TRẦN
XUÂN AN
NGUYỄN
VĂN TƯỜNG,
“NHỮNG NGƯỜI TRUNG NGHĨA
TỪ XƯA,
TƯỞNG
KHÔNG HƠN ĐƯỢC”
KHẢO LUẬN VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH SỬ HỌC
Nhà Xuất bản
2003
GS. BỬU KẾ
(1914 – 1989)
(cố học giả, dịch giả, GS.
Đại học Văn khoa Huế)
TOÀ KHÂM SỨ PHÁP
(MỘT TUỲ BÚT – KHẢO LUẬN VỀ LỊCH
SỬ,
VÀ VÀI NÉT B̀NH CHÚ)
Trước Cách mạng Tháng tám năm
1945 [(1885 – 1945) – TXA. chua thêm (:ct)], tuy nước ta là một nước quân
chủ, vua là bậc chí tôn, nhưng thật ra uy quyền kém hẳn viên khâm sứ.
Dưới ông khâm sứ, c̣n có các ông
công sứ, các ông cố vấn bộ Lại, Hộ, Binh, H́nh, Công. Các quan thượng thơ
của ta muốn làm việc ǵ, nhất nhất đều phải gởi dạng bản đến để họ xem trước.
Họ có chấp thuận mới được thi hành, bằng không th́ phải gác lại. Cho đến
những quyền hành nhỏ mọn như bổ dụng một viên thừa phái hạng bét hay chi
tiêu một món tiền cỏn con cũng phải qua tay người Pháp.
Cái uy quyền đó đă tiêu tan theo
cuộc đảo chánh Nhật Bản ngày 9.3.1945, c̣n Ṭa Khâm sứ Pháp th́ phần lớn đă
bị đổ nát theo bom đạn trong cuộc chiến tranh chống Pháp, những căn nhà c̣n
lại th́ mái trụt tường xiêu, cỏ cây hoang dại ăn lan từ sân trước đến sân
sau, diễn ra cảnh thê lương sau hơn 80 năm đô hộ [(1862? – 1945?) – TXA.
ct.]. Nay Trường Đại học Sư phạm Huế được xây dựng ở đó.
@
Viên khâm sứ Pháp xuất hiện trên
đất cố đô này do điều khoản 20 của hiệp ước Giáp tuất kí kết ngày 15.3.1874
giữa hải quân thiếu tướng Đuypơrê (Dupré) và Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường.
Trong [cưỡng ước – ct.] đó khoản 15 [đúng ra là khoản 13 – ct.] định rằng:
Nước Pháp được đặt quyền lănh sự các cửa bể và các thành thị để mở ra cho
ngoại quốc vào buôn bán.
Theo hiệp ước Giáp tuất c̣n có
một thương ước nữa kí ngày 30.8.1874. Các điều khoản 2, 6, 7 của thương ước
này cho viên khâm sứ quyền xuất cảng gỗ lim, gạo và tơ tằm. Thế là bao nhiêu
sản phẩm quư giá của ta, người Pháp có toàn quyền mua để đem về xứ hay bán
đi các nước khác.
Sợ các quan ta, nhất là các quan
ở thương cảng có thể gây trở ngại, trong thương ước này c̣n nói thêm: Viên
khâm sứ có quyền chấp nhận hay không chấp nhận các viên quan phục vụ tại các
hải cảng mở ra để giao thiệp với Pháp. Như vậy có nghĩa là nhưng kẻ nào
chống đối lại người Pháp có thể bị thải hồi hay đổi đi làm việc ở một nơi
khác.
Sau hiệp ước Giáp tuất được kí
kết, ngày 15 tháng 01 năm 1875, thượng thư hải quân Pháp gởi thư cho thống
đốc Nam ḱ Đuyperê [Duperré – ct.], yêu cầu đề cử một người giữ chức khâm sứ
để giao thiệp với Triều đ́nh Huế. Và Đuyperê đă cử Râyna đề Étxa (Rheinart
des Essart), sanh ngày 01.11.1840, xuất thân đại úy hải quân lục chiến, từng
làm tham biện tại Soái phủ ở Sài G̣n và công sứ ở Hà Nội.
Râyna đi trên chiếc thuyền
Ăngtilốp (Antilope) và tới Thuận An vào ngày 25 tháng 7. Bên ta phái một
viên quan Bộ Lễ về Thuận An nghinh tiếp, sau đó đưa về công quán. Hai ngày
sau, ông Râyna sang thăm các quan Thương bạc (tức là quan Ngoại giao của ta)
và được thượng thư Nguyễn Văn Tường đón tiếp niềm nở. Cuộc bang giao ban đầu
diễn ra tốt đẹp (như Râyna bị ốm, vua Tự Đức liền cho người đến hỏi thăm sức
khoẻ), nhưng về sau, giữa viên khâm sứ Pháp và Triều đ́nh Việt Nam trở nên
thù hằn chỉ chờ cơ hội để hại lẫn nhau.
Lúc Râyna đến Huế th́ Ṭa Khâm
sứ chưa xây cất nên phải tạm trú tại công quán mà Triều đ́nh Huế dùng để đón
tiếp các nhà ngoại giao các nước. Công quán này tuy bằng tranh nhưng cũng
khá đẹp, trước mặt có cột cờ, chung quanh có tường, viên khâm sứ ở đây với
Priơ (Prieux), quan cai trị hạng nhất, Đôphanh (Dauphin), thư kí, Xuliê (Souliers),
bác sĩ, Phơlơri (Fleury), thợ làm bánh ḿ, Đôm (Dhomps), quản gia, và một
viên chủ Sở Công chánh ra Huế để lo việc xây cất Ṭa Khâm sứ. Lúc bấy giờ ở
Huế chỉ có mấy giáo sĩ và 7 người Pháp kể trên là được phép lưu trú mà thôi.
Ngoài ra, trong Sứ quán c̣n có một viên thông ngôn, những người đầu bếp và
một số ít lính đều là người Việt.
Công việc trước tiên của Râyna
khi đến Huế là chọn đất để làm Ṭa Khâm. Trong thương ước, có khoản nói rằng:
Chánh phủ Việt Nam nhường không cho Chánh phủ Pháp đất đai cần thiết để làm
nhà cho các viên công sứ hay nhân viên tùy tùng ở. Tuy thế, Triều đ́nh Huế
chỉ bằng ḷng để cho Râyna sử dụng những mảnh đất thật xa thành phố, lại ẩm
thấp, cứ đến mùa mưa th́ ngập nước. Những nơi mà Râyna vừa ư th́ các quan ta
lại không thuận, lấy cớ đất ấy là của riêng nhà vua hoặc của các ông hoàng
bà chúa, hay sắp dùng để xây cất đền này đài nọ v.v…
Râyna thấy ta làm khó dễ, nên đă
quyết định bảo với viên chủ Sở Công chánh Sămbe (Sambert), cùng với những
người giúp việc đến nhà thờ Lịch Đại (gần ga Huế), đóng nọc định làm bừa Ṭa
Khâm sứ ở đó. Sợ Râyna liều lĩnh xâm phạm nơi thờ phụng, nên Triều đ́nh Huế
bằng ḷng cho mảnh đất nơi công quán, mà Râyna hiện đang tạm trú. Mảnh đất
này nằm tại hữu ngạn sông Hương, gần cầu Trường Tiền. Dần dần lâu đài, dinh
thự lập lên chung quanh vùng này và tạo thành một khu vực mang tên là khu
vực của người Âu (tuy gọi thế chứ phần nhiều là của người Pháp).
Ṭa Khâm sứ chiếm một khoảng đất
vào lối 200 thước vuông. Nhân công (chừng 30 người Trung Hoa) và vật liệu
đều đưa từ Sài G̣n ra, chỉ trừ vôi và cát mua ở Huế. Làm tầng dưới xong, lúc
xây tầng trên, Râyna bị các quan ta phản đối v́ lẽ Toà Khâm dám vô lễ xây
cao hơn cung điện của vua. Và khi lợp mái nhà bằng những lá kẽm th́ lại gây
ra dư luận cho rằng người Pháp sợ ta bắn đại bác vỡ mái nhà nên không dám
lợp ngói. [Sở dĩ có dư luận xem ra có vẻ buồn cười ấy, tất nhiên không phải
v́ dân kinh đô cổ lỗ, mặc dù trước vật liệu xây dựng khá mới lạ đối với miền
nhiệt đới là tôn kẽm, mà v́ tôn kẽm rất nóng bức đối với người ở, nhưng Pháp
vẫn cố chịu đựng (?) – TXA. ct].
Nhưng về sau mọi trở ngại đă
được dàn xếp và Ṭa khâm vẫn làm theo họa đồ đă vẽ từ trước.
Râyna là một tay thực dân hạng
nặng, v́ thế nên mối bất ḥa giữa ông với Triều đ́nh Huế mỗi ngày một trở
nên trầm trọng. Nhà cầm quyền Pháp thấy rằng nếu để ông th́ bất lợi cho
đường ngoại giao trong buổi ban sơ nên đă ra lệnh triệu hồi, khiến ông không
kịp dự vào lễ khánh thành Ṭa Khâm sứ.
@
Người thay Râyna là Philát (Philastre).
Ông đến Huế vào ngày 14.12.1876. Qua đến tháng 7 năm 1878, Ṭa Khâm hoàn
thành và phí tổn đến một triệu quan Pháp.
Trái với Râyna, Philát tỏ ra
biết điều hơn, chẳng bao lâu lại bị thay. Người thay thế ông không ai khác
hơn là Râyna, có thể áp đảo Triều đ́nh Huế được.
T́nh thân thiện Việt – Pháp đă
mất đi từ ngày Philát từ giă cố đô Huế. Vua Tự Đức cũng như Râyna không có
thái độ nhân nhượng lẫn nhau, t́nh thế bỗng nhiên trở nên căng thẳng. Có
những vấn đề ǵ quan trọng, Râyna phải khó khăn lắm mới vào yết kiến vua Tự
Đức được. Một việc rắc rối đă xảy ra khiến viên khâm sứ Pháp không bao giờ
quên: Râyna cùng với bác sĩ Xuliê đi thuyền lên Kim Long, lúc trở về th́ bị
quân lính ta chặn lại, buộc phải lên bộ đi băng qua mấy cánh đồng để trở về
Ṭa Khâm sứ, v́ vua Việt Nam đang câu cá trên sông, thuyền của người Pháp
không thể đi ngang qua đó.
Thế rồi vua Tự Đức gởi hai phái
đoàn sang Bắc Kinh và Vọng Các [Bangkok
– ct.] để nối lại t́nh giao hảo với hai nước đă bị Pháp cắt đứt.
Đến cuối tháng năm 1880, Tôn
Thất Thuyết chuẩn bị cuộc chống Pháp và qua tháng bảy năm ấy, vua ta ban
hành một đạo dụ nói rằng: Những kẻ buôn lậu tiền đồng, ngay cả người Âu cũng
vậy, đều bị phạt trượng.
Đạo dụ này khiến người Pháp hết
sức bất b́nh. V́ theo hiệp ước đă kí giữa hai nước th́ mỗi khi người Pháp
phạm tội, chỉ có ṭa án Pháp là có quyền xử họ mà thôi, c̣n các quan ta
không có quyền căng nọc ra, dùng trượng mà đánh như trong dụ đă ban hành.
Chưa đủ phương tiện để gây hấn
với Triều đ́nh Huế, chính quyền Pháp lại một lần nữa thay đổi khâm sứ. Palát
đơ Sămpô (Palasme de Champeaux) thay thế Râyna vào tháng 10 năm 1880.
Sămpô là cựu sĩ quan hải quân,
đă từng giúp việc tại Soái phủ ở Sài G̣n, biết tiếng Việt và thông hiểu tánh
t́nh, phong tục của dân ta. Ban đầu mối bang giao có thể tương đối gọi là tử
tế, nhưng chẳng bao lâu mối bất ḥa lại xảy ra. Ngày 15.8.1881, Sămpô ra Bắc,
nhưng đến năm 1883, sau khi Thuận An thất thủ, ông cùng toàn quyền Hátmăng (Harmand)
về Huế nghị ḥa và kí kết hiệp ước.
Trong thời gian Sămpô ra Bắc,
lại vẫn Râyna đến thay thế. Mối bất ḥa sẵn có nay trở nên sâu đậm hơn. Một
người giúp việc ở Ṭa Khâm sứ bị quan ta bắt giam. Râyna biết rằng không thể
dùng phương pháp thương lượng để tiến đến việc đô hộ nước ta được, nên đă
viết thư cho Tômxông (Thomson), thống đốc Nam ḱ, trong đó có câu: “Với
những cuộc thương thuyết, ta không thâu hoạch được một chút nhượng bộ nhỏ
mọn nào; chỉ dùng sức mạnh mới chiếm được một cái ǵ mà thôi” [TXA in đậm (:iđ.)].
Trong một đoạn khác, ông lại viết: “Nhiệm vụ của viên khâm sứ ở Huế c̣n trở
nên vô dụng trong một thời gian lâu hơn nữa, v́ họ chỉ nhượng bộ sức mạnh.
Về phần tôi, tôi sẽ gặp vô cùng khó khăn hơn bất cứ một ai để được hưởng đôi
chút nhượng bộ. Trong thời ḱ đầu tiên ở Huế, tôi đă có nhiều việc rắc rối
với Triều đ́nh và từ đó viên thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường, lúc này đối
với nhà vua là người rất có thế lực, hết sức căm thù tôi, sau những vụ bất
ḥa giữa ông và tôi” [TXA. iđ.].
Lúc này lại xảy ra mấy việc
trọng đại: Quân Pháp chiếm Nam Định và Ḥn Gay, khiến dư luận trong nước rất
sôi nổi. Ḷng căm thù người Pháp sôi lên sùng sục. Tômxông khuyên Râyna phải
thận trọng trong khi chờ người thay thế, có thể tạm lánh xuống mấy chiếc tàu
đậu gần Huế, nhưng không nên cắt đứt dây liên lạc ngoại giao với Chánh phủ
Việt Nam.
Mặc dầu Tômxông đă căn dặn,
Râyna trước thời cuộc biến chuyển, trước những cuộc chuẩn bị chiến tranh của
ta, đă quả quyết rời Huế về Sài G̣n. Ông ta đến nơi vào ngày 06.5.1883 trên
chiếc Paxơvan (Patceval) cùng với hồ sơ và tất cả nhân viên Ṭa Khâm sứ.
Viên thống đốc Nam ḱ ngạc nhiên hết sức.
Râyna ra đi không phải với một
niềm lưu luyến, với tiệc rượu tiễn đưa, tiếng sâm banh nổ vang như pháo mà
với một thái độ hung hăng dọa nạt. Ông ta khóa cửa Ṭa Khâm lại, giao ch́a
khóa cho các quan Thương bạc. Nhưng các quan ta không nhận. Râyna hách dịch
ném ch́a khóa xuống đất mà nói: “Từ đây nếu có một sự cướp phá nhỏ mọn nào
xảy ra th́ Chính phủ Nam triều phải chịu trách nhiệm”.
Thấy Râyna hậm hực ra đi, Triều
đ́nh Huế không khỏi lo ngại. V́ ngày nào c̣n viên khâm sứ ở đó, chắc người
Pháp chưa dám đánh với chúng ta. V́ nếu xảy ra chiến cuộc th́ viên khâm sứ
có thể lâm nguy trong khi chưa có quân lính để hộ vệ. Nay Râyna vào Sài G̣n
biết đâu không kéo quân ra để gây sự?
Ch́a khóa mà Râyna bỏ lại, các
quan Thương bạc cho cầm đến nhờ giáo sĩ Cátpa (Caspar) giữ hộ, nhưng ông này
từ chối.
Sau nhiều lần thương thuyết,
Cátpa chấp thuận biện pháp này: Ch́a khóa bỏ vào trong một cái tráp để tại
Ṭa Khâm sứ. Cửa ngoài khóa lại, niêm phong tử tế, có một hội đồng cứ 10
ngày đến khám con niêm một lần. Giáo sĩ Cátpa phái linh mục Rơnôn (Renauld)
sung vào hội đồng này.
@
Trong lúc Ṭa khâm vắng bóng
viên khâm sứ, những việc quan yếu khác lại xảy ra.
Tại Bắc ḱ, quân ta hợp tác
với quân Trung Hoa đă chuyển từ thế ḥa ra thế công [TXA. iđ.]. Tổng đốc Bắc
Ninh Trương Quang Đản, phó kinh lược sứ Bùi Ân Niên đem binh đóng ở
huyện Gia Lâm, kéo sang đánh thành Hà Nội. Hoàng Tá Viêm sai Lưu Vĩnh Phúc
làm tiên phong đem quân đóng ở phủ Hoài Đức, chuẩn bị tấn công quân Pháp.
Sáng ngày 13 tháng 4 năm 1883,
đại tá Hănri Rivie (Henri Rivière) đem 500 binh sĩ tiến đánh vùng Ô Cầu Giấy,
bị quân ta mai phục chung quanh đổ ra giáp chiến. Đại tá Rivie tử trận, đại
úy Bectơ đơ Vile (Berthe de Villers) bị thương. Trận này binh sĩ Pháp vừa bị
chết vừa bị thương vào lối 100 người.
Với cuộc thất trận này, Chánh
phủ Pháp đă phản ứng bằng cách gửi sang quân tiếp viện. Hạ nghị viện Pháp
chấp thuận bỏ ra một ngân khoản 5 triệu rưỡi quan để chi phí vào công cuộc
cướp nước. C̣n bên ta th́ Triều đ́nh Huế đă tổ chức những tiệc vui, đă ban
thưởng những người tham chiến.
Việc nước đang trăm phần rắc rối,
chiến cuộc Việt – Pháp chưa biết rồi đi đến đâu th́ vua Tự Đức mất (16.6 năm
Quư mùi, 1883). Vua Dục Đức lên ngôi ba ngày th́ bị Tôn Thất Thuyết và
Nguyễn Văn Tường truất phế. Em vua Tự Đức là Lăng quốc công, húy Hồng Dật,
lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Hiệp Ḥa.
Người biên soạn ghi chú
thêm vào giữa bài viết của GS. Bửu Kế: “… Trong ba người con, th́ Tự Đức thương yêu Ưng Đăng hơn cả.
Ưng Chân, mặc dù không được thương yêu bằng hai em, nhưng v́ là con trưởng,
một lí do chính đáng để được thừa hưởng ngai vàng. Vả lại, lúc bấy giờ, giặc
Pháp đang gây chiến, trong nước cần phải có một ông vua lớn tuổi, nên Dực
Tông Anh hoàng đế buộc ḷng phải để di chiếu giao ngôi báu lại cho Ưng Chân,
lấy niên hiệu Dục Đức.
Nhưng khi để di chiếu, vua
Tự Đức lại nói đến những tánh hư tật xấu của hoàng trưởng tử, mặc dù Trần
Tiễn Thành *, phụ chánh đại thần, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, đồng
phụ chánh đại thần, đă dâng sớ xin vua bỏ đoạn nói về tánh xấu của tự quân
và mấy chữ “chưa chắc đương nổi việc lớn” (… vị tất năng đương đại sự) [TXA.
iđ.]. Nhưng vua không nghe, cho rằng nhưng lời trong di chiếu như cả một
tiếng chuông cảnh tỉnh, sẽ làm cho Dục Đức lo sợ mà thay đổi tánh t́nh”.
(Chúng tôi đă mạn phép
trích đúng nguyên văn từ một bài viết khác, kể cả chú thích về Trần Tiễn
Thành, của chính GS. Bửu Kế, được in trong cùng một cuốn sách của học giả
hoàng tộc này [1], để chèn vào ngay giữa bài mà chúng ta đang đọc, nhằm làm
rơ hơn ư tưởng của GS. Bửu Kế.
Và chúng tôi thấy cần nói
rơ thêm một điều rất thừa mà Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược (1921) đă
khẳng định: Dục Đức thường xuyên đi lại với người Pháp, thân Pháp:
“Bấy giờ ông Rheinart
lại sang làm khâm sứ ở Huế […]lại nhớ ông Dục Đức ngày trước, khi vua Dực
Tông hăy c̣n, thường hay đi lại với người Pháp, bởi vậy viên khâm sứ nghĩ
đến t́nh cũ…” [2].
Do đó, bởi t́nh thế bắt
buộc, hai vị phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và đ́nh thần phải
truất phế Dục Đức; truất phế Dục Đức mới có thể đương đầu với Pháp, mới có
thể chống Pháp được, mặc dù ai cũng biết rằng việc truất phế sẽ gây ra “tác
dụng phụ” là “rối ren” tạm thời. Suy xét thận trọng, kĩ lưỡng hơn, chúng ta
thấy, từ lâu, lúc c̣n là hoàng tử, Dục Đức đă bị Pháp mua chuộc; sự mua
chuộc từ trước này cộng với việc diễn ra trước mắt mà ĐNTL.CB. IV ghi chép
rơ, là đưa 14 tên “người riêng” (có thêm một giáo sĩ Thiên Chúa giáo) vào
cung đ́nh, và “các tờ tâu của các quân thứ các tỉnh tâu lên, có khi để ở
trong điện một đêm, vẫn chưa giao ra”, mới là nguyên nhân chính, đẩy Triều
đ́nh lâm vào cảnh rối ren). TXA.
Thấy Triều đ́nh Huế lâm cảnh rối
ren, người Pháp cho rằng đó là một cơ hội tốt để có thể tấn công dễ dàng hơn.
Thiếu tướng Buê (Bouet) đánh Hà Nội, thiếu tướng Cuốcbê (Courbet) th́ đánh
cửa Thuận An. Đi cùng Cuốcbê có toàn quyền Hatmăng (Harmand) và cựu khâm sứ
Trung ḱ Sămpô, lên Huế nghị hoà.
Qua những ngày thương thuyết,
đến hôm 23 tháng 7 bản hoà ước ra đời, gọi là ḥa ước Quư mùi (1883). Phía
Pháp th́ Hatmăng, Sămpô, c̣n phía ta th́ khâm sai toàn quyền Trần Đ́nh Túc
và phó khâm sai Nguyễn Trọng Hiệp [:Hợp – TXA. ct.] kí kết vào hoà ước.
Ngoài các khoản tước mất các chủ quyền của ta về ngoại giao, kinh tế, chính
trị, [Pháp c̣n – TXA. ct.] xén bớt đất đai (B́nh Thuận sáp nhập vào Nam [ḱ
– ct.], từ đèo Ngang trở ra th́ đặt công sứ ở các tỉnh để kiểm soát các công
việc của các quan lại Việt Nam), Triều đ́nh Huế chỉ c̣n lại vỏn vẹn mấy tỉnh
ở giữa. Lại c̣n có khoản minh định rằng: Viên khâm sứ Pháp không những có cả
quyền tự do ra vào yết kiến vua Việt Nam mà lại c̣n có cả quyền sung vào Hội
đồng Cơ mật để kiểm soát công việc của vua nữa.
Sămpô ở lại Huế để giữ chức khâm
sứ.
Tuy hiệp ước đă kí kết, viên
khâm sứ Trung ḱ đă trở lại, nhưng các quan ta vẫn không chịu thừa nhận cảnh
bại vong và cố t́nh gây ra những nỗi khó khăn nên Sămpô trong lúc tổ chức
thương mại, thương chính, thuế khóa đă vấp phải nhiều trở lực.
Và các quan trong triều, phe
thân thiện với Pháp th́ ít c̣n phe chống lại th́ mỗi ngày mỗi gia tăng. Hai
viên đại thần thế lực vẫn là Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết. Hai ông này
đă từng ra lệnh bắt giam mấy người Pháp phạm tội ở Thuận An, lại ngầm phái
Hầu Chuyên và pḥ mă Đặng Huy Cát tuyển mộ binh sĩ, xây thành đắp lũy ở Tân
Sở (Quảng Trị), pḥng khi thất trận th́ dời kinh đô ra ngoài ấy [TXA. iđ.].
Lúc được chọn lên kế vị vua Dục
Đức, Lăng quốc công đă từng tỏ thái độ e dè, sợ sệt, khóc lóc từ chối ngai
vàng. V́ vua cũng biết trước t́nh thế nguy nan, ở vào cái thế trên đe dưới
búa, một bên th́ người Pháp mỗi lúc một kiếm cách lấn quyền, một bên th́ hai
vị đại thần Tường, Thuyết giữ hết quyền bính, c̣n vua không có lấy một chút
hậu thuẫn. Nhưng sau khi lên ngôi, vua Hiệp Hoà muốn cầu an để hưởng phú qúy,
thừa nhận cuộc bảo hộ của Pháp, lại t́m cách thoát khỏi áp lực của Tường,
Thuyết bằng cách dựa vào sức mạnh của Pháp. Vua đă cho yết bản chiêu an do
Toà Khâm sứ gửi sang, lại c̣n viết mật thư, giao cho Hường Kỷ, con Tuy Lư
vương đưa qua cho Sămpô để cầu viện [TXA. iđ.]. Bức thư lọt vào tay Nguyễn
Văn Tường, Hường Kỷ bị giam chết trong ngục. Cả gia đ́nh Tuy Lư vương phải
tội lưu đày.
Tối hôm hạ ngục Hường Kỷ
(28.11.1883), vua Hiệp Ḥa cũng bị tố cáo là phạm phí công quỹ quốc gia,
giam lỏng trong cung, đưa ra phủ Dục Đức, ép uống thuốc độc chết.
Người biên soạn ghi chú thêm vào giữa
bài viết của GS. Bửu Kế: “… Hồng Dật, em út của vua Tự Dức, được chọn để tôn lên ngôi
nhưng rồi cũng bị phế v́ tội thông đồng với người Pháp và t́m cách mưu hại
hai vị phụ chánh [TXA. iđ.]…”.
(Mạn phép trích nguyên văn
của chính GS. Bửu Kế [3], để chèn vào giữa bài tuỳ bút – khảo luận này, cũng
của chính học giả Bửu Kế. TXA.).
Sau khi vua Hiệp Hoà mất, Kiến
Phúc lên nối ngôi, lúc ấy mới 15 tuổi.
Sămpô sợ Toà Khâm sứ có thể bất
th́nh ĺnh bị tấn công, nên yêu cầu Lêja (Léjard), viên quan chỉ huy đồn
Thuận An, gởi thêm 50 binh sĩ. Như thế Sămpô có cả thảy 150 quân và một
chiếc pháo hạm đậu trên sông Hương. Lêja lại gửi thêm cho Sămpô 100 lính
trích trong số 550 lính hiện đóng ở Thuận An.
Mặc dầu hiệp ước đă kí kết, các
quan ta ở Bắc có người chịu giải giáp nhưng cũng có lắm người không tuân
lệnh Triều đ́nh, có người từ quan rồi lại đứng ra mộ lính để chống với giặc
Pháp.
Các quan ta thâu thuế của dân
dùng để nuôi quân Cờ Đen và luôn luôn xúi giục dân chúng nổi dậy. V́ thế nên
nhiều viên quan bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Tinh thần kháng chiến của toàn
dân bùng nổ, mặc dầu lực lượng yếu ớt. Thỉnh thoảng ta lại kéo lính đến tập
kích các đồn binh Pháp. Quân Cờ Đen đến nhục mạ, khiêu khích. Quân Pháp v́
chưa nhận thêm quân tiếp viện nên vẫn ở ĺ trong đồn, không dám ra đánh. Thế
rồi ta lọt vào thành phố Hải Dương, thiêu hủy nhà cửa, chợ búa. Quân Pháp
tổn thất nặng ở Bắc Ninh.
Những tin tức ấy làm Triều
đ́nh Huế phấn khởi nên đă yêu cầu Pháp rút khỏi Thuận An [TXA. iđ.].
Sămpô trả đũa bằng cách không
thừa nhận vua Kiến Phúc [TXA. iđ.], cắt đứt mọi liên lạc với Triều đ́nh Việt
Nam, cố thủ trong Toà Khâm sứ để chờ viện binh. Tômxông phái một
chiếc tàu từ Sài G̣n ra Huế để hộ vệ cho Râyna; Cuốcbê lại cho thêm viên
khâm sứ Pháp hai chiếc tàu hạng nhẹ và 200 binh sĩ.
Tuy đă có quân tiếp viện, nhưng
Sămpô vẫn nằm trong t́nh trạng nguy ngập, v́ bên ta đang ráo riết chuẩn bị
chiến tranh.
T́nh h́nh đang căng thẳng th́ ở
Bắc ḱ Pháp nhận được quân tiếp viện, đánh chiếm được tỉnh Sơn Tây sau 3 hôm
giao phong (14, 15, 16 tháng 12 năm 1883) và Hoàng Tá Viêm bị thất trận. Các
quan ta tạm tỏ thái độ hoà hoăn với Pháp v́ biết chưa tiện gây hấn.
Giữa lúc ấy Sămpô xin từ chức.
Tricu (Tricou) lúc bấy giờ đang ở Sài G̣n, được cử ra thay thế và đến Huế
vào hôm 28-12-1883.
Ban đầu Tricu không được phép
vào Nội yết kiến vua Kiến Phúc. Nhưng sau đó hai bên đă dàn xếp và Tricu lại
được tiếp kiến trong một buổi thiết triều long trọng.
@
Ở miền Trung v́ là nơi đóng đô
của Triều đ́nh Huế nên Pháp c̣n kiêng nể, nhưng ở Bắc, mặc dầu có lực lượng
hùng hậu của quân Cờ Đen, Pháp vẫn muốn áp dụng chính sách tàm thực, một khi
có đủ binh lực th́ hết đánh tỉnh này đến đánh tỉnh khác, cố chiếm trọn cả
lănh thổ Bắc ḱ.
Biết rơ dă tâm của Pháp, nên ta
lo đào hầm đắp luỹ, đặt chướng ngại vật ở sông Hương, mở các con đường lên
núi và nhất là chỉnh đốn lại Tân Sở, pḥng một khi Pháp tấn công và giữ
không nổi kinh đô Huế th́ Triều đ́nh sẽ chạy ra nương náu ở đó.
Lúc bấy giờ tuy các tỉnh ở Trung
châu Bắc Việt như Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Tuyên Quang đều thuộc vào tay
người Pháp, nhưng các tỉnh ở vùng biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lao Kay
quân Tàu c̣n chiếm đóng, không chịu thừa nhận cuộc bảo hộ của Pháp ở Việt
Nam.
Mối chỉ rối ấy, Pháp cần gỡ, th́
một cơ hội tốt đẹp đă đưa đến. Nguyên Phuốcniê (Fournier), trung tá hải quân
Pháp, có quen thân với Lư Hồng Chương, tổng đốc Trực lệ. Năm 1878, Phuốcniê
đă từng ở Trung Quốc, lúc ấy Lư có mua mấy pháo hạm của Anh, và Phuốcniê chỉ
cho Lư thấy những chỗ hư hỏng của những chiếc pháo hạm, nên Lư có thiện cảm
với Phuốcniê và định đề nghị cho viên sĩ quan này trông coi một hạm đội của
thủy quân Trung Quốc. Nhân mối t́nh thân hữu ấy, Phuốcniê gởi thư cho Lư
Hồng Chương để dàn xếp xích mích giữa Pháp và Trung Hoa ở Bắc Việt. Lư Hồng
Chương là người trước kia đă thúc giục Chính phủ Bắc Kinh xen vào chính t́nh
Việt Nam và định thi hành chương tŕnh chia đôi Bắc Việt với Pháp [TXA. in
nghiêng (:ing.) & iđ.]. Nhưng nay nhận thấy binh lực của Pháp mạnh, có thể
gây tổn thất trên lục địa Trung Hoa nên nhận lời gặp gỡ Phuốcniê để nghị
ḥa. Đây là một cuộc thương thuyết tay đôi, không có viên sứ thần Pháp ở
Trung Hoa tham dự v́ viên này đă bị nhà cầm quyền Trung Hoa tẩy chay từ lâu.
Trung tá Phuốcniê đến Thiên Tân
ngày 05.5 năm 1884 như một nhà du lịch. Ông ta đưa ra cho Lư một dạng bản
hiệp ước và được viên tổng đốc Trung Hoa vui ḷng chấp nhận.
Phuốcniê đánh điện để hỏi ư
kiến, Pháp bằng ḷng cho Phuốcniê toàn quyền thương thuyết.
Qua đến ngày 11.5.1884, hiệp ước
Phuốniê – Lư Hồng Chương được kí kết tại nha môn của Lư, và gồm có 5 khoản.
Tựu trung có hai khoản quan trọng hơn cả:
1. Rút hết quân đội Trung Hoa ở Bắc Việt về.
2. Tôn trọng trong hiện tại cũng như tương lai những hiệp ước
kí kết giữa Pháp và Triều đ́nh Huế.
Ḥa ước kí kết xong, trung tá
Phuốcniê điện cho tướng Milô (Millot) ở Bắc ḱ biết về việc quân Trung Quốc
sẽ phải kéo về nước.
Cho rằng t́nh thế có thể tạm
yên, và thể theo lời yêu cầu của Chánh phủ Việt Nam, Chánh phủ Pháp định sửa
lại tờ ḥa ước Hátmăng kí kết ngày 23.7 năm Quư mùi (1883).
Trên con đường sang Bắc Kinh,
viên tân đại sứ Pháp Patơnốt (Patenôtre) đă nhận được điện tín của Chánh phủ
Pháp sai ông đến Huế để đảm nhận công việc ấy.
Tờ ḥa ước này kí kết tại Ṭa
Khâm sứ vào ngày 13 tháng 5 năm Giáp thân (06.6.1884) giữa Nguyễn Văn Tường,
Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan và Patơnốt. Khác hiệp ước trước ở chỗ trả lại
B́nh Thuận và 3 tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá cho Trung ḱ. Nhưng khoản 5
lại nói đến việc viên khâm sứ Trung ḱ ngoài việc được phép yết kiến vua
Việt Nam lại c̣n được phép cùng với các binh sĩ tháp tùng đóng ở Mang Cá
trong Thành Nội.
Trong lúc bàn bạc để kí kết hiệp
ước, có một vấn đề mà Pháp muốn giải quyết một cách dứt khoát: Đó là cái ấn
mà vua nhà Thanh giao cho vua Gia Long trong lễ tuyên phong.
Theo ḥa ước Phuốcniê – Lư
Hồng Chương [TXA. iđ.], cái ấn
ấy không có lí do ǵ tồn tại nữa, Pháp yêu cầu Triều đ́nh ta gởi ấn ấy về
Pháp đề làm vật kỉ niệm.
Bên ta quan phụ chánh Nguyễn
Văn Tường nhất định không chịu [TXA. iđ.]. Sau cùng đi đến sự thỏa thuận là
cái ấn ấy phải nấu cho chảy ra trước khi hai bên kí kết hiệp ước. Đến giờ đă
ấn định, Nguyễn Văn Tường và các quan Thương bạc đem ấn sang Ṭa Khâm sứ,
đặt lên cái bàn, trước mặt Patơnốt. Giữa pḥng người ta đă bảo thợ đem ḷ bễ
đến chực sẵn. Patơnốt lại một lần nữa khẩn khoản xin cái ấn ấy để gởi về
Pháp, và các quan ta lại một lần nữa cương quyết từ chối.
Ấn nặng 6 kilô bằng bạc mạ vàng,
có khắc mấy chữ “Việt Nam quốc vương chi ấn” lần lần chảy ra đóng lại thành
một khối. Chiều hôm ấy th́ hai bên kí bản hiệp ước. Râyna đến Huế với
Patơnốt đă lưu lại đất kinh ḱ để nhận lănh chức khâm sứ.
@
(
xem tiếp phần B bài 6 )