TRẦN
XUÂN AN
NGUYỄN
VĂN TƯỜNG,
“NHỮNG NGƯỜI TRUNG NGHĨA
TỪ XƯA,
TƯỞNG
KHÔNG HƠN ĐƯỢC”
KHẢO LUẬN VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH SỬ HỌC
Nhà Xuất bản
2003
TRÍCH ĐOẠN “ CHỐNG XÂM LĂNG”
(VÀ NHƯ MỘT CÁCH ĐỐI THOẠI
VỚI GS. TRẦN VĂN GIÀU)
I. LỜI THƯA ĐẦU CHUYỆN:
Lời người biên soạn:
Chúng tôi không dám vin vào những câu khiêm tốn trong lời nói đầu (viết vào
năm 1956) của GS. Trần Văn Giàu ở bộ sách Chống xâm lăng [1] để nghĩ rằng
GS. không phải là nhà sử học, mà chỉ là một người học sử để làm công tác
tuyên huấn của Đảng, trong hoàn cảnh thực dân Pháp thống trị, người có học
lại chỉ học sử Pháp và rất mù mờ về quốc sử. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn mạo
muội nhận định: Quan điểm mác-xít – lê-nin-nít, GS. đă vận dụng một cách khá
máy móc, không xét đến tính lịch sử – cụ thể. Lẽ ra, phần kiến thức sử học
phải tuyệt đối khách quan, c̣n phần liên hệ (rút ra bài học từ lịch sử cho
hiện tại và bản thân) vẫn bảo đảm mục đích yêu cầu tuyên huấn, nếu cần thiết
phải tuyên huấn. Phải chân thực về lịch sử, tuyên huấn mới có sức thuyết
phục, tức thời trước mắt và bền vững lâu dài! Ngoài việc vẫn bồi dưỡng ḷng
căm thù giặc ngoại xâm và tay sai, nên khẳng định ư thức không có ǵ quư hơn
độc lập, tự do và nền dân chủ mới (xă hội chủ nghĩa đích thực [2]), hơn là
bôi nhọ chế độ phong kiến trong lịch sử, một h́nh thái chính trị tự bản chất
đă quá lỗi thời, một đi không trở lại.
Dẫu sao, chúng tôi thấy
cũng cần nói rơ hơn, Đại Nam thực lục, chính biên, các kỉ IV, V, VI (1847 –
1883; 1883 – 1885; 1885 – 1888) [3], Quốc sử quán triều Nguyễn phải biên
soạn trong điều kiện nước mất, Thành Thái, Duy Tân luôn bị đe dọa phải lưu
đày, rồi cuối cùng cả hai vị đều bị lưu đày. Do đó, phần sử về ba kỉ trên
(1847 – 1888) đă bất lợi (không dám ghi nhận rơ tính chiến đấu, tinh thần
chống Pháp…) cho Tự Đức, Nguyễn Tri Phương, nhất là quá bất lợi đối với
Nguyễn Văn Tường (1824 –1886) và các thành viên khác của nhóm chủ chiến
Triều đ́nh Huế, kể cả phong trào Cần vương (khởi động từ 1883, bùng nổ sau
cuộc Kinh Đô Quật Khởi và bị thất thủ, 05.7.1885). Nguyễn Tri Phương v́ tử
tiết từ 1873, không “phạm” vào “tội” chống các tên vua thân Pháp, đầu hàng
Pháp, và đă được triều đ́nh khẳng định từ 12 năm trước khi cả triều đ́nh lẫn
toàn bộ đất nước rơi hẳn vào tay giặc Pháp, nên khó bề loại ông ra khỏi Đại
Nam liệt truyện [4], mặc dù tinh thần chống Pháp của ông cũng chỉ được viết
một cách quá rụt rè. Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, Phạm
Thận Duật, Tôn Thất Đính… lại không hề có được một trang tiểu truyện riêng
trong bộ Liệt truyện ấy!
Đă thế, lẽ nào chúng ta lại
càng hạ thấp, bóp méo, thêm bớt không đúng sự thật về họ, chỉ v́ họ là những
người yêu nước, chống Pháp nhưng lập trường lại thuộc về hệ ư thức phong
kiến và là quan lại triều Nguyễn? Nhận thức thiếu sót nên đánh giá sai? Hoặc
chỉ đề cao Tôn Thất Thuyết và phong trào Cần vương, bởi nhận thức không đúng
về Nguyễn Văn Tường, ngỡ rằng ông đă thực sự đầu hàng? Chẳng lẽ sử học có
quyền nhận thức sai, sử học không có công lí và công bằng?
Tuy thế, dẫu sao, qua
“Chống xâm lăng”, GS. cũng đă gián tiếp phủ định, đả phá các ḍng chữ trong
vỏn vẹn chỉ hơn một trang sách và trong một đoạn khác, vốn viết sai lầm,
xuyên tạc về Nguyễn Văn Tường (và Tôn Thất Thuyết trong việc phế lập), ở
Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu, (thực ra là Lương Khải Siêu, một
người nặng tư tưởng bảo hoàng, Đại Hán chủ nghĩa [5]).
Về tư liệu, dẫu khó khăn và
thiếu thốn, bị Pháp và Diệm cướp đem vào Sài G̣n hồi 1954, GS. cũng đă tiếp
cận được nhiều nguồn như GS. đă kể rơ: tư liệu của Pháp, tư liệu triều
Nguyễn, các nhà ái quốc Văn thân, tư liệu Trung Quốc, Liên Xô, tư liệu của
các trí thức mác-xít, tiến bộ như Trần Huy Liệu, Chu Thiên Hoàng Minh Giám,
Đào Duy Anh, và cả tư liệu của Trần Trọng Kim, Phan Trần Chúc…
GS. Trần Văn Giàu viết về
tư liệu của đế quốc Pháp: “Lắm khi không t́m ra cái nguồn đầu tiên [tư liệu
gốc – TXA. ct.] mà bị bắt buộc phải dùng sách nghiên cứu của bọn thực dân
luôn luôn xuyên tạc sự thật”; về tư liệu triều đ́nh Huế: “biên soạn theo
quan điểm và quyền lợi phong kiến suy tàn”; tư liệu do các nhà Văn thân ái
quốc ngoài Bắc, “trong phong trào cách mạng và kháng chiến nhiều gia đ́nh bị
địch đốt phá nhà cửa, mất mát giấy tờ quư báu”; và tư liệu Trung Quốc bấy
giờ đang được sưu tầm… Trong số tư liệu vẫn c̣n ở các thư viện Hà Nội đó, dĩ
nhiên có cả Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu (và của Lương Khải Siêu,
một người bảo hoàng, Đại Hán chủ nghĩa hạng nặng!). “Lẽ tất nhiên là tất cả
các loại tài liệu trên đều phải được đọc và xét với một ư thức phê b́nh cao,
một quan điểm Mác – Lê vững th́ mới có thể tiếp cận với sự thực khách quan
của lịch sử”; “Trần Trọng Kim, Phan Trần Chúc, Văn Hà v.v… cũng đă gom góp
được một phần tài liệu chính xác, song, tất nhiên là quan điểm của những tác
giả này khác xa với quan điểm của chúng ta; cho nên ở nhiều nơi tôi có trực
tiếp hay gián tiếp tranh căi những quan điểm của các nhà sử tư sản, cũng như
ở nhiều nơi tôi cố đả phá quan điểm của sử gia thực dân” [6].
Vấn đề c̣n lại là: tư liệu
gốc của phía thực dân Pháp. Theo GS. Trần Văn Giàu, Pháp bảo 100 năm sau khi
việc xảy ra mới công bố! Hạn giải mật lâu đến thế sao? Hay chờ nhân chứng
chết hết mới công bố tư liệu gốc? Hay c̣n âm mưu ǵ khác?
Tư liệu gốc của phía triều
đ́nh Huế với những quốc thư, dụ, chiếu, tấu, sớ, cáo thị, bản án… có châu
phê, thường được gọi là châu bản, và c̣n có cả bản án cáo thị của De Courcy,
De Champeaux về Nguyễn Văn Tường, các văn bản khác của Pháp gửi triều đ́nh
Huế, được trích dẫn trong ĐNTL.CB. IV, V, VI (1847 – 1888), không phải là tư
liệu gốc sao?
Xin được nhắc lại điều này:
Thành Thái vẫn giữ vững tinh thần Lê Thánh Tôn (trong việc minh oan cho
Nguyễn Trăi) và kiên định ư thức sử học bất vị thân trước sự đe dọa của thực
dân Pháp. Vị vua yêu nước này không chịu ban dụ khắc in kỉ đệ lục (1885
–1888), v́ kỉ đệ lục này vốn rất nhục nhă đối với vương triều Nguyễn. Nhưng
tai hại thay, kỉ đệ lục lại được khắc in vào năm Duy Tân thứ ba (1909), lúc
Duy Tân c̣n quá bé, và sau đó lại bị truyền bá khắp cả nước, dùng để giảng
dạy trong nhà trường thực dân nửa phong kiến [7]; trong khi đó, kỉ đệ tứ
(1847 – 1883), kỉ đệ ngũ (1883 – 1885), đă được khắc in từ 1894 đến 1902,
lại bị cất vào kho sử (và phát hành rất hạn chế!) [8]. Một nguyên nhân quan
trọng của vấn đề là ở đó!
Tuy vậy, vào năm 1916, trên
Bulletin des amis du vieux Huế (BAVH.) [9], Aldophe Delvaux, trong bài viết,
đă xác định ông ta là người đă sử dụng đầu tiên và là người duy nhất được sử
dụng vào thời điểm đó tư liệu chính thức của Nhà nước Pháp (gồm chính quyền
“bảo hộ”). Đến năm 1921, Trần Trọng Kim xuất bản Việt Nam sử lược, được viết
bằng quốc ngữ. Năm 1969, Cao Huy Thuần được tiếp cận tư liệu trước đó chưa
công bố của Pháp [10]. Vào năm 1982, Yoshiharu Tsuboi, giáo sư Nhật Bản,
được sự tài trợ của Chính phủ Pháp, được sự hướng dẫn của GS. Georges
Condominas, sự giúp đỡ của một số nhà sử học Pháp, đă công bố thêm những tư
liệu chưa công bố trước thời điểm 1982; Thành ủy TP.HCM. đă xuất bản bản
dịch tiếng Việt của Nguyễn Đ́nh Đầu và nhiều dịch giả khác, vào năm 1990,
với các lời giới thiệu của Ban KHXH. Thành ủy TP.HCM., và của chính GS. Trần
Văn Giàu. GSTS. Yoshiharu Tsuboi thể hiện trong tác phẩm tiêu chí nhận định
là độc lập dân tộc, chứ không phải là thứ tiêu chí của bọn xâm lược như
trong BAVH.. Nói cụ thể hơn, khác với quan điểm thực dân trong BAVH., Tsuboi
xác định rơ Trần Tiễn Thành, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đ́nh B́nh là tay sai của
thực dân Pháp, và những người yêu nước, chống Pháp chính là Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết, Hoàng Tá Viêm… Tiêu chí độc lập dân tộc ấy, đúng với đạo lí
và công lí của bất ḱ đất nước nào trên thế giới. Nhưng Trần Trọng Kim, Cao
Huy Thuần đều có sai lệch, hạn chế, GSTS. Nhật Bản Yoshiharu Tsuboi vẫn c̣n
thể hiện trong cuốn sách sự nhận thức và sử dụng tư liệu theo quan điểm bảo
hoàng, tư sản của chính Y. Tsuboi…
Rất tiếc, cho đến nay, năm
2002, Pháp, Vatican vẫn chưa công bố trọn vẹn tư liệu gốc của phía họ; châu
bản triều Nguyễn, kho lưu trữ được đặt ở TP. HCM., cũng đang trong t́nh
trạng chưa công bố!
Như vậy, rơ là tư liệu đă
tương đối đầy đủ các nguồn, nhưng chưa tuyệt đối trọn vẹn. V́ thế, việc công
bố trọn vẹn toàn bộ tư liệu gốc của Pháp và của triều Nguyễn, không để sót
một mẩu nào, vẫn là yêu cầu bức thiết và chính đáng của việc nghiên cứu khoa
học lịch sử giai đoạn này.
GS. Trần Văn Giàu trong lời
giới thiệu cho cuốn sách của Y. Tsuboi c̣n cho rằng, kho châu bản triều
Nguyễn thực ra c̣n quan trọng hơn cả hồ sơ tư liệu thuộc Bộ Hải ngoại và Bộ
Thuộc địa Pháp, thời thực dân Pháp xâm lược nước ta. GS. đă xác định rất chí
lí cái chủ yếu và cái thứ yếu, cho dù cái thứ yếu ấy không nên thiếu sót.
Cái chủ yếu là điều kiện cần (ắt có, phải có), cái thứ yếu là điều kiện đủ.
Có đầy đủ tư liệu gốc của phía Pháp để tham khảo, đối chiếu vẫn rất cần
thiết, quá cần thiết, và vẫn tốt hơn cho việc nhận định sự kiện, nhân vật,
tuy đó không phải là cái quyết định. Nói rằng tư liệu gốc của phía Pháp
không phải là cái quyết định, bởi cái nh́n thực dân, ai cũng biết như thế
nào rồi (thù hận, méo mó, xấc láo, đầy ác tâm…). Cũng như vậy, nhưng cũng
cần tham khảo đầy đủ tư liệu của Tây Ban Nha, của Vatican (Rome), Hội Truyền
giáo Paris tại hải ngoại.
Vâng, châu bản là cái chủ
yếu và quyết định. ĐNTL.CB. IV, V, VI dẫu sao cũng không thể mâu thuẫn với
toàn bộ châu bản từ 1847 đến 1888 c̣n lưu trữ trong kho.
Mặc dù thế, chúng tôi nghĩ,
trong tinh thần dân chủ xă hội chủ nghĩa đích thực, phải “dân chủ vạn lần
hơn dân chủ tư sản”, trên lĩnh vực học thuật, cần phải nêu vấn đề để không
c̣n t́nh trạng cố t́nh, cố ư, chủ tâm hoặc v́ lí do bên ngoài sử học nào đó
mà quên đi những tư liệu gốc hết sức quan trọng về Nguyễn Văn Tường, ngay
trong Đại Nam thực lục chính biên IV, V, VI (1847 – 1883; 1883 – 1885; 1885
– 1888), để đánh giá về ông một cách hết sức bất công; hoặc tái bản một bộ
sách được viết từ 45 năm trước, ấy là năm 1956, mà không được tác giả bổ
sung, sửa chữa lại! TXA.
II. TRÍCH ĐOẠN VÀ ĐỐI THOẠI:
Lời người biên soạn:
Trên cơ sở lấy ĐNTL.CB., chủ yếu 2 kỉ đệ tứ và đệ ngũ [11], làm chuẩn cứ,
xin trích dẫn từ bộ sách Chống xâm lăng của GS. Trần Văn Giàu một số đoạn
khá chính xác ở dưới đây. Những câu chữ xem ra không cần thiết, hoặc xét
thấy sai lệch (diễn dịch gần như xuyên tạc, sợ rằng khiến người đọc ngỡ GS.
có ác ư), hoặc nhận rơ là tuyên huấn khiên cưỡng, quá đáng và không sát hợp,
xin mạn phép lược bỏ, thay bằng kí hiệu: […], [&?!?]. Ngoài ra, có chỗ chúng
tôi không lược bỏ nhưng đành phải bày tỏ ư kiến riêng bằng bị chú hoặc cũng
bằng các dấu biểu cảm như: [?!?] [12]… Chúng tôi hi vọng có lúc GS. sẽ xem
xét lại, trên cơ sở nghiên cứu lại một cách nghiêm túc, các trang GS. đă
viết về nhân vật Nguyễn Văn Tường (1824 – 1996) trong bộ sách Chống xâm lăng
của ḿnh, để đừng rơi vào trường hợp của Phan Bội Châu, bị sứt mẻ thanh danh,
lại gây khó khăn cho hậu thế. TXA.
[…]
Ngày 26, Phi-lát [Philastre –
TXA. ct.] cùng Nguyễn-văn-Tường lên đến Hải-dương. Tường lại phi tư cho
Bắc-ninh, Hưng-yên trích ra 1.000 quân để chuẩn bị tiếp thu thành Hải-dương
(2-1-74). Ở đây mặc dù tên vơ quan Pháp là Trăng-ti-nhăn [Trentinian – ct.]
cứng đầu muốn chiếm giữ măi, mặc dầu tên ngụy tổng đốc Trương (Gác-nhê [Garnier
– ct.] mới đặt lên, vốn là người thợ rèn theo công giáo) muốn mưu bắt
Nguyễn-văn-Tường để phá hoại sự nghị hoà (Tường biết mưu gian đó, bàn với
Phi-lát bắt Trương đem giữ ở dưới thuyền máy), Phi-lát hạ lệnh trao trả
thành luỹ cho quan Nam triều và ra lệnh chuẩn bị trao trả Nam-định,
Ninh-b́nh. Hác-măng [Harmann – ct.] và Hốt-tơ-phơi [Hautefeuille – ct.] tuy
phản đối mà cũng thấy rằng như thế là chóng được thoát khỏi nguy cơ bị tiêu
diệt nên chúng rút lui không mấy phàn nàn.
[…]
(sđd., tr. 317).
[…].
Chỉ cần kể lại một buổi nói
chuyện giữa Phi-lát và Đuy-puy [Jean Dupuis – ct.], th́ đủ trông thấy không
khí xung đột trong đám thực dân lúc bấy giờ ở Hà-nội. (Nên chú ư rằng trong
vụ xâm lược này, các cha cố I-pha-nho [Espagnol, Tây Ban Nha – ct.] không
chịu ủng hộ bọn Gác-nhê và Puy-gi-nhê [Puginier – ct.]).
Từ mấy hôm rày, Đuy-puy tới
lui t́m gặp Phi-lát một là để hỏi tại sao tàu chiến của Pháp đốt phá 28
thuyền chở gạo Bắc-kỳ sang Hương-cảng ở ngoài cửa Cấm, trong số gạo này, có
vốn của Đuy-puy hùn với các nhà tư sản Hoa-kiều, hai là để kêu xin đừng trả
lại thành Hà-nội cho triều đ́nh Huế; Phi-lát không cho gặp.
Mấy hôm sau, khi gặp được
Phi-lát, Đuy-puy xin đừng trả thành, xin bồi thường thiệt hại cho hắn (1
triệu quan), xin được bảo vệ cho thuyền hắn đi Vân-nam, th́ Phi-lát không
nhận lời nào. Đuy-puy kêu nài có vẻ hung tợn th́ Phi-lát nói:
“Người bán than làm chủ cái tiệm
than của ḿnh; các quan An-nam là chủ trong nhà của họ; họ không muốn anh
đến ở nhà họ th́ anh lấy quyền ǵ mà anh cứ đến, cứ ở?”.
Đuy-puy nóng tiết lên, hỏi
lại:
“Nếu tôi đến ở Bắc-kỳ trái với
nguyện vọng của người An-nam th́ thử hỏi người Pháp tới ở Nam-kỳ có đúng với
nguyện vọng của người An-nam không?”.
Lẽ tất nhiên Phi-lát cứng
họng, liền đáp:
“Chúng ta đến Nam-kỳ với tư cách
của kẻ cướp, kẻ trộm. Anh và Gác-nhê cũng là kẻ cướp, kẻ trộm thôi.
Nếu Gác-nhê không chết th́ hắn
sẽ bị truy tố ở toà án quân sự”.
Đuy-puy đ̣i lấy của triều
đ́nh trong các thành để bồi thường cho hắn, th́ Phi-lát trả lời rằng, đô đốc
Đuy-pơ-rê [Dupré – ct.] không có dặn ǵ về khoản này cả; Đuy-pơ-rê lại bảo
cho Đuy-puy xa lánh Bắc-kỳ đi, đi lên Vân-nam đi, đi mà không được đem theo
pháo thuyền quân đội như dạo trước.
C̣n giám mục Puy-gi-nhê, từ
khi Phi-lát đến với Nguyễn-văn-Tường th́ xuống nước hẳn đi, khóc lóc. Ông
[(?!?) – iđ. & ing.] thổi phồng thêm những chuyện có thật, là các quan và
các nhà nho bắt giết người công giáo đă theo Pháp đánh lại đất nước Nam; ông
[(?!?) – iđ. & ing.] kể lể cho Ba-lê-zô [Balézeaux – ct.] rằng nhiều làng
công giáo đă theo Pháp nay bị đốt; th́ Ba-lê-zô đáp:
“Các quan An-nam cố sức ngăn cản
sự trả thù được chừng nào hay chừng ấy, việc xảy ra nào phải lỗi tự họ đâu;
người công giáo phải trả cái ǵ họ đă vay trong lúc Pháp chiếm đóng, đó là
lẽ tự nhiên”.
Puy-gi-nhê than:
“Bây giờ các ông lại đổ lỗi cho
chúng tôi”.
“Tôi đă mất hết uy tín đối với
tín đồ công giáo rồi”.
(Evènements du Tonkin, trang
250).
Không phải Phi-lát và
Ba-lê-zô cầm cân công lư đâu. Chúng vẫn là cánh thực dân cả. Song thực dân
Pháp đang ở trong cái thế không thể không ḥa được, v́ thế mà chúng phải bóp
bụng chịu vậy, chúng sáng suốt hơn là bọn Đuy-puy, Gác-nhê, chúng sợ rằng
nếu đánh lúc ấy th́ đă chẳng lấy được Bắc-kỳ lại c̣n sợ mất cả Nam-kỳ nữa.
Trong và sau khi thương nghị
trả thành, ở Ninh-b́nh, Nam-định, Hải-dương và Hà-nội, nhất là 10 ngày theo
sau các cuộc trả thành, có nhiều vụ trả thù, nhiều vụ bắt bớ, giết chóc và
trục xuất cảnh ngoại. Triều đ́nh phần th́ sợ Pháp can thiệp nữa, phần th́
bất lực, nên chỉ ngồi ngơ không có chính sách khoan hồng, cũng không có
chính sách đoàn kết lương giáo; nhưng ta hăy ghi rằng tất cả các cha cố đă
tận lực mộ nguỵ binh cho Pháp, kéo quân đi đánh phá nơi này nơi nọ, chỉ điểm
cho giặc, làm thông ngôn cho giặc, đều được yên toàn cho đến khi 10 năm sau,
lúc Hăn-ri Ri-vi-e [Henry Rivière – ct.] đến th́ họ lại trở lại làm cái việc
mà họ đă làm trong cuối 1873 và đầu 1874. Lại có một điều rất đáng được chú
ư và đề cao là phe kháng chiến lúc này đă biết truyền hịch cho đồng bào công
giáo, cho mă tà công giáo chớ nên nghe lời địch cầm vũ trang chống lại nước
nhà, mà hăy trở lại với dân với nước, quay súng đánh Tây (Evènements du
Tonkin, trang 275); lời kêu gọi đó cũng có kết quả: tin đồn quân triều đ́nh
ra gần tới Tam-điệp th́ nhiều mă tà ở Ninh-b́nh, Nam-định bỏ hàng ngũ địch.
Ngay trong số cha cố, há không có người ái quốc? Đuy-puy đă chẳng gọi cha
Huân (liên lạc và thông ngôn của quan Nam triều) là mật thám của triều đ́nh
hay sao?
Lại đặc biệt chú ư đến điều
này là các làng công giáo nào mà không có tham gia giúp Pháp chiếm lấy
Bắc-kỳ th́ không có ai đụng chạm đến, đó là trường hợp của tất cả các xứ đạo
do cha cố I-pha-nho cầm đầu. Các xứ đạo này có số tín đồ trên 10 vạn, gần
bằng một phần nửa số tín đồ do cha cố Pháp cầm đầu. Ngay trong các xóm công
giáo có người theo Tây th́ nói chung, chỉ có những kẻ tàn ác và kẻ làm ḷ
rèn rèn vũ khí cho ngụy binh mới bị trừng trị
(Lemire, L’Indochine, trang 301).
Bên phía Phi-lát th́ yêu cầu
làm đính ước mới trong khi trao trả thành; nhưng lúc bấy giờ th́ Tường
thương thuyết trên cái thế tương đối mạnh. Bên triều đ́nh đ̣i lập lại t́nh
thế trước khi xung đột rồi sẽ đính ước mới. Nhờ có thắng trận Cầu-giấy! C̣n
Pháp th́ bối rối do dự, nên Phi-lát được toàn quyền uỷ nhiệm của Đuy-pơ-rê
để giao thành trước rồi mới đính ước sau. Ninh-b́nh được giao trả ngày
6.1.74, Nam-định ngày 10.1. Quân viễn chinh cũng rút khỏi Hà-nội, trừ một
trung đội ở lại làm hộ vệ cho viên lănh sự Ray-na [Rheinart – ct.]. Tên con
buôn côn đồ Giăng Đuy-puy bị trục xuất, tất cả tài sản của hắn bị niêm phong
ở Hải-pḥng. Ngày 16.2, thành Hà-nội được giao trả. Ngày 4.3, Phi-lát về
Sài-g̣n để chuẩn bị hoà ước.
Trải qua một trận phong ba,
ai ai đều trông thấy càng rơ sự mục nát của bộ máy phong kiến, càng trông
thấy rơ ḷng ái quốc của nhân dân.
[…]
(sđd., tr. 317 – 320).
[…]
Dù sao đi nữa, trong triều
đ́nh Huế, Thuyết là lănh tụ cang cường nhất lúc ấy, tiêu biểu nhất cho ư chí
đề kháng; chỉ có những người hoặc là tôi đ̣i của thực dân, hoặc thiếu suy
nghĩ kỹ, mới không chịu thấy rằng mặt tốt của Thuyết là căn bản; chỉ có
những ai bị sử thực dân mê hoặc quá mới xem đạo quân Phấn-nghĩa của Thuyết
tổ chức lựa lọc là để cướp phá, giết chóc, là để cho Thuyết chuyên quyền cá
nhân. Thuyết là một nhà ái quốc. Từ những vụ phế vua đến ám sát
Trần-tiến-Thành, các hành động đó, căn bản đều có mục đích cứu nước chống
Pháp cả; tiêu diệt những phần tử thân Pháp, đầu hàng, là điều phải làm, làm
khôn khéo chăng, đúng mực chăng, ấy là việc khác. Thuyết nắm binh quyền tức
là thực quyền [vũ trang – TXA. ct.], cho nên không phải tên khâm sứ Pháp ở
Huế muốn ǵ cũng được; mặc dù rằng tên Lơ-me-rơ [Lemaire – ct.] có quân đóng
ngay ở Huế, bên kia sông và ngay ở Mang-cá, Lơ-me-rơ vẫn phải kiêng nể
Thuyết, chưa dám bức bách triều đ́nh một cách quá chừng mực.
[…]
(sđd., tr. 547).
[…]
Trong lúc nhân dân tự động
kháng chiến th́ quân đội chính quy của triều đ́nh ở Bắc-kỳ không đánh nữa,
chỉ trông chừng, chờ đợi; nhiều người ái quốc mộ binh kháng chiến mà lấy
danh nghĩa nhà Thanh nên không mấy được nhân dân hết ḷng ủng hộ. C̣n ở
triều đ́nh th́ việc phế lập biểu hiện mâu thuẫn ở hai phe chủ hoà và chủ
chiến [&?!?].
[…]
(sđd., tr. 449).
[…]
Nhắc lại Tự-Đức chết ngày
19-7-1883. Tự-Đức không con, nuôi 3 người cháu làm con nuôi, con nuôi trưởng
là Thụy quốc công Dục-Đức; thứ hai là Kiến-Giang quận công Chánh-Mông; con
thứ ba là Dưỡng-Thiện. Di chiếu của Tự-Đức nói rằng Dục-Đức không đáng làm
vua; Dưỡng-Thiện đáng hơn, nhưng Dưỡng-Thiện c̣n quá nhỏ; thế nước đương
nguy, cần có vua lớn tuổi, nên đành lập Dục-Đức làm vua, nhưng bên cạnh phải
có một hội đồng phụ chánh gồm Trần-tiến-Thành, Nguyễn-văn-Tường và
Tôn-thất-Thuyết.
Nguyễn-văn-Tường và
Tôn-thất-Thuyết không chịu lập Dục-Đức là người mà họ thấy rằng không có chí
cả, không mưu việc lớn được, nên bỏ di chiếu của Tự-Đức mà lập em ruột của
Tự-Đức là Lăng quốc công Hồng-Dật lên làm vua, lấy niên hiệu là Hiệp-Hoà,
c̣n Dục-Đức th́ [bị chỉ định nơi ở là Giảng đường Viện Thái y; một năm ba
tháng sau – TXA. ct.] bị giam, bị bỏ đói đến chết. Phan-đ́nh-Phùng can ngăn
không được việc phế lập, bị trói giam ở nhà giam Cẩm-y rồi bị cách chức đuổi
về tỉnh nhà.
Sau hoà ước 1883, triều đ́nh
Huế vẫn c̣n chia làm hai phái, đầu hàng và kháng chiến; phái đầu hàng là đa
số; phái kháng chiến là thiểu số ở triều đ́nh; nhưng Thuyết nắm binh quyền,
làm binh bộ thượng thơ, lại có một số khá đông quan quân ngoài Bắc lục đục
kéo về theo lệnh triệt binh của triều đ́nh, nên phần lớn triều đ́nh phải
nghe theo Tôn-thất-Thuyết [&?!?].
[…]
Lời người biên soạn:
Một lần nữa, xin khẳng định rơ, chúng tôi đă gián tiếp tranh luận với GS.
bằng bài viết phân tích hai câu bổ sung của bài thơ “Giải triều…”: Nguyễn
Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi 05.7.1885. Ở đây,
xin nói thêm: Từ lúc c̣n làm tri huyện Cam Lộ, phủ doăn Thừa Thiên, tham
tán, tán lí tiễu phỉ ở biên giới phía Bắc đến lúc đảm nhiệm chức vụ thượng
thư Bộ Hộ, quản lí Thương bạc đại thần, phụ chính đại thần, Nguyễn Văn Tường
vẫn chủ trương “chiến đă mới có thể ḥa, ḥa để thủ, thủ để mưu chiến” [13]
– chiến là phương thức cơ bản, quyết định (tiên quyếât và hậu quyết). Thời
điểm 1883 – 1885 và hai tháng sau ngày 5.7.1885, không thể không chiến được.
Đó là lúc Tự Đức cũng cho rằng “ta không tính chúng, chúng cũng tính ta;
tính trước th́ thắng”, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đều xác định “thế
đă thành cưỡi hổ, tên đă ở trên cung” [14].
Đọc kĩ các tư liệu gốc, chúng ta thấy rơ: Nguyễn Văn Tường
bước lên thế cưỡi hổ, trước mũi tên trên cung, không phải từ 1883, mà từ hơn
mười lăm năm trước đó, 1868 [15], đặc biệt từ 1873. Và Nguyễn Văn Tường luôn
luôn ở trong thế cưỡi trên lưng con-cọp-kẻ-thù là giặc Pháp, trước mũi tên
đă ở trên cung cũng của kẻ thù là giặc Pháp, cho đến khi bị lưu đày đến tít
tận Tahiti *.
Nguyễn Văn Tường không phải là một người ngây thơ, mà là
một nhà chính trị sâu sắc; ông kiên quyết, bền bỉ chống Pháp, và tất nhiên,
ông hiểu rất rơ ḷng căm thù sâu sắc, dai dẳng của Pháp đối với ông, chúng
luôn luôn quyết đập tan tành uy thế của ông, nên ông nhận thức cũng như thực
dân Pháp nhận thức, là không thể đội trời chung, cho dù trước hay sau ngày
Tự Đức mất (19.7.1883), cho dù trước hay sau ngày Kinh Đô Quật Khởi
(05.7.1885). TXA.
[…]
Hiệp-Ḥa thấy Tôn-thất-Thuyết
và Nguyễn-văn-Tường không chịu thi hành tân ước bảo hộ, mà cứ chủ trương
kháng chiến th́ sợ cho địa vị làm vua của ḿnh, và biết chỗ khác nhau giữa
Thuyết và Tường, nên vua Hiệp-Ḥa tư thông với khâm sứ Pháp và mưu đổi
Thuyết sang bộ lại, Tường sang bộ binh. Biết mưu gian ấy, Thuyết và Tường
xin với Từ-Dũ thái hậu bỏ Hiệp-Ḥa, mà lập hoàng tử Dưỡng-Thiện 15 tuổi, con
nuôi thứ ba của Tự-Đức, lên ngôi vua, niên hiệu là Kiến-Phúc. Đó là cuối năm
1883. Hiệp-Ḥa bị phế, việc ấy cũng đúng thôi, làm vua lại tư thông với giặc
th́ chỉ là giặc, bị phế rồi th́ tất nhiên trong t́nh trạng xă hội và triều
đ́nh lúc bấy giờ không thể nào không bị ám hại được.
[…]
Đa số đ́nh thần và cả vua
Kiến-Phúc với hoàng gia lại thường tư thông với khâm sứ Pháp ở Huế, làm trở
ngại công việc của Tôn-thất-Thuyết, cho nên đến tháng 7 năm 1884 chúng ta sẽ
thấy Kiến-Phúc chết bất ngờ, mờ ám, Tôn-thất-Thuyết và Nguyễn-văn-Tường sẽ
chọn Ưng-Lịch, tôn lên ngôi là vua Hàm-Nghi mới 12 tuổi.
[…]
(sđd., tr. 549 – 511).
Lời người biên soạn:
Thủ phạm, theo chúng tôi, đó là Hồng Hưu (?) [16]. TXA.
[…]
Ngày 27 tháng 6, tên tướng Đờ
Cuốc-xy cùng với quan năm Cơ-rê-tanh [Crétin (?) – ct.] cầm đầu 4 đại đội bộ
binh, đáp hai tàu chiến từ Hải-pḥng vào Huế.
Khi Đờ Cuốc-xy đi vào Huế với
quân đội của hắn th́ tên tướng Bri-e đờ Lin-xơ [Brière de L’Ilse (L’Isle) –
ct.] ở Hà-nội tuyên bố rằng:
“Tôi luôn luôn nghĩ rằng cái
cách duy nhất để giải quyết hiện t́nh là phải bắt cóc hai người quan phụ
chính”.
Hai người quan phụ chính đó
là Tôn-thất-Thuyết và Nguyễn-Văn-Tường. Bản thân Đờ Cuốc-xy đă nửa úp nửa
mở:
“Phải giải quyết cả vấn đề này
tại Huế”.
Ch. Gốt-sơ-lanh [Charles
Gosselin – ct.] có chép lại một đoạn trong bức thư của một tên thực dân viết
vào ngày 1-7-1885:
“Trễ c̣n hơn không. Ta sẽ bắt
Tường và Thuyết chăng, hay ta sẽ làm sao cho họ không c̣n có cách ǵ phá
hoại ta nữa”.
(Gosselin, L’Empire d’Annam, tr.
197).
Cái điều làm cho bọn thực dân
hậm hực nhất là Tôn-thất-Thuyết, Nguyễn-văn-Tường nắm cả bộ binh và bộ lại,
nghĩa là thực quyền c̣n lại trong tay của triều đ́nh Huế. Thuyết và Tường
hành động không phải hỏi ư kiến của khâm sứ thực dân. Pháp hậm hực hơn nữa
là v́ Thuyết và Tường một mặt tập trung nhiều quân về Huế, đồng thời đem
nhiều của cải vàng bạc, lương thực ngày càng nhiều lên các sơn pḥng. Địch
dự đoán rất đúng rằng “nếu một hôm
nào đó, triều đ́nh sẽ đi theo số của cải ấy, th́ không có ǵ là lạ cả”.
Pháp nhất quyết lần này phải
nắm hẳn toàn bộ hội đồng phụ chính, tẩy trừ Thuyết, Tường ra khỏi hội đồng
này, và nhất là giải tán quân đội của Tôn-thất-Thuyết, tức là siết chặt nền
đô hộ, làm cho triều đ́nh hoàn toàn phụ thuộc vào thực dân Pháp.
Tường là một quan văn, trước
là tri huyện Quỳnh-lôi [thực ra là Cam Lộ, nơi ông đă xây dựng thành lũy Tân
Sở, thuộc tỉnh Quảng Trị – TXA. ct.], sau làm phủ doăn Thừa-thiên, từ năm
1875 vào viện Cơ Mật; ông là một nhà ngoại giao khéo léo, mềm mỏng, ngọt
dịu, thường thấu tâm trạng của chính khách [&?!?]. Tường làm phụ chính thứ
nhất, trước Thuyết. Vấn đề mâu thuẫn giữa Tường và Thuyết không phải là vấn
đề địa vị nhất nh́ như các nhà sử thực dân thường nói, mà căn bản là hai
màu, hai độ khác nhau của một cánh đề kháng trong triều đ́nh. Tường chú
trọng về thương thuyết, nhờ sức mạnh của bộ đội để mà nói chuyện với Pháp,
c̣n Thuyết th́ tư tưởng đề kháng mạnh hơn, có thể đi đến vơ trang tranh đấu
nếu Pháp lấn lướt quá.
[…]
(sđd., tr. 549 – 550).
[…]
Thực ra không phải đợi đến
khi Đờ Cuốc-xy sang th́ mới có bọn thực dân muốn giải quyết mau, ăn mau, ăn
trọn bằng cách bắt Thuyết và Tường, giải tán quân đội Việt-nam. Ngày 6 tháng
8 năm 1884, nghĩa là vừa hai tháng sau ḥa ước 6-6-1884, tên đại tá Ghe-ri-ê
[Guerrier – ct.] đă mang 600 quân, 2 đội pháo binh và chiến thuyền vào Huế
với nhiệm vụ là chiếm lấy hoàng thành nếu viện Cơ mật không tuân theo tối
hậu thơ của hắn; nhưng tối hậu thơ đưa đến, Thuyết không nghe; Ghe-ri-e
không dám làm ǵ; địch xoay sang cách khác; ngày 17-6-1884 ấy, tên khâm sứ
Pháp và các tên vơ quan thực dân vào triều đ́nh yết kiến nhà vua, th́ Thuyết
giàn giá quân lính và văn vơ bá quan rất chỉnh tề; vua Hàm-Nghi chỉ ngồi
trên ngai mà tiếp khâm sứ Pháp, không đi xuống đón, cũng không đứng dậy
tiếp; sau lễ yết kiến, Thuyết cho quan hầu dắt cả đoàn Pháp đi ra bằng cửa
hông, không cho ra cửa chính; bọn thực dân rất tức tối; song cả nước
Việt-nam lúc bấy giờ phấn khởi, hoan nghênh thái độ cử chỉ của
Tôn-thất-Thuyết, nhất là của vua Hàm-Nghi. Trong quyển “Le Roi Proscrit”, tác giả Mác-xen Gô-chê [Marcel Gauthier – ct.] viết:
“Như thế, vua Hàm-Nghi giữ được
tính chất thiêng liêng đối với thần dân ḿnh. Vô t́nh vị vua trẻ tuổi mới
làm một việc mà ảnh hưởng lan dội lớn lao trong cả nước: khẳng định cái ư
chí muốn giữ độc lập và dù Pháp có đóng quân ở Huế th́ triều đ́nh vẫn không
qụy lụy trước họ. Cái thái độ tiêu biểu của vị vua trẻ tuổi ấy là do hội
đồng phụ chính bày vẽ thôi, hội đồng phụ chính rất có lư mà tin chắc rằng
quần chúng nhân dân trông vào thái độ của vua để mà noi theo, xem thái độ ấy
như là một mệnh lệnh không nói ra bằng lời, để cho nhân dân kháng cự với kẻ
mới đến”.
(Marcel Gauthier, Le Roi
Proscrit, trang 40 – 41).
Đó là năm ngoái. Pháp ấm ức
nhưng giả như không biết bởi v́ chiến tranh Trung – Pháp lúc ấy hăy c̣n đang
cháy. Năm nay, chiến tranh Trung – Pháp dứt rồi, Pháp muốn có ở Huế một ông
vua ngoan ngoăn, hay nghe, dễ bảo, muốn có một viện Cơ mật và một hội đồng
phụ chính gồm toàn người thân Pháp; muốn được như vậy th́ theo kế hoạch của
Đờ Cuốc-xy phải bắt cóc Thuyết và Tường, giải tán quân đội Huế; Thuyết bị
bắt th́, theo Đờ Cuốc-xy, cánh đề kháng sẽ tự nhiên tan ră.
[…]
(sđd., tr. 550 – 551).
[…]
Ngày 3-7, Đờ Cuốc-xy mời
Tường và Thuyết qua bên kia sông để “thương nghị” tại dinh của hắn. Lẽ cố
nhiên là hễ hai vị lănh tụ của cánh đề kháng mà qua sông th́ sẽ không trở
lại nữa, hoặc nếu có trở lại th́ đó là sau khi quân đội đă bị giải tán rồi,
sau khi một hội đồng phụ chính khác đă thành lập rồi. Cuốc-xy tưởng là mưu
cao, hoá ra cái âm mưu loại Hồng môn hộ yến này, ở Viễn-đông trẻ con nào lại
không biết? Thuyết cáo bệnh không đi. Chỉ có Tường và Phạm Thận Duật qua
sông. Bắt Tường và Duật th́ không có lợi ǵ cả, v́ binh quyền nghĩa là thực
quyền [vũ trang – TXA. ct.] là ở trong tay Thuyết. Cuốc-xy nài bảo Thuyết
phải đến. Thuyết càng thấy rơ âm mưu lộ liễu của giặc Pháp nên đề pḥng thêm
cẩn mật.
[…]
(sđd., tr. 552).
[…]
Thấy t́nh h́nh căng thẳng,
Thuyết gấp rút chuẩn bị đối phó; một mặt, gởi gấp ra Quảng-trị nhiều tài sản
quư báu của triều đ́nh, cả súng đạn; một mặt khác th́ làm chiến luỹ trong
thành, tập trung thêm quân vào trong nội. Hoàng thành xây từ 1805 đến 1820
là một cái thành vuông, mỗi bề 2 kilômét rưỡi, một mặt giáp sông Hương, ba
mặt có hào sâu; tường thành làm bằng mặt đá [gạch – ct.] cao 10 mét; trên
mặt tường có dư trăm đại bác. Trong thành có dư vạn binh lính. Các cuộc
pḥng ngự và hoạt động này, giám mục Cát-pa [Caspar – ct.] đều biết và đều
có báo cáo hàng lúc cho Đờ Cuốc-xy. Cuốc-xy vẫn khinh thường thôi.
Triều đ́nh bị bắt buộc phải
kháng cự bằng vơ lực hay là phải bó tay nạp các lănh tụ ái quốc và giải tán
quân đội; bằng không nạp Thuyết và giải tán quân đội [; nếu hoàn toàn không
– ct.], th́ Đờ Cuốc-xy sẽ nổ súng trước. Những việc đă xảy ra ở Hà-nội năm
1873 và 1882 với Gác-nhi-ê, với Ri-vi-e c̣n rành rành trước mắt; những bài
học đau đớn của Nguyễn-tri-Phương, Hoàng-Diệu c̣n rành rành trước mắt, nay
quan quân và nhân dân kinh thành sắp phải gặp cảnh tấn công man trá của địch
th́ phải làm sao? Cuộc đổ máu đêm 4-7-1885 ở Huế tuyệt đối không thể gọi là
cái “bẫy trấp” của Tôn-thất-Thuyết mà là một cuộc chiến đấu tự vệ của quân
và dân ta trước sự tấn công, trước âm mưu cạm bẫy của địch.
[…]
(sđd., tr. 553).
[…]
Trong lúc đạo quân trong nội
kiềm chế sức tiến của giặc th́ hữu quân đô thống Hồ-văn-Hiển và
Nguyễn-văn-Tường rước vua Hàm-Nghi và ba cung bỏ kinh thành ra đi theo cửa
tây nam. Thuyết rút quân ra sau cùng, hộ giá lên Trường-thi (ở La-chử); ở
đây có một phần của đạo quân Tôn-thất-Lệ hộ tống. Cùng với xa giá chỉ c̣n có
100 quân mà thôi.
Cứ theo lời thuật của Lễ Tần
Nguyễn-nhược-thị trong
“Hạnh Thục ca” th́ Từ-Dũ khi ra khỏi thành đă bảo Tường ở lại Huế để thương
lượng với giặc Pháp.
Địch chiếm thành, cướp hết
của cải quư báu trong hoàng cung, vàng bạc tơ lụa của nhà quan nhà dân, đốt
cháy hai bộ binh và bộ lại mà Thuyết và Tường phụ trách. Khói lửa bốc, hai
ngày trời mới hết.
[…]
(sđd., tr. 555).
[…]
Tường vào nhà thờ Hàm-long
[Kim Long – TXA. ct.] t́m cố đạo Cát-pa (giám mục Lộc) xin nhờ Cát-pa dắt ra
đầu thú với Đờ Cuốc-xy (5-7-85).
[&?!?]
Lẽ tất nhiên rằng Đờ Cuốc-xy
dầu không thích Tường chút nào cũng trông mong nhiều rằng Tường có thể gỡ
rối cho hắn bằng hai cách: cùng với hắn kư tên các tờ hiệu triệu nhân dân,
và cố sức đem vua trở về Huế; Cuốc-xy ra lệnh cho Tường trong hai tháng phải
vỗ yên bá tánh cho kỳ được; Tường [&?!?] vẫn bị giam lỏng ở dinh Thương-bạc,
có lính Pháp canh gác.
[…]
(sđd., tr. 556).
[&?!?]
Nguyễn-văn-Tường gởi tên binh
bộ thị lang Phạm-hữu-Dụng đi lên [ra – TXA. ct.] Quảng-trị tâu vua Hàm-Nghi
rằng Đờ Cuốc-xy muốn mời xa giá trở về.
[…]
(sđd., tr. 557).
[…]
Nhưng giữa lúc Cuốc-xy bối
rối vô cùng th́ Từ-Dũ và Tam cung về Huế. [&?!?] Viện Cơ mật [&?!?],
Nguyễn-hữu-Độ làm phó (Độ là phó vương Bắc-kỳ được Pháp tin cẩn), lập một số
bộ, trong đó có bộ binh do tên khâm sứ Sam-pô [Champeaux – ct.] cầm đầu.
Cuốc-xy ép đám hoàng thân cử Thọ-Xuân làm phụ chánh [đúng chức danh là nhiếp
chánh – TXA. ct.], ép Thọ-Xuân làm bản tuyên cáo nói rằng
Tôn-thất-Thuyết là nghịch đảng, rằng các quan ở Bắc, Trung phải cộng tác với
quân Pháp để tiêu diệt nghịch đảng, v.v… Nhưng chính địch cũng phải thừa
nhận rằng ông già Thọ-Xuân 76 tuổi “không có ảnh hưởng ǵ trong nhân dân
cả”, càng không có ảnh hưởng ǵ với tầng lớp thân sĩ trí thức.
“Cái khả năng duy nhất của ông
phụ chánh [nhiếp chính – TXA. ct.] chỉ là kư tên mà thôi”.
(Gosselin,
L’Empire d’Annam [tr.? – ct.]).
[…]
(sđd., tr. 560).
[…]
Hơn nữa Cuốc-xy bắt cả những
người đă đầu hàng nó [?!?– TXA. ct.] mà không làm việc được vừa ư nó, như
Nguyễn-văn-Tường. Nguyên Cuốc-xy hạn định cho Tường trong 2 tháng phải “lập
lại trật tự”; 2 tháng qua, Tường không lập được trật tự ǵ, bị Pháp bắt đưa
đi Côn-lôn, rồi đi đảo Ta-hi-ti, tất cả của cải của Tường đều bị tịch thu.
Tường bỏ xương [&?!?] ở hải đảo, [&?!?] minh oan với hậu thế bằng thơ:
Sơn sắc thiên trùng thương túy
liễn;
Thần tâm nhất dạng luyến đan
đ́nh.
Thị phi nhiên phó thiên thu
luận;
Xă tắc quân vương thục trọng
khinh?
[nhất dạng –
TXA. nhấn mạnh (in đậm)].
[&?!?]
(sđd., tr. 561).
Lời người biên soạn:
Trong bài viết tập trung phân tích bài thơ “Giải triều…” – Nguyễn Văn Tường
với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi 05.7. 1885 –, chúng tôi đă
làm sáng tỏ đoạn kết của cuộc đời Nguyễn Văn Tường. Cũng trên cơ sở các văn
kiện gốc trong tư liệu chuẩn cứ là ĐNTL.CB. IV, V, VI (1847 –1888), chúng
tôi sử dụng thêm các tư liệu, bài viết của Puginier [17], Delvaux, H. Le
Marchant de Trigon…, đă được công bố từ 1890 đến 1917, và bài viết của
Jabouille, “Một trang viết về lịch sử tỉnh Quảng Trị: tháng 9.1885” [18] để
minh chứng.
Tất nhiên chúng tôi
cũng đă phê phán luận điệu trong bài viết “Một kinh đô phù du: Tân Sở”
(1914) của H. de Pirey [19] và trong hai bài viết “Pháp đánh chiếm kinh
thành Huế” (1920) và “Cái chết của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam”
(1823) của Delvaux [20], là đầy thù hận, thiếu trung thực… Rất tiếc là hiện
nay nhiều người, trong chừng mức nào đó, c̣n bị nhiễm độc từ ba bài viết vừa
nêu của hai cố đạo vốn là linh mục quản hạt tại Quảng Trị này! Và, xin vô
phép được nêu câu hỏi: Phải chăng GS. Trần Văn Giàu cũng phần nào bị “ảnh
hưởng” các chi tiết xuyên tạc (vốn là thủ đoạn khích tướng, li gián của
Pháp), bởi luận điệu của hai cố đạo ấy, mà chúng tôi đă lược bỏ? Chúng tôi
cũng xin vô phép ngờ rằng các tác giả trong Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn
tập) [21] cũng ít nhiều chưa thoát khỏi “định kiến” do các bài báo của H. de
Pirey, Delvaux nói trên gây ra? Thảo nào GS. Trần Văn Giàu c̣n gọi tên giám
mục tả đạo vốn mang bản chất thực dân thâm độc, cuồng bạo Puginier là “ông”!
Mong GS. đọc kĩ bài viết
của chúng tôi một lần nữa và quan trọng nhất là kiểm chứng lại giúp tư liệu
chúng tôi đă ghi rơ xuất xứ [22].
Về hiện tượng thư từ giả,
chính lá “Thư gửi thống đốc Tahiti” (trong Lô Giang tiểu sử [1927] [23])
cũng đă nói đến (thư giả trong vụ Hà Văn Quan; thư chiêu binh Trung Hoa cứu
viện cho kinh đô của Nguyễn Văn Tường sau 05.7.1885). Đó là một hiện tượng
không có ǵ lạ, ngay ở thuở bấy giờ. Chúng tôi đă trích dẫn H. Le Marchant
de Trigon (thanh tra hành chính Pháp tại Đại Nam) [24] để chứng minh “Thư
gửi thống đốc Tahiti” cũng là thư giả. Các tư liệu của Puginier (1890),
Delvaux (1916) [25] … càng chứng minh nội dung là thư ấy là hoàn toàn bịa
đặt và xuyên tạc sự thật lịch sử mà chính Lô Giang Nguyễn Văn Mại – một
người càng về sau càng có khuynh hướng “ḥa” hóa tất cả, rất đáng phàn nàn
–, chính ông cũng không biết xuất xứ lá thư ấy ở đâu. Hơn nữa, đọc kĩ Lô
Giang tiểu sử, ta thấy chính lá thư trên cũng làm đảo lộn suy nghĩ của
Nguyễn Văn Mại về Nguyễn Văn Tường: từ một người lănh tụ chủ chiến yêu nước,
Nguyễn Văn Tường lại trở thành một người chủ “ḥa” yêu nước!
“Sau khi đă kư ḥa ước giáp
thân rồi, TÔN THẤT THUYẾT không chịu qua Ṭa mà thương thuyết. V́ binh quyền
trong tay, thế như cỡi cọp, không thể xuống được, y muốn liều một trận.
NGUYỄN VĂN TƯỜNG, ngoài mặt tuy chủ ḥa, mà bề trong một ḷng với THUYẾT
[TXA. in đậm (iđ.)]. V́ vậy mà lập đồn TÂN SỞ, Cam Lộ… [… ]… Thế là hai bên
không thể không đánh nhau được”.
“Trong kinh lúc ấy mới yên,
mà Nam – Bắc bắt đầu khởi nghĩa. Ông NGUYỄN VĂN TƯỜNG tới Gia Định có ngâm
câu tuyệt cú rằng:
Tây trư tựu trở b́ do xích
Nam giáng li chi quả vị
hoàng
[Lợn Tây lao thớt da nên trụi
Măng Việt ĺa cành trái chửa
vàng
–
theo bản dịch của Lương An –
TXA. chua thêm
(ct.)].
Về khoản kinh thành thất thủ
năm Ất dậu, mới đây [khoảng 1927 – TXA. iđ. và ct.] ta được xem một bức thơ của Ông NGUYỄN
VĂN TƯỜNG viết cho Ông Nguyên Soái Pháp TAHITI càng rơ hơn nữa [TXA. iđ.]”
[26].
Thật ra không phải “càng rơ
hơn nữa”, mà trên đường bị lưu đày, người đă ngâm hai câu tuyệt cú ấy (ám
chỉ bọn Pháp xâm chiếm Huế và việc xuất bôn của vua Hàm Nghi), không thể là
người viết bức “Thư gửi thống đốc Tahiti” ! Nội dung lá thư này giông giống
như luận điệu của Delvaux trong 2 bài viết “Pháp đánh chiếm kinh thành Huế”
[27] và “Cái chết của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam” [28]! Tuy
nhiên, ngay trong các văn bản Delvaux nhận được từ giám mục ở Tahiti, không
hề có bức “Thư gửi thống đốc Tahiti” đó, và trong bài viết “Cái chết…” nêu
trên, Delvaux cũng không một chữ đề cập đến bức thư ấy!
Để phối kiểm, chúng tôi vẫn
căn cứ vào tư liệu gốc [29] (chứ không phải là thứ “tư liệu vu vơ”!):
1.
Hai mật dụ của Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết từ Tân Sở gửi về;
2.
Bản án cáo thị của De Courcy, De Champeaux;
3.
BẢN ÁN CHUNG THẨM của ngụy triều Đồng Khánh (một bên, có chữ kí của De Courcy! [30]);
4.
Dụ, cáo thị cho các tỉnh tả ḱ của Đồng Khánh, Hector, Nguyễn Hữu Độ, Phan
Liêm, Phạm Phú Lâm…
[ĐNTL.CB., tập 36, Nxb.
KHXH., 1976, tr. 225 – 228, 247; tập 37, Nxb. KHXH., 1978, tr. 35, 138…].
Chỉ xin nhấn mạnh: qua cáo
thị trấn áp, khuyến cáo sĩ phu, nhân dân các tỉnh tả ḱ này của thực dân,
ngụy triều, ta c̣n thấy rơ ḷng trung thành của phong trào Cần vương đối với
Nguyễn Văn Tường sau khi ông đă bị lưu đày [31]. ĐNTL.CB. c̣n ghi rơ Phạm
Phú Lâm, Phan Liêm đă trả với giá phải vay như thế nào trong thời gian làm
khâm sai ấy [32]. Và trước đó, cuộc “sát tả” đă bùng lên ở Quảng Trị vào
trưa 06.9.1885, ngay sau buổi sáng Nguyễn Văn Tường bị bắt [33].
Cũng xin đưa ra ba chi tiết
sai lầm trong “Thư gửi thống đốc
Tahiti”:
1.
Nếu có sự bất đồng giữa Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, th́ sao lại có
hai mật dụ vừa ân t́nh, vừa cụ thể về công việc triều chính đến thế?
2.
Chẳng lẽ Nguyễn Văn Tường không nhớ ḿnh đă bị lưu đày sau Tôn Thất Đính,
Phạm Thận Duật (hai người này bị bắt vào Gia Định trước)?
3.
Chẳng lẽ Nguyễn Văn Tường nhớ nhầm ngày không thể nhầm được là ngày Kinh Đô
Quật Khởi (trong thư lại ghi là đêm 23 rạng ngày 24.5 Ất dậu, 1885, nhưng
đúng sự thật lịch sử chính là đêm 22 rạng ngày 23.5 Ất dậu, 1885!)?
Nói rơ hơn, các tư liệu đều
khớp với nhau, kể cả bài thơ “Giải triều…”, chỉ ngoại trừ luận điệu của
Delvaux (BAVH., 1920, 1923) và “Thư gửi thống đốc Tahiti” (không có xuất xứ
trong LGTS., không giám định được bằng phương pháp thực nghiệm!). Từ sự phối
kiểm đó, chúng tôi kết luận “Thư gửi thống đốc Tahiti” không phải thư thật.
Để kết luận chắc chắn hơn về lá thư này, cần đọc trọn vẹn “Lô Giang tiểu
sử”, ở đó, thể hiện rơ thái độ chính trị của Nguyễn Văn Mại, trong điều kiện
hạn chế thời bấy giờ?
Nói rơ ra, chúng tôi tin
chắc rằng lá “Thư gửi thống đốc Tahiti” đă được bịa ra, do những người chủ
“ḥa”, nhằm mục đích biện minh cho chính họ: người sáng suốt, có học (như
Nguyễn Văn Tường) th́ không thể “sát tả” được; chỉ người nóng nảy, ít học
(như Tôn Thất Thuyết) mới chủ trương “sát tả” mà thôi!
Các thao tác phối kiểm,
chúng tôi đă thể hiện rơ ở bài viết Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử
sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi 05.7.1885, cùng các trích dẫn trực tiếp nguyên
văn các bản dịch.
Bi kịch Nguyễn Văn Tường là
bi kịch của một người có tâm huyết, nhưng khi bắt đầu bước lên vũ đài chính
trị th́ bối cảnh lịch sử đă quá khó khăn, thất thế; khi cùng Tôn Thất Thuyết
thật sự nắm lấy quyền lực bằng những hành động sáng suốt, táo bạo, th́ ít
nhiều cũng gây va chạm với phe bảo hoàng ngu trung, chủ “hoà”, và thực chất
cũng đă quá muộn, khó bề cứu văn t́nh cảnh Đất nước. Bi kịch của Nguyễn Văn
Tường là bi kịch của một lănh tụ yêu nước, chống Pháp, chống tả đạo, phải
đảm đương một nhiệm vụ lịch sử rất éo le, dễ gây ngộ nhận, trong kế sách vừa
đánh vừa đàm, sau khi kinh đô quật khởi nhưng bị thất thủ; rồi từ đó, Đất
nước hoàn toàn rơi vào tay giặc Pháp và tả đạo, trong một thời gian quá lâu
(1885 – 1954; riêng ở Miền Nam, măi đến năm 1975), đến nỗi những tuyên
truyền bôi nhọ của giặc Pháp và tả đạo đă trở thành định kiến trong năo
trạng của vài ba thế hệ! Đó c̣n là bi kịch của một phụ chính đại thần có uy
tín và ảnh hưởng lớn trong một giai đoạn lịch sử mà ở đó các chính kiến, hệ
ư thức va chạm nhau gay gắt, với những lăng kính khác nhau (bảo hoàng ngu
trung, chủ “ḥa”, thân Pháp, thân tả đạo là các khuynh hướng càng về sau
càng lấn lướt, thắng thế); do đó các thứ được gọi là “tư liệu” lại rất rối
nhiễu, dễ gây hoang mang! TXA.
III. LỜI THƯA CUỐI CHUYỆN ĐỂ TẠM
KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
Lời người biên soạn:
Trên đây là những đoạn, những câu trích từ bộ sách Chống xâm lăng của GS.
Trần Văn Giàu (và những ghi chú của chúng tôi). Những chỗ chúng tôi mạn phép
lược bỏ, vẫn c̣n nguyên vẹn trong hàng vạn bản sách của GS., tất nhiên GS.
phải chịu trách nhiệm trước lương tâm và công luận! Theo thiển ư, chúng tôi
tự thấy đă đặt các kí hiệu và dấu biểu cảm đúng chỗ, phù hợp với nguyên tắc
trích dẫn.
Thật ra, chỉ với
ĐNTL.CB. IV, V, VI (1847 – 1883; 1883 – 1885; 1885 – 1888), bằng cách đọc
theo quan điểm, lập trường dân tộc, nhân dân, theo đạo lí Việt Nam, công lí
nhân loại chân chính, tiến bộ **, th́ không một ai, kể cả danh nhân, nhà yêu
nước ngây thơ nhất, có thể bị lung lạc mà vô t́nh tiếp tay giặc Pháp đập tan
tành Nguyễn Văn Tường được. Và tuy rằng bị mắc mưu tuyên truyền bôi nhọ,
cũng không một ai có thể đứng trên lập trường “bảo hoàng hơn vua”, Đại Hán
chủ nghĩa, liên kết với một số tín đồ Thiên Chúa giáo, cho dù như cụ Phan
Bội Châu kính mến (? vong bản?) đă trót lỡ, mà đảo ngược nổi sự thật lịch sử
về Nguyễn Văn Tường, vốn đă được ĐNTL.CB. IV, V, VI ghi nhận và bảo chứng!
Ở đây, để tỏ ḷng kính
trọng GS. Trần Văn Giàu, chúng tôi mạn phép trích dẫn và b́nh chú, đồng thời
xin phép góp ư với GS. trong tinh thần dân chủ mới đích thực (điều mà chúng
ta vẫn đang khao khát, v́ ai cũng chán ghét thái độ học phiệt trong học
thuật!) ***.
Hi vọng GS. sẽ có dịp
đọc những cuốn sách của chúng tôi biên soạn và viết về Nguyễn Văn Tường
(1824 – 1886), đặc biệt là cuốn “Tiểu sử biên niên về Ḱ Vĩ phụ chính đại
thần Nguyễn Văn Tường, “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp”” và bộ
truyện kí lịch sử (truyện – sử kí)**** Phụ chính Nguyễn Văn Tường gồm bốn
tập, vốn lấy chuẩn cứ là ĐNTL.CB. các kỉ đă nói trên. Với các cuốn sách của
chúng tôi, mong rằng sẽ góp phần nhỏ để chấm dứt t́nh trạng người nói xuôi
kẻ nói ngược rất rắc rối, tà tâm, học phiệt, và khá vớ vẩn!
Tuy nhiên, để càng sáng
tỏ hơn, vấn đề c̣n lại vẫn là kho châu bản triều Nguyễn ở TP. HCM., và làm
thế nào để khai thác thêm các kho lưu trữ hồ sơ tư liệu của thực dân ở Pháp,
ở Vatican (mặc dù từ đầu thế kỉ XX đến nay phía thực dân và Vatican đă đưa
ra công luận phần lớn các tư liệu gốc của Pháp, Hội Truyền giáo hải ngoại
Paris, và cả tư liệu gốc của Vatican như chúng tôi đă trích dẫn*****). Dĩ
nhiên, vấn đề giám định thực nghiệm tư liệu với các phương tiện khoa học, kĩ
thuật hiện đại, tinh vi nhất, với các phương pháp xác minh liên ngành tiên
tiến nhất không thể không đặt ra! Và sự chứng kiến, xác nhận của các sử gia
trên thế giới cũng hết sức quan trọng! Đó là yêu cầu chung trong phương pháp
luận nghiên cứu sử học trước bất ḱ nhân vật, sự kiện, giai đoạn lịch sử
nào.
Chúng tôi hoàn toàn tự
tin về những ḍng chữ đă viết về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 –
1886).
Kính mong các bài viết
của chúng tôi về Nguyễn Văn Tường được đăng tải trên báo chí cho rộng đường
b́nh luận công khai, để đi đến kết luận cuối cùng có tính khoa học nghiêm
túc, đích thực.
Kính mong được chỉ giáo.
Trân
trọng.
TRẦN XUÂN AN
CƯỚC CHÚ bài
TRÍCH ĐOẠN “CHỐNG XÂM LĂNG”
(VÀ NHƯ MỘT
CÁCH ĐỐI THOẠI VỚI GS. TRẦN VĂN GIÀU)
[1] GS. Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng (CXL.), trọn bộ, Nxb.
TP. HCM. tái bản, 2001.
[2] Hướng đến việc thực hiện mục tiêu lí tưởng là nền dân chủ
xă hội chủ nghĩa đích thực: “dân chủ vạn lần hơn nền dân chủ tư sản”
(Lénine), chúng tôi thấy trước hết phải nỗ lực thúc đẩy thực thi dân chủ
trong học thuật, văn chương. Dân chủ trong học thuật, văn chương là minh
bạch nhất, bởi không có ǵ minh bạch hơn giấy trắng mực đen!
[3] Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.), bản dịch Tổ
Phiên dịch Viện Sử học, các tập 27 – 38, Nxb. KHXH., 1973 – 1978.
[4] Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.), tập 3, bản dịch Tổ Phiên
dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 427 – 467.
[5] Từ điển văn học (TĐVH.), Nxb. KHXH., 1883 – 1884, tr. 346
– 347 [tập I], tr. 445 – 446 [tập I], tr. 548 – 549 [tập II]).
[6] CXL., sđd., tr. 7 – 12.
[7] Xem: tờ tâu của Quốc sử quán, ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr.
8.
[8] ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 5 và tr. 13.
[9] Những người bạn cố đô Huế (NNBCĐH. [BAVH., 1916]), tập 3,
nhiều người dịch, Nxb. Thuận Hoá, 1997, tr. 29. Xem chú thích 25.
[10] Cao Huy Thuần, “Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân
[Pháp] tại Việt Nam [1957 – 1914]” (Christianisme et colonialisme au Viet
Nam, 1957 – 1914), luận án tiến sĩ tại Pháp (1969), bản dịch, in ronéo của
Đại học Vạn Hạnh, Sài G̣n, 1973.
Xin xem thêm chú thích (8) cuối bài “Nguyễn Văn Tường với
nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi 05.7.1885” của chúng tôi.
[11] Bản dịch của Tổ Phiên dịch Viện sử học Việt Nam, Nxb.
KHXH., 1973 – 1976.
[12] Xin xem ư nghĩa các kí hiệu này ở những cụm từ in
nghiêng ngay các ḍng bên trên. Mạn phép giới thuyết rơ hơn:
[…]: tạm cắt bỏ.
[&?!?]: c̣n có thêm những câu chữ đáng thắc mắc, phàn nàn.
[?!?]: vẫn trích nhưng nghi ngờ, không đồng ư.
[13] Xem: Châu bản triều Nguyễn về Nguyễn Văn Tường, gồm ba
tập văn chính luận (tấu, sớ…). Nhờ được các quan ở Viện, Các tạo điều kiện,
nên hậu duệ cụ Nguyễn Văn Tường đă sao chép được các tập văn này từ nguyên
bản, vào những năm đầu thế kỉ XX. (Ngoài ra, c̣n có một tập thơ: Ḱ Vĩ quận
công Nguyễn Văn Tường thi tập; cũng do hậu duệ lưu giữ hoặc sưu tầm lại
được). Nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh đă sao chép, dịch và
công bố những phần quan trọng.
[14] ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 197; tập 36, sđd., tr. 214 –
215; xem thêm: tập 30, sđd., tr. 170 – 171; tập 31, sđd., tr. 86 – 89, 103;
đặc biệt, xin vui ḷng xem kĩ tiểu mục 3.a.3 của bài Nguyễn Văn Tường với
nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi 05.7.1885 của chúng tôi.
[15] ĐNTL.CB., tập 31, sđd., bản tấu tháng 3 âl., tr. 202 –
204.
* Xem thêm: Tự Đức, Thơ văn Tự Đức, tập II, Ngự chế văn tam
tập, bài “Đuổi viên hành nhân Nguyễn Hoằng” [linh mục], Nxb. Thuận Hóa tái
bản, 1996, tr. 176 – 177; Bửu Kế, Chuyện triều Nguyễn, bài “Ṭa Khâm sứ
Pháp”, Nxb. Thuận Hóa, 1990, tr. 78 – 101; H. Cosserat, bài “Người ta viết
sử như thế nào: Đón tiếp đại tá Guerrier tại triều đ́nh nước Nam ngày
17.8.1884”, NNBCĐH. (BAVH., 1924), tập XI, Phan Xưng dịch, Nxb. TH., 2002,
tr. 373 – 397; và nhiều bài viết khác của thực dân, tả đạo Pháp trong BAVH.
[xin xem cuối bài viết này của chúng tôi]. Dĩ nhiên ai cũng biết, cần phải
nghiên cứu với cách đọc chủ yếu là đọc vào thái độ thù hận của các tác giả
vốn là thực dân, tả đạo người Pháp ấy đối với Nguyễn Văn Tường, nghĩa là đọc
vào thái độ thù – bạn, địch – ta của chúng.
[16] Xin xem: ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 151, 167, 176 –177
.
[17] Tư liệu Hội Truyền giáo Bắc ḱ, ngày 09.3.1890, dẫn theo
GS. Nguyễn Văn Kiệm, Kỉ yếu Hội nghị khoa học lịch sử với đề tài “Nhóm chủ
chiến triều đ́nh Huế và Nguyễn Văn Tường”, 20.6.1996, ĐHSP. TP.HCM., tr. 14;
Những người bạn cố đô Huế (NNBCĐH.) [BAVH., 1916, 1917], bản dịch, sđd.. Xin
xem các chú thích 24, 25.
[18] Những người bạn cố đô Huế (NNBCĐH.) [BAVH., 1923], tập
X, Phan Xưng, Hà Xuân Liêm dịch, Nguyễn Vy hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 2002,
tr. 434, 439…
[19] NNBCĐH. (BAVH., 1914), tập 1, Đặng Như Tùng dịch, Bửu Y
hiệu đính, Nxb. Thuận Hoá, 1997, tr. 224 – 234.
[20] NNBCĐH. (BAVH., 1920, 1923), bản dịch, sđd.. Xem chú
thích 27 và 28.
[21] Nhiều tác giả, Đại cương lịch sử Việt Nam, toàn tập,
Nxb. Giáo dục, 2001, tr. 534 – 537.
[22] NNBCĐH. [BAVH., 1914 – 1924], 11 tập và một tập bản dẫn,
bản dịch của nhiều dịch giả, Nxb. Thuận Hóa, 1997 – 2002.
[23] Lô Giang Nguyễn Văn Mại, Lô Giang tiểu sử (LGTS.),
Nguyễn Hy Xước dịch, bản in ronéo, 1961, tr. 34, 38 – 39.
[24] Henry Le Marchant de Trigon, bài “Vị đại biện đầu tiên
của nền bảo hộ đến Huế”, NNBCĐH. [BAVH., 1917] , tập IV, Đặng Như Tùng dịch,
Tôn Thất Hanh hiệu đính, Nhị Xuyên, Lê Văn biên tập, Nxb. TH., 1998, tr.
273…
[25] Aldophe Delvaux, bài “Phái bộ Pháp ở Huế và những phái
viên đầu tiên”, NNBCĐH. [BAVH., 1916], tập 3, Đặng Như Tùng dịch, Phan Xưng,
Bửu Ư, Đỗ Hữu Thạnh, Hà Xuân Liêm hiệu đính, Nxb. TH.,1997, tr. 29 – 89…
[26] LGTS., Nguyễn Hy Xước dịch, bản in ronéo, 1961, tr. 34,
38 – 39.
[27] NNBCĐH. [BAVH., 1920], tập VII, Bửu Ư, Phan Xưng dịch,
sđd., tr. 338 – 375.
[28] NNBCĐH. [BAVH., 1923], tập X, Phan Xưng dịch, Nguyễn Vy
hiệu đính, sđd., tr. 478 – 483.
[29] Xin nhấn mạnh các tư liệu gốc này: ĐNTL.CB., tập 36,
Nxb. KHXH., 1976, tr. 225 – 228, 247; tập 37, Nxb. KHXH., 1978, tr. 35, 138…
[30] Theo Delvaux, “Cái chết của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ
chính An Nam”, bđd., sđd..
[31] ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 138.
[32] ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 197, 222; tập 38, sđd., tr.
12, 13.
[33] Jabouille, “Một trang viết về lịch sử tỉnh Quảng Trị:
tháng 9.1885”, NNBCĐH. [BAVH., 1923], tập X, Phan Xưng, Hà Xuân Liêm dịch,
Nguyễn Vy hiệu đính, sđd., tr. 434, 439…
** Xin xem lại bài viết của chúng tôi: “Cách viết sử theo
tiêu chí ngược ở Đại
Nam thực lục chính biên kỉ
đệ lục (1885 –1888) và cách viết sử xuyên tạc bằng sự đảo ngược sự thật lịch
sử ở một vài trang trong Việt
Nam
vong quốc sử”.
*** Trên Tạp chí Xưa & Nay, số 29, tháng 7. 1996, GS. Nguyễn
Văn Kiệm đă viết trong bài “Ghi nhận về cuộc hội thảo khoa học: Nhóm chủ
chiến triều đ́nh Huế và Nguyễn Văn Tường [20.6.1996]” như sau: “GS. Trần Văn
Giàu bày tỏ sự xúc động khi nh́n bức ảnh chụp Nguyễn Văn Tường nằm trên
giường bệnh ở Tahiti, và tuyên bố từ bỏ những ư kiến đánh giá trước đây của
ḿnh về nhân vật lịch sử này, và kể từ nay thừa nhận Nguyễn Văn Tường là một
trong số những đại quan yêu nước khác của triều đ́nh Huế”.
Bài “trích đoạn và đối thoại” trên đây dẫu sao vẫn rất cần
thiết, một khi vào năm 2001, “Chống xâm lăng” vẫn được tái bản, không sửa
chữa.
Vả lại, đây chỉ là một vấn đề thuần tuư thuộc về sử học, lại
là sử học về một giai đoạn đă cách đây hơn một thế kỉ. Tôi thường nghĩ:
Không một ai không từng phạm sai sót nào, kể cả danh nhân, anh hùng chiến
đấu và anh hùng lao động từ xưa đến nay, và không một ai có quyền tự cho bản
thân cá nhân ḿnh là đại diện tiêu biểu cho một triều đại, một chế độ. Nói
trắng ra, tôi mạn phép đối thoại, phản biện với GS. về điểm này hay điểm nọ,
trong sự giới hạn vấn đề, không có nghĩa là phê phán chế độ xă hội chủ nghĩa
của nước ta, một chế độ đă có công rất lớn trong việc đánh bại những nước
thực dân, đế quốc, bành trướng hung hăn nhất trên thế giới: Pháp, Mỹ, bá
quyền Trung Quốc (có thể kể cả việc góp phần tiêu diệt phát xít Nhật). Bản
thân tôi rất sợ những quy chụp ấu trĩ kiểu đó. Xin nói thêm cho rơ. TXA.
**** Truyện kí – khảo cứu lịch sử (khảo cứu lịch sử với đầy
đủ các thao tác nghiên cứu khoa học, nhưng được viết dưới dạng truyện kí
lịch sử).
***** - Bulletin des amis du vieux Huế, 1914 – 1944 (đặc biệt
là bài của Aldophe Delveaux, Phái bộ Pháp và những phái viên đầu tiên ở Huế,
1916, và bài của Henry Le Marchant de Trigon, Vị đại biện đầu tiên đến Huế,
1917…);
- Cao Huy Thuần, “Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân tại
Việt Nam, 1957 – 1914” (Christianisme et colonialisme au Viet Nam, 1957 –
1914), luận án tiến sĩ tại Pháp, 1969, bản dịch, in ronéo của Đại học Vạn
Hạnh, Sài G̣n, 1973; Nxb. Tôn Giáo tái bản với bản dịch mới của Nguyên
Thuận, 2003;
- Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại
Nam đối diện với Pháp và
Trung Hoa, luận án tiến sĩ tại Pháp, 1982, UB. KHXH. TU. TP. HCM. xb., 1990;
- Puginier, Tư liệu Hội
Truyền giáo Bắc ḱ, ngày 09.3.1890, dẫn theo GS. Nguyễn Văn Kiệm, Kỉ yếu Hội
nghị khoa học lịch sử với đề tài “Nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế và Nguyễn
Văn Tường”, 20.6.1996, ĐHSP. TP.HCM.. … v. v…
TXA.