TRẦN
XUÂN AN
NGUYỄN
VĂN TƯỜNG,
“NHỮNG NGƯỜI TRUNG NGHĨA
TỪ XƯA,
TƯỞNG
KHÔNG HƠN ĐƯỢC”
KHẢO LUẬN VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH SỬ HỌC
Nhà Xuất bản
2003
TRẦN XUÂN AN
CÁCH VIẾT SỬ THEO TIÊU CHÍ NGƯỢC Ở
ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN KỈ ĐỆ LỤC
VÀ CÁCH VIẾT SỬ XUYÊN TẠC BẰNG
SỰ ĐẢO NGƯỢC SỰ THẬT LỊCH SỬ
Ở MỘT VÀI TRANG TRONG
VIỆT NAM VONG QUỐC SỬ
I.
Đây là một vấn đề sử học rất đặc biệt trong
tiến tŕnh sử học ở nước ta từ xưa đến nay. Hiện tượng này chỉ nẩy sinh ở
thời đoạn dân tộc ta bị rơi vào cảnh mất nước dưới ách xâm lược của thực dân
Pháp và tả đạo trong Thiên Chúa giáo. Những tồn đọng từ cuối thế kỉ XIX đến
nay vẫn chưa được giải quyết rốt ráo một cách thực sự khoa học, bởi chủ
nghĩa thực dân cũ đă cáo chung lại biến tướng thành chủ nghĩa thực dân mới,
và Thiên Chúa giáo vẫn là một thực thể “giành” được sự hợp pháp có tổ chức
ngay dưới chế độ xă hội chủ nghĩa! Mặc dù Đất nước đang mở cửa, đổi mới, và
vẫn bảo đảm chính sách đại đoàn kết, sử học cũng cứ phải vươn lên là khoa
học lịch sử.
Dẫu sao cũng không thể muộn hơn
được nữa! Hăy để sử học phải đích thực là sử học! Có như thế, đại đoàn kết
mới thực sự bền vững, đổi mới, mở cửa mới thành công.
Trong ư hướng đó, chúng tôi xin
được đưa ra một vấn nạn cụ thể, đă ghi rơ thành đầu đề của bài viết. Bài
viết này có đoạn sẽ được tŕnh bày một cách khái quát. Tư liệu sẽ được trích
dẫn nguyên văn khi thật cần thiết; c̣n lại, các cứ liệu ở dạng lời dẫn gián
tiếp hoặc đề nghị xem thêm, sẽ có chú thích cụ thể, đúng nguyên tắc khoa học,
để tiện tra cứu.
II.
1. Về lập trường, quan điểm viết sử của Quốc sử quán triều Nguyễn
trước và sau thời điểm Nguyễn Văn Tường bị lưu đày:
Lập trường, quan điểm viết sử ấy,
trước và sau thời điểm nói trên, về
cơ bản có sự đối lập, trái ngược lẫn nhau, thể hiện ở
Thực lục qua hai kỉ IV (1847 – 1883), V (1883 – 1885) và ở kỉ VI (1885 –
1888). Chúng tôi đă căn cứ vào hai bản phàm lệ của kỉ V, kỉ VI và chủ yếu
căn cứ vào hai đoạn xác định thời điểm phân kỉ ở hai kỉ ấy, mà về cơ bản là
hai đoạn ấy giống hệt nhau (cùng khẳng định một vấn đề), để minh định.
Đoạn trích phàm lệ phụ biên của
kỉ đệ ngũ:
“Từ ngày 23 tháng 5 năm Hàm
Nghi thứ nhất, sau khi kinh thành có việc
[:Kinh Đô Quật khởi và thất
thủ – TXA. ct.], đến trước ngày mồng 10 tháng 8, xuất đế (Hàm Nghi) đă
dời ra ngoài rồi, trong triều đ́nh và ngoài các tỉnh không biết lệ thuộc vào
đâu; và từ sau ngày mồng 10 tháng [8 âm lịch – ct.] ấy đến cuối tháng
9, vua Cảnh tông Thuần hoàng đế ta (Đồng Khánh) dẫu đă nối ngôi vua mà tuyên
bố bảo dụ, nhưng trong nước c̣n chưa biết, niên hiệu vẫn chép là Hàm Nghi.
Vả, phương nam, phương bắc đều vâng dụ vua Hàm Nghi, dấy quân cần vương;
những kẻ khởi sự [:khởi nghĩa – ct.] đều nắm [Dụ Cần vương 02.6 Ất dậu – ct.] làm cớ để khởi binh. C̣n từ sau ngày
01 tháng 10 năm Ất dậu (1885), niên hiệu Đồng Khánh, ngôi lớn đă ổn định lâu
rồi; nếu kẻ nào c̣n dám làm hồ đồ th́ đến kỷ thứ 6, sẽ chép làm nghịch” [1].
Đoạn trích phàm lệ của kỉ đệ lục:
“Phàm lệ phụ biên ở kỷ đệ ngũ,
trong đó có một điều chép rơ: từ ngày 23 tháng 5 năm Hàm Nghi nguyên niên,
sau khi kinh thành có việc
[23.5 Ất dậu (1885] – ct.], đến ngày 10 tháng 8 trở về trước, xe vua dời
đi, trong, ngoài không hệ thuộc được; và tự ngày 10 tháng [8 âm lịch –
ct.] ấy trở về sau đến cuối tháng 9, Cảnh tông Thuần hoàng đế ta [:Đồng
Khánh – TXA. ct.] tuy
đă nối ngôi, nhưng tuyên bố dụ bảo, sợ chưa biết được khắp, niên hiệu vẫn
c̣n chép là Hàm Nghi; về việc Nam – Bắc có vâng theo dụ của vua Hàm Nghi, mà
khởi việc cần vương th́ đều hăy chép làm “khởi binh” [:khởi nghĩa – ct.],
để có cớ mà nói. C̣n tự mồng 01 tháng 10 năm Đồng Khánh Ất dậu [1885 –
ct.] trở về sau, ngôi lớn định đă lâu, dụ bảo chắc đă biết khắp cả, mà
c̣n làm liều, th́ ở kỷ đệ lục kỷ sẽ lại chép là nghịch. [Quốc sử quán –
ct.] đă được chuẩn cho lục ra để chép vào.
Nay hai tháng 8 và 9 năm Hàm
Nghi nguyên niên [tức
là tháng 8 và tháng 9 âm
lịch, năm Ất dậu (1885) – TXA. ct.], là c̣n thuộc vào phận tháng của kỷ
ấy, cũng vẫn theo thế chép là khởi binh; c̣n từ mồng 1 tháng 10, là năm Đồng
Khánh Ất dậu trở về sau, th́ mới chép là nghịch” [2].
Hai tháng 8 và 9 âm lịch, Ất dậu
(1885), ở triều đ́nh, vua ngụy Đồng Khánh đă hoàn toàn bộc lộ bản chất phản
quốc. Quyển thứ nhất của kỉ đệ lục (ĐNTL.CB., tập 37, sđd., từ tr. 22 đến
tr. 59) đă chép rất rơ sự thật lịch sử ấy.
Trên cơ sở đó, việc xác định
là rất rạch ṛi, minh bạch: chính triều (1847 – 06.9.1885); ngụy triều (06.9.1885 – 1888…).
a.
Chính triều: lập trường, quan điểm yêu nước, chống Pháp, chống tả đạo Thiên Chúa giáo; và ít nhiều xen lẫn lập trường,
quan điểm bảo hoàng ngu trung trong sự kiện tứ tuyệt tam vương và các bi
kịch khác ở điểm đỉnh mâu thuẫn đối kháng. Lập trường, quan điểm này thể
hiện ở hai kỉ: kỉ IV, kỉ V (1847 – 06.9.1885, ngày Nguyễn Văn Tường bị Pháp
lưu đày).
b.
Ngụy triều: lập trường, quan điểm của ngụy triều Đồng Khánh, nịnh hót Pháp, nịnh hót tả đạo Thiên Chúa giáo, và bôi nhọ
người chống Pháp, chống tả đạo Thiên Chúa giáo; đồng thời cũng là quan điểm
vừa sử dụng bọn tả đạo Thiên Chúa giáo ở các địa phương để đánh dẹp phong
trào Cần vương, vừa phê phán chính bọn tả đạo Thiên Chúa giáo ấy đang manh
tâm phục thù, cướp chính quyền ở phủ, huyện, làm suy yếu ngụy quyền Đồng
Khánh bù nh́n. Lập trường, quan điểm này thể hiện ở kỉ VI (12.9.1885 –
1888…).
Ở Đại Nam thực lục chính biên (ba
kỉ IV, V, VI) không có sự đảo ngược sự thật lịch sử. Nhưng rơ ràng là riêng
ở kỉ VI (12.9.1885 – 1888), Quốc sử quán triều Nguyễn đă thể hiện cách đánh
giá sự thật liïch sử theo tiêu chí ngược, trái nghịch với chủ nghĩa yêu nước
của dân tộc, trái nghịch với công lí của nhân loại về độc lập dân tộc và chủ
quyền Đất nước.
2. Phân biệt cách viết Việt
Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu và cách viết Đại
Nam thực lục chính biên kỉ đệ lục của Quốc sử quán triều Nguyễn:
Xin phân biệt rơ: cách viết sử
xuyên tạc bằng sự đảo ngược sự thật lịch sử với cách viết sử có đánh giá sự
thật lịch sử (gồm cả nhân vật lịch sử) theo tiêu chí ngược.
Ở cách thứ nhất, người chống
Pháp bị đảo ngược thành kẻ câu
kết với Pháp. Qua Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu (thực ra là do Lương
Khải Siêu…) viết về Từ Dũ, Nguyễn Văn Tường một cách phi khoa học, thiếu cứ
liệu – tư liệu được sử dụng làm luận cứ, luận chứng với ghi chú xuất xứ một
cách khoa học, cụ thể. Cụ Phan (hay Lương Khải Siêu) đă đổ tội làm mất nước
là do hai người này và do Trần Tiễn Thành! Như thế, vô h́nh trung Phan Bội
Châu (Lương Khải Siêu…) đă ngụy biện cho Dục Đức, Hiệp Hoà, Tuy Lư vương,
Hồng Hưu, Nguyễn Hữu Độ… và phần nào cho Trần Tiễn Thành… (1). Cách viết sử
không có cứ liệu – luận cứ, luận chứng – như thế là không thể chấp nhận được.
Theo pháp luật xưa nay, cách viết ẩu tả, vu vơ kiểu đó là đă vi phạm vào tội
vu khống trên sách báo (tội công khai sỉ nhục người khác bằng văn tự)!
Ở cách thứ hai, người chống
Pháp là xấu (!!!), như Nguyễn
Văn Tường, Tôn Thất Thuyết…; và cũng phi lí thay, người nịnh hót Pháp lại là
tốt (!!!) như Đồng Khánh, Nguyễn Hữu Độ… Quốc sử quán triều Nguyễn đă thể
hiện rơ cách viết này ở kỉ VI (12.9.1885 – 1888), đó là cách viết sử theo hệ
giá trị phản quốc, nhằm lưu lại sự thật cho hậu thế minh xét. Hậu thế chính
là các thế hệ hiện nay…
Xét về tính khoa học, Thực
lục về các kỉ IV, V, VI đạt ở mức
rất cao, trong sự so sánh đồng đại. Quốc sử quán triều Nguyễn trích dẫn khá
đầy đủ các văn bản như:
a. quốc thư (Đồng Khánh gửi chính phủ Pháp, bôi nhọ Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết…); đặc biệt là mật dụ (sắc dụ gửi Nguyễn Văn Tường,
sắc dụ gửi hoàng tộc, từ Tân Sở gửi
về…);
b. chiếu, dụ, cáo thị (về phong trào Cần vương và vai tṛ của
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết…);
c.
bản án (De Courcy, De Champeaux kết án Nguyễn Văn Tường; ngụy triều Đồng Khánh kết án chung thẩm về Nguyễn Văn Tường
và ba thành viên khác của nhóùm chủ chiến…);
d. tấu, sớ (Nguyễn Văn Tường và các quan tâu lên vua, thái
hoàng thái hậu…).
Đó là các văn kiện của phía triều đ́nh Đại
Nam và phía thực dân Pháp. Ngoài ra, sử quan c̣n ghi chép (thuật sự) các vụ
việc với diễn biến khá chi tiết mà vẫn cô đọng.
Quốc sử quán triều Nguyễn viết sử theo thể
biên niên. Mỗi năm, theo tŕnh tự mười hai tháng (năm có tháng nhuận: 13
tháng). Mỗi tháng có những vụ việc, sự kiện ǵ xét thấy phải chép, th́ chép
thành các tiểu mục. Phần lớn mỗi tiểu mục đều có một câu đề (tiêu đề), sau
đó mới chép phần thuyết (diễn giải cụ thể), tức là nội dung của tiểu mục.
Các tiểu mục quá ngắn gọn th́ câu đề cùng phần thuyết là một. Ví dụ như ở
đoạn trích dưới đây, câu đề chính là câu “Tôn Thất Thuyết lập
“Phấn Nghĩa quân””, phần thuyết của tiểu mục là các câu c̣n lại.
“Tôn Thất Thuyết lập “Phấn
Nghĩa quân”:
Lúc đó, Thuyết muốn lập lính
chân tay riêng ḿnh, bèn thương lượng với Nguyễn Văn Tường, nói rằng: “Tiến
hành vào ngày 29 tháng 10 là quan trọng nhất” [ngày đảo chính, truất phế
Hiệp Hoà – TXA. iđ. & ct.]. Hai viên quan này cùng với những đ́nh thần đă dự
biết trước nên ai nấy giao cho những người thân thuộc tham dự vào việc hiểu
dụ các thân hào sĩ dân kết đảng làm theo. Lần này, qua chọn lọc số người
trong đó mà ban thưởng. Ngoài ra tuy chưa được dự vào phái cử, nhưng đều vui
ḷng đáp ứng. Gần đây, nhiều người làm theo. Nay các binh ngạch thiếu nhiều,
nên nhân t́nh h́nh ấy mà thu dụng họ; xin hội đồng Binh bộ xét tuyển dụng
được bao nhiêu lính (nhưng không được khấu giản), chia làm vệ đội, lượng mà
thiết lập quản suất, tùy số mộ được nhiều hay ít mà thưởng phẩm hàm, đặt tên
là “Phấn Nghĩa quân”. Số quân đó được khao thưởng và đặt tên riêng; chiểu
theo thứ tự, tuyển hai vệ tiên phong, nhưng vẫn lệ thuộc vào các viên quan
mà hai vị thần đó ủy nhiệm cho để luyện tập và phân phái. Theo thời kỳ này
th́ hữu dụng, nên (Tường) cho phép.
Sau đó Thuyết cho Trần Xuân
Soạn lănh số quân ấy” [3].
Rất tiếc là sách in bản dịch
ĐNTL.CB. đă được tŕnh bày một cách đáng phàn nàn.
Hơn nữa, nhờ phương thức làm việc tập thể,
mỗi thành viên Quốc sử quán đều phải lưu danh để chịu trách nhiệm, nên Thực
lục (IV, V, VI) đạt được tính khách quan – một yếu tính hết sức cần thiết
của sử học (2), (3). Rất tiếc, ở kỉ đệ lục (kỉ Đồng Khánh, 12.9.1885 –
1888), đó chỉ là ghi chép một cách khách quan theo lập trường, quan điểm
ngụy triều nói trên.
3. Sử học theo tinh thần “luật pháp bất vị thân” và sử học thuộc
loại “vấn mục đích bất vấn thủ đoạn”.
Chúng tôi đă có dịp so sánh thái
độ sử học của Thành Thái với ư hướng viết sử của Phan Bội Châu. Tuy nhiên,
tưởng cũng nên nhắc lại: Thành Thái vẫn kiên định ư thức sử học bất vị thân
trước sự de dọa của thực dân Pháp. Vị vua yêu nước này không chịu ban dụ
khắc in kỉ đệ lục (1885 – 1888), mặc dù đă được biên soạn xong, v́ kỉ đệ lục
này vốn rất nhục nhă đối với vương triều Nguyễn. Nhưng tai hại thay, kỉ đệ
lục lại được khắc in vào năm Duy Tân thứ 3 (1909), và sau đó lại bị truyền
bá khắp cả nước, dùng để giảng dạy trong nhà trường thực dân nửa phong kiến
[4]; trong khi đó, kỉ đệ tứ (1847 – 1883), kỉ đệ ngũ (1883 – 1888) sau khi
khắc in xong (khởi công: 1894, hoàn tất: 1902) lại bị cất vào kho sử, và
phát hành rất hạn chế [5]. Đối với việc nghiên cứu lịch sử giai đoạn này,
một vấn đề cực ḱ hệ trọng, rất cần lưu ư là ở đó!
Một lần nữa, xin nhấn mạnh
điều này: Thành Thái bị thực dân Pháp lưu đày tít tận ḥn đảo Réunion ở châu
Phi; Phan Bội Châu lại an trí ngay tại kinh đô Huế!
Quyết định khắc in hay
không là ở vua Thành Thái, chứ không phải ở Quốc sử quán. Đó là điều nhiều
người quên lưu ư. Và mặt khác, lâu nay, người ta quá đề cao vai tṛ tổng tài,
lại xem nhẹ các biên tu, toản tu, khảo hiệu, nhất là không đánh giá đúng mức
cách biên soạn tập thể của Quốc sử quán (2), (3), (4).
4. Vấn đề quyết định là tư liệu gốc:
Vấn đề quan trọng nhất là tư
liệu gốc được trích dẫn và quan điểm, lập trường viết sử của Quốc sử quán
thể hiện rơ nét ở hai giai đoạn đối lập nhau của ba kỉ sử như đă phân tích ở
trên. Nhưng dẫu ḷng dạ người chép sử thế nào đi nữa, mạn phép giả định như
thế, th́ vấn đề vẫn là tư liệu gốc (cũng tương tự như bằng chứng pháp lí
trước ṭa án). Tất nhiên phải giám định tư liệu gốc bằng phương pháp khoa
học thực nghiệm của thuở bấy giờ. Nói chung, không phải riêng trường hợp
Nguyễn Văn Tường, từ vị quan yêu nước, chống Pháp cho đến cả bọn kẻ cướp (thực
dân), kẻ đồng lơa (tay sai), và cả hoàng thân quốc thích, tất cả đều phải
cúi đầu công nhận trước nhiều bằng chứng (tư liệu gốc) và nhiều nhân chứng
về mọi sự thật lịch sử (sử quan; và người đọc đương thời như hoàng tộc, đ́nh
thần, các quan ở tỉnh, huyện…).
Chúng tôi đă chú thích ở một bài viết: Xin
xác định chuẩn xác thuật ngữ tư liệu gốc, hay cụ thể hơn, ấy là sử liệu gốc.
Không thể cho rằng Việt Nam vong quốc sử là sử liệu gốc về
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Từ Dũ, Phan Thanh Giản…, mà tác phẩm đó
chỉ là sử liệu gốc về chính Phan Bội Châu (và Lương Khải Siêu). Nói rơ hơn,
Việt Nam vong quốc sử thể hiện một khía cạnh con người Phan Bội Châu (hoặc
một phần nào con người Lương Khải Siêu) về kiến thức lịch sử, về quan niệm,
thái độ chính trị, sử học mà chính cụ Phan đă tự thú nhận: machiaveliste!….
Vả lại, Phan Bội Châu cũng không phải là người chứng cùng thời, cùng việc (đồng
thời, đồng sự) và tại chỗ về những nhân vật lịch sử kể trên…. Đó chỉ là sơ
lược trên hai nét nghĩa trong nhiều nét nghĩa khác của thuật ngữ tư liệu gốc.
5. Để t́m ra đáp số lịch sử,
không thể không thực hiện phương pháp đối chiếu các nguồn tư liệu gốc, các
nguồn sách báo nghiên cứu lịch sử, và phương pháp loại suy:
Cuối cùng, với quan điểm,
lập trường yêu nước và dân tộc của chúng ta, với cách nh́n khoa học, cụ thể
– lịch sử, xin hăy đối chiếu ĐNTL.CB. IV, V, VI và VNVQS. với toàn bộ (hoặc
ít ra cũng một phần nào đó) sách báo của thực dân và cố đạo đă viết theo
nhăn quan và quyền lợi xâm lược của chúng thuở bấy giờ, đă xuất bản tại Pháp,
tại La Mă, tại Việt Nam từ 1847 đến nay, 2002. Xin đơn cử: hăy đối chiếu với
toàn bộ các số tạp chí Những người bạn cố đô Huế (Bulletin des amis du
vieux Huế, 1914 – 1944)!
Xin được nhắc lại: mặc dù có
nhiều lời khen chê, thậm chí dựng
đứng chuyện bịa để căn cứ vào đó mà chỉ trích thậm tệ, nhưng chưa có ai viết
về Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) một cách xuyên tạc bằng lối đảo ngược sự
thật lịch sử như Phan Bội Châu (thực ra là do Lương Khải Siêu!). Nói gọn hơn,
chỉ mỗi tác giả Việt Nam vong quốc sử viết ngược như vậy!
Và cũng nhắc lại: thử đối chiếu với cuốn
sách đă sử dụng rất nhiều tư liệu chưa công bố trước đó của Pháp: Nước Đại
Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa
cùa GSTS. Yoshiharu Tsuboi. Cuốn sách này, do GS. Trần Văn Giàu viết lời tựa
ở bản dịch ra tiếng Việt: “… cái kho châu bản đồ sộ và quư giá có lẽ c̣n
quan trọng, căn bản hơn là tư liệu của Bộ Hải quân và Bộ Thuộc địa Pháp nữa.
[…] Không khai thác châu bản một cách triệt để mà chỉ bằng vào các hạng
người Pháp phần lớn thuộc quân xâm lược hay chuẩn bị xâm lược, th́ làm sao
biết rơ, biết đúng một thời ḱ lịch sử “mấu chốt” của nước nhà, làm sao đánh
giá các nhân vật chính xác?” [6]. Đó là
lời GS. Trần Văn Giàu vào khoảng thời gian đầu thập niên 1990, chứ không
phải lúc chưa tiếp cận được nhiều tư liệu gốc, trong đó Châu bản là quan
trọng và cơ bản nhất. Châu bản cũng đă được trích dẫn khá đầy đủ trong Đại
Nam thực lục, chính biên.
Toàn bộ châu bản từ 1847 đến 1888 và Đại
Nam thực lục, chính biên IV, V, VI
vẫn là tư liệu chuẩn cứ trong việc đối chiếu sử học, đối chiếu tư liệu gốc
và vận dụng phương pháp loại suy.
Trên đây chỉ là nhận định khái
quát chung trong một bài viết, nhưng chúng tôi nghĩ, là hết sức mấu chốt và
căn bản.
III.
Rất tiếc là giai đoạn vừa qua và
hiện tại, từ trước và sau thời điểm xảy ra biến động ở Đông Âu và Liên Xô cũ
đến nay, quả thật có lắm vấn đề ḱ quái. Đó là thời đoạn mà khuynh hướng sử
học ở nước ta chưa kịp khắc phục tính chất ấu trĩ “tả” khuynh, máy móc,
thiếu cái nh́n biện chứng, không mở rộng tầm nh́n toàn cục để so sánh (các
nước Á, Phi, Mỹ la tinh…), không xét đến tính lịch sử – cụ thể, bệnh sùng
bái tư tưởng ngoại nhập, giáo điều chủ nghĩa, lại nặng phần tuyên huấn v́
mục đích chính trị nhất thời (bóp méo để đả phong), hoặc lợi dụng sử học làm
công cụ phục vụ cho “công tác mặt trận”! Đó là lúc chưa kịp khắc phục khuyết,
nhược điểm như vừa liệt kê, th́ các thế lực thân Pháp, thân tả đạo lại ngóc
đầu dậy, thao túng, lũng đoạn cả văn nghệ, học thuật, nhất là trong sử học.
Sự thao túng, lũng đoạn ấy đă và đang diễn ra với các thủ đoạn phục thù hèn
hạ, đầy tính chất lưu manh trong việc làm sức ép, mua chuộc, đồng thời ra
sức đảo ngược sự thật lịch sử! Nh́n trên sách báo hiện nay, ai cũng thấy bọn
nội loạn, bọn tay sai của thực dân, tả đạo, kể cả bọn tả đạo người Pháp, đă
được ca ngợi, tôn vinh như thế nào! Lũ “giậu đổ b́m leo”, nhân cơ hội phỉ
Tàu (giặc Cờ) quấy nhiễu, xâm chiếm biên giới phía bắc nước ta, chúng nổi
lên cướp phá huyện làng, giết chóc nhân dân rất tàn ác như những tên Nhiễm,
Đài, Chuyên, và dư đảng “giặc theo đạo Gia-tô” Tạ Văn Phụng… lại được gọi là
“khởi nghĩa” [7] (sic!). Thậm chí, Trương Vĩnh Kư, kẻ theo thực dân Pháp
suốt đời, trong lúc cả dân tộc đang chống Pháp, lại được đặt tên trường học
để giáo dục thế hệ trẻ noi theo “tấm gương tay sai”! Nguyễn Trường Tộ, Đinh
Văn Điền vốn là tay sai có vũ trang, là đầu sỏ giặc từng gây họa từ trước,
nay lại đ̣i liên kết với thực dân Anh để chống thực dân Pháp (sic!) (theo
cách nói của đ́nh thần thời bấy giờ [8]). Cả hai, nhất là Nguyễn Trường Tộ,
lại điều trần “bánh vẽ”, thế mà cũng được đề cao tận trời!
Việc làm sức ép, mua chuộc để
đảo ngược sự thật lịch sử đă và đang xảy ra!
May thay là người ta chưa “phục
hồi” cái tên Đồng Khánh (5) trên cổng của một ngôi trường lớn nhất nh́ ở Huế,
hai mươi bảy năm nay được thay bằng hai chữ đầy tự hào cho học sinh thành
phố cố đô bên ḍng sông Hương: Trưng Trắc!
TRẦN XUÂN AN
1. CHÚ THÍCH bài CÁCH VIẾT
SỬ THEO TIÊU CHÍ NGƯỢC Ở ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN KỈ ĐỆ LỤC VÀ CÁCH VIẾT
SỬ XUYÊN TẠC BẰNG SỰ ĐẢO NGƯỢC SỰ THẬT LỊCH SỬ Ở MỘT VÀI TRANG TRONG
VIỆT NAM VONG QUỐC SỬ
(1). Thật
ra, Phan Bội Châu (và Lương Khải Siêu) chỉ lên án “quyền gian” trong vụ
truất phế Dục Đức bằng vài ḍng ngắn ngủi khi viết về Phan Đ́nh Phùng (NTPCPBC.,
Việt Nam vong quốc sử, Nxb. KHXH., 1982, tr. 89). Ai cũng biết: Phan Bội
Châu ám chỉ Tôn Thất Thuyết, người trực tiếp ra lệnh trói; và Bộ H́nh, bộ đă
nghị xử, cách chức Phan Đ́nh Phùng (lúc ấy, Phan Đ́nh Phùng c̣n chủ ḥa).
Ngoài ra, Phan Bội Châu không viết một chữ nào về vụ Hiệp Ḥa (thân Pháp) và
vụ Kiến Phúc (do Hồng Hưu). Lại ḱ quái thay, Phan Bội Châu (thật ra là
Lương Khải Siêu) không một lời lên án bọn cơ hội, cam tâm bán nước cầu vinh
như Nguyễn Hữu Độ!
(2).
Trương Quang Đản là tổng tài của Quốc sử quán trong giai đoạn tập thể sử
quan biên soạn lần cuối cùng đệ tứ kỉ (các tập 27 – 35), và ông cũng là tổng
tài từ đầu đến cuối suốt thời gian Quốc sử quán biên soạn đệ ngũ kỉ (tập
36). Trương Quang Đản là người đă cùng Bùi Ân Niên (Bùi Dị) đánh Pháp quyết
liệt và có nhiều công lao trong các trận đánh đó. Ông thuộc những người được
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và đ́nh thần đánh giá là “có thể mưu đồ
cho đại cục về sau”.
Cao Xuân
Dục chỉ làm tổng tài trong quá tŕnh khắc in đệ ngũ kỉ (bản thảo đă hoàn tất
từ thời Trương Quang Đản), và trọn vẹn những năm biên soạn đệ lục kỉ (2 tập
37 – 38).
Dẫu sao đi
nữa, như đă tŕnh bày: Trước tư liệu gốc (tương tự như bằng chứng có giá trị
pháp lí) và nhân chứng lịch sử (nhân chứng đồng thời, đồng sự, đồng triều… ,
kể cả hoàng tộc ), bất ḱ ai cũng phải cúi đầu thừa nhận sự thật lịch sử,
huống nữa sử quan ư thức họ phải lưu danh lại trên những trang sử cho hậu
thế! Và trên tất cả, ấy là tinh thần yêu nước, ư thức sử học bất vị thân của
Thành Thái. Chúng tôi muốn khẳng định rơ điều này một lần nữa.
(3).
Phương thức biên soạn tập thể đúng nghĩa: Không phải mỗi người trong ban
biên soạn phụ trách một phần rồi đem ghép lại thành một bộ sách hoặc một
cuốn sách, mà các tư liệu, chi tiết sự kiện, diễn biến lịch sử, hành trạng
nhân vật lịch sử, kể cả nhận định, b́nh giá đều phải được tập thể cân nhắc,
lấy ư kiến chung rồi phân công người chấp bút, sau đó tập thể biên tập lại.
Hơn nữa, c̣n phải xuất bản để trưng cầu công luận bằng nhiều h́nh thức công
khai, gồm việc lấy ư kiến nhân chứng c̣n sống (trong điều kiện bấy giờ)… Tập
thể sử quan thường là vài chục người trở lên (xem danh sách ở cuối phần mở
đầu mỗi kỉ).
(4). Ngoài
ra, Quốc sử quán triều Nguyễn c̣n ghi tên họ thật, phẩm hàm của các viên thu
chưởng, đằng tả, bút thiếp thức, đằng lục… (rất tiếc là c̣n thiếu quê quán;
xem thêm: Quốc triều hương khoa lục).
(5). Trong
ngày lễ hội hằng năm của Trường nữ Trung học đệ nhất và đệ nhị cấp Đồng
Khánh tại Huế, trước 1975, các giáo sư, nữ sinh chỉ kỉ niệm cuộc khởi nghĩa
Hai Bà Trưng!
2. CƯỚC CHÚ bài CÁCH VIẾT
SỬ THEO TIÊU CHÍ NGƯỢC Ở ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN KỈ ĐỆ LỤC VÀ CÁCH VIẾT
SỬ XUYÊN TẠC BẰNG SỰ ĐẢO NGƯỢC SỰ THẬT LỊCH SỬ Ở MỘT VÀI TRANG TRONG
VIỆT NAM VONG QUỐC SỬ
[1] Đại
Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.),
tập 36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 15. (Kỉ đệ ngũ: triều đ́nh vẫn c̣n chủ quyền,
độc lập).
[2] ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH., 1977, tr. 15 – 16. (Kỉ đệ
lục: bị “bảo hộ”, triều đ́nh hoàn toàn mất chủ quyền).
[3] ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 63 – 64.
Các chữ trong các dấu ngoặc đơn ở đoạn trích trên là đúng như
nguyên văn.
[4] Xem tờ tâu của Quốc sử quán, Đại Nam thực lục, chính biên
(ĐNTL.CB.), tập 37, sđd., tr. 8.
[5] ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 5 và tr. 13.
[6] Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại
Nam đối diện với Pháp và
Trung Hoa, UB. KHXH. Thành ủy TP.HCM., 1990, tr. 12.
[7] Xem: Nhiều tác giả, Đại cương lịch sử Việt
Nam (toàn tập), Nxb. Giáo
dục, 2001, tr. 506 – 507.
[8] ĐNTL.CB., tập 31, Nxb. KHXH., 1974, tr. 262 – 263.
TXA.