xé bỏ “hoà” ước 1884, vẫn tăng cường sự lấn hiếp ở mức độ
có thể chấp nhận được, nhà vua và Tôn Thất Thuyết sẽ ở lại Tân Sở nhưng
không đẩy mạnh sự phát động phong trào Cần vương bằng vũ trang, và giao phó
kinh thành Huế cùng sự an nguy của hoàng tộc cho Nguyễn Văn Tường.
Ba là,
nếu Pháp và tả đạo quyết xé bỏ “hoà” ước 1884, quyết tăng cường sự lấn hiếp
đến mức không c̣n chút chủ quyền nào để có thể mưu tính cho đại cục về
sau, nhà vua và Tôn Thất Thuyết sẽ phát động mạnh mẽ và rộng khắp phong
trào kháng chiến Cần vương, kể cả Bắc ḱ vốn đă bị “bảo hộ”.
Ở mật dụ tiếp theo, vua Hàm
Nghi (và Tôn Thất Thuyết) vẫn tin tưởng Nguyễn Văn Tường đàm phán với mục
tiêu “vụ [:nhằm – ct.] được như thường” (ít ra là như “hoà”
ước 1884):
“… Phàm việc ǵ cùng với
Nguyễn khanh [Nguyễn
Văn Tường – ct.] châm chước thoả đáng, cốt không trái với cương thường
của trời đất. Nên được nền b́nh trị lâu dài của quốc gia, ngơ hầu để được
tiếng thơm muôn đời, thế là lành lắm, tốt lắm. Trời đất dài lâu, gặp nhau có
hẹn. Nước nhà suy thịnh, gặp hội đổi thay, càng nên trân trọng di dưỡng, để
yên tấm ḷng xa của người tuổi trẻ. C̣n ra sẽ uỷ cho Nguyễn khanh [Nguyễn
Văn Tường – ct.] sẽ v́ ư thân điều đ́nh cho thoả đáng, vụ được như thường.
Phàm người họ ta, cần tin lời ta nhé, thế th́ ta mới yên ḷng…”
[58].
Thế và lực nước ta bấy giờ là
không thể đương đầu với Pháp, tả đạo cùng liên minh các nước thực dân của
chúng (Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nga …), trong một bối cảnh chung ở Á, Phi, Mỹ la
tinh là hoàn toàn bế tắc, nhất là khi thế trận toạ sơn quan song hổ đấu (chiến
tranh Pháp – Hoa, 1883 – 1884) đă hoàn toàn thất bại về phía Trung Hoa.
Bởi vậy, cho nên, sắc dụ của vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) từ Tân Sở gửi
về với khí thế và mục tiêu đấu tranh đành phải hạn chế như thế. Phải nh́n
nhận mục tiêu đề ra không thể vượt quá khả năng của hiện thực lịch sử, mà
phải chờ thời cơ trong nỗ lực tạo ra thời cơ (gồm thế và lực mới) – “gặp
hội đổi thay”! Với quan điểm lịch sử – cụ thể, mọi nhận định đều phải
đúng mức.
Nếu không thấy rơ mục tiêu có hạn chế với
phương thức quân sự – ngoại giao vừa đánh vừa đàm (Tôn Thất Thuyết –
Nguyễn Văn Tường phối hợp), phương thức đàm phán vừa thoả hiệp vừa đấu
tranh (Nguyễn Văn Tường đảm nhiệm), không phân tách rơ “hư chiêu”
và “thực chiêu”, với các phương án trên, sẽ không hiểu được thời đoạn
lịch sử hai tháng sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi và bị thất thủ (05.7 –
06.9.1885, Ất dậu)! Trong đó, sự phối hợp nhiệm vụ lịch sử có tính quyết
định nhất vẫn là: Tôn Thất Thuyết (“đường núi vạn trùng lo kiệu biếc”)
– Nguyễn Văn Tường (“ḷng tôi một dạng giữ sân
son”).
(
xem tiếp phần B bài 1
)