TRẦN
XUÂN AN
NGUYỄN
VĂN TƯỜNG,
“NHỮNG NGƯỜI TRUNG NGHĨA
TỪ XƯA,
TƯỞNG
KHÔNG HƠN ĐƯỢC”
KHẢO LUẬN VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH SỬ HỌC
Nhà Xuất bản
2003
TRẦN XUÂN AN
VỀ MỘT VÀI TRANG
ĐẢO NGƯỢC SỰ THẬT LỊCH SỬ
V̀ MỤC ĐÍCH TUYÊN TRUYỀN
TRONG VIỆT NAM VONG QUỐC SỬ
I.
Về mặt t́nh cảm sử học, đây là cả một nỗi
đau ḷng và đáng phiền trách. Tuy nhiên, để trả lại sự công bằng cho lịch sử,
trên tinh thần khoa học khách quan, chúng ta không nên tránh né. Vết thương
sử học cần được hội chẩn và phẫu thuật tập thể.
Bài viết này chỉ là một đề xuất.
Với sự giới hạn vấn đề, chúng tôi mạnh dạn
tạm đúc kết khuynh hướng, chủ trương chính trị của Phan Bội Châu ở giai đoạn
thành lập và hoạt động trong Duy tân hội, Quang phục hội. Qua đó, chúng tôi
cũng muốn chỉ rơ căn nguyên, động cơ của cụ Phan và Lương Khải Siêu trong
việc xuyên tạc bằng cách đảo ngược sự thật lịch sử về Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết, Từ Dũ. Ở đây, chưa nói đến việc Phan Bội Châu vừa có điểm đúng,
vừa có chỗ sai khi đồng thời đả kích t́nh trạng đè nén dân quyền thời Tự Đức,
lẫn đả kích Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp “mở lối cho giặc đến” [1] (1).
II.
1.
Phan Bội Châu bị mắc mưu tuyên
truyền bôi nhọ
nhằm dập tắt phong trào Cần vương
của Hector (khâm sứ thực dân Pháp), Đồng Khánh, Nguyễn Hữu Độ, Phan Liêm,
Phạm Phú Lâm, và của hai cố đạo Puginier, Camelbeck cùng đồng bọn tả đạo
trong Thiên Chúa giáo, sau khi Đất nước và triều đ́nh hoàn toàn rơi vào tay
giặc Pháp. Thế hệ cụ Phan c̣n bị ảnh hưởng ít nhiều do sự nhồi sọ bởi nội
dung giảng dạy, có thể như bản thảo Đại Nam thực lục, chính biên, đệ lục kỉ
(1885 – 1888), trong nhà trường thực dân nửa phong kiến (trường học ở phủ,
huyện và Quốc tử giám). Đây chính là các nguyên nhân tạo ra sự hoang mang,
rối nhiễu, tác hại khôn lường trong xă hội Việt Nam hồi đó.
Mặt khác, nhận thức về hiện thực lịch sử
trong thực tế đời sống của Phan Bội Châu vẫn có nhiều sai sót. Cụ Phan sai
lầm đến mức lẫn lộn chi tiết cụ thể nhất là cái chết của Phạm Thận Duật với
cái chết của Nguyễn Văn Tường; thậm chí cụ không biết chính xác ba tỉnh Miền
tây Nam ḱ mất vào năm nào! v.v… Những sai sót ấy là do sự bưng bít thông
tin, bị ngăn cấm liên lạc… Trong điều kiện bị thực dân độc quyền thao túng,
lũng đoạn, xuyên tạc thông tin và bị chúng hạn chế liên lạc như thế, làm sao
cụ Phan hiểu và biết được chút ǵ đúng với sự thật về những nhân vật lịch sử
trong triều đ́nh Huế trước ngày 06.9.1885! Những nhân vật lịch sử ấy lại
cách thế hệ cụ Phan đến bốn, năm mươi tuổi! Huế lại xa Nghệ An tít mù tắp!
Nói như vậy, phải thấy ở Việt Nam vong quốc sử những ghi nhận không sai sót
đáng kể về phong trào Cần Vương (2), một phong trào do chính sĩ phu, nông
dân trực tiếp tiến hành; riêng khía cạnh sưu thuế (20 loại thuế của thực dân
Pháp với sự tàn ác của chúng) là vấn đề sát sườn, nhân dân xứ Nghệ và bản
thân cụ Phan cũng phải gánh chịu, th́ không thể sai sót được. Phong trào
nhân dân chống sưu thuế nặng nề dậy lên vào năm 1908 ở Trung ḱ là một minh
chứng… Từ đó, với cái nh́n tổng thể về Việt Nam vong quốc sử, có thể nói
rộng ra, ngoài những nhận thức chính xác về bản chất thực dân nói chung và
sự phản kháng của nhân dân nói chung, không phải người yêu nước, nhiệt tâm
cứu nước là không sai sót về kiến thức lịch sử, mà thậm chí vẫn sai sót
nghiêm trọng nữa là đằng khác, và có lắm người sai sót măi cho đến cuối đời!
Từ sai sót đến đảo ngược sự thật lịch sử về
Nguyễn Văn Tường… là do một thủ đoạn chính trị.
2.
Phan Bội Châu chủ trương bảo
hoàng, tôn quân, trung quân như một thủ đoạn:
tôn phù Cường Để (Nguyễn Phúc Hồng Dân), hậu duệ của hoàng tử Cảnh (tín đồ
Thiên Chúa giáo) [2] (3). Phan Bội Châu cố ra sức tạo lại uy tín cho hoàng
tộc triều Nguyễn vốn bị Dục Đức, Hiệp Ḥa, Hồng Hưu… làm sứt mẻ. V́ vậy, cụ
quy hết tội làm mất nước là do các đại thần và do Từ Dũ! Ở điểm này, Phan
Bội Châu “bảo hoàng hơn vua”! Cụ Phan c̣n kém xa vị vua yêu nước Thành Thái,
mặc dù Thành Thái là con trai Dục Đức (bị Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết
phế truất, do thân Pháp và thân tả đạo). Thành Thái đă bảo đảm được quyền
trung thực cho Quốc sử quán, nên đă bảo đảm được sự thật lịch sử, đồng thời
đă chứng tỏ được sự công minh của sử học (sử học bất vị thân, luật pháp bất
vị thân), và như thế là giữ được uy tín cho vương triều Nguyễn.
3. Phan Bội Châu liên kết với một bộ
phận linh mục, giáo dân trước khi xuất dương
vào năm 1905 [3]. Tuy nhiên, chắc chắn không phải cụ Phan liên kết với Giáo
hội Thiên Chúa giáo Việt Nam thuở bấy giờ, một “giáo hội” mà hàng giáo phẩm
(chức sắc) cao cấp đều do cố đạo Pháp, Tây Ban Nha nắm giữ! Do mối liên kết
đó, Phan Bội Châu đổ tội để đả kích trực tiếp Nguyễn Văn Tường, Từ Dũ, đả
kích ám chỉ Nguyễn Phúc Thuyết (cụ Phan không gọi là Tôn Thất Thuyết hay Lê
Thuyết). Và khi Phan Bội Châu đă sang Trung Hoa, cụ không một lần ghé thăm
Tôn Thất Thuyết, mặc dù hoạt động nhiều năm gần nơi Tôn Thất Thuyết đang
sống lưu vong [4].
4. Mọi người đều biết rơ khi Pháp chuẩn
bị xâm lược Bắc Ḱ lần thứ hai, Nguyễn Văn Tường đă đại diện triều đ́nh tiếp
xúc với Đường Đ́nh Canh (Chiêu thương cục) để liên minh với nhà Thanh,
vào những tháng cuối năm 1881, đầu năm 1882. Nhưng sau đó, nhà Thanh Trung
Hoa đă mưu toan và bộc lộ dă tâm cùng với Pháp xâu xé, chia đôi Bắc Ḱ, nên
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết buộc ḷng phải thực hiện ngoại giao đối
trọng, trung lập giữa hai nước xâm lược ấy. Đó là thế trận “toạ sơn quan
song hổ đấu” [5]. Và cuộc chiến tranh Pháp – Hoa ngă ngũ với sự thất bại về
phía Trung Hoa.
Việc thực hiện ngoại giao đối trọng, trung
lập giữa hai nước xâm lược Pháp – Hoa, với thế trận “toạ sơn quan song hổ
đấu”, không những khiến Pháp thù ghét, c̣n khiến những kẻ Đại Hán bành
trướng chủ nghĩa như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu không thể không căm hận.
Thật ra, Pháp thù ghét là chuyện đă đành, c̣n chính những kẻ Đại Hán cam tâm
xâu xé một nước láng giềng trước nạn thực dân da trắng đúng ra phải tự vấn
lương tâm.
Phan Bội Châu c̣n có bút hiệu là Phan Thị
Hán, nên không thể không đồng t́nh với Lương Khải Siêu để “chụp mũ” Nguyễn
Văn Tường!
5. Phan Bội Châu bị chi phối bởi tư
tưởng Đại Hán chủ nghĩa, bảo hoàng, nỗi hận chính biến Mậu tuất (1898) của
Lương Khải Siêu (học tṛ của
Khang Hữu Vi) [6]. Lương Khải Siêu đă trút nỗi hận của ḿnh, từ thái hậu Từ
Hi và Viên Thế Khải sang hai h́nh tượng văn sử bất phân đă bị bóp méo theo ư
đồ chủ quan là thái hậu Từ Dũ và Nguyễn Văn Tường, nhằm mục đích ám chỉ, để
vận động cho cách mạng Trung Hoa ngay trong nước Trung Hoa. Lương Khải Siêu
đă viết, đăng báo và in Việt Nam vong quốc sử để phát hành chủ yếu ở Trung
Hoa, một phần ở Nhật Bản; số lượng bản sách đưa về Việt Nam chỉ 50 cuốn.
Ư tưởng miệt thị người Giao Chỉ, đề cao
người Việt bị lai Hán một cách vong bản, thậm chí gọi hẳn người Kinh (Việt)
là người Hán, chẳng lẽ là tư tưởng của Phan Bội Châu [7]? (4).
6. Phan Bội Châu hoạt động cứu nước theo
phương châm của nhà chính trị bá đạo Machiavel:
“cứu cánh (mục đích cuối cùng) biện minh cho phương tiện (thủ đoạn, vũ khí
vật chất, tinh thần, bất kể xấu, tốt, thiện, ác, vinh, nhục)” [8].
Trong sáu nguyên nhân đó, chúng tôi cho
rằng hai nguyên nhân 2, 3 và 4 là quan trọng, nguyên nhân 5 (bị chi phối bởi
Lương Khải Siêu) là quyết định. Đúng hơn, chính Lương Khải Siêu đă viết phần
lớn Việt Nam vong quốc sử (VNVQS.) với sự đồng t́nh của Phan Bội Châu như
các học giả Trung Hoa đă bao năm khẳng định.
Từ chủ trương chính trị bảo hoàng, phương
châm hoạt động chính trị machiaveliste và kiến thức lịch sử vừa bị sai lệch
vừa “thực dụng” như thế, từ việc chịu tác động của các mối liên kết như thế,
không lạ ǵ khi cụ Phan (và Lương Khải Siêu) viết về Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết, Từ Dũ… như vậy, trong Việt Nam vong quốc sử (VNVQS., xuất bản
năm 1905).
III.
Tuy nhiên, cần thấy rơ là ở Việt Nam quốc
sử khảo (VNQSK., xuất bản sau đó bốn năm, vào năm 1909), Phan Bội Châu quy
tội làm mất nước là chỉ do Từ Dũ mà thôi [9]. Phải chăng Phan Bội Châu đă
mặc nhiên phủ nhận những ḍng chữ cụ viết về Nguyễn Văn Tường ở Việt Nam
vong quốc sử, do sự phản hồi của công luận?
Phan Bội Châu không viết cụ thể, nhưng
chúng ta vẫn thấy được đôi điều qua thái độ người đọc Việt Nam vong quốc sử
trước khuynh hướng chính trị bảo hoàng, Đại Hán chủ nghĩa vốn là căn nguyên
trực tiếp của vấn đề (thể hiện ở chương I của VNVQS.; và cũng ở VNVQS., sđd.,
tr. 61 – 62). Lưu Vĩnh Phúc là một người Hán, thuộc loại giặc Cờ, sau làm
quan cho cả Thanh lẫn Việt, Nguyễn Thiện Thuật là quan chức Việt chống Pháp
nhưng tiếc thay, lại nhận ấn đề đốc của nhà Thanh (5), chúng tôi không nói
đến. C̣n Phan Châu Trinh, cụ im lặng, không tán thành tôn quân kiểu đó?
Riêng Tôn Trung Sơn (Tôn Dật Tiên), tuy cũng là người Hán nhưng vốn đề xướng
chủ nghĩa tam dân, là tỏ thái độ rơ rệt:
“Tôn
[Dật Tiên – TXA. chua thêm (ct.)] v́ đă đọc qua bản Việt
Nam vong quốc sử, ông biết trong óc tôi
chưa thoát khỏi quân chủ tư tưởng, nên ông hết sức bài bác đảng quân chủ lập
hiến là hư ngụy…” [10].
Đó là đọc chủ trương chính trị qua sử kí,
một khi sử kí không c̣n là sử kí, mà đă bị biến thành phương tiện tuyên
truyền!
Về sau, khi tâm sự với GS. Nguyễn Thiệu Lâu,
vào khoảng thời gian gần cuối đời (trước 1940), Phan Bội Châu đă phủ nhận
Việt Nam vong quốc sử (chắc chắn là chỉ các trang về Nguyễn Văn Tường, Từ Dũ,
Tôn Thất Thuyết) và phủ nhận cả Ngục trung thư (bởi một phần nào đó), tuy
vẫn xem hai cuốn sách ấy dẫu sao cũng có ích, với lời lẽ tỏ vẻ chua xót, tự
ái:
“Tôi trót
viết hai bộ sách đó
v́ nó ghi
tên tôi để lại…” [11].
Đó là lúc cụ Phan giảng về Kinh Xuân thu,
một mẫu mực về tín sử của nhà nho, cho GS. Nguyễn Thiệu Lâu, bất chợt Nguyễn
Thiệu Lâu hỏi cụ Phan về Việt Nam vong quốc sử và Ngục trung thư! Trong t́nh
huống ấy, cụ Phan không thể không tự ái, lại không thể không vớt vát tự ái
bằng đôi câu trịch thượng!
Hồ Song cũng đă phê phán Việt Nam vong quốc
sử khi giới thiệu Việt Nam quốc sử khảo:
“Việt Nam quốc sử khảo
[…] không phải là một tác phẩm trong
đó những xúc động mănh liệt, những thuyết lí về nhân sinh nhiều khi lấn át
phần sử liệu như trong Việt Nam vong quốc sử.
[…] Việt Nam quốc sử khảo
mang tính sử học rơ rệt [với
những sai sót nhất định – TXA. ct.]” [12].
GS. Lương Duy Thứ cho Việt Nam vong quốc sử
là một tác phẩm nặng phần hư cấu (fiction), sau khi chỉ rơ vai tṛ của Lương
Khải Siêu trong việc viết và in tác phẩm ấy:
“Giá trị về mặt tư liệu lịch sử bị hạn
chế. Giá trị thực của Việt Nam vong quốc sử là giá trị văn chương”
[13].
C̣n ư kiến của GS. Trần Văn Giàu, chúng tôi
đă có lần viết: Dẫu sao GS. cũng đă gián tiếp phủ định, đả phá các ḍng chữ
trong vỏn vẹn hơn một trang sách và trong một đoạn khác, vốn viết sai lầm,
xuyên tạc về Nguyễn Văn Tường, (và Tôn Thất Thuyết trong việc phế lập), ở
Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu, Lương Khải Siêu [14]. Tuy nhiên, do
GS. Trần Văn Giàu nhận thức không đúng về tinh thần chủ chiến của một nhà
ngoại giao khéo léo nhưng vẫn cứng rắn là Nguyễn Văn Tường và tinh thần chủ
chiến ở một nhà quân sự cứng rắn nhưng thiếu mềm dẻo là Tôn Thất Thuyết
trong sự so sánh, nên đi đến đánh giá không chính xác. Hơn nữa, GS. Trần Văn
Giàu cố ư không biết đến sự đánh tráo nhân vật trong vè Thất thủ Thuận An,
mặc dù trong Đại Nam liệt truyện [15] đă ghi rơ: Nguyễn Trọng Hợp là người
xé chăn vải trắng, viết lên đó chữ “Âu” để đầu hàng Pháp, chứ không phải là
Nguyễn Văn Tường [16]! Nghiêm trọng nhất là GS. lại cố ư không biết tới hai
bức mật dụ của Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) từ Tân Sở gửi về cho Nguyễn Văn
Tường và hoàng tộc sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi (05.7.1885) [17]!… Sao GS. lại
phớt lờ đi tinh thần đấu tranh khẳng khái của Nguyễn Văn Tường trước kẻ thù
đă thắng trận, với tên tay sai cơ hội Nguyễn Hữu Độ mà cả Hạnh Thục ca (HTC.)
[18] (6) cũng ghi nhận? Chẳng lẽ GS. cố t́nh quên cả bản án cáo thị của De
Courcy, De Champeaux và cả bản án chung thẩm của ngụy triều Đồng Khánh về
Nguyễn Văn Tường (và Tôn Thất Thuyết, Trương Văn Đễ, Trần Xuân Soạn) [19]?
Những cứ liệu này và nhiều cứ liệu khác về Nguyễn Văn Tường trong hai tháng
“chia tách triều chính”, chúng tôi đă trích dẫn, ghi rơ xuất xứ, và đă phân
tích, b́nh luận ở bài nghiên cứu Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau
cuộc Kinh Đô Quật Khởi (05.7.1885) của chúng tôi. Ở đây, tránh sự sa đà, xin
chỉ nhắc lại như thế.
Cái chính là GS. Trần Văn Giàu đă có tham
khảo Việt Nam vong quốc sử [20] nhưng hầu như phản bác lại Phan Bội Châu (thực
ra do Lương Khải Siêu viết) ở những trang về Nguyễn Văn Tường… Dẫu vậy, GS.
vẫn c̣n nặng lời!
Với bài nghiên cứu nhỏ, viết theo dạng phân
tích từng chủ điểm nói trên, chúng tôi đă gián tiếp tranh luận, đính chính
lại những ǵ GS. Trần Văn Giàu cố t́nh quên, cố ư sai lệch, hoặc thiếu sót,
với tinh thần dân chủ trong học thuật.
Vấn đề ở đây vẫn đang là một vài trang đảo
ngược sự thật lịch sử trong Việt Nam vong quốc sử mà GS. Trần Văn Giàu đă
chứng minh là sai lạc, xuyên tạc, mặc dù GS. không chỉ ra trực tiếp đích
danh Phan Bội Châu (và Lương Khải Siêu!).
Hơn nữa, trong giới sử học, giới nhà văn
Nam, Bắc, 1954 – 1975, và cả trước đó cũng như sau này, mặc dù có nhiều lời
khen chê, thậm chí dựng đứng chuyện bịa để căn cứ vào đó mà chỉ trích thậm
tệ, nhưng chưa có ai viết về Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) một cách xuyên
tạc bằng lối đảo ngược sự thật lịch sử như Phan Bội Châu (thực ra là do
Lương Khải Siêu!). Nói gọn hơn, chỉ mỗi tác giả Việt Nam vong quốc sử viết
ngược như vậy!
IV.
Chúng tôi tŕnh bày nhận thức như trên
không phải nhằm phủ định toàn bộ tác phẩm VNVQS., và để phủ định nhà yêu
nước lớn, tác gia lớn Phan Bội Châu, mà chỉ cốt chỉ ra những hạn chế, sai
sót nghiêm trọng và tai hại của cụ Phan. Vả lại, cụ Huỳnh Thúc Kháng đă nhận
định về Phan Bội Châu thật thấm thía: ““Vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn”
chính là câu tự phê b́nh đời
thất bại của Cụ [Phan]”
[21],
chúng ta c̣n nói thêm ǵ nữa (7)! Và chúng ta c̣n biết nói ǵ nữa, khi chính
cụ Phan đă viết:
“Lời tự phán: Lịch sử của tôi, hoàn
toàn là lịch sử thất bại.
Nhưng sổ dĩ [kiểm điểm lại? –
TXA. ct.] được cái thất bại đó, những chỗ t́ vết rất rơ ràng, mà những
chỗ có thể tự tín được, cũng không phải là không có. […] Một đời mưu
việc ǵ, chỉ cốt hỏi ở nơi mục đích, cầu thu hiệu ở năm phút cuối cùng; đến
thủ đoạn (8), phương châm tuy có lúc thay đổi cũng không kể. […] …
Điều trên thường tự nghĩ là một chút lành có thể kể ra được. Biết ta chăng?
Tội ta chăng? Đều thừa nhận cả” [22].
Nếu nói thêm, có lẽ phải khẳng định, đừng
bao giờ quá mê tín vào một ai, cho dù đó là vĩ nhân, v́ vĩ nhân vẫn là một
con người với những hạn chế nhất định! Và phải tỉnh táo, sáng suốt, khoa học,
b́nh tâm nhận chân rằng: Không một danh nhân nào, vĩ nhân nào, kể cả giáo
chủ sáng lập tôn giáo nào, thật sự toàn bích. Nguyễn Thượng Hiền, người tuổi
trẻ đă chứng kiến, đă khóc thương thái phó Nguyễn Văn Tường (“không quá Tây
môn bi thái phó”), và nhiều chí sĩ khác, về sau, khi gia nhập Duy tân hội,
Quang phục hội, đâu phải mọi điều đều tán thành theo cụ Phan! Họ chấp nhận
“đại đồng, tiểu dị” để cùng dấn bước trên con đường cứu nước, cứu dân
(9).
Chúng ta cũng thường thấy, mặc dù cùng mục
đích giải phóng dân tộc, chống ngoại xâm, nhưng khác thế hệ, khác lập trường,
khác chính kiến, những người yêu nước v́ lí do tuyên truyền, họ có thể “chụp
mũ” lẫn nhau! “Vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn (:cứu cánh biện minh cho
phương tiện)” là thế! Nói như vậy, chúng tôi không có ư định đánh đồng bản
chất, động cơ của mọi loại chính kiến, kể cả loại chính kiến của bọn tay sai,
thực dân, phát xít, đế quốc, tả đạo.
Rốt lại, chúng tôi thấy cần phải có một
tinh thần khoa học thực sự nghiêm minh, với quyết nghị cần công bố rộng khắp
của hội nghị khoa học lịch sử để xử lí một vài trang đảo ngược sự thật lịch
sử về Nguyễn Văn Tường… trong Việt Nam vong quốc sử. Hơn nữa, vẫn cần phải
thanh lọc nốt những trang sách hiện đang tồn tại vốn bị nhiễm độc bởi sự
tuyên truyền bôi nhọ của thực dân Pháp, tả đạo, bọn bành trướng Đại Hán và
ngụy triều Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại… Không có ǵ bi kịch hơn, đau xót
hơn khi ngẫm lại, nhận ra người yêu nước bị mắc mưu, nhiễm độc tuyên truyền
của các loại giặc đó, có thể kể thêm loại chủ “ḥa”, bảo hoàng ngu trung, để
hạ bệ, bôi nhọ, tiếp tay giặc “đập tan tành” người yêu nước! (“Đập tan tành”,
cách dùng từ của tên khâm sứ thực dân De Champeaux! (10)).
Là lớp cháu chắt của thế hệ cụ Phan, chúng
tôi dám đâu vô lễ với tiền bối. Nhưng trong văn nghệ, học thuật, không có
tinh thần phê phán và tự phê, sẽ không có sự tiến bộ, sẽ rơi vào tŕ trệ,
tụt hậu, ngay cả trong sáng tác, nghiên cứu. Nội dung tự phê (Tự phán) cũng
cần được người đương thời và hậu thế phê b́nh, góp ư! Ở khía cạnh cụ thể
khác, né tránh vấn đề, khóa chặn tinh thần phê và tự phê, là nhẫn tâm trước
nỗi đau ḷng sử học, trước vấn nạn đáng phiền trách. Vấn nạn sử học ấy,
tưởng vô h́nh trung đă giải quyết về cơ bản tuy c̣n nhiều hạn chế tai hại,
một cách rộng răi bằng quốc ngữ, từ 1921, lúc Việt Nam sử lược của nhà giáo,
học giả Trần Trọng Kim xuất bản! Đến năm 1982, bảy năm sau khi Đất nước
thống nhất, Việt Nam vong quốc sử lại bị tái bản trong t́nh trạng không được
xử lí một cách khoa học và thích đáng. Thật đáng kinh ngạc, vào năm 2001,
Trung tâm Ngôn ngữ Đông – Tây vẫn c̣n liên kết để tái bản Việt Nam vong quốc
sử với một vài trang đảo ngược sự thật lịch sử như vậy cùng vài ḍng phê
phán mơ hồ, né tránh như bản 1982!
V.
Để kết thúc bài viết, xin nhấn mạnh lại hai
điểm:
Về tính khoa học với các sử liệu gốc (CHÂU
BẢN…) được trích dẫn đầy đủ của Đại Nam thực lục, chính biên, các kỉ IV
(1847 – 1883), V (1883 – 1885), VI (1885 – 1888), chúng tôi đă hơn một lần
khẳng định rơ. Chúng tôi xem đó là tư liệu chuẩn cứ để nghiên cứu giai đoạn
lịch sử này và cụ thể là về Nguyễn Văn Tường. Những soạn phẩm biên khảo, các
bài nghiên cứu của chúng tôi đă thể hiện đậm nét điều đó, trong khi chờ đợi
toàn bộ phần châu bản triều Nguyễn thời chống Pháp và Cần vương (1858 –
1898), kho lưu trữ đặt tại TP.HCM., được dịch và công bố, trong khi chờ đợi
Pháp và Vatican dịch và công bố trọn vẹn hồ sơ thời thực dân của họ cũng
thuộc giai đoạn này. Mong các sử gia Pháp, sử gia Vatican hăy có thiện chí
sử học và ư thức sử học khách quan cao hơn nữa, với sự chứng kiến của các sử
gia trên thế giới! (11).
Nếu đặt một sự so sánh giữa Đại Nam thực
lục IV, V, VI với Việt Nam vong quốc sử, sẽ thấy ra sự chênh lệch quá đáng
về tư liệu trích dẫn. Tư liệu trích dẫn trong Việt Nam vong quốc sử là ở mức
số không! Sử học là ǵ? Đơn giản nhất cũng là “nói có sách, mách có chứng”.
Và tư liệu gốc (12) – ấy là bằng chứng pháp lí, phải được giám định thực
nghiệm (niên đại giấy mực, bút tích…) – là yếu tố tiên quyết, c̣n mọi quan
điểm b́nh giá (tùy theo ưu thế lẫn hạn chế của từng thời đại) vẫn là thứ yếu.
Nói như thế về quan điểm b́nh giá, chúng tôi đă xác định: Đạo lí và công lí
dân tộc (chủ nghĩa yêu nước, nhân nghĩa Việt Nam truyền thống – hiện đại) là
vĩnh hằng. Phan Bội Châu (thực ra là do Lương Khải Siêu) viết sử nhưng không
có một cứ liệu sử học nào cả, thậm chí không tham khảo một tài liệu nào cả,
mà rất cảm tính, nhiệt t́nh đến mức chỉ thấy cái nhiệt t́nh cứu nước ấy và
thủ đoạn chính trị, chứ không thấy có thiện tâm và trí tuệ khoa học (xin đặt
trong giới hạn vấn đề và chỉ một vài trang VNVQS.). Chúng tôi đă có một bài
viết ngắn về khía cạnh này.
Về thái độ đối với sử học, chúng tôi đă so
sánh giữa vị vua yêu nước, bị giặc Pháp lưu đày tít tận ḥn đảo Réunion giữa
biển châu Phi là Thành Thái với nhà yêu nước, ông già Bến Ngự an trí tại
kinh đô Huế là Phan Bội Châu, và lấy làm tiếc cho cụ Phan về một vài trang
trong Việt Nam vong quốc sử !
TRẦN XUÂN AN
1. CHÚ THÍCH bài VỀ MỘT VÀI
TRANG ĐẢO NGƯỢC SỰ THẬT LỊCH SỬ V̀ MỤC ĐÍCH TUYÊN TRUYỀN TRONG VIỆT NAM VONG
QUỐC SỬ
(1). “Hoà” ước Nhâm tuất
1862 do Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp kí với Bonard (Pháp) và Guittierez (Tây
Ban Nha).
(2). Phan Bội Châu không
biết Lê Trung Đ́nh khi khởi nghĩa, ông cử nhân trẻ tuổi này lại quờø quạng
tôn phù Tuy Lí vương, một nhà thơ hoàng tộc đă câu kết với thực dân Pháp vào
thời Hiệp Ḥa nên bị đày vào Quảng Ngăi, mặc dù Tuy Lí vương từ chối. Tuy
nhiên cụ Phan vẫn xác định đúng: chính tên phản bội Nguyễn Thân đă giết Lê
Trung Đ́nh theo lệnh Pháp.
(3). Nếu chúng tôi nhớ
không nhầm, th́ trong một cuốn sách, Bác Hồ đă phê phán rất đích đáng Phan
Bội Châu: “Đuổi cọp [Pháp] cửa trước, rước hổ [Nhật, Tàu] cửa sau”.
(4). Hồi kí này được PBC.
viết năm 1929, xuất bản lần đầu vào năm 1956 (sau khi cụ Phan chết [1940]
đến 16 năm).
(5). Dư đảng Thái B́nh thiên quốc đă biến tướng thành phỉ; Lưu Vĩnh Phúc đă
mưu toan xâm lược Cao Bằng. Đối với Đất nước ta, Lưu Vĩnh Phúc là kẻ đă từng
gây tội ác nhưng cũng là người có công lao (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 191,
220, 379; tập 32, sđd., tr. 42; tập 33, sđd., tr. 26; tập 36, sđd., tr.
100…). Trong điều kiện quan quân Triều đ́nh Huế bị bó buộc bởi các “ḥa” ước,
với sự cho phép của Tự Đức, Lưu Vĩnh Phúc được quan tướng nhà Nguyễn sử dụng
để đánh Pháp.
Nguyễn Thiện Thuật nhận
ấn đề đốc của nhà Thanh “nên không mấy được nhân dân hết ḷng ủng hộ” (Chống
xâm lăng, sđd., tr. 449; ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 253).
Chúng tôi hiểu v́ sao
GS. Trần Văn Giàu đề cao Lưu Vĩnh Phúc đến thế… “Sử học tuyên huấn” rất cần
phải xem xét lại. Xin để sử học phải là sử học đúng nghĩa.
(6). Nguyễn Nhược Thị
Bích, Hạnh Thục ca, Trần Trọng Kim [*] sưu tầm, Nxb. Tân Việt, 1950 [?].
[*] Trong lời tựa cho bộ
sách Chống xâm lăng của ḿnh, GS. Trần Văn Giàu cho biết: GS. rất chú ư tham
khảo các tư liệu của những học giả mác-xít và tiến bộ như Trần Huy Liệu,
Siếc-sơ-nô, Đào Duy Anh… nhưng GS. vẫn thừa nhận Trần Trọng Kim, cũng như
Phan Trần Chúc, đă t́m được những tư liệu lịch sử có giá trị xác thực nhất
định [phải hiểu là có vài mươi phần trăm sai lệch, nhất là những ḍng Trần
Trọng Kim, Phan Trần Chúc bôi nhọ nhân cách Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết] (sđd., tr. 12).
(7). “Vấn mục đích, bất
vấn thủ đoạn” (cứu cánh biện minh cho phương tiện – Machiavel)! Với quan
niệm đó, Phan Bội Châu (Phan Thị Hán, Phan Sào Nam) không phải là nhà khoa
học lịch sử, cũng không phải là nhà văn đúng nghĩa! Về vận động chính trị,
câu nhận định của cụ Huỳnh Thúc Kháng … (xin phép cụ Phan) là thật đích đáng!
Tuy nhiên chúng tôi vẫn nghĩ rằng số loại trang như trên trong tác phẩm cụ
Phan không nhiều.
(8). Thủ đoạn. Theo Hán
– Việt từ điển của Đào Duy Anh, do chính Phan Bội Châu đề từ vào ngày
01.03.1931 (Nxb. Trường Thi, 1957, tr. 440): “Cái ngón làm việc, như ta
thường nói mánh khoé”ù. Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Nxb.
KHXH. – Trung tâm Từ điển học, 1994, tr. 926): “Cách làm khôn khéo, thường
là xảo trá, chỉ cốt sao cho đạt được mục đích riêng của ḿnh”.
(9). Đông Kinh nghĩa
thục, một tổ chức của một số nhà yêu nước (cũng cùng lứa tuổi với cụ Phan
Bội Châu hoặc trẻ hơn), nhưng lại do chính tên thông ngôn, tay sai của Pháp
là Nguyễn Văn Vĩnh [1882 – 1936] (Đông Dương tạp chí) thảo điều lệ và đứng
tên trong đơn xin chính quyền thực dân Pháp để thành lập. Phan Khôi (tuần
báo Sông Hương, số 01, ngày 01.08.1936), và có lẽ cả Hoàng Đạo Thuư (Người
và cảnh Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1982), đều có ít nhiều nghi ngờ tṛ mật thám
nhử mồi giăng câu của Nguyễn Văn Vĩnh, trong việc thành lập Đông Kinh nghĩa
thục này. Khi Nguyễn Văn Vĩnh bị phá sản trong kinh doanh, phải đi t́m vàng
ở Lào, rồi chết ở đấy (1936), Phan Bội Châu lại viết câu đối phúng điếu!?!
Xin chép ra để khảo chứng tư liệu và tham khảo thêm về cụ Phan và về Nguyễn
Văn Vĩnh:
“Duyên tương tri nhớ
trước mười năm, xe tự do chung lái, sóng biển vui tai, mộng hồn há lẽ hững
hờ, quang cảnh c̣n in mây Thuận tấn [cửa Thuận ở Huế – TXA. ct.].
Tài bác học trỗi trong
hai nước, đàn ngôn luận phất cờ, làng văn mở mặt, công nghiệp tuy c̣n lở dở,
thanh âm từng giạt gió Ba Lê [Paris – ct.]”.
(Dẫn theo: Hoàng Tiến,
Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết thế kỉ 20, Nxb. Thanh Niên, 2003,
tr. 64, 68, 69…).
[Đây là một công tŕnh
nghiên cứu tuy thuộc cấp Nhà nước nhưng vẫn có sự lệch lạc quan điểm về chữ
quốc ngữ].
(10). Trích dẫn: “Hôm
qua tôi đă tiếp kiến quan Thương bạc [Nguyễn Văn Tường; nhân cuộc thăm viếng
ngoại giao vào dịp Tết Nguyên đán – TXA. ct.] ông đến báo cho tôi biết là
ông đă từ chức thượng thư Ngoại giao… Tôi không ngờ việc vận động nhỏ của
tôi [với Trần Tiễn Thành – TXA. ct., theo Y. Tsuboi] chống thượng thư đó lại
có kết qủa nhanh chóng đến thế… V́ thấy rằng không thể mở rộng các mối quan
hệ chính trị nếu cứ phải giao thiệp với quan Thương bạc măi, tôi đă nghĩ
phải buộc ông ta từ chức và thay ông ta bằng một người ít chống đối ảnh
hưởng của ta hơn… Quan Thương bạc vẫn c̣n là thượng thư Bộ Hộ và thứ trưởng
Viện Cơ mật. Với tư cách sau, ông vẫn c̣n có thể chống đối chúng ta. Muốn
thoát nạn, ta c̣n phải đập ông ta tan tành cả ở phía ấy”.
(Lưu trữ AOM. Aix.
Amireaux 12923; Champeaux, đại biện tại Huế gởi thống đốc Nam ḱ; Huế, ngày
6.2.1881. Dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 270).
Trích dẫn đối chiếu:
“Lại c̣n nói rằng, người
nước Pháp rất ghét viên Bạc thần trước là Nguyễn Văn Tường, tất rồi sẽ dùng
thế lực cưỡng bách truất thoái để đẩy đi xa; vậy câu nói này là nói thế nào?
Ôi! Người làm tôi
ai cũng v́ chủ nấy: Nguyễn Văn Tường giúp v́ nước nhà, cũng tức như viên sứ
Pháp giúp v́ nước Pháp; cái đạo làm tôi tất phải như thế, có ǵ mà đáng ghét?
Trước kia viên ấy tuy sung chức ở Thương bạc, cùng với ngày nay tuy đă giải
nhiệm, song phàm việc ǵ đều có quan đại thần hiệp thương bàn rồi tâu lên
mới quyết định, viên ấy có thể nào độc đoán để ngăn trở việc? Vả giả sử có
thể làm độc đoán th́ hạng bề tôi như vậy c̣n nước nào mà chẳng thích dùng?
Tưởng nước Pháp cũng nên ban thưởng để khuyến khích cho những kẻ làm tôi
trong thiên hạ và để gương đời sau vậy. Như Hán Cao Tổ phong cho Quư Bố và
chém Định Công, Tống Thái Tổ phong tặng cho Hàn Thông và truất phế Ngạn
Thăng, như thế mới hợp cái đạo trị nước, chứ có khi nào lại xua đuổi bỏ đi!
Nếu [truất thoái, không trọng đăi – ct.] như thế th́ bao nhiêu kẻ làm tôi
tha thiết v́ vua ḿnh cũng đuổi bỏ cả hay sao? Và c̣n lấy ǵ mà tỏ sự khuyến
trừng? Vậy quyết nhiên không có lẽ ấy”.
(Dụ của Tự Đức, ngày
19.5 âl., TĐ. 34 [1881], trích từ: Thơ văn Tự Đức, tập II, Ngự chế văn tam
tập, bài “Đuổi viên hành nhân Nguyễn Hoằng” (linh mục), Nxb. Thuận Hóa,
1996, tr. 176 – 177).
[Đâu là công lí đối với
bọn thực dân xưa nay? TXA.].
(11). Trong lời giới
thiệu cuốn sách Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (của Yoshiharu
Tsuboi, do UB. KHXH. Thành ủy TP.HCM. xb., 1990), GS. Trần Văn Giàu viết: “…
cái kho châu bản đồ sộ và quư giá có lẽ c̣n quan trọng, căn bản hơn là tư
liệu của Bộ Hải quân và Bộ Thuộc địa Pháp nữa. […] Không khai thác châu bản
một cách triệt để mà chỉ bằng vào các hạng người Pháp phần lớn thuộc quân
xâm lược hay chuẩn bị xâm lược, th́ làm sao biết rơ, biết đúng một thời ḱ
lịch sử “mấu chốt” của nước nhà, làm sao đánh giá các nhân vật chính xác?” (sđd.,
tr. 12).
Hiện nay, toàn bộ Châu
bản triều Nguyễn chưa được công bố trọn vẹn. Cho đến thời điểm này, chỉ có
các tài liệu thống kê, tóm lược, trích dịch:
-
+++ Tổng mục lục châu bản triều Nguyễn, do Uỷ ban Dịch thuật sử liệu Viện
Đại học Huế (trước 1975) thống kê, phân loại, tài liệu đánh máy, hiện lưu
trữ tại Thư viện KHXH. TP.HCM..
-
+++ Mục lục châu bản triều Nguyễn, do Cục Lưu trữ Nhà nước, Viện Đại học Huế
xb. trước 1975; Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản (hai tập, triều Gia Long,
nửa đầu triều Minh Mạng), 1998;
-
+++ Châu bản triều Tự Đức (1847 – 1883), Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ
Quang Phát tuyển chọn và dịch, Ban Văn học thuộc Viện KHXH. TP.HCM. in ronéo,
1979. Tài liệu này vừa được Trung tâm Nghiên cứu Quốc học chỉnh lí (nhưng
lại chỉ “tuyển chọn và lược thuật”!), Nxb. Văn Học xuất bản trong tháng
5.2003. Rất tiếc, trong các năm có nhiều sự kiện rất quan trọng (chẳng hạn,
1881 – 1883, Pháp chuẩn bị rồi thực sự đánh chiếm Bắc Ḱ lần thứ hai, Nguyễn
Văn Tường đại diện cho triều đ́nh nước ta liên minh với nhà Thanh, Trung Hoa…),
lại để thiếu sót, không có một trang châu bản nào liên quan, đề cập đến. Nói
cụ thể hơn, năm 1881, chỉ có hai tiểu mục về tiễu phỉ và về việc gửi người
đi học cách sử dụng đại bác; hai năm 1882, 1883, chỉ có dăm tiểu mục về sách
sử, chứ không có lấy một sự kiện nào về chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh
tế, xă hội cả (chưa kể sự nhầm lẫn, ghép vào châu bản thời Thành Thái; hẳn
không phải vô ư?)! Theo lời giới thiệu ở những trang đầu sách, châu bản
triều Tự Đức hiện c̣n đến 352 (ba trăm năm mươi hai) tập, mỗi tập gồm khoảng
600 (sáu trăm) trang chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp viết tay, và 600 tr. của mỗi
tập có độ dày từ 06 (sáu) đến 10 (mười) xăng ti mét. Thế nhưng, cuốn “Châu
bản triều Tự Đức (1847 – 1883), tuyển chọn và lược thuật” nói trên, chỉ có
288 (hai trăm tám mươi tám) trang in chữ quốc ngữ, cỡ 16 x 24 cm, kể cả lời
nói đầu, lời giới thiệu và phần sách dẫn! Thật quá ít ỏi, sơ lược (cố nhiên
là không được chú giải, phân tích!). Đáng tiếc là việc tuyển chọn cũng không
tiêu biểu chút nào! Đâu rồi số châu bản 1882 – 1883?
Ngoài ra, c̣n châu bản
các triều liên quan đến Nguyễn Văn Tường và ĐNTL.CB. IV, V, VI như triều
Kiến Phúc (1884): 01 (một) tập; triều Đồng Khánh (9.1885 – 1888): 04 (bốn
tập). Đó là chưa nói đến châu bản triều Thành Thái (1889 – 1907): 74 (bảy
mươi bốn) tập; triều Duy Tân (1907 – 1916): 35 (ba mươi lăm tập)… Vẫn chưa
được công bố!
Tuy nhiên, căn cứ vào
phương pháp suy luận khoa học, chúng tôi đoan chắc rằng các châu bản được
trích dẫn trong ĐNTL.CB. IV, V, VI vẫn là các văn bản tương đối có giá trị
tiêu biểu (theo nguyên tắc sử dụng dẫn chứng). Từ đó, suy ra, kho châu bản
không thể mâu thuẫn với ĐNTL.CB. (1847 – 1888), mà chỉ làm rơ hơn, mạnh mẽ
hơn những ǵ c̣n quá rụt rè ở các phần sử thuộc các kỉ kể trên: tinh thần
chống Pháp, chống tả đạo của nhân dân, sĩ phu và vua quan triều Nguyễn. Sự
rụt rè ấy là do áp lực của thực dân Pháp, của tả đạo Thiên Chúa giáo!
Dĩ nhiên, tham khảo được
châu bản vẫn là tốt nhất. Nhưng, rất đáng tiếc, cuốn “Châu bản triều Tự Đức”
nói trên lại quá thiếu sót và tuyển chọn không tiêu biểu. Hoặc giả, châu bản
đă bị thất tán những phần quan trọng, tiêu biểu đó?!? Chúng tôi không tin
như vậy, và đă qua điện thoại, trực tiếp hỏi GS.TS. Mai Quốc Liên, giám đốc
Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, người đă viết lời nói đầu cho cuốn sách. Ông
trả lời rằng: “Châu bản về các năm 1881 – 1883 vẫn c̣n, tuy không đầy đủ. Sở
dĩ không đưa vào sách số châu bản ấy là do người tuyển chọn. Phải nhờ GS.
Trần Nghĩa trả lời cụ thể về vấn đề này”. Dẫu sao, trước t́nh trạng cuốn
“Châu bản triều Tự Đức” như thế, trong khi chờ “Châu bản…” được bổ túc,
chúng tôi đành vui ḷng tự đối chiếu với cuốn sách của chúng tôi (TXA.),
cũng cùng một cách thức biên soạn tương tự, nhưng lại lấy ĐNTL.CB. IV, V, VI
làm chuẩn cứ, mặc dù đề tài chỉ nhắm đến một nhân vật cùng các sự kiện tiêu
biểu cho thời đại ấy: “Tiểu sử biên niên Ḱ Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn
Tường, ‘kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp’”. Rất tiếc là cuốn
“Tiểu sử…” này chưa được xuất bản! Tuy vậy, với ĐNTL.CB. IV, V, VI, sẽ có sự
bổ cứu, và nhất là để khỏi khiếm khuyết khi nhận định về Nguyễn Văn Tường
(1824 – 1886) cùng các triều vua liên quan. Về giá trị ĐNTL.CB. IV, V, VI và
tính thống nhất tương ứng theo từng giai đoạn phân kỉ của ba kỉ sử ấy với
châu bản, chúng tôi đă tŕnh bày bên trên và ở bài viết sau trong cuốn sách
này.
(12). Xin xác định chuẩn
xác thuật ngữ tư liệu gốc hay cụ thể hơn, ấy là sử liệu gốc. Không thể cho
rằng Việt Nam vong quốc sử là sử liệu gốc về Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết, Từ Dũ, Phan Thanh Giản…, mà tác phẩm đó chỉ là sử liệu gốc về chính
Phan Bội Châu (và Lương Khải Siêu). Vả lại, Phan Bội Châu cũng không phải là
người chứng cùng thời, cùng việc (đồng thời, đồng sự) và tại chỗ về những
nhân vật lịch sử kể trên. Đó chỉ là sơ lược trên hai nét nghĩa trong nhiều
nét nghĩa khác của thuật ngữ tư liệu gốc.
2. CƯỚC CHÚ bài VỀ MỘT VÀI
TRANG ĐẢO NGƯỢC SỰ THẬT LỊCH SỬ V̀ MỤC ĐÍCH TUYÊN TRUYỀN TRONG VIỆT NAM VONG
QUỐC SỬ
[1] Phan Bội Châu, Những tác phẩm của Phan Bội Châu (NTPCPBC.),
tập I, gồm Việt Nam vong quốc sử (VNVQS.) và Việt Nam quốc sử khảo (VNQSK.),
Chương Thâu dịch, Hồ Song giới thiệu, Văn Tạo chủ biên… , Nxb. KHXH., 1982,
tr. 73.
[2] Phan Bội Châu, Tự phán, Huỳnh Thúc Kháng đề tựa (1946),
Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2000, tr. 31, 35 – 37, 77, 104…
[3] Tự phán, sđd., tr. 42.
[4] Tự phán, sđd., tr. 55… Đối chiếu và xem thêm: Nguyễn Ngọc
Hà, bài “Linh mục Đậu Quang Lĩnh và những hoạt động kính Chúa yêu nước trong
Duy tân hội”, báo Người Công Giáo Việt Nam, số 9, ra ngày 01. 5. 1995; trích
in lại trong cuốn Côn Đảo, kư sự và tư liệu, Ban Liên lạc cựu tù chính trị,
Sở Văn hoá – thông tin và Nxb. Trẻ TP. HCM. liên kết biên soạn, xuất bản.
Trong bài báo này, căn cứ trên những số liệu rút ra từ Tạp chí Nghiên cứu
lịch sử, số tháng 4. 1994, Nguyễn Ngọc Hà cho biết, tổ chức Duy tân Giáo đồ
hội của Thiên Chúa giáo Việt Nam thành lập từ năm 1903, và Duy tân Giáo đồ
hội Nghệ – Tĩnh bắt đầu hoạt động vào tháng 4. 1904; Phan Bội Châu đă liên
minh mật thiết với tổ chức này, từ thời điểm 1903. Chúng ta biết rằng Thiên
Chúa giáo vốn rất căm thù Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết.
[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên,
tập 35, Nxb. KHXH., 1975, tr. 61 – 62, 90 – 91; tập 36, Nxb. KHXH., 1976,
tr.127 và tr.174. Xem thêm chú thích (7) của bài “Nguyễn Văn Tường với nhiệm
vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi, 05.7.1885”.
[6] Tự phán, sđd., tr. 56 – 59…
[7] NTPCPBC., Việt Nam vong quốc sử, sđd., tr. 78; NTPCPBC.,
Việt Nam quốc sử khảo, sđd., tr. 182 – 184.
[8] Tự phán, sđd., tr. 12, 17…
[9] NTPCPBC., VNQSK., sđd., tr. 201; xem thêm tr. 148 – 149,
tr. 305 – 306. Bổ khuyết tư liệu trích dẫn cho bài viết
“Về một vài trang đảo ngược sự thật lịch sử
v́ mục đích tuyên truyền trong
Việt Nam vong quốc sử”,
cước
chú số [9]:
“VIỆT NAM QUỐC SỬ KHẢO” (xuất bản năm 1909) là cuốn sách Phan Bội Châu viết
sau cuốn “Việt Nam vong quốc sử” (cuốn sách mà nhiều học giả ngờ rằng Lương
Khải Siêu viết [1905]). Dẫu sao, rơ ràng sau bốn năm, trước sự phản hồi của
công luận thuở bấy giờ, nhà yêu nước Phan Bội Châu đă phải viết khác trước (khác
với sự nhận thức hoặc sự bóp méo lịch sử theo phương châm chính trị bá đạo
machiavelisme – “cứu cánh biện minh cho phương tiện” hay “vấn mục đích, bất
vấn thủ đoạn” – khi viết “Việt Nam vong quốc sử”). Ở “Việt Nam quốc sử khảo”,
Phan Bội Châu quy tất cả lỗi mất nước là do một người “đầu sỏ”: thái hoàng
thái hậu Từ Dũ!
Nguyên văn trích đoạn như sau:
“… Sở dĩ gọi là nước v́ có chủ quyền,
có nhân dân, có đất đai. Nếu ba thứ ấy c̣n th́ nước c̣n là nước, ba thứ ấy
mất th́ không phải là nước nữa. Lấy một trong ba thứ ấy đem cho người ngoài
th́ gọi là giặc của nước; lấy cả ba thứ ấy đem tất cho người ngoài th́ là
đầu sỏ của giặc nước.
[…]
Nước
ta, […] ta kể được ba người giặc của nước:
Hồ Quư Ly cướp ngôi nhà Trần và để cầu nhà Minh sắc phong cho, y đă cắt 59 thôn của châu Lộc B́nh cho lệ thuộc vào
phủ Tư Minh của nhà Minh.
Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, sợ nhà Minh hỏi tội, đă lấy hai châu Thạch Tích, Niêm Lăng và bốn động Cổ Sâm, Tư Lẫm,
Kim Lặc, Liễu Cát hiến cho nhà Minh. Bản án kết tội bọn ấy nên ghi là: “Lấy
đất đai của nước, nhân dân của nước, tặng người ngoài, tội đáng chém!” [*]. Chúng nó lấy lời ǵ để biện bạch được?
C̣n một người nữa th́ là một mẹ một con thuộc bản triều [**]. V́ ham sống yên
phận đă đem một lúc cả ba thứ nói trên dâng cho lũ giặc. Thật là một tên
giặc đầu sỏ lớn của nước ta”.
(Phan
Bội Châu, Những tác phẩm Phan Bội Châu, tập I [gồm Việt Nam vong quốc sử &
Việt Nam quốc sử khảo], Văn Tạo chủ biên và các dịch giả, Nxb. KHXH., 1982,
tr. 200 – 201; xem thêm tr. 148 – 149, tr. 305 – 306.).
Lẽ ra,
tôi đă trích đoạn trên để đưa vào bài viết đă nêu, trong cuốn “Nguyễn Văn
Tường, ‘những người trung nghĩa từ xưa tưởng không hơn được’” này, nhưng
thấy chỉ cần dẫn chứng gián tiếp là đă đầy đủ; vả lại, bài viết là một bài
báo, cần phải ngắn gọn, nên không thể trích dẫn nhiều.
Nhân
đây, cũng xin khẳng định lại một lần nữa:
Thật ra, Phan Bội Châu quy tất cả lỗi làm mất nước cho Từ Dũ cũng không thể
hoàn toàn đúng với sự thật lịch sử. Chẳng qua Phan Bội Châu vừa tránh sự
phản hồi phê phán của công luận nhưng đồng thời vẫn muốn chạy tội cho hoàng
tộc Nguyễn, cụ thể là chạy tội cho Dục Đức, Hiệp Hoà, Tuy Lư vương, Hồng Tu,
Hồng Sâm, và vô h́nh trung cũng chạy tội bớt tội cho Trần Tiễn Thành. Ai
cũng biết Từ Dũ có họ Phạm, không phải thuộc huyết thống hoàng tộc Nguyễn,
trong khi Phan Bội Châu đang tôn phù hậu duệ nhà Nguyễn: Cường Để (đích tằng
tôn của hoàng tử Cảnh)!
Nhà
yêu nước, tác gia lớn Phan Bội Châu không phải không có những sai sót, ngộ
nhận trong kiến thức lịch sử; huống nữa, v́ cứu cánh là cứu nước khỏi hoạ
thực dân Pháp, cụ Phan bất chấp và không từ chối cả thủ đoạn xuyên tạc lịch
sử (“cứu cánh biện minh cho phương tiện!”)! Đó là sự sai lầm, rất đáng tiếc
của Phan Bội Châu. Và chính v́ thế, cụ Phan đă tự kiểm điểm rằng, phương
châm “vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn” của Machiaveli mà cụ Phan (và Lương
Khải Siêu) vận dụng, chính là một trong những nguyên nhân thất bại trên con
đường cách mạng, cứu nước. Xin vui ḷng xem kĩ những bài viết trong cuốn
sách, và xem thêm các cuốn sách, tập sách khác của tác giả cùng một đề tài.
Ở đây, tôi chỉ xin nhắc lại
một điều đă viết trong nội dung chính của cuốn sách.
(**) Tức là Từ Dũ và Tự
Đức (hai mẹ con). Đây là chú thích của người dịch (PGS. Chương Thâu).
Theo tôi (TXA.), căn
cứ vào hai chữ “một người” của câu trên, Phan Bội Châu tuy không nêu đích
danh nhưng vẫn xác định rất rơ, là đề cập về Từ Dũ. Đoạn PBC. viết về Từ Dũ
này tôi mạn phép in đậm + nghiêng.
05. 06. HB 4 (2004).
TXA.
[10] Tự phán, sđd., tr. 77.
[11] Nguyên văn lời cụ Phan, xem: Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử
tạp lục, Nxb. Mũi Cà Mau, 1994, tr. 12.
[12] NTPCPBC., VNQSK., sđd., tr. 149.
[13] Từ điển văn học (TĐVH.), tập II, Nxb. KHXH., 1984, tr.
548.
[14] Xem: Chống xâm lăng (CXL.), [Nxb. Xây Dựng, 1956 –
1957], Nxb. TP.HCM. tái bản, 2001, tr. 316 – 319, 547, 549 – 567…
[15] Đại
Nam liệt truyện (ĐNLT.),
tập 3, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 125.
[16] CXL., sđd., tr. 432.
[17] Đại
Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.),
tập 36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 225 – 228.
[18] ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 236 – 237; Nguyễn Nhược Thị
Bích, Hạnh Thục ca (HTC.), Trần Trọng Kim sưu tầm, Nxb. Tân Việt, 1950 [?],
tr. 48.
[19] ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 247; tập 37, sđd., tr. 35.
[20] Chống xâm lăng (CXL.), sđd., tr. 585 – 586…
[21] Tự Phán , sđd., tr. 12.
[22] Tự phán, sđd., tr. 17, 18.
TXA.