TRẦN
XUÂN AN
NGUYỄN
VĂN TƯỜNG,
“NHỮNG NGƯỜI TRUNG NGHĨA
TỪ XƯA,
TƯỞNG
KHÔNG HƠN ĐƯỢC”
KHẢO LUẬN VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH SỬ HỌC
Nhà Xuất bản
2003
(
bài 1 tiếp theo : phần B )
@
Tại Huế, chiếu theo khoản 5 của
hoà ước Patơnôt, viên khâm sứ Râyna đem quân vào đóng ở Mang Cá, nhưng bị
Triều đ́nh Huế cản trở không cho vào Thành Nội.
Ngày 10.6 năm Giáp tuất (1884),
vua Kiến Phúc lâm bệnh mất, làm vua được hơn 7 tháng.
Từ trước đến nay, cái chết của
vua Kiến Phúc đă nêu lên một nghi án, mặc dầu trong sử chép rằng Kiến Phúc
chết v́ bệnh.
Có thuyết cho rằng vua bị Nguyễn
Văn Tường giết, lấy lẽ bịnh t́nh Kiến Phúc không lấy ǵ làm nặng, lại chết
một cách đột ngột, nên có thể là Nguyễn Văn Tường đă bỏ thuốc độc vào thang
thuốc của vua.
Nhưng v́ sao Nguyễn Văn Tường
lại ám hại vua Kiến Phúc? Sau đây cũng lại là những giả thuyết:
1. Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đồng ư giết vua Kiến
Phúc, tôn một vị vua nhỏ tuổi hơn để dễ việc nắm trọn quyền bính.
2. Hai vị quyền thần cho rằng hiệp ước Patơnốt, các quan ta đă
nhân danh vua Kiến Phúc để kí kết với Pháp, nếu vua Kiến Phúc không c̣n nữa
th́ hiệp ước sẽ mất hết hiệu lực.
3. Ban đêm, Nguyễn Văn Tường tự tiện vào trong cung nên bị vua
Kiến Phúc la quở. Vua đă nói với Tường một câu: “Thầy đừng tưởng gươm nhà
Nguyễn không sắc”.
Sau khi vua Kiến Phúc thăng hà,
hoàng thân, đ́nh thần tôn Ưng Lịch lên ngôi, lấy hiệu là Hàm Nghi [TXA.
ing.], lúc ấy mới 12 tuổi.
Tôn vương tức vị là một việc hết
sức trọng đại, thế mà viên khâm sứ Trung ḱ không được tham khảo ư kiến.
Râyna lấy làm tức tối nên phản đối kịch liệt và không công nhận vua mới.
Quan phụ chánh Nguyễn Văn Tường
[TXA. iđ.] bảo cho viên khâm sứ Pháp biết rằng hiệp ước Việt – Pháp không
bao giờ đề cập đến việc lập vua cần phải có sự thoả thuận của Chính phủ Pháp
[TXA. ing.]. Nước không thể một ngày không vua, nên phải tôn hoàng tử Ưng
Lịch.
Râyna đề nghị tôn Gia Hưng
vương, nhưng hai phụ chánh không thuận [TXA. iđ.], lấy cớ vua Kiến Phúc
trước khi mất có di chiếu chỉ định Ưng Lịch. Viên khâm sứ vẫn một mực phản
đối việc tấn tôn này, cho rằng vua Kiến Phúc chưa đến tuổi trưởng thành, di
chiếu ấy không có giá trị.
Tuy thế, Râyna cũng không biết
quyết định thế nào cho phải lẽ nên gửi điện văn xin chỉ thị ở Pháp.
Người biên soạn ghi chú thêm vào giữa
bài viết của GS. Bửu Kế: Theo cách triển khai các ư tưởng, giả thuyết, sự việc ở đoạn văn
viết về cái chết của Kiến Phúc và về âm mưu, quyết tâm tôn lập Gia Hưng
vương Hồng Hưu của Râyna (Rheinart), GS. học giả Bửu Kế đă mặc nhiên cho
chúng ta thấy cái lô gich (logic, logique) của chuỗi sự kiện. Lô gich này
đúng với ĐNTL.CB. V [đệ ngũ kỉ] [4], tr. 150 – 151, tr. 176 – 178, (xin xem
2 trích đoạn ở phần phụ lục tư liệu chuẩn cứ). Chúng tôi đă hơn một lần
khẳng định rơ bằng ngôn từ minh xác: Hồng Hưu ám sát Kiến Phúc theo ư đồ của
thực dân Pháp. Tuy nhiên, rơ ràng ĐNTL.CB. V đă khẳng định Kiến Phúc chết v́
bệnh tái phát (bệnh mới sắp khỏi lại tái phát thường là rất nguy kịch, dễ
dẫn đến tử vong). Thế th́ chúng ta căn cứ vào tư liệu giám định thực nghiệm
nào để khăng khăng kết luận?!? Do đó, chúng tôi chỉ có thể nhất trí với 1
trong 2 điều sau:
1. Kiến Phúc chết v́
bệnh tái phát rất nguy kịch, đúng như ĐNTL.CB. V đă ghi chép.
2. Kiến Phúc bị đầu
độc bởi Hồng Hưu, (Hồng Hưu là kẻ đáng ngờ nhất, theo lô gich của chuỗi sự
kiện trong ĐNTL.CB V [đệ ngũ kỉ], và theo lô gích nói trên của GS. Bửu Kế),
do một loại chất độc mà các quan ngự y của Thái y viện không thể giám định y
khoa được. Cần lưu ư thêm: đầu độc nhà vua là một việc không đơn giản (thăm
bệnh, bắt mạch, bốc thuốc, sắc thuốc, nâng chén cho vua uống thuốc, ngay cả
việc cơm ăn, nước uống, nơi ở, giường nằm của vua, đều có cơ chế giám sát
với người chuyên môn giám sát từng li từng tí).
Hơn nữa, cái gọi là
giả thuyết th́ vô cùng, ai đơm đặt ǵ chả được! Theo phương pháp khoa học,
cái gọi là giả thuyết đ̣i hỏi phải được chứng minh, và phải chứng minh bằng
các dữ liệu cụ thể, đă được giám định thực nghiệm (tang chứng, vật chứng,
nhân chứng). Viết sử, nghiên cứu sử, hoặc sáng tác tiểu thuyết, tùy bút lịch
sử, làm sao dám chép lại, đưa ra những giả thuyết không một chút bằng cớ,
thậm chí có giả thuyết ngây ngô như vậy! Nếu đă đưa ra giả thuyết th́ phải
chứng minh ngay, tiếp theo ngay vào đoạn văn chép lại giả thuyết ấy, bằng
không là đă can tội h́nh sự, cho dù vô t́nh hay hữu ư: tội gieo nghi án cho
người khác. Kẻ thù chẳng mong ǵ hơn là lợi dụng được tật cả tin, khía cạnh
tâm lí trong một xă hội có mâu thuẫn giai cấp mặc dù thống nhất ư chí chống
ngoại xâm và thói đời “tiếng lành đồn gần” nhưng “tiếng dữ đồn xa”, để gieo
được nghi án về người chúng căm hận! Đó là chưa kể đến thủ đoạn “câu khách”
của các cây bút thuộc loại “ngồi lê đôi mách” với các chuyện thâm cung bí
sử, thời nào cũng bị thêu dệt. Chúng tôi xin phép được nhấn mạnh: Bất ḱ
thời nào người đời cũng háo hức, thèm khát trong việc thêu dệt, nghe ngóng,
hóng hớt, đồn đăi các loại bí sử. Và kẻ thù đă lợi dụng triệt để loại tâm
địa thuộc dạng thói đời rất phi chính trị, rất thế sự này.
Chúng tôi xin được
mạn phép học giả Bửu Kế để “đọc và b́nh chú” tác phẩm tuỳ bút – khảo luận
lịch sử này của ông, bởi lẽ, bài viết thiếu những cước chú cụ thể cần thiết
để tiện tra cứu, và nhất là để bảo chứng cho các chi tiết lịch sử được ghi
lại, hoặc được phân tích, b́nh luận. Vâng, xin mạn phép gọi là “tuỳ bút –
khảo luận lịch sử”, mặc dù GS. là chuyên gia về chữ Hán, dịch giả Pháp văn,
với bảng liệt kê sách báo tham khảo thật có sức nặng [5]*.
Chánh phủ Pháp không muốn sinh
chuyện lôi thôi, nên đánh điện văn phúc đáp, ra lệnh cho tướng Milô đưa ngay
một trung đoàn đến Huế, vào kinh thành tấn phong vua Hàm Nghi.
Đại tá Gheriê (Guerrier), tham
mưu trưởng của Milô, nhận lănh sứ mệnh này, đem theo 600 binh sĩ và 2 pháo
đội.
Lúc Gheriê đến nơi th́ cửa thành
đóng kín, không vào được. Nhưng bên trong không có vẻ chuẩn bị để kháng cự.
Quan phụ chánh Nguyễn Văn Tường
[TXA. iđ.] không chịu bảo quân lính mở cửa, thoái thác rằng bản hiệp ước
Việt – Pháp cần thương thuyết lại và quân Pháp không có quyền vào đóng trong
hoàng thành.
Đại tá Gheriê đáp lại: Hiệp ước
Patơnôt bao giờ cũng có hiệu lực, và hẹn trong 12 tiếng đồng hồ nếu bên ta
không nhượng bộ th́ bắn đại bác vào Đại nội.
Ngày 15.8.1884, vào lúc 03 giờ
chiều, sắp hết hạn đă ấn định trong tối hậu thư, Nguyễn Văn Tường và mấy
quan Cơ mật thân hành qua Ṭa Khâm sứ báo cho Râyna và tướng Gheriê biết là
Chánh phủ ta thuận theo các điều khoản trong hiệp ước và xin phép lập vua
Hàm Nghi.
Bản xin phép viết bằng chữ Nôm,
Râyna không thuận, buộc phải dùng chữ Hán. Trong câu chuyện, viên khâm sứ có
ư dọa ngầm rằng: Ông ta có thể đưa hai quan phụ chánh Nam triều ra trước toà
án quân sự về những hành động bất thân thiện và trái hiệp ước.
Đại tá Gheriê muốn ḥa giải, nên
ôn tồn bảo với các quan ta là ngày hôm sau, ông sẽ sang tấn phong vua Hàm
Nghi.
Thấy bên ta nhượng bộ, Gheriê
chờ cho Nguyễn Văn Tường đi rồi, liền đem quân về Mang Cá, kéo cờ Pháp lên,
đóng quân để chận nơi hiểm yếu của quân ta.
Chúng ta không khỏi ngạc nhiên,
khi thấy Nhà Cầm quyền Pháp cũng như viên khâm sứ ép buộc vua Việt Nam phải
nhận lễ tấn phong của người Pháp, một điều mà trong hiệp ước không bao giờ
nói đến. Khoản 5 của hiệp ước ngày 06.6.1884 chỉ nói rằng: “Viên khâm sứ đại
diện Chánh phủ Pháp, chủ tọa các liên lạc ngoại giao điều hành công cuộc bảo
hộ nhưng không can thiệp vào nội trị tại các tỉnh đă ấn định ở khoản 3 (tức
là các tỉnh từ biên giới Nam Việt [lục tỉnh Nam ḱ – TXA. ct.] đến địa giới
tỉnh Ninh B́nh). Viên khâm sứ sẽ ở trong kinh thành Huế cùng với các đoàn
tuỳ tùng quân sự, có quyền lấy tư cách riêng để yết kiến vua Việt Nam”.
Với đầu óc thực dân, người Pháp
chỉ [nghĩ – TXA. ct.] rằng trước kia, thần phục Trung Hoa, vua Việt Nam phải
thọ phong [bởi – TXA. ct.] vua Trung Hoa, nay chịu bảo hộ của Pháp, th́ phải
nhận lễ tuyên phong của Pháp. Có như thế họ mới xen vào nội t́nh của Việt
Nam được.
Ngày 17.8.1884, vào lúc 09 giờ
sáng, đại tá Gheriê, khâm sứ Râyna, thuyền trưởng chiếc tàu Tát (Tarn) đem
25 sĩ quan và 160 binh sĩ vào Đại nội để làm lễ tấn phong. Gheriê, Râyna và
viên thuyền trưởng đi cửa giữa, không mang theo vũ khí, 60 binh lính và sĩ
quan đi cửa hai bên, c̣n những kẻ khác đứng chực ở ngoài. Vào đến điện Thái
Hoà, Gheriê đăït lên cái bàn trước ngai vàng huy chương bắc đẩu bội tinh.
Lễ xong, khi đoàn người ra về,
đến Ngọ môn th́ cửa giữa đă đóng lại, phải đi cửa hai bên để ra ngoài.
Như trên đă thấy, theo hiệp ước
Patơnôt th́ viên khâm sứ Trung ḱ được coi như là quan thượng thơ Ngoại giao
của Việt Nam. Do đó, đường lối ngoại giao ở Trung cũng như ở Bắc đều lệ
thuộc viên khâm sứ Trung ḱ. Milô, trông coi Bắc ḱ, lúc bấy giờ là một viên
trung tướng, c̣n Râyna th́ chỉ mới đại úy. Một viên đại úy không thể nào lại
giữ một chức vụ có thể điều khiển một viên trung tướng được, v́ thế nên
Chánh phủ Pháp triệu viên quan vơ Râyna về và bổ sung một viên quan văn thay
thế.
Một điện văn gửi từ Pháp hôm
30.8.1884 cử Lơme (Lemaire), tổng lănh sự Thượng Hải, giữ chức khâm sứ Trung
ḱ, và yêu cầu đến nhiệm sở gấp.
Lơme nhận được chỉ thị bảo phải
có thái độ ôn hoà với Triều đ́nh Huế nhưng cũng đừng để bị lấn áp.
Lơme đến Huế ngày 10.10.1884 với
trọng trách tổ chức nền cai trị ở Bắc Việt và điều hành công cuộc bảo hộ ở
Trung Việt. Nhưng chỉ trông nom về phương diện hành chánh mà thôi, c̣n quân
sự th́ vẫn thuộc các sĩ quan Pháp.
Không chịu thừa nhận chế độ
bảo hộ vừa kí kết, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, bên ngoài giả vờ tử
tế, nhưng lại cho đặt súng chung quanh hoàng thành và khu kinh thành [TXA.
ing. & iđ.]. Đại tá Pécnô (Pernot) lại báo
cáo chuyện đó với tướng Brie đờ Lislơ (Brière de L’Isle). Các vơ quan Pháp
mới bàn bạc với nhau tổ chức những cuộc tập trận và cả ngày lẫn đêm kéo quân
đi chung quanh thành để diễu vơ giương oai.
Triều đ́nh Huế phản kháng với
viên khâm sứ, cho rằng những cuộc diễu hành và tập trận ấy đă làm náo động
nhân tâm ở kinh đô Huế [TXA. ing.].
Sau cùng hai bên thoả thuận:
quân đội Pháp dẹp hẳn cái lối khiêu khích hăm doạ ấy, c̣n bên ta th́ cất hết
những khẩu súng, nhất là những khẩu đang há họng chĩa sang Toà Khâm sứ.
Tuy đại bác đă triệt hạ, nhưng
Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết [TXA. iđ.] vẫn cho vận tải súng ống,
lương thực ra Tân Sở [TXA. ing.], gửi mật thư [TXA. iđ.] cho các quan ở Bắc
Hà yêu cầu thu thuế, thu thóc về kinh đô để pḥng ngự chiến tranh.
Ta lại gửi mua ở Hương Cảng
6.000 thước xích sắt hạng lớn, với mục đích giăng ngang ở các cửa bể, cửa
sông, khiến những lúc có chiến tranh, tàu Pháp không tiến vào kinh ḱ được.
Cuối tháng 3, lúc hàng về, một chiếc tàu cắm cờ Đức bị pháo hạm của Pháp
chận bắt, cho rằng những dây xích ấy có mục đích quân sự.
Các quan Thương bạc phản đối
kịch liệt, lấy cớ rằng các đội long thuyền và hai tuần dương hạm cỡ nhỏ của
Việt Nam rất cần đến những sợi dây xích ấy. Viên khâm sứ bằng ḷng kí giấy
cho nhập nội.
Lơme là một người có kinh nghiệm
về đường ngoại giao. Trong những cuộc tranh chấp giữa ta và người Pháp, Lơme
đă xử trí một cách khôn khéo.
Một sĩ quan Pháp bị một người
trong hoàng tộc chế nhạo. Y nổi cáu đánh một bạt tai. Viên khâm sứ đă trừng
phạt sĩ quan đó để lấy ḷng người Việt.
Nhưng đến việc thứ hai th́ Lơme
vấp phải sự chống đối của bọn Pháp ương ngạnh.
Mấy người thủy thủ của chiếc tàu
Lion (Lionne) đậu tại cửa Thuận An bị mất cắp, viên vơ quan chỉ huy chiếc
tàu ấy là Hennít (Hennique) vào trong làng lùng bắt viên lí trưởng rồi dùng
roi để đánh.
Chánh phủ ta phản kháng với viên
khâm sứ, Lơme gửi giấy khiển trách Hennít. Viên sĩ quan này không nhận lỗi,
đưa việc ấy ra Hà Nội. Tướng Brie ở Hà Nội bênh vực Hennít, thế rồi không
bên nào nhượng bộ bên nào. Cuối cùng viên thượng thư hải quân Pháp phải đứng
ra can thiệp, nhưng lại can thiệp một cách rất thực dân. Hennít nguyên chức
đại úy hải quân được thăng lên hàm trung tá.
Thấy rơ sự chống đối giữa các
nhà cai trị và quân sự Pháp ở Việt Nam, Triều đ́nh Huế mới thảo một giác thư
nhờ Lơme gởi thẳng cho Chánh phủ Pháp, gồm mấy khoản, đại khái:
1.
Hiệp ước Patơnốt chưa được phê chuẩn mà 2.000 hay 3.000 lính Pháp đă chiếm
đóng Mang Cá. Khoản 5 của hiệp ước này cần phải sửa đổi, nghĩa là đồn binh
của viên khâm sứ phải đóng ở ngoài thành [TXA.
ing. & iđ.] để khỏi phạm đến uy quyền của vương triều và cũng để khỏi làm
cho dân chúng sợ hăi.
2.
Nhiều viên công sứ ở Bắc ḱ đă xử tử, xử phạt trượng, phạt xuy (đánh bằng
gậy và roi), phạt tiền các quan tỉnh hoặc phủ, huyện [TXA. ing. & iđ.].
3. Các tàu Pháp kiểm soát quá
chặt chẽ các ghe thuyền của Việt Nam. Tại các tỉnh, việc giữ ghe thuyền quá
lâu làm hại cho nền thương mại.
4.
V́ dùng cường quyền để áp bức [TXA. iđ.], Triều đ́nh Huế phải huỷ ấn phong vương của vua Trung Quốc. Bạc của cái
ấn ấy trị giá 240 đồng Mễ Tây Cơ. Lẽ ra phải gởi trả lại cho Bắùc Kinh, chứ
không nên đem phân chia cho các sĩ quan tham dự trong buổi lễ hôm ấy.
5. Viện Cơ mật đ̣i các thứ thuế nha phiến, thuế mỏ và các thứ
thuế khác. [Về thuế nha phiến, đây là chi tiết lịch sử – cụ thể, hậu quả của
thủ đoạn ngược ngạo bóc lột “chiến phí” của thực dân Pháp hồi 1862…; là thứ
thuế một đi không trở lại! – TXA. ct.]
Khoản 2 trong bức giác thư đă tố
cáo những hành vi tàn nhẫn của các viên công sứ Bắc ḱ hồi đó. Chính Râyna
cũng đă xác nhận là việc có thật. Nhiều quan phủ, huyện bị bắt cóc hay bị
giết. Hà Văn Quan, tổng đốc Hải Dương, bị đày ra Côn Đảo v́ tội chống Pháp.
Các sĩ quan Pháp rất tức tối khi
thấy kẻ đại diện cho nước Pháp tại Huế cũng đồng ư với ta điểm đó.
Trong khi ấy, Nguyễn Văn
Tường gởi thông tư cho các quan ngoài Bắc, ngăn cấm không cho giúp đỡ người
Pháp trong việc mộ lính và phu khuân vác, v́ cho rằng Brie đờ Lislơ tuyển
lính pháo thủ 2 đại đội là trái với hiệp ước [TXA. iđ.].
Những sự chống đối của hai quan
phụ chánh, nhất là Tôn Thất Thuyết, đă làm cho Chính phủ Pháp bất b́nh.
Phơrâyxinê (Freycinet), bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp, gởi giấy cho khâm sứ
tại Huế yêu cầu t́m cách trừng phạt Tôn Thất Thuyết, không cho ở địa vị ấy
nữa và bắt đày đi một nơi khác.
Cũng như Philát, Lơme không được
thượng cấp tin cậy, v́ tỏ ra ôn hoà với Triều đ́nh Việt, lại không hết ḷng
bảo vệ chế độ thuộc địa, không t́m cách lấn áp quyền hành của dân bị trị. V́
thế nên ngày 12.4, thượng thư Bộ Binh Pháp bổ nhậm Ruxen đờ Cuốcxy (Roussel
de Courcy) sang Việt Nam với những quyền hành hết sức rộng răi. Các viên
khâm sứ ở Huế và ở Bắc đều thuộc dưới quyền điều khiển của viên tướng này.
Trong cuộc tranh chấp giữa quân
sự và hành chánh, ta thấy quân sự đă thắng thế. Nam ḱ bị tách rời và coi
như là thuộc địa của Pháp, ta chỉ c̣n lại Trung và Bắc. Trước kia, Lơme, một
viên chức hành chánh đại diện cho Pháp để giao thiệp với Triều đ́nh Huế,
quyền hành lớn hơn các khâm sứ và các quan binh ở Bắc. Nay Pháp lại đưa sang
một tướng lănh mà Lơme có bổn phận phải phục tùng. Như thế viên khâm sứ Huế,
không c̣n là vị đại diện của Chánh phủ Pháp nữa, mà chỉ đại diện cho tướng
Cuốcxy mà thôi.
Tướng Cuốcxy chủ trương b́nh
định Bắc ḱ trước, kiếm cách ngăn cản để Triều đ́nh Huế không thể nào thúc
giục dân chúng Bắc Việt nổi lên được nữa, rồi uy hiếp Trung Việt sau.
Tướng Cuốcxy đến Bắc ḱ vào hôm
31.5.1885, liền cho chiếc tàu Pluyviê (Pluvier) vào Huế đón Lơme ra hỏi công
việc.
Lơme bất b́nh về việc Chánh phủ
Pháp đặt tướng Cuốcxy làm thống đốc quân vụ kiêm tổng thống toàn quyền,
khiến ông mất hết quyền bính, nên sau khi gặp tuớng Cuốcxy ở Hà Nội và tŕnh
bày công việc xong, ông liền bàn giao, xin từ chức và không trở lại Huế nữa.
Sămpô được cử giữ chức khâm sứ,
đại diện cho Cuốcxy ở Huế.
Tướng Cuốcxy được chính phủ Pháp
giao phó quyền hành hết sức rộng răi. Ngoài việc thống lĩnh tất cả binh
quyền ở Trung và Bắc, ông c̣n nắm cả quyền chính trị của cả 2 xứ.
Chính sách của Pháp bấy giờ là
sau khi chiếm Nam ḱ liền lần ra Bắùc, và b́nh định Bắc xong sẽ uy hiếp
Trung ḱ. Nơi đây có vua, có Triều đ́nh và một binh lực tương đối hùng hậu
hơn các miền khác. Nhưng sau khi sang Đông Dương, được báo cáo rơ về hai
viên phụ chánh Tường và Thuyết đang chuẩn bị để tấn công Pháp [TXA. iđ.],
tướng Cuốcxy định đánh mạnh một đ̣n vào Huế để làm tan ră chánh quyền của
Việt Nam rồi dần dà dùng vơ lực để b́nh định Bắc ḱ sau.
Ngày 26.6.1885, từ Hà Nội tướng
Cuốcxy gởi điện văn về cho Thượng thư bộ binh Pháp: “Tôi mang trong ḷng
những nỗi căm hờn đối với các vị phụ chánh. Tôi sẽ hành động thận trọng
nhưng cương quyết. Đánh điện về Huế cho biết, nêu Bộ chống lại việc dùng vơ
lực” [TXA. ing. & iđ.].
Không ngờ Bộ Chiến tranh không
chấp thuận việc gây chiến với Triều đ́nh Huế. Tuy vậy, tướng Cuốcxy vẫn
quyết hành động theo ư của ḿnh bằng cách tạo ra cơ hội để đưa đến việc dùng
bạo lực [TXA. ing.].
Tướng Cuốcxy ban bố lệnh giới
nghiêm, đem ra Huế 800 lính Ả Rập do tiểu đoàn trưởng Métdingê (Metzinger)
chỉ huy và 154 khinh binh.
Sămpô báo tin cho Triều đ́nh Huế
biết để chuẩn bị việc nghinh tiếp. Cuốcxy muốn đến Huế một cách oai vệ để
mọi người thấy rơ uy quyền của ḿnh và cũng để hăm doạ hai quan phụ chánh
[TXA. iđ.].
Ngày 19-5 năm Ất Dậu (1-7-1885),
tướng Cuốcxy đến Thuận An. Bên phía người Pháp có Sămpô và mấy viên văn vơ
quan, bên ta hai vị đại thần đi đón và có quân lính dàn hầu.
Các cửa thành đều treo cờ và khi
tàu cập bến ta bắn 19 phát súng để chào mừng.
Về đến Ṭa Khâm, Cuốcxy mật nghị
với Sămpô và các tướng lănh định mưu bắt Tôn Thất Thuyết. Mưu đó rất giản
dị, giống kiểu Tôn Quyền mời Quan Vân Trường sang phó hội và chặn bắt. Nhưng
cơ mưu ấy bị những người bồi bếp trong Toà Khâm tiết lộ ra ngoài.
Với hành động ngang trái này,
tướng Cuốcxy dựa vào ư kiến của Phơrâyxinê, bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp.
Phơrâyxinê đă từng gởi điện văn cho viên khâm sứ Huế, khuyến cáo nên trừng
phạt Tôn Thất Thuyết, không những băi chức mà c̣n đổi đi xa.
Lúc tướng Cuốcxy đến Huế, mang
theo binh lực, Triều đ́nh Huế không khỏi lo ngại.
Tôn Thất Thuyết vội đến dinh
Nguyễn Văn Tường để bàn bạc.
Tường nói:
“Quan lớn là kim chi ngọc diệp,
lẽ tất nhiên là phải hết ḷng hết sức tôn phù xă tắc. C̣n tôi, mặc dù là kẻ
bách tính, nhưng cũng biết vị quốc vong thân. Nhưng quan lớn không nghĩ
rằng: Nếu gây việc can qua, biết đâu chúng ta sẽ không thất trận? Gia Định
thành tŕ kiên cố, vẫn không chống nổi đại bác của giặc Tây. Vừa rồi thất
thủ Thuận An, nhân tâm xao xuyến, vàng bạc tiêu tan. Nếu đánh nhau, thánh
thượng không khỏi kinh tâm, quân lính sợ không hết ḷng chiến đấu. Hay là
chúng ta thử đem tiền bạc, đất đai mà nhượng cho bọn chúng? Nhưng nếu quan
lớn tin chắc rằng quân ta có thể đuổi được giặc, đem lại cảnh thái b́nh th́
tuỳ quan lớn định liệu, tôi không dám bàn đến”.
Nghe Nguyễn Văn Tường đưa ra
những luận cứ ấy, tuy đúng với t́nh trạng hiện thời, nhưng lúc bấy giờ bầu
nhiệt huyết của Thuyết đang hăng, lại bị dồn vào thế bí, biết rằng các tướng
lănh cao cấp Pháp hiện đang cố kiếm cách hăm hại ḿnh. Vả lại, [trước – TXA.
ct.] chính sách tàm thực tham lam của Pháp, dầu ta có đối xử ôn hoà cũng
không sao thành công được. V́ thế Tôn Thất Thuyết đă bất b́nh đáp lại:
“Ăn cơm vua, phải trả nợ nước,
huống chi cầm binh quyền trong tay, nếu để giặc Tây chiếm hăm thành tŕ thời
c̣n đâu nữa vàng bạc thuế má? Tôi nhất quyết đương đầu với giặc, dẫu sau này
ra sao cũng đành. V́ vậy tôi định ra lịnh cho các vơ quan và binh sĩ phải
chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu”.
Sau cuộc đàm luận, hai quan phụ
chánh chia tay, nhưng trong ḷng đă bắt đầu thiếu sự đồng tâm nhất trí.
Tướng De Cuốcxy đưa giấy mời các
hoàng thân, các quan Cơ mật sang dự tiệc tại Toà Khâm sứ để bàn việc triều
yết vua Hàm Nghi cùng đệ tŕnh quốc thơ. Trong số quan khách đến dự, người
ta thấy vắng bóng quan đệ nhị phụ chánh.
Vừa nhập tiệc, Cuốcxy liền nâng
cốc, cầu chúc hai nước được thịnh vượng, đoạn nói tiếp:
“Nếu qúy quốc muốn được yên ổn
th́ trong ṿng 3 ngày phải nạp chiến phí cho chúng tôi là 20.000 thoi vàng,
200.000 thoi bạc và 200.000 quan tiền. Chúng tôi vui mừng thấy các ngài đến
đây đông đủ. Nhưng sao quan phụ chánh Tôn Thất thuyết lại vắng mặt? Hay là
quan phụ chánh ở nhà để sửa soạn đánh chúng tôi?”.
Một vị đại thần t́m cách nói đỡ:
“Dạ, quan phụ chánh của chúng tôi bị bệnh nên không sang được”.
Cuốcxy lên cao giọng trịch
thượng: “Nếu bị bệnh cũng phải vơng đến. Thế nào chúng tôi cũng cho người
đến nhà để bắt!”.
Các quan nghe nói thảy đều ngao
ngán. C̣n cuộc bàn bạc việc triều yết vua Hàm Nghi th́ không mang đến kết
quả nào cả. Cơ mật viện yêu cầu: Lúc vào Đại nội, chỉ có tướng Cuốcxy đi cửa
giữa, các quan theo hầu đều đi cửa hai bên, không mang theo vũ khí. Lúc lên
điện Thái Hoà, bước vào ngang hàng cột thứ nh́, phải dừng lại, đưa quốc thư
cho một viên đại thần dâng lên vua.
Tướng Cuốcxy bác bỏ những lời đề
nghị ấy, buộc vua Việt Nam phải tiếp ông ta, nhận quốc thơ xong rồi mới ngồi
trên ngai vàng. C̣n việc vào cửa Ngọ Môn th́ ông nói một cách hống hách:
“Không những các quan theo tôi, mà ngay cả quân lính cũng đi cửa giữa”.
Cuộc bàn bạc chưa xong th́ tướng
Cuốcxy yêu cầu hoăn lại, đợi lúc nào Tôn Thất Thuyết b́nh phục sẽ hay.
Về phần Nguyễn Văn Tường th́
ông đă phản kháng với tướng Cuốc xy là binh sĩ Pháp ăn mặc lôi thôi, hay phá
phách, nên yêu cầu cấm chỉ không cho họ vào Thành Nội nữa [TXA.
ing.].
Tiệc tan ra về, Nguyễn Văn
Tường liền đi ngay đến Bộ Binh, gặp Tôn Thất Thuyết, đem tự sự thuật lại, và
nói: “Đến nước này, chúng ta không sao chịu nổi, thôi đành liều may rủi với
trời” [TXA. iđ.].
Tôn Thất thuyết cũng giận run
lên, bảo với Tường rằng:
“Binh lính của chúng ta đều đă
sẵn sàng, chỉ cần hành động gấp để bọn chúng không kịp trở tay. Ngoài Bắc
chúng đă chiếm cứ Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, nay đến cửa Thuận. Nếu
ta bó tay ngồi nh́n giặc Tây hoành hành th́ c̣n ǵ là cơ nghiệp nữa! Tôi sắp
đặt thế này: Mặt tiền quan hệ hơn cả th́ đă có lính Long Thuyền, Vơ Sinh,
đều tinh thông vơ nghệ. Trong hoàng thành do lính Cẩm Y và Kim Ngô chống
giữ. Bọn mới tuyển cho đóng ở phía sau. Cửa Đông Ba có 5 vệ, đóng dọc về
thẳng Trường Định. Tại cửa An Hoà có 5 vệ, cửa Hậu, 5 vệ. Cửa Tả có vệ Hổ
Oai, chọn lựa những đứa thiện chiến. Cửa Chính Tây đă có đội Hùng Nhuệ giữ.
Trong và ngoài thành đều có voi, mỗi con 2 nài, súng đại bác bố trí khắp
nơi. Bên kia sông, phía trước lầu sứ, lính Long Thuyền, Phấn Nghĩa chuẩn bị
sẵn, hễ nghe hiệu lệnh là xung phong vào các trại để tàn sát lính Pháp”.
Hai quan phụ chánh mật đàm
mọi việc ổn thoả, chỉ chờ cơ hội là thực hiện [TXA. iđ.].
@
Cuộc bang giao Việt – Pháp đi
lần đến chỗ sụp đổ. Về phía Việt Nam như ta thấy, chuẩn bị chiến cuộc từ
lâu. Triều đ́nh cũng như sĩ phu, dân chúng đều muốn đánh đuổi quân Pháp ra
khỏi Đất nước, nhưng tự liệu lực lượng, thấy khó địch nổi nên phải ẩn nhẫn
để chờ thời. Nay như thuốc nổ bị châm ng̣i, tức ḷng nên phải nổ; Tôn Thất
Thuyết lo sợ, chưa biết quân Pháp đến bắt ḿnh lúc nào; nên suốt cả ngày 21
và 22 tháng 5 năm Ất dậu (03 – 04.7.1883), hai quan phụ chánh chuẩn bị công
việc hoàn tất [TXA. iđ.]. Muốn tăng gia sức lực chiến đấu, Tôn Thất Thuyết
ra lệnh mở rộâng cửa nhà lao, chặt xiềng, tháo gông, tha tội cho các phạm
nhân, cho bọn chúng tiền bạc, cơm rượu và dụ bọn chúng cầm khí giới quyết
tâm giết giặc.
Công cuộc sửa soạn nằm trong
ṿng quân cơ bí mật. Tuy thế, giám mục Cátpa vẫn biết được và tin báo cho
tướng Cuốcxy hay. Cuốcxy tự phụ ở binh sĩ, ở súng ống của ḿnh nên xem
thường, không buồn lưu ư. V́ thế cuộc khởi nghĩa của ta đă gây cho Pháp ít
nhiều thiệt hại.
Thái độ khiêu khích của Cuốcxy
đă biểu lộ một cách rơ rệt. Các tặng phẩm của vua và đ́nh thần đem qua biếu,
Cuốcxy từ chối trả lại.
@
Đêm 22 tháng 5 (04.7), nhân dịp
đến Huế, tướng Cuốcxy mở tiệc khoản đăi các văn vơ sĩ quan Pháp ở Huế.
H́nh như cuộc tấn công Ṭa Khâm
định vào một giờ sớm hơn, nhưng v́ công cuộc sắp đặt chưa hoàn bị nên măi
đến lúc trăng lên, nghĩa là lúc 12 giờ 40 mới bắt đầu khởi sự. Nhưng khẩu
đại bác đặt sẵn trên thành chĩa ra cầu Thanh Long và sông Đông Ba, chờ các
sĩ quan dự dạ yến trở về sẽ bắn vào họ để tàn sát. Nhưng v́ cuộc tấn công bị
chậm trễ thành thử các sĩ quan đều trở về đồn b́nh an vô sự. Tuy thế, về
sau, người Pháp vẫn gọi cầu Thanh Long là cầu mưu sát (Pont de L’Attentat).
Quân số của Pháp lúc bấy giờ gồm
có:
Tại Mang Cá, hai đại đội bộ binh
của người Phi châu, 3 trung đội thuỷ quân lục chiến; tại khu đất nhượng địa
trong thành gần Mang Cá: 2 đội lính Phi châu, 1 trung đội thuỷ quân lục
chiến và pháo đội; tại Ṭa Khâm: 2 đại đội thủy quân lục chiến; phía bắc
Mang Cá có 2 pháo hạm Javơlin (Javeline) và Briônvan (Brionval) và một chiếc
tàu nhỏ. Tổng cộng cả thảy 31 sĩ quan, 1.387 binh sĩ và 17 cỗ đại bác.
Sau buổi dạ hội náo nhiệt, quang
cảnh lần lần trở lại yên tĩnh. 11 giờ 30 ai nấy đều ra về.
Toà Khâm và Mang Cá đang ch́m
đắm trong giấc ngủ. Bỗng nhiên vang lên tiếng đại bác và tiếng reo ḥ vang
dậy. Những trại lợp tranh của lính ở bị những bó đuốc của quân ta xung phong
vào đốt, bốc cháy dữ dội. Hăng hái nhất là lính Phấn Nghĩa, tức là lính của
Tôn Thất Thuyết mộ làm tay chân, cùng những phạm nhân ở lao Thừa Thiên và
lao Trấn Phủ được thả ra để đái công chuộc tội. Họ mang súng hoặc đại đao,
mă tấu, ḿnh trần trùng trục, tóc bỏ xoă xuống ngang gối. Đạo quân đánh vào
Ṭa Khâm do Tôn Thất Liệt [Lệ – TXA. ct.], em của Thuyết, cùng quan thủy sư
đô đốc, thuỷ sư hiệp lí chỉ huy, c̣n cánh quân đánh vào Mang Cá th́ đề đốc
Trần Xuân Soạn và Tôn Thất Thuyết tự thân hành đốc suất. Một viên đại bác từ
pháo đài ta trên cửa thành bắn sang làm thủng một lỗ lớn trên nóc Ṭa Khâm.
Tường và mái đều bị xuyên đạn. Nhà kho, nhà vệ sinh sụp đổ và bốc lửa. Đại
uư Bruynô (Bruneau), pháo binh hải quân, bị một viên đạn xuyên qua ngực, ngă
ra chết, đại uư Bruanh (Brouin) của đội binh châu Phi găy mất hai ống chân,
tử trận. Hai sĩ quan Hétsen (Heitschell) và Lacơroa (Lacroix) bị thương
nặng.
Quân Pháp đă bảo vệ được kho khí
giới, đạn dược và lương thực. Nhưng quân trang th́ bị cháy sạch đến nỗi viên
tiểu đoàn trưởng Métdingê suốt cả ngày 5.7, chỉ mặc có một cái quần đùi, măi
đến tối mới kiếm được một cái quần dài, nhưng lại thiếu kéo, phải dùng đến
dao để hớt bớt cho vừa.
Do một cái cửa ăn thông qua
trại, 160 binh sĩ của Pháp kéo vào Ṭa Khâm. Chính tướng Cuốcxy đă điều
khiển toán quân này, đăït mỗi cửa sổ 2 người bắn ra để chặn đứng những đợt
xung phong của lính Việt.
Một điều may mắn cho Pháp là Nhà
Bưu điện cách Toà Khâm vào lối 300 thước không bị hư hại ǵ cả, nên tướng
Cuốcxy cho đánh điện gọi lính ở Hải Pḥng cấp tốc vào Huế và gọi lính ở
Thuận An kéo lên.
Ban đầu súng đại bác của ta bắùn
không lấy ǵ làm trúng đích, nhưng về sau đă tàn phá được nhiều nơi, làm
thủng trần, sập vách. Cả Ṭa Khâm rộng lớn chỉ c̣n lại một gian pḥng chính
là đứng vững.
Tại Mang Cá, sau những phút kinh
hoàng đă qua, trung tá Pécnô và thiếu tá Métdingê chia quân phản công đánh
chiếm kinh thành. Súng đại bác Pháp chĩa bắn vào các ổ súng của ta. Hai pháo
hạm, nhờ có ánh lửa của những túp nhà bị cháy nên đă bắn trúng vào mặt đông
bắc của kinh thành. Quân Pháp ở Mang Cá, kéo vào tập trung ở khu đất mà ta
đă nhượng cho Pháp từ một năm nay, rồi chia thành 3 toán kéo đi tấn công các
ngă, tiến vào Thành Nội. Quân ta kháng cự rất hăng nhưng sau 1 tiếng đồng hồ
th́ rút lui và tan ră hàng ngũ. Pháp chiếm được 6 cỗ đại bác hạng lớn đặt
trên mặt thành rồi dùng lại những khẩu súng này để bắn lại quân ta.
Trời gần sáng, chiến cuộc vẫn
tiếp diễn dữ dội nhưng quân ta thế yếu cứ lùi dần. Pháp đốt hai bộ, Lại và
Binh, là chỗ ở của Tường và Thuyết [TXA. iđ.] và các công thự, các trại
lính. Gặp dân chúng chạy loạn, không phân biệt già trẻ trai gái, [Pháp –
TXA. ct.] đều tàn sát một cách rùng rợn, tiếng la khóc vang trời dậy đất.
08 giờ 30 sáng, trên ḱ đài ta
đă phất phơ lá cờ Pháp. Tiếng gọi là cờ nhưng ḱ thật là sợi dây thắt lưng
của một tên lính Phi châu kết với hai mảnh vải.
09 giờ th́ quân Pháp vào Đại
nội, quân ta rút ra khỏi hoàng thành.
Pécnô phải dùng đến 1 tiểu đoàn
canh gác cung điện, để khỏi bị cướp phá. Tuy thế, các điện đài, dinh thự
khác trong hoàng thành, suốt 48 tiếng đồng hồ bị quân Pháp ra tay vơ vét.
Phần nhiều trong túi tên lính Pháp nào cũng có những nén bạc cướp được của
kho ta. Một phóng viên của Hăng Ava (Havas) đă nói rằng chính ông đă mua
được của các tên lính ấy 08 kilô bạc nén cả thảy. Ông lại c̣n cho biết suốt
trong 5 ngày, 50 người chuyên việc sắp xếp các bảo vật có giá trị không thể
tưởng được để đưa về Pháp.
Theo sự ước lượng của Pháp th́
quân số của ta trong trận chiến gồm 20.000 người, tử trận 1.200 đến 1.500
người.
Về phía Pháp: 02 sĩ quan và 09
binh sĩ chết; 02 sĩ quan và 04 binh sĩ bị tử thương; 05 sĩ quan và 71 binh
sĩ bị thương.
Pháp c̣n lấy của ta được số vơ
khí quan trọng: 812 khẩu đại bác, 16.000 súng tại vơ khố, vô số súng trường,
gươm giáo trong Nội.
Công cuộc sửa soạn chiến
tranh, hai quan phụ chánh giấu kín, không để cho vua Hàm Nghi và Tam Cung
biết [TXA. ing. & iđ.]. Tới khi thấy rơ sự thất bại, lúc ấy mới tâu với vua
và Tam Cung hay, nhưng đổ lỗi cho người Pháp gây chiến trước. [Dẫu sao, sự
thật cũng đúng như vậy: Pháp khích tướng (mưu toan bắt hai phụ chính Nguyễn
Văn Tường và Tôn Thất Thuyết; sau đó, bắn tin chỉ bắt Tôn Thất Thuyết để li
gián) và khiêu khích Triều đ́nh (bàn lễ triều yết, từ chối tặng phẩm, đ̣i
chiến phí một cách ngược ngạo, trịch thượng) – TXA. ct.].
Hai quan phụ chánh pḥ vua và
Tam Cung ra Quảng Trị
[TXA. iđ.]. Khi xa giá ngang qua Kim Long, Tường ghé vào nhà thờ Kim Long
nói chuyện với giám mục Cátpa rồi trở về hợp tác với Pháp. Có người chê
trách Tường là gian hùng, có kẻ lại cho rằng: Việc Tường ở lại là có dụng ư
để làm nội công cho Thuyết về sau. Cũng v́ thế nên người Pháp không những
không tin dùng lại c̣n lưu đày ra Côn Đảo,
Tahiti và chết luôn ở đấy
(30.7.1886) [TXA. iđ.].
Đến Quảng Trị, Tam Cung trở về
Huế, riêng vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết và một số quan lại, tướng lănh vẫn
ở ngoài để tiếp tục kháng chiến.
Người biên soạn ghi chú thêm vào cuối
bài viết của GS. Bửu Kế: “… Nhưng đến khi Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa vua
Hàm Nghi ra khỏi kinh thành tổ chức công cuộc kháng chiến [TXA. iđ.] th́
người pháp đă cùng với Triều đ́nh Huế chọn Đồng Khánh đặt vào chiếc ngai
vàng c̣n bỏ trống. […] … Chánh phủ Pháp đă thoả thuận với Tam Cung, lúc bấy
giờ đang trú ẩn tại Khiêm cung (lăng vua Tự Đức) để truất phế vua Hàm Nghi
và công bố cho thần dân trong nước đều biết. Sau đó, ngày 07.9.1885, Chánh
Mông được chọn để thay thế vua Hàm Nghi với sự đồng ư của Tam Cung, tướng Đờ
Cuốcxy, tổng trú sứ, Đờ Sămpô, ngoại giao đặc phái, và Nguyễn Văn Tường
[trước khi Nguyễn Văn Tường bị lưu đày ngày 06.9.1885 – TXA. ct.]”.
(Mạn phép trích nguyên văn
bài viết của GS. Bửu Kế ở cùng cuốn sách đang được trích dẫn [6], để chèn
vào bài viết này, cũng của chính GS. Bửu Kế).
◘
Về hai chữ “gian hùng”,
chúng tôi đă có nhiều luận cứ, luận chứng đề bác bỏ luận điệu đơm đặt về cái
gọi là “gian hùng” này. Lẽ ra, hoàn toàn không nên tranh căi về những luận
điệu vu khống, bôi nhọ, bởi tranh căi như thế là mắc mưu của chính bọn vu
khống, bôi nhọ ấy. (Càng không nên bị mua chuộc mà truyền bá luận điệu đó!).
Luận điệu đại loại như:
“Nước Nam có bốn
gian hùng
Tường gian,
Viêm láo, Khiêm khùng,
Thuyết ngu”
[7]
th́ tranh căi làm ǵ! Làm
thế nào lại không biết bọn vu khống ấy là ai! Chúng ta thừa biết bọn nào đă
đơm đặt, rêu rao về những anh hùng bi tráng chống Pháp là “gian hùng gian”,
“gian hùng láo”, “gian hùng khùng”, “gian hùng ngu”! Mưu trí đối phó với
giặc Pháp, thứ giặc luôn luôn lật lọng trong mưu kế tằm ăn lá dâu (tàm
thực), với bọn bành trướng Đại Hán, loại giặc thường xuyên chực chờ cơ hội
để xâu xé nước ta, là “gian” ư?! Thách đố giặc Tàu, giặc Tây (mặc dù cuối
đời Hoàng Tá Viêm cực ḷng trong nỗi “trung quân” và “yên dân” có phần đáng
trách) là “láo” ư?! Chống giặc bạch quỷ, tóc đuôi sam nhưng bản thân hơi tâm
hỏa một chút, như vô kỉ luật, phạm thượng khi quân, là “khùng” ư?! Thi hành
án những tên vua, tên quan thân Pháp, và tổ chức kháng chiến, cần vương, sát
tả (loại tả đạo đích thực thực dân, tay sai) là “ngu” ư?! Xin hăy so sánh
bốn nhân vật lịch sử kể trên với những tên Việt gian, cả những tên tả đạo
đích thực trong giáo dân đương thời thuở bấy giờ (từng được đặt tên đường
phố, tên trường học!!!) để thấy rơ thực chất của luận điệu đó! (Nếu có thể,
với ư thức công bằng sử học, xin hăy làm một phép tính để so sánh tất cả các
nhân vật lịch sử cùng thời với họ).
Đó là chưa kể đến hai câu
tiếp theo của hai câu trên:
“Lại thêm hai
thằng vũ phu
Đề Đức, đề
Soạn giương mu chịu đ̣n!” *.
Toàn bộ bài viết của GS.
Bửu Kế đă bác bỏ luận điệu “gian hùng” ấy: Một người như Nguyễn Văn Tường
không thể có kết thúc là một kẻ “gian hùng”, xét về
điều kiện khách quan (phía hoàng tộc, nhất là phía kẻ thù là Pháp, là các cố
đạo thực dân) cũng như về ư định chủ quan của ông.
Một lần nữa, xin vui ḷng
xem lại bài viết của chúng tôi, “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau
cuộc Kinh Đô Quật Khởi 05.7.1885” và các trích đoạn từ tư liệu chuẩn cứ
ĐNTL.CB. IV, V, VI., đặc biệt là các tư liệu gốc trong các kỉ ấy, ở cuốn
sách này. TXA.
GS. BỬU
KẾ
trích nguyên văn và trọn vẹn bài viết
trong
CHUYỆN TRIỀU NGUYỄN,
Nxb. Thuận
Hóa, 1990, tr. 78 – 101.
CƯỚC CHÚ bài TOÀ KHÂM SỨ
PHÁP (MỘT TUỲ BÚT – KHẢO LUẬN VỀ LỊCH SỬ, VÀ VÀI NÉT B̀NH CHÚ):
* “… Trần Tiễn Thành, sinh ngày 14.12.1813 {…]. Trong lúc đọc
di chiếu, ông đă không đọc, hay đọc rất nhỏ đoạn văn nói xấu vua Dục Đức. Do
dó, ông bị Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết hạch tội. Đứng về phe đối lập
nên Trần Tiễn Thành đă bị Tôn Thất Thuyết phái lính Phấn Nghĩa, dưới quyền
điều khiển của Hường Hàng, Hường Chước và Hường Tế, đến tại nhà riêng ở Gia
Hội để ám sát (đêm 30 tháng 10 năm Quư vị [Quư mùi, 1883])” (trích nguyên
văn, kể cả chú thích này, của GS. Bửu Kế, Chuyện triều Nguyễn, bài “Chuyện
về vua Đồng Khánh”, Nxb. Thuận Hóa, 1990, tr. 52 ).
[1] Bửu Kế, Chuyện triều Nguyễn, Nxb. Thuận Hóa, 1990, tr.
52.
[2] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (VNSL.), Nxb. Tân Việt,
bản 1964, tr. 566; Nxb. VHTT., bản 1999, tr. 594.
[3] GS. Bửu Kế, Chuyện triều Nguyễn (CTN.), bđd., sđd., tr.
53.
[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại
Nam thực lục, chính biên
(ĐNTL.CB). V [đệ ngũ kỉ], tập 36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 150 – 151, tr. 176
– 178. Xin xem 2 trích đoạn ở phần phụ lục tư liệu chuẩn cứ.
[5] Bửu Kế, CTN., sđd., tr.178.
* Và, xin mở nhỏ một ngoặc đơn lạc đề ở đây: Là người thuộc
thế hệ học tṛ của học tṛ GS. học giả Bửu Kế, chúng tôi rất thông cảm với
những đại từ nhân xưng, các cụm từ miêu tả, thuật sự khá trung tính của ông
trong bài viết, như GS. Bửu Kế đă gọi Râyna, Sămpô, Cuốcxy bằng “ông”; hoặc,
khác với văn hoá Việt trong ứng xử văn hoá giữa người Việt với nhân vật yêu
nước Việt, GS. gọi hai nhà yêu nước bằng hai cái tên cộc lốc: Tường, Thuyết;
thậm chí thuật cuộc kháng chiến ở Bắc ḱ, cuộc Kinh Đô Quật Khởi của ta bằng
động từ “gây hấn” chẳng hạn.
Năm 1978, bản thân chúng tôi cũng có lần phạm phải khi gọi
Mác-bét (Macbeth), một nhân vật thường bị nhiều người thưởng ngoạn xem là
phản diện của Sếch-xpia (W. Shakespeare), là “ông”. Tôi đă bị quy vào tội
mất lập trường. Và v́ thế, hồi đó, tôi đă suưt bị đánh rớt khi bảo vệ luận
văn cử nhân sư phạm khoa ngữ văn, nếu không khiếu nại.
Thật ra, khác với trường hợp GS. Bửu Kế nói trên (cũng như
trường hợp GS. Trần Văn Giàu, mất lập trường thực sự), việc tôi gọi Mác-bét
bằng “ông” là hoàn toàn có cơ sở khoa học (văn học và đạo đức học).
Theo các học giả Liên Xô, căn cứ vào tác phẩm của Sếch-xpia
và nhận định của nhà nghiên cứu văn học người Nga cực ḱ uy tín Bi-ê-lin-xki
(Bêlinxki), th́ Mác-bét “không thích hợp với cách xác định “tích cực” hay
“phản diện””, và họ cũng gọi Mác-bét bằng “ông” (đại từ ngôi thứ ba trong
tiếng Nga cũng như trong tiếng Anh [he], tiếng Pháp [il], nhưng được dịch
theo văn cảnh).
(Xem: Tổ Bộ môn lịch sử sân khấu nước ngoài, Viện Nghệ thuật
sân khấu A. V. Lu-na-sac-xki biên soạn, GS. X.X. Mô-cun-xki chủ biên, Lịch
sử sân khấu thế giới, tập 2, Đức Nam, Hoàng Anh, Hải Dương dịch, Nxb. Văn
Hoá, Hà Nội, 1977, tr. 136 – 139).
Cuối cùng, tôi đă khiếu nại thắng lợi trong việc bảo vệ luận
văn tốt nghiệp, với điểm 7/10 (mức điểm trong khoa ngữ văn như thế, bấy giờ,
đă được xem là cao). Tuy vậy, với sự góp ư trực tiếp của tiến sĩ Lê Văn Hảo,
tôi đă thay đại từ “ông” bằng đại từ “y”, để thích đáng hơn trong sự b́nh
giá Mác-bét, đồng thời để tránh những ngộ nhận đáng tiếc. Chắc hẳn cũng như
Mác-bét, kẻ đă bức tử vua, cướp ngôi nhà Trần, đổi quốc hiệu thành Đại Ngu
(*), để mất nước vào tay giặc Tàu, là Hồ Quư Ly, cũng chỉ xứng đáng bị gọi
là “y” như thế. Riêng Trần Thủ Độ, kẻ gian hùng và đáng kinh tởm này c̣n là
một anh hùng chống Nguyên – Mông thắng lợi, hẳn cần phải rạch ṛi, có lúc
phải gọi là “y”, có lúc nên gọi là “ông”, tuỳ khía cạnh trong hành trạng của
Trần Thủ Độ.
Cũng xin khẳng định, Mác-bét phần nào gần với Trần Thủ Độ, Hồ
Quư Ly và hoàn toàn khác xa với hai đại thần trung nghĩa Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết.
Mặt khác, mở rộng ra về khía cạnh đại từ nhân xưng thể hiện
sắc thái biểu cảm và b́nh giá, ngoài văn cảnh cụ thể, trong tiếng Việt, cũng
phải lưu ư đến tính địa phương (tiếng địa phương vùng bắc Trung bộ: mụ [chùa
Linh Mụ, đèo Mụ Giạ], hắn [= anh ta, y, nó…]). Ngôn ngữ chỉ là sự quy ước
của cộng đồng. TXA.
(*) Sử Trung Hoa: Kế vị vua Nghiêu, vua Thuấn lập ra nhà Ngu.
Hồ Quư Ly biện minh việc cướp ngôi của ḿnh bằng điển tích này. Vấn đề là
tại sao lại lấy tên một triều đại bên Tàu để đặt quốc hiệu cho nước ta! Đó
là chưa kể khía cạnh khác, trong tiếng Việt thông dụng, chỉ có một chữ ngu
(đồng âm, khác chữ, khác nghĩa) với một nghĩa: ngu dốt, ngu ngơ!
[6] CTN., sđd., tr. 59.
[7] Phan Bội Châu, Những tác phẩm của Phan Bội Châu
(NTPCPBC.), tập I, gồm Việt Nam vong quốc sử (VNVQS.) và Việt Nam quốc sử
khảo (VNQSK.), lời phê của Hoàng Trọng Mậu (?!), Chương Thâu dịch, Hồ Song
giới thiệu, Văn Tạo chủ biên… , Nxb. KHXH., 1982, tr. 305 – 306.
* Chủ chiến không phải là hiếu chiến, hoặc có dũng khí nhưng
hành động thiếu suy xét, và càng không thể vô kỉ luật như thảo khấu, đến mức
cướp bóc của cải ở nhà Trần Tiễn Thành một khi y đă chết như Hầu Chuyên đă
phạm phải. Hầu Chuyên là người mà Vũ Văn Đức đă thả ra khỏi ngục. Chính Tôn
Thất Thuyết và cả Nguyễn Văn Tường đều phải chấp hành tinh thần “luật pháp
bất vị thân” của Bộ H́nh, cho dù ở vụ việc này là “luật pháp bất vị đồng chí
chủ chiến”. Ư thức “thượng tôn luật pháp” là “gian hùng” ư?
Cũng như phó đề đốc Trần Xuân Soạn, tham tri Ông Ích Khiêm và
đề đốc Vũ Văn Đức vẫn là hai nhà yêu nước, cho dù họ lầm lỡ vi phạm luật
pháp.
[Xem: ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 101, 169 –
171].
Xin vui ḷng cảm thụ đại ư (ư nghĩa chung, toàn thể) của bốn
câu vè trên. Theo bốn câu vè đầy ác ư đó, phải chăng bốn vị chủ chiến Nguyễn
Văn Tường, Hoàng Tá Viêm, Ông Ích Khiêm, Tôn Thất Thuyết đều lănh đạo và chủ
động trong mọi kế hoạch đề kháng, kháng chiến chống Pháp, chống bọn tả đạo,
nhưng chỉ hai vị đề đốc chủ chiến, yêu nước là Trần Xuân Soạn, Vũ Văn Đức
phải chịu hi sinh để cứu t́nh thế, một khi lại phải hoà hoăn với Pháp để
tiếp tục cầm cự?
[Chúng tôi không đề cập đến Hoàng Tá Viêm về sau, sau khi
Kinh Đô Quật Khởi và bị thất thủ!].