TRẦN
XUÂN AN
NGUYỄN
VĂN TƯỜNG,
“NHỮNG NGƯỜI TRUNG NGHĨA
TỪ XƯA,
TƯỞNG
KHÔNG HƠN ĐƯỢC”
KHẢO LUẬN VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH SỬ HỌC
Nhà Xuất bản
2003
25. Vụ phế truất, thi hành án vua Hiệp Hoà cùng Trần Tiễn Thành và
những kẻ đồng mưu câu kết với thực dân Pháp, tháng 10 Quư mùi (tháng
11.1883):
“Ngày đinh sửu, Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết phế vua và giết đi, và giết cả đại thần Trần Tiễn Thành; lập
hoàng tử thứ 3 lên làm vua.
Trước đây, phế đế đă nối ngôi,
Tường, Thuyết cậy công tôn lập lên, việc ǵ cũng chuyên quyền làm bậy [chủ
chiến là làm bậy?!? – TXA. ct.]. Vua ghét hai người ấy, muốn tước bớt quyền
đi. Cho nên ngoài mặt vẫn hậu đăi, mà trong ức chế cũng nhiều, (như việc đổi
Thuyết sang Bộ Lại, không cho giữ binh quyền; lại tờ tâu của 6 bộ, đều giao
cho Nội các duyệt tâu, không chuyên giao cho hai người ấy). Gặp khi những
người thân tín của vua là tham tri Bộ Lại Hồng Ph́, tham biẹân Nội các Hồng
Sâm mật mưu việc ấy; Tuy Lư vương Miên Trinh, huyện công Hồng Tu đều có dự
mưu (Hồng Tu, Hồng Sâm đều là con Tuy Lư vương). Tường, Thuyết đă biết việc
ấy. Vua lại muốn dùng mẹo để 2 người giết nhau. Triệu Văn Tường vào nói
chuyện, th́ bảo Văn Tường là người trung thành, vẫn rất tin cậy; c̣n Thuyết
rất là ngang ngược, dặn Văn Tường t́m cách bỏ Thuyết đi. Thuyết vào hầu, vua
cũng nói thế. Hai người lại ra, đều đem lời nói ấy mật bảo nhau; nhân mưu
việc bỏ vua mà lập vua khác.
Thuyết bèn lấy cớ là Thuận An
sau khi thất thủ, phủ hạt Thừa Thiên nên tự t́m cách bảo vệ gia hương, phát
hổ phù (*) ra mật sai mộ nhiều hương dũng (nhưng sai người thân tín là Kỳ
nội hầu Hồng Chuyên, pḥ mă Đặng Huy Cát chia nhau cai quản) để pḥng sai
khiến. Người ngoài chưa ai biết cả. Gần đây phái viên nước Pháp nhân hoà
nghị đến xin chầu yết, hai người kiếm cớ tránh mặt, không dự việc ấy. Vua
lại đặc cách sai Tuy Lư vương chuyên đi lại sứ quán bàn bạc. 2 người ngờ vua
đem mưu ấy dặn Tuy Lư vương cầu cứu với người Pháp. Bèn vào ngày bính tư là
ngày 29 tháng ấy [**], lúc canh hai, các cửa hoàng thành, kinh thành đă đóng
kín, Thuyết thu hết cả ch́a khoá cửa. Bèn trước nói dối là đêm ấy nghe nói
ngoài thành có bọn bậy bạ họp kẻ dị dạng, xin tự kiểm biền binh, mật pḥng
bị sẵn, biên ra giao cho quan trực hầu tâu lên. Rồi ngoài th́ phát ra hổ phù,
sai họp tất cả mộ dũng ở bờ phía nam sông Hương; trong th́ đ̣i gọi các quân
đều mang khí giới, do các viên Ông Ích Khiêm, Trương Văn Đễ đi trước, dẫn
đến đóng ở Sở Tịch điền. Cho mời văn vơ đ́nh thần người nào hiện ở ngoài
hoàng thành cũng đến công đường Bộ Hộ (chỗ Văn Tường ở). Hai người bảo rằng:
“Lăng quốc công nối ngôi đến nay, làm việc phần nhiều trái phép cũ, lại gần
gũi người bậy (ngầm chỉ bọn Hồng Ph́, Hồng Sâm, Hồng Tu), người đều không
phục. Nay nên xin bỏ đi, đón hoàng tử thứ 3 lên nối nghiệp lớn”. Lúc bấy giờ
các quan đều vốn sợ uy lệnh của 2 người ấy, không ai dám nói điều ǵ khác. 2
người bèn một mặt dự làm tờ tâu, một mặt đem văn vơ đ́nh thần chuyển đến Sở
Tịch điền, (duy có thượng thư Bộ Công là Đoàn Văn Hội cáo ốm không đến); sai
đem tờ tâu lấy chữ các quan kư tên. Lúc bấy giờ đă trống canh tư. Bèn sai
Hậu quân là Nguyễn Hanh, thị lang Bộ Binh là Lê Đại, trích phái biền binh đi
đến nhà Dưỡng Thiện ở Khiêm lăng, (hoàng tử thứ 3 nguyên ở Dưỡng Thiện đường,
ở bên hữu nhà Duyệt Thị gần đấy; rước linh cữu tiên đế để ở điện Ḥa Khiêm
tại Khiêm cung, Hoàng tử thứ 3 theo đến ở nhà quan xá ngoài cửa Vụ Khiêm,
nhân thể cũng gọi [nhà quan xá ấy – TXA. ct.] là Dưỡng Thiện đường), đón
hoàng tử thứ 3. Lúc mờ sáng, về đỗ ở điện Quan canh Sở Tịch điền. Hai người
cùng các quan ở Sở ấy đều lần lượt lạy mừng.
(Khi ấy bọn Hanh mới đến đón,
hoàng tử thứ 3 rất sợ hăi; bọn Hanh ôm lên vơng rước đi. Đến khi về đến nơi,
hai người nói với hoàng tử thứ 3 là xin lập lên làm vua. Hoàng tử thứ 3 nói
rằng: “Ta c̣n bé, sợ không làm nổi”. Hai người nói rằng: “Tiên đế đă có ư ấy,
nhưng chưa kịp làm. Nay là mệnh trời vậy. Xin nghĩ đến tôn miếu xă tắc là
quan trọng”).
Đến sáng rơ, (tức ngày đinh sửu
là ngày 30 tháng 10), hai người thông báo cho các quan hiện túc trực đêm ấy
ở trong Nội (văn trực thần là tham tri Hà Văn Quan, vơ trực thần là quyền
chưởng doanh Hùng Nhuệ Trần Văn Cư, tham biện Viện Cơ mật là Hồ Lệ, tham
biện Nội các là Lê Duy Thụy, thị vệ sứ đại thần là Tiền quân Tôn Thất Thạ)
đều đến họp. (Lúc bấy giờ Đoàn Văn Hội cùng đến).
Khi đồng hồ 5, 6 chuyển, vua mới
biết là có sự biến; hỏi đến những người trực thần, th́ chỉ có vài người cung
Thái giám; vội vàng thất thố, không biết làm thế nào, chỉ phải dự phê tờ
chiếu nhường ngôi, để đợi.
Đến giờ mùi, hai người đón hoàng
tử thứ 3 vào Viện Cơ mật tạm nghỉ; và đem tờ tâu bỏ vua cũ, lập vua mới, tâu
lên Từ Dụ thái hoàng thái hậu, lấy ư chỉ để thi hành; lại sai mở cửa mạn tây
nam (ngày hôm ấy cửa 4 mặt kinh thành đóng kín cả ngày); cho gọi các hoàng
thân, cũng lục tục vào Tả vu. Đến nơi th́ ai cũng im lặng, chỉ trông nhau mà
thôi.
(Duy Tuy Lư vương, Hồng Tu, Hồng
Sâm ở ngoài, nghe biết tin sợ bị vạ lây, bèn đem gia quyến đến chỗ phái viên
Pháp đóng ở Thuận An cầu cứu. Hoằng Hoá công Miên Triẹân, Hải Ninh quận công
Miên Tằng cũng sợ hăi đi mất. Sau đấy vài ngày Hồng Ph́ đi công sai ngoài
Bắc về, đến đầu địa giới Quảng Trị, nghe biết tin tự cho là nguy, lập tức
thuê thuyền đến hội với Tuy Lư vương. Sau v́ phái viên Pháp giao trả về,
cùng với Hồng Tu, Hồng Sâm, đều bị nạn).
Lúc bấy giờ, vua sai thái giám
là Trần Đạt đem tờ chiếu nhường ngôi, yêu cầu lui về chỗ phủ cũ. Hai người
giả cách nhận lời, sai Tôn Thất Thạ đem vơng đưa vua cùng phi tần nội cung
cho về phủ cũ (ở địa phận xă Phú Xuân), nhưng mật dặn riêng Ích Khiêm, Văn
Đễ trực [:chực – TXA. ct.] trước ở ngoài cửa Hiển Nhân, đón đường, sai đưa
đến nhà Hộ thành, cho uống thuốc độc giết đi.
(Hộ thành nha nguyên trước là
Dục Đức đường, mới đổi tên. Lúc bấy giờ, những phi tần đă cho về trước, để
hộ vệ đưa vua. Khi đến đấy, Ích Khiêm, Văn Đễ cho thuốc độc vào nước chè
dâng lên; vua không chịu uống. Văn Đễ ra lạy khóc, khuyên rằng: “Vua tôi đến
lúc biến không thể làm thế nào được”. Vua nói rằng: “Ta lại không được bằng
Thụy quốc công à?”; c̣n lần chần không uống. Ích Khiêm bèn đem nước chè ấy
đổ vào miệng vua; lập tức phát lên như người phải gió. Một lúc lâu, Trần
Xuân Soạn ra truyền nói rằng: “Nếu để chậm quá, sẽ phải tội nặng”; lập tức
lấy tay bóp họng, vua lè lưỡi, lồi mắt ra, rồi vua mới chết. Đến lúc đưa vua
về phủ, thấy chỗ cổ họng vua sưng như cái cung giương lên, ai cũng lấy làm
lạ).
Ích Khiêm, Văn Đễ vào bảo rằng:
“Lăng quốc công đến đấy đă uống thuốc độc chết rồi”. Hai người bèn rước
hoàng tử thứ 3 vào ở điện Hoàng Phúc, đợi sẽ chọn ngày tốt, tôn lên làm vua.
Trần Tiễn Thành cùng hai người
ấy vẫn không bằng ḷng nhau. Trước đây v́ việc tuyên chiếu, đă bị 2 người
tham hặc diếc móc, giận không quên được. Bọn Hồng Ph́ mật tâu xin bỏ cường
thần, Tiễn Thành cũng có đi lại mật với nhau. (Tiễn Thành đêm thường ngầm
đến dinh thự Hồng Ph́ bàn kín với nhau). Hai người đă biết. Cho nên việc
Tiễn Thành cáo ốm xin về nhà riêng, đều do hai người bắt buộc. Đêm hôm trước
họp nhau ở Sở Tịch điền, 2 người cũng có đem bản thảo tờ tâu đến tường với
Tiễn Thành, yêu cầu phải theo làm việc ấy. Tiễn Thành lại khước từ, nói rằng:
“Bỏ vua nọ lập vua kia, sao có thể làm măi? Tôi đă băi chức về nhà, không
dám dự việc ấy”. Hai người lại càng ngờ mà ghét. Nhân thể đêm ấy cũng sai
người đến giết Tiễn Thành ở nhà riêng (nhà ở ấp Doanh Thị Trung).
Ngày hôm sau (tức là mồng 1
tháng 11) hai người tâu xin chôn vua bằng lễ nghi quốc công, giao cho phủ
Tôn nhân chiểu lệ chôn cất. C̣n Tiễn Thành th́ do phủ Thừa Thiên khám biên
cho là bị kẻ cướp giết chết. Đến lúc việc phát ra, ai cũng biết là do 2
người ấy sai người giết, mà chả ai dám nói ra”.
(ĐNTL.CB., tập 35, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 255 – 260).
(*) Hổ phù
là tín hiệu để trưng triệu quân lính (chú thích của Viện Sử học).
[**] Về
ngày 29.10 Quư mùi, xin xem thêm ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 63
– 64, đă có trích in trong phần phụ lục này. TXA.
26. Dụ của vua Kiến Phúc (và hai vị phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết) về chủ trương và ư hướng kêu gọi đoàn kết lương, giáo, tháng 12
Quư mùi (tháng 01.1884):
“Vua lại cho dụ đạo B́nh (*)
[***] ở hai miền Nam – Bắc
cùng yên ổn.
Vua, lúc đầu, tiếp nối ḍng dơi,
v́ việc đạo B́nh ở các phủ hạt ở Thừa Thiên chưa yên ổn, ra dụ: “Đạo B́nh
đều là con đỏ của Triều đ́nh, nên yên phận đợi lệnh của Triều đ́nh, chớ nói
nhăng làm bậy”. Một thời gian sau th́ có thư của sứ Pháp là Săm-bô gửi đến,
xin phái cử lính phủ đến bảo vệ giáo dân ở hai xă Thanh Tân và Sơn Quả. [Triều
đ́nh – Viện Sử học chua thêm (:VSH. ct.)] chuẩn y, lập tức phái cử (lính phủ)
đến bảo vệ. Lại dụ các phủ thần chia nhau đi hiểu tập [giáo dân – VSH. ct.].
Sau đó, công tử Hồng Thành (là con của Chấn Định quận công Miên Trí) cư tập
đảng phái, thiêu đốt nhà cửa, giết hại giáo dân thuộc huyện Hương Trà, xă
Dương Ḥa: thiêu 89 hộ, giết hơn 20 người. Sự việc bị phát giác, án chưa thi
hành, Thành bèn đổi ra họ mẹ, đợi đến ngày tế Giao đầu năm mới trảm quyết.
Đảng ấy gồm bọn Trương Văn Đức, Trương Văn Định, đều đợi xét đem chém. C̣n
ngoài ra, đều phải tội đồ, tội lưu. Lại thông báo cho sĩ dân ở Quảng Trị
biết để cảnh giới. Sau đó lại báo cho các hạt có nhiều đạo B́nh [xung đột –
TXA. ct.] từ Nam chí Bắc đều biết. Nhân đấy, lại ra lời dụ cho họ.
Dụ rằng:
“Trời ban ân huệ cho dân, vua
phụng theo mệnh trời; những kẻ có tội hay vô tội, ta nào dám trái. Theo trí
ấy th́ đạo B́nh nước ta, tuy đi con đường khác, nhưng cũng là dân của trời,
cũng ḍng giống, không có ǵ khác nhau. Xưa nay Triều đ́nh vẫn coi trọng
người theo ḷng nhân, mọi người cùng nhau yên ổn. Nhưng gần đây, do sự kiện
Bắc Kỳ, tin tức bay ra ngoài kinh đô, sĩ thứ, dân chúng nói càn, có kẻ bất
b́nh v́ ḥa nghị [với Pháp – VSH. ct.], có kẻ phẫn nộ giết hại đạo Tả (*),
bàn tán khắp đầu đường ngơ hẻm, ồn ào dao động, sao chẳng biết suy nghĩ sâu
xa? C̣n như đạo B́nh là dân nước ta, chiến hay ḥa đă có Triều đ́nh lo toan.
C̣n như sĩ dân, nếu như có ḷng trung nghĩa trong trắng, th́ nên yên tĩnh mà
đợi lệnh Triều đ́nh. Ta đă lấy ḷng trăm họ làm ḷng ḿnh, các ngươi sao dám
đem ḷng ḿnh làm ḷng ấy mà lại càn rỡ chia rẽ? Nhiều lần phân chia ranh
giới? Các ngươi dám gây rối loạn, để tự mau chóng đi đến chỗ vong ơn. Lẽ
thường, [ta – VSH. ct.] vỗ kiếm, giận dữ nh́n mà nói: “Các ngươi sao dám
chống lại ta?”; nhưng sự dũng cảm của kẻ sất phu này, không những vô ích mà
lại c̣n có hại. Trước đây, cái án đốt nhà, giết người ở xă Dương Ḥa, phủ
Thừa Thiên, qua phân giải, th́ bọn đầu sỏ và ṭng phạm đều đă chịu tọâi chém
và tội lưu. Triều đ́nh sao mà dung tâm được. Nay nghiêm sức cho bọn bầy tôi
ở các phủ, huyện, tỉnh, từ Nam chí Bắc, lập tức đi xuống các hạt của ḿnh,
hiểu tập nhân dân, mọi người đều phải giữ yên phép tắc, không sai một tấc.
Những kẻ ghét đạo tôn vương [**] và những người hiếu đạo tôn vương đều cũng
được hưởng phúc thăng b́nh. Qua huấn sức này, nếu như c̣n chia rẽ, trừ bọn
phạm tội ra, lập tức tăng cường thêm trọng trị. Bầy tôi ở tỉnh, phủ, huyện
ra huấn sức không được nghiêm th́ khó tránh phải tội lỗi, chớ nói là không
bảo” ”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 58 – 59).
(*) Đạo
Gia-tô (chú thích của VSH. ở cuối trang sách bản dịch).
[**] Đạo
Tôn vương: Đạo Thiên Chúa (?). TXA.
[***] “Dụ
Đạo B́nh”, phải chăng là Dụ Đạo (giáo dân) [và] B́nh [lương dân]? Từ 1874,
đạo tả, dữu dân đă được gọi là “giáo dân” (dân có sự giáo hóa), lương dân
được gọi là “b́nh dân” (dân có ḷng ḥa hảo); hai từ này đối nhau, đẳng lập,
không phản nghĩa. Xem thêm: ĐNTL.CB., tập 33, Nxb. KHXH., 1975, tr.122 –
123. TXA.
27. Tôn Thất Thuyết lập Phấn Nghĩa quân, được Nguyễn Văn Tường cho
phép, tháng 12 Quư mùi (tháng 01. 1883):
“Tôn Thất Thuyết lập “Phấn Nghĩa
quân”.
Lúc đó, Thuyết muốn lập lính
chân tay riêng ḿnh, bèn thương lượng với Nguyễn Văn Tường, nói rằng: “Tiến
hành vào ngày 29 tháng 10 là quan trọng nhất” (*) . Hai viên quan này cùng
với những đ́nh thần đă dự biết trước nên ai nấy giao cho những người thân
thuộc tham dự vào việc hiểu dụ các thân hào sĩ dân kết đảng làm theo. Lần
này, qua chọn lọc số người trong đó mà ban thưởng. Ngoài ra tuy chưa được dự
vào phái cử, nhưng đều vui ḷng đáp ứng. Gần đây, nhiều người làm theo; nay
các binh ngạch thiếu nhiều, nên nhân t́nh h́nh ấy mà thu dụng họ. Xin hội
đồng Binh bộ xét tuyển dụng được bao nhiêu lính (nhưng không được khấu giản),
chia làm vệ đội, lượng mà thiết lập quản suất, tùy số mộ được nhiều hay ít
mà thưởng phẩm hàm, đặt tên là “Phấn Nghĩa quân”. Số quân đó được khao
thưởng và đặt tên riêng; chiểu theo thứ tự, tuyển hai vệ tiên phong, nhưng
vẫn lệ thuộc vào các viên quan mà hai vị thần đó ủy nhiệm cho để luyện tập
và phân phái. Theo thời kỳ này th́ hữu dụng, nên (Tường) cho phép.
Sau đó Thuyết cho Trần Xuân Soạn
lănh số quân ấy”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 63 – 64).
(*) Đó là
ngày nhóm chủ chiến Triều đ́nh Huế tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Hiệp Ḥa
cùng những kẻ đồng mưu, câu kết với giặc Pháp. Xin xem lại: ĐNTL.CB., tập
35, Nxb. KHXH., 1976, tr. 255 – 260, đă trích in trong phần phụ lục này.
28. Tiếp tục thiết lập Sơn pḥng Tân Sở, tháng 12 Quư mùi (tháng
01.1884):
“Di chuyển nha đóng ở Sơn pḥng
Quảng Trị cùng với nha ở phủ Cam Lộ.
Nguyên Nha Sơn pḥng và Phủ Cam
Lộ truớc đặt ở địa phận xứ Động Ngang, huyện Thành Hóa. Quan Cơ mật viện tâu
rằng: “Sơn pḥng của Quảng Trị có thể làm hậu lộ cho kinh đô. […] … Nơi liền
với chỗ đất cũ này là ở trên địa phận xă Bảng Sơn, […], địa thế rộng răi, có
thể chứa được một khu kiến trúc lớn di về đây […], phủ, nha cũng xin chuyển
đến pḥng nội”. (Vua) chuẩn y.
Đến lúc ấy, bèn chuẩn cho đắp
thành, đào hào, xây cất nha thự, kho súng, nhà lính, cùng với các toà kỳ đài,
pháo đài, chọn nơi di chuyển trấn Lao Bảo […]; thiết lập nhà ở và làm việc
cho các quan viên văn vơ, đặt ra kho thuốc súng, nhà lính, xưởng voi.
Lại đặt ra kỳ hạn mua muối […]
để phân biệt rơ người lạ, người quen […]; … đặt cơ Can Thiện để quản thúc
bọn tù khẩn hoang ở đây, quyền suất đội chia đi đồn trú và đào hố để tránh
nạn hổ dữ.
Thiết lập đồn Động Chu ([…] từ
sườn núi lên đến đỉnh núi phải mất nửa ngày đường, khác nào chiếc thang lên
trời […]; địa thế hiểm trở, cho nên đóng đồn ở đây).
Khai quặng sắt (gần sở pḥng để
tiện việc đúc). […] … (khi đó, sứ Pháp phái người đến xem bản đồ, nói là để
chuẩn bị bản đồ toàn cảnh [(!) – TXA. ct.]).
Lại mở hai thượng lộ, phía nam
thông đến kinh phủ, bắc thông đến Quảng Trị, sơn pḥng, có lẽ ư ấy là muốn
củng cố con đường phía sau để bảo vệ kinh sư vậy (tiếp đó, lại đem thuốc
súng, vàng bạc, tiền nong về trữ ở (sơn) pḥng ấy khá nhiều)”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 64 – 66).
29. Vua Kiến Phúc chết, 10 tháng 6 Giáp thân (31.7.1884):
“Vua không khỏe, tháng tư trước,
ngọc thể vi hoà, đ́nh thần đă xin vua tĩnh dưỡng, và chia nhau đi cầu đảo
các linh từ; sau đó đă khỏe, nhưng chưa được b́nh phục như cũ; đến ngày mồng
7 tháng này, ngày kỷ măo, mới ngự điện Văn Minh, chịu lễ chầu mừng, ban
thưởng lụa hoa cho các bầy tôi có sai bậc, rồi sau lại không được khỏe. Thái
y tiến thuốc, không thấy công hiệu. Ngày mồng 10, nhâm ngọ, bệnh kịch; giờ
ngọ hôm ấy vua mất ở chính điện Kiền Thành. Hoàng thái phi bèn vời bọn Tôn
nhân phủ Miên Định, phụ chính phủ thân đại thần Hồng Hưu, Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết và Hộ bộ thượng thư Phạm Thận Duật, truyền bảo hoàng đế di
chúc rằng:
“Hoàng đế đức mỏng, có em là
Ưng Lịch có học có hạnh, hoàng đế như có mất đi, truyền bảo tôn nhân phụ
chính nên lấy Ưng Lịch vào nối ngôi lớn, để phụng tôn miếu; lại đại lễ tiên
hoàng đế chưa xong, và lấy của dùng chưa sẵn, vậy hợp thành tang lễ châm
chước làm được 4, 5 phần mà thôi, chớ cầu thể lệ”.
Bấy giờ, Miên Định công và phụ
chính thân đại thần truyền lệnh cho biết. Tôn nhân phủ, văn vơ đ́nh thần bèn
hợp từ tâu lên Từ Dụ thái hoàng thái hậu; hoàng thái hậu rước công tử Ưng
Lịch (là con thứ 5 Kiên Thái vương Hồng Hợi, biện phụng vương ấy), vào nhà
tang xưng là tự quân, phàm việc tâu xin tuân hành; chọn ngày lành làm lễ tấn
tôn (đó là vua Hàm Nghi) …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 150 – 151).
30. Bản án về Ông Ích Khiêm, cái chết của ông, và sự gia ơn, khai
phục cho ông của Triều đ́nh, tháng 7 Giáp thân (21.8 – 19.9.1884):
“Phạm viên (*) là Ông Ích Khiêm
chết ở nhà ngục B́nh Thuận.
Ích Khiêm, mùa hạ năm ấy, vâng
mệnh phải đi khám Sơn pḥng Quảng Nam, bị bọn chưởng ấn là Đào Hữu Ích,
Nguyễn Doăn Tựu đem việc chỉ hặc (tự tiện bắt lính kinh hơn 50 tên hộ tống
và lấy công nữ, đuổi dân cư, xây nhà riêng) giao cho đ́nh nghị; sau thành án,
cách bỏ chức tước (nguyên Binh bộ thị lang, phong tước nam), phát đi B́nh
Thuận sung quân (theo về khoản tự tiện bắt người hỏi tội), thu hết ấn quan
pḥng cấp cho cũ, khóa tay giải đến chỗ đi đày; khi đi đường đến Quảng Ngăi,
bị bệnh nghỉ.
(Nói: Đi theo việc bắt giặc,
trải 150 trận, ḿnh bị trọng thương, nay đi đường bị nóng, nhức đau, xin
nghỉ lưu lại).
Tỉnh thần là Trần Nhượng y cho
hạn xin ở lại. Bộ H́nh cho rằng v́ t́nh riêng, khinh thường pháp luật, tâu
hặc, phạt Nhượng bị giáng 2 cấp, lưu lại làm việc; sai [Ích Khiêm – TXA.
ct.] mỗi ngày phải đi hai trạm, hạn cho đi tới các tỉnh (B́nh Định, Phú An,
Khánh Ḥa), không được hạn lưu lại một khắc; kịp khi tới chỗ đày, phủ thần
là Lê Liêm an trí xuống ngục; Ích Khiêm tháng ấy chết ở trong ngục [**]; gia
ơn miễn tội sung quân, khai phục Hàn lâm viện thị độc, chiếu hàm cấp tiền tử
tuất.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 163 – 164).
(*) Phạm
viên: viên quan bị tù (chú thích của VSH.).
[**] Theo
một số tư liệu và theo tộc phả họ Ông, Ông Ích Khiêm đă tự sát trong nhà
ngục. TXA.
31. Tiếp tục tăng cường Sơn pḥng Quảng Nam, tháng 7 Giáp thân (cuối
tháng 8 – tháng 9.1884):
“Tu sửa Sơn pḥng Quảng Nam ở xă
Dương Ḥa, phủ Thăng B́nh.
Đồng rừng thượng du có hàng muôn
mẫu, đất rất màu mỡ, nhưng v́ nước độc, khí nặng, gồm có giặc mán quấy nhiễu,
đốc tiễu sứ là Trần Văn Dư xin tăng thêm việc hoàn tụ để cho thế lực tả kỳ
được mạnh lên, nên sai tu lư, để chứa muối gạo cho nhiều. Lại định cuộc buôn
quế Quảng, chọn những người có hiểu tiếng mán ấy sung làm. Pḥng quan coi
giữ công việc cấm những người ngoài cuộc không được giao dịch với người mán
và vào trong làng mán bóc quế để thu lợi quyền riêng”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr.
165).
32. Thi hành án Dục Đức, tháng 9 Giáp thân (tháng 10.1884):
“Giáp thân, năm Kiến Phúc thứ 1
(1884), tháng 9, mùa thu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết dời để vua mới
nối ngôi là Thụy quốc công xuống ngục, rồi giết ngầm đi. Tháng trước, Văn
Tường và Thuyết tâu nói: “Gần đây Nha Vệ thành canh pḥng hờ hững, nên tên
Đ́nh, Chuyên đă vượt được ngục. Vậy tự quân ở lâu Viện Thái y (nguyên tự
quân trước bị giáng làm công tử, giam giữ ở đấy), cũng nên làm sớm đi, để
khỏi sự trở ngại về sau; xin chuyển dời sang nhà ngục phủ Thừa Thiên để giam
giữ cho được cẩn mật”. Tâu lên làm ngay [tâu với vua Hàm Nghi hoặc với Từ Dũ
– TXA. ct.]. Các con trai con gái đều cho theo về với mẹ, giao về quê ngoại
quản thúc. Nguyên phi Phan thị (tức là hoàng thái hậu ngày nay) bèn cùng với
người con thứ bảy (tức là vua bây giờ) [:vua Thành Thái, trị v́ trong suốt
thời điểm phần sử các kỉ IV, V được biên soạn – TXA. ct.], con thứ 9 là Bảo
Đóa (tức là hoàng tử thứ 9 bây giờ) cùng về xă Phú Lương. (Hoàng tử thứ 10
là Bảo Khiêm theo sinh mẫu là Nguyên Văn thị về ngụ ở xă Phú Xuân. Hoàng tử
thứ 11 là Bảo Lỗi c̣n ở trong bụng. Tên các hoàng tử đều theo bộ “sơn”, lần
này phải đổi theo bộ “thạch”; nay vẫn viết theo bộ “sơn”). Lương xướng do
phủ Thừa Thiên đệ cấp. Rồi hai người bí mật sai không cho tự quân ăn uống.
Đến ngày mồng 6 tháng ấy là ngày đinh mùi, giờ th́n, th́ tự quân chết ở ngục.
Người coi ngục cứ báo là chẳng ăn mà chết; bèn an táng ở cánh đồng xứ Tứ Tây,
xă An Cựu, huyẹân Hương Thủy (nay dâng tên là An Lăng)”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 172 – 173).
33. Vụ Gia Hưng vương Hồng Hưu câu kết với giặc Pháp, lại can tội
loạn luân có quả tang, tháng 9 Giáp thân (19.10 – 18.11.1884):
“Phụ chính thân thần Gia Hưng
vương kiêm sung Tôn nhân phủ hữu tôn chính Hồng Hưu bị tội, cách chức tước,
phải an trí ở phủ Cam Lộ.
Trước đây, Chấn Tĩnh quận công
là Miên Trí tâu hặc vương ấy v́ nhân việc tư bỏ việc công, tiết lộ quân quốc
trọng sự, gia dĩ thêm thói dâm dục (cùng với công chúa Đồng Xuân can tội
tước tịch, đổi theo họ mẹ là Hồ Thị Đốc, thông gian sinh con), mọi khoản
giao cho Tôn nhân phủ hội đồng, phụ chính đại thần xét nghĩ; bèn giao Sở Túc
vệ giam xét. Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết lại đem đủ t́nh trạng vua ấy
tâu bày, xin cùng xét nghĩ một thể.
(Tâu nói: “Ngày tháng 6, Giản
tông Nghị hoàng đế mất, bọn chúng tôi vâng tuân lời di chúc, chọn lấy ngày
13 làm lễ tấn quang. Trước một ngày đó, sứ cũ Pháp là Lê-na [Rheinart – TXA.
ct.] uỷ cho kư lục Hinh tới dinh bọn tôi nói: Nếu tôn Gia Hưng vương lên làm
vua th́ y thuận nghe, bằng không thế th́ y gây chuyện, đem hết gia quyến bọn
tôi bắt tội. Bọn tôi trộm nghĩ v́ việc lớn của Nhà nước, không dám đoái
riêng, một mặt cứ y ngày làm lễ tấn quang, một mặt nói với vương ấy, bằng
không t́nh ǵ, th́ nên uỷ cho báo với sứ ấy đ́nh chỉ, bớt việc, đừng nên
ngăn trở sinh ngờ; nhưng vương ấy để ḷng đă lâu, không chịu uỷ báo cho sứ
ấy. Chước đó không thành, mới đưa thư cho quan binh ấy đóng ở miền Bắc. Ngày
22 tháng ấy, quan tham tán đóng ở miền Bắc xuất đem hơn 10 chiếc thuyền quân,
đến Sứ quán đó, đe dọa, toan muốn sinh chuyện, và vào thành đóng giữ. Bọn
tôi bất đắc dĩ phải nhấn nhún để định ngôi lớn, xin chuẩn cho quan ấy vào
làm lễ tiến yết và cho quan binh ấy vào thành. Từ đó đi, Hồng Hưu lấy bịnh
nằm rền trong phủ đệ, không để ư ǵ đến việc công; trong các hàng thân phiên
đă có nhiều người cùng biết. Chấn Tĩnh quận công thửa nói thế cũng do ḷng
công phẫn. Nay phát ra việc này, tội án thật là sâu nặng, thế mà c̣n dám kéo
dằng dai gần được một ngày. Lê-na hiện đóng ở cửa đồn Thuận An, liền về Sứ
quán uỷ người tới dinh chúng tôi, bảo phải khoan tha cho Hồng Hưu về phủ,
không th́ y gửi điện về nước ấy, không khỏi lại sinh chuyện lôi thôi. Hôm
qua tôi [*] và Nguyễn Văn Tường đi đến Sứ quán ấy (Lê-na về rồi), sứ mới [Lư
Mai (Lemaire) – TXA. ct.] bảo rằng: “Trước đây về khoản làm lễ tấn tôn và
việc Hồng Hưu có người không bằng ḷng (ám chỉ vào Lê-na), đưa tin gièm pha
đă nhiều. Nước ấy hẳn cũng sinh ḷng thiên lệch, nay nên xử trí cho khéo. Vả
nước ấy bảo hộ quư quốc, việc triều đă chẳng hề can dự. Duy có việc lớn là
lễ tấn tôn cùng với phụ chính đại thần đều là việc quan trọng, nên cho viên
ấy [khâm sứ đương chức – TXA. ct.] dự biết, thế mới hợp thể, rồi về sẽ báo
tin về nước ấy, hẳn sẽ bằng ḷng; c̣n tội án của Hồng Hưu, mặc dầu quư quốc
xử đoán, viên ấy không dám nói các lẽ. Vả Hồng Hưu hệ thuộc là người ư thân
của nhà vua, chung ḷng nghĩa vui lo”. Xem như sứ Pháp thửa nói thửa làm,
th́ mối t́nh thông quan, thực đă không thể che được, duy đương lúc Nhà nước
có tang, ḷng người chưa định, Cung [Từ Dũ – TXA. ct.] đương lúc đau thương,
bọn tôi không dám vào tâu, sợ phiền ḷng thánh lo nghĩ mà làm cho dân chúng
ngờ hoặc, nín náu lựa theo để nên việc lớn; nay can khoản ấy, vốn không dung
giết, mà c̣n dám như thế, thực đáng khá sợ. Bọn tôi cùng bàn, nghĩ theo lời
xin của sứ mới, do Viện tôi nghĩ soạn tờ tư, đệ giao cho sứ ấy và đem cái án
của Hồng Hưu để tuân làm”).
Bèn chuẩn như lời tâu. Đến đây
án thành, cách bỏ chức tước, phát đi an trí ở phủ Cam Lộ, Quảng Trị. Pḥng (nhà)
vương ấy có 7 công tử, giáng làm tôn thất, chia giao cho các tỉnh quản thúc.
(Tôn Thất Huy, Tôn Thất Diễn an trí ở Cam Lộ; Tôn Thất Chuân, Tôn Thất Dũng
giao về Nghệ An; Tôn Thất Linh, Tôn Thất Tân, Tôn Thất Vệ giao về Hà Tĩnh)”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 176 – 178).
[*] Bản tấu
do Tôn Thất Thuyết viết và đọc. TXA.
34. Tiếp tục củng cố Sơn pḥng Hà Tĩnh, dời đặt Nha Doanh điền
Quảng B́nh, tháng 10 Giáp thân (tháng 11 – tháng 12.1884):
Đắp thêm pḥng Sơn pḥng ở Hà
Tĩnh.
Nguyên trước Pḥng ấy ở huyện
Hương Khê, trong tiếp với Quảng B́nh, Quảng Trị, ngoài thông với Thanh Hoá,
Nghệ An. Thượng du lại tiếp với Xiêm La. Nhưng lúc buổi đầu đóng giữ ở đấy
chỉ phái có 300 người. Tự Nguyễn Chính sung làm chánh sứ và bọn phó sứ là
Phan Trọng Mưu, tham biện là Phan Đ́nh Phùng, trù tính xin làm, đă tư Viện
thần chước định: Xây đắp thành luỹ, công đường, tư thất và các nơi kỳ đài,
pháo đài; phái vệ binh 830 người chia ban đóng giữ, đặt súng gang, súng lớn
20 cỗ, súng vượt núi 50 cỗ. Phái quân thần cơ 2 đội, đổi phiên nhau phụ đóng
giúp việc. Lại mộ lính Mán, tên nỏ thuốc độc, để đủ sai khiến. Phàm việc đều
do Pḥng thần chuyên làm; như có việc quân hay việc ǵ khẩn yếu, cho tỉnh
thần họp bàn. Đổi đặt Nha Phó sứ ở Đồng Chi, huyện Hương Sơn, v́ nơi địa thế
bằng phẳng đủ giúp cho sự bền vững; mở hai con đường ở trên: phía nam thông
với sách Thanh Lăng đến Sơn pḥng Quảng B́nh, phía bắc thông với huyện Thanh
Chương, đến Sơn pḥng Nghệ An.
Dời đặt Nha Doanh điền Quảng
B́nh.
Nha này ở trang Thanh Lăng,
huyện Bố Trạch, phần nhiều thuộc về nhiều trùng núi, không có thung lũng ǵ.
Từ Trần Văn Chuẩn sung làm sứ Nha ấy, sai khám vẽ đồ, xin dời về huyện Phong
Niên […], đă do Viện thần tâu chuẩn y cho làm, dựng dinh thự, đắp luỹ đất,
đặt pháo đài, đặt tham tá lại dịch, khuyên quyên tiền sung việc chi tiêu,
như lệ ở các sơn pḥng, mở hai con đường phía trên, phía nam thông với sông
Tất đến Quảng Trị, bắc thông cửa Bái Đức đến Hà Tĩnh”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 184 – 185).
35. Trước đêm Kinh Đô Quật Khởi, 22 – 23.5 Ất dậu (04 – 05.7.1885):
“Ngày ất măo, kinh thành có việc;
Tôn Thất Thuyết kèm vua vâng mệnh 3 cung, ngự giá chạy ra miền Bắc.
Trước đây, đô thống tướng Pháp
là Cô-ra-xy [De Courcy – TXA. ct.] đến Ṭa Sứ xin dâng quốc thư làm lễ vào
chầu yết, nhưng tức trước Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cùng tắt [đi
không có nghi trượng đại thần – TXA. ct.] sang Sứ quán hội thương. Thuyết
thác cớ không đi. Văn Tường một ḿnh cùng Phạm Thận Duật đi. Tướng ấy không
nghe, cố mời Thuyết; Thuyết sợ đi, hoặc có việc ǵ xảy ra chăng; sau bèn
không đi; ngày thường cho quân Phấn Nghĩa làm tự vệ cho ḿnh, lại nghiêm sức
các quân dinh kiểm soát chỉnh đốn những đồ khí giới, Văn Tường với đ́nh thần
cho rằng đó cũng là thanh thế để pḥng bị vậy. Đêm ngày 22 tháng ấy, Thuyết
ngầm chia quân các dinh vệ làm 2 đạo …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 219 – 220; tiếp liền
vào đoạn
trích tiếp theo).
36. Cuộc Kinh Đô Quật Khởi, khuya 22 rạng ngày 23.5 Ất dậu (04 –
05.7.1885):
“… Đêm ngày 22 tháng ấy, Thuyết
ngầm chia quân các dinh vệ làm 2 đạo: Một đạo sai em là Trị pḥng tham biện
(nguyên ở Pḥng, Thuyết sức về) Tôn Thất Lệ cai quản, nửa đêm sang đ̣ sông
Hương hợp cùng với bọn thủy sư đề đốc và hiệp lư đánh úp Ṭa Sứ; Thuyết cùng
với bọn Phấn Nghĩa chưởng vệ là Trần Xuân Soạn làm một đạo đánh úp Trấn
B́nh đài, doanh nam Pháp.
Nguyễn Văn Tường không biết
chi hết.
Thuyết phân bổ xong, bèn ở lúc
đầu trống canh tư (tức ngày 23) bắt đầu nổ súng ở đài Trấn B́nh, tiếng kêu
vang động.
(Khi ấy Văn Tường ở Bộ Lại đương
ngủ. Binh Bộ thự tham tri là bọn Hoàng Hữu Thường nghe tiếng súng nổ, tức
th́ đến gơ cửa báo Văn Tường biết. Tường dậy, sợ nói: “Nguy rồi!”, bèn vội
vàng gửi tâu xin mở cửa Hiển Nhân và cửa Đại Cung, chạy vào Tả vu, nhưng
không biết làm thế nào).
Quân Pháp đóng cửa chặt, lẻn nấp
đợi sáng, nhưng từ từ nổ 1, 2 tiếng súng lớn.
(Thuyết khi ấy ở vườn sau điều
khiển, Xuân Soạn ủy người báo cho đài Trấn B́nh biết quân Pháp đă bị súng ta
bắn chết hết rồi; tiếng súng lớn bắn, tưởng là súng quân Pháp ở ngoài sông
đài Trấn B́nh bắn vậy).
Thuyết lại sai vần súng lớn lên
thành chỉ bắn Ṭa Sứ. (Cũng bị phá vỡ hai nơi). Đạo quân Tôn Thất Lệ cũng
phóng súng bắn cháy các nhà tranh gần Ṭa Sứ.
Tới lúc sáng rơ, quân thủy lục
của Pháp đều họp súng lớn, xe máy để ở trên đài và trên cột buồm tầu, bắn
liền mấy tiếng, ầm ầm như sấm và đạn bay rơi xuống, bị thương trúng chết khá
nhiều, và rơi vào các cung điện nhà cửa ở trong hoàng thành và cung thành,
gián hoặc có xuyên hoại; bọn lính Pháp lại chia nhau từng toán, đem súng tay
ngang ngược bắn phá; 2 đạo quân ở trong và ở ngoài của ta bị tan vỡ cả;
trong thành rối loạn).
Văn Tường tâu xin vua và xa giá
3 cung đi ra Khiêm cung tạm thời lánh loạn; (khi ấy Văn Tường đă vào bên tả
vu, một lát xin mở cửa Hoà B́nh đến chỗ Thuyết điều khiển, nh́n trông biết
là thất bại rồi, lại vào Tả vu tâu xin vua xuất hành; trong khi vội vă, chỉ
soạn được cái ấn ở ngự tiền, văn lư mật sát và ấn kiềm, 2 quả, với hạng để
vàng bạc, đồ đệ đem theo); dùng hữu quân đô thống là Hồ Văn Hiển phù xe; giờ
th́n hôm ấy bắt đầu từ cửa tây nam ra.
Văn Tường vâng ư chỉ của Từ
Dụ thái hoàng thái hậu và lưu lại giảng ḥa, tức th́ đi tắt vào nhà thờ đạo
Kim Long.
Thuyết ra sau gặp giá, bèn một
ḿnh hộ chuyển đến Trường Thi (ở xă La Chử), nhân kèm đi ra ngoài bắc. Thự
hiệp biện đại học sĩ là Phạm Thận Duật, thự tham tri Trương Văn Đễ, và Trần
Xuân Soạn, Tôn Thất Lệ đều đi theo xa giá. (Khi đó tùy giá chỉ có xe loan và
lính biền binh lẻ tẻ chầu chực trên dưới ước 100 người, c̣n dư các dinh vệ,
sau khi thua trận đều tức t́m đường tản về quê quán).
Giờ ngọ, mới đến xă Văn Xá; nghỉ
một chút, Thuyết tức th́ kèm vâng mệnh vua, đêm qua t́nh h́nh vua phải ra đi
thông báo cho thiên hạ cần vương [*]; lần lượt tư cho
Nam, Bắc tuân
làm.
Ngày bính th́n, vua cùng với xa
giá 3 cung đến tỉnh Quảng Trị; dừng nghỉ ở hành cung …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 220 – 221 [tiếp liền
đoạn
trích tr. 219 – 220 phía trên]).
[*] Đây là
Thông tư Cần vương, không phải là Dụ Cần vương duy nhất và chính thức được
viết và phát đi vào ngày mồng 02 tháng 6 Ất dậu (13.7.1885).
37. T́nh h́nh ở Huế sau khi vua Hàm Nghi và 3 cung cùng Tôn Thất
Thuyết đă đi khỏi, sáng 23.5 Ất dậu (sáng 05.7.1885):
Đương lúc xa giá nhà vua đă đi
rồi, quân Pháp lên kỳ đài treo cờ hiệu tam tài; súng bắn vẫn c̣n ầm vang;
quan lại, nhân dân giành nhau t́m cửa chạy ra, rồi tự dày xéo lên nhau, chết
và bị thương rất nhiều. Quân Pháp bèn đốt hai bộ Lại và Binh (nguyên là nơi
Văn Tường và Thuyết ở đó), và thuốc đạn khí giới bốc lên xông trời (2 ngày
đêm không tắt), chia giữ các cửa thành trong ngoài và các kho tàng, cung
điện. Ngày phát gạo kho, thuê vát những dân c̣n ở trong thành và những bọn ở
ngoài lẻn vào (đều là đồ vô lại nḥm vào toan lấy đồ đạc của quan tư c̣n bỏ
sót lại), sửa đắp các trại lính làm nơi trú đóng, và nhặt chôn, hoả táng các
xác bị chết và bị nạn ở lúc trận vong. Dưới đô thành, nơm nớp sợ chạy”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 222).
38. Theo sắc chỉ của Từ Dũ, Nguyễn Văn Tường giảng “hoà” với De
Courcy qua trung gian môi giới của giám mục Caspar, 23.5 Ất dậu (05.7.1885):
Văn Tường hôm ấy đă vào nhà thờ
đạo Kim Long, bèn cùng với giám mục Lộc [Caspar – TXA. ct.] thương thuyết,
cùng đến Ṭa Sứ trần t́nh, cùng bàn nỗi khổ với đô thống Pháp, lại xin giảng
ḥa. Đô thống ấy cũng nghe lời, dặn phải rước ngay vua và Tam Cung hồi loan
về triều.
Buổi chiều hôm ấy, Văn Tường bèn
bàn với quan Pháp vào thành tạm đóng (đóng ở trong nhà Bộ Hộ).
Hôm sau (tức là ngày 24) bèn hội
đồng yết thị cho 2 nước ḥa hảo như cũ. Nhưng cho ở trong thành là không
tiện, lại bàn ra Nha Thương bạc, tạm đóng ở đấy làm việc. Bèn đem hiện t́nh
giảng ḥa phi tấu nơi hành tại và thông báo cho
Nam, Bắc biết.
Lúc đó, trong đô thành nhân dân
hăy c̣n nhốn nháo sợ hăi; bọn gian đồ, phần nhiều đi cướp bóc ở ngoài mặt
phố và các nơi làng xóm. Văn Tường nghiêm sức đi tuần ngăn cấm. Viên huyện
Hương Trà tức th́ bắt được vài tên phạm ở 2 chợ Nam Phố, An Ḥa, đem chém
đầu bêu ngay để cảnh cáo, các bọn khác nghe tin đều xẹp cả”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 222 – 223).
39. Nguyễn Văn Tường ủy nhiệm Phạm Hữu Dụng ra Quảng Trị bàn việc
với Tôn Thấât Thuyết, tâu vua biết, định rước xe vua về, ngày 24 – 25.5 Ất
dậu (05 – 06. 7. 1885):
“… Văn Tường lại ủy Binh Bộ thị
lang là Phạm Hữu Dụng thân đến hành tại, đem hiện t́nh bàn với Thuyết, tâu
vua biết, định xin rước xe vua về; Hữu Dụng đến bị Thuyết ngăn cản. (Thuyết
không tâu vua, nhưng dặn Hữu Dụng về báo với Văn Tường, phải nên đoàn kết
với quân Pháp; [Pháp – TXA. ct.] không lại lấn áp như trước, th́ mới đón xe
vua về). Hữu Dụng sợ Thuyết, bèn từ về ngay, không dám tâu vua biết …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 223).
40. T́nh h́nh Thừa Thiên
và cả nước, 27 – 29.5 Ất dậu (09 – 11.5.1885):
“Riêng một hạt phủ Thừa Thiên,
v́ có Văn Tường ở đó giảng ḥa và hay hiệu lệnh ngăn cấm, hơi nhờ được yên;
c̣n dư các hạt Nam, Bắc, th́ bọn côn đồ tụ họp, cướp bóc nổi lên. Lương,
giáo ngày thường thù nhau, sinh ra tàn sát lẫn nhau, nơi nào cũng có. Đô
thống Pháp lại yêu cầu Văn Tường để chiêu tập quan lại, thôi bắt binh dân,
hiểu bảo cho lương, giáo Nam, Bắc cùng yên và cấm sự xảy ra trộm cướp, hạn
đến tháng 2 [ nhị nguyệt: 2 tháng – TXA. ct.] là thanh thiếp”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 223).
41. Tập tâu Nguyễn Văn Tường đệ gửi 3 cung về việc hồi loan (về Huế),
02.6 Ất dậu (13.7.1885):
“… Tuần phủ Quảng Trị là Trương
Quang Đản vẫn bàn cùng Lương Thành, cho thành Quảng Trị là nơi phong trần,
nghĩ xin 3 cung hồi loan, đă tư cho Văn Tường biết làm. Văn Tường được tin
báo, bèn gửi thư đến khâm sứ Pháp là Tham-bô [De Champeaux – TXA. ct.] tŕnh
bàn với đô thống Cô-ra-xy [De Courcy – TXA. ct.] thoả nghĩ phúc làm. Ngày
mồng 2 tháng ấy, tức tâu đệ trước xin ba cung hồi loan ở Khiêm cung, cho yên
ḷng dân, tịnh uỷ cho biện lư là Trương Như Cương, Tôn Thất Niêm kính đến
rước.
(Tập tâu lược rằng [*]:
“Thần là Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết vâng di mệnh tiên đế cùng sung chức Phụ chính, nay mà hỏng việc,
tội thần không nói sao cho hết. Nhưng thần cũng không tưởng rằng Tôn Thất
Thuyết lừa dối ḿnh như thế; đến 3 cung tuổi già, nhà vua c̣n trẻ, lặn lội
gió bụi, chịu làm sao nổi. Huống chi kinh thành, miếu điện, lịch đại sơn
lăng, một buổi bỏ đi như không, ḷng thần tử chịu sao được sự chua xót ấy,
nên thần phải tuân theo sắc văn, đem thân lăn lộn ở đây, cùng với quan Pháp
đi lại, v́ bản tâm của thần, nguyền cùng với xă tắc mất c̣n, không dám ĺa
bỏ vậy. Nay tiếp tờ tư của Trương Quang Đản tỏ bày mọi lẽ, đă gửi thư cho
khâm sứ Pháp; cứ theo lời phúc tư th́ đô thống đại thần rất mong rước vua về.
Cũng mong giữ ǵn cung điện như cũ. Duy trong thành ấy chửa tĩnh, cũng có
người ngầm muốn nổ súng, bằng rước vua vào thành, sợ có chưa tiện, xin hăy
ngừng nghỉ ở Khiêm cung. Đô thống ấy xin phái 100 hay 200 quân ở ngoài canh
chực, để giữ khỏi sự quan ngại, nhưng bọn quân ấy nên dùng thứ ăn như trâu,
dê, gà, vịt mọi thứ, ta cũng ưng cho. Thần trộm chiểu cung điện trong thành
dẫu c̣n như cũ, nhưng số quân Pháp ở đó khá nhiều, chưa được yên lặng, xin
trú ở Khiêm cung, tưởng cũng thoả thuận. Thần nghiệp dĩ phái người kiểm soát
chỉnh đốn, tịnh uỷ bọn thần là Trương Như Cương đi Quảng Trị chực đón hỗ
ṭng. Cúi xin mệnh giá hồi loan, để yên ḷng dân”.
Cuối cùng viết niên hiệu, mượn
dùng ấn quan pḥng của khâm sứ Pháp).
Từ Dụ thái hoàng thái hậu và
lưỡng cung chuẩn như lời tâu, lấy ngày mồng 3, ất sửu, th́ hồi loan. (Phủ
thần là Trương Quang Đản đem quan quân, binh phu tỉnh ấy theo đi hộ tống).
Ngày mồng 5, đinh măo, về đến Khiêm cung …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 224 – 225).
[*] Xin xem lại:
Chú thích (2), bài khảo luận “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc
Kinh Đô Quật Khởi (05.7.1885)”, phần đầu sách này.
42. Mật dụ của Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) từ Tân Sở gửi về
Nguyễn Văn Tường, cùng một ngày phát Dụ Cần vương, 02.6. Ất dậu (13.6.1885):
“… Tôn Thất Thuyết c̣n giữ giá
vua c̣n đóng ở Pḥng Quảng Trị, đă kèm vua ra Lệnh dụ Thiên hạ cần vương,
lại sẽ dụ bảo Nguyễn Văn Tường và yên ủi những người họ mạc ở trong kinh,
đều một đạo, do đường dịch lộ chuyển chạy về kinh. (Khi ấy tự Pḥng đến kinh
ống trạm c̣n chuyển đệ được). Đó đều là việc từ mồng 7 tháng này trở về
trước.
Ngày mồng 2 dụ Văn Tường, lược
nói:
“Y [Cô-ra-xy (De Courcy) – TXA.
ct.] thấy ta càng khuất, y càng ngày càng lấn, khiến Triều đ́nh không c̣n
mặt mũi nào, vạn bất đắc dĩ mà ta mới phải làm cái kế bỏ thành đi ra ngoài.
Nay đại thần Tôn Thất Thuyết cùng ta cùng quanh quẩn, c̣n ngươi là phụ chính
đại thần th́ ở lại mà thương đàm, kẻ ở người đi đều lấy ḷng yêu nước lo dân
làm căn bản. Trời đất thực cũng chứng giám. Ngươi nên khéo thể tấm thịnh
t́nh của tiên hoàng đối với nước láng giềng rất có thuỷ chung và cùng y
giảng rơ về lư thế, cân nhắc về lợi hại, hết ḷng thoả hiệp [:hiệp bàn thỏa
măn đôi bên, không phải “thỏa hiệp vô nguyên tắc” – TXA. ct.], phàm những
khoản ǵ bách thiết, chung nhau bàn đổi, cốt khiến cho 2 nước như anh em,
vinh nhục cùng quan hệ, vui lo cùng chung nhau mười phần chân thành, không
c̣n dùng đến uy thuật. Lúc này ta mệnh cho hồi loan, trên để phụng dưỡng ba
cung, dưới để yên ḷng thần dân, khanh cùng với Tôn Thất Thuyết trung trinh
chói lọi, muôn thuở cùng sáng, những phường nịnh tử gian phu, đều phải lặn
h́nh giấu bóng. Nam
triều ta há chẳng hân hạnh ư,
nước Đại Pháp chắc cũng vui vẻ mà cùng giữ lấy cường thịnh vậy.
Nếu không như thế th́ các
miếu xă lăng tẩm và các vương công không kịp đi theo ấy th́ hết thảy uỷ cho
khanh. Ta duy có chọn đất lánh ở, sợ trời vui trời, rường cột cương thường,
cả nước cùng thế, không đâu không phải là Triều đ́nh và không phải là tôi
con vậy. Trẫm quyết không cùng với họ tranh được thua vậy.
T́nh thế ví lại không thôi,
trẫm nguyện phái thêm cán viên,
lấy đường đi khắp các nơi, nghiêm sắc cho Ninh B́nh trở về phía bắc, bao
nhiêu quan tỉnh, phủ, huyện đều để ấn lại mà đi, người nào như có trung
nghĩa tài lược không kể quan hay dân, đều cho được tiện nghi làm việc [nhân
dân, sĩ phu khởi nghĩa – TXA. ct.], cốt không phụ tấm ḷng tốt của triều
đ́nh dưỡng dục, tác thành, yên được bóng thiêng liêng ở trời của liệt thánh,
và đáp phó được nguyện vọng [khởi nghĩa chống Pháp – TXA. ct.] tha thiết của
thần dân trong nước. Khanh nên nghĩ cho kỹ nhé, có muốn nên tâu đối, th́ gởi
theo đường trạm chờ xét cũng chẳng hại ǵ””.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 225 – 226).
43. Mật dụ của Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) từ Tân Sở gửi về hoàng
tộc, ngày 07.5 Ất dậu (18.7.1885):
“Ngày mồng 7, dụ các người trong
họ, đại lược nói:
“Dụ Thọ Xuân vương, phụ chính
Hoài Đức công và các bọn hoàng phiên, công chúa nghĩ coi: Nước Nam ta nhiều
lần bị kẻ khác bức hiếp nhiều khoản, phàm có tai mắt khí huyết không ai là
không uất ức buồn rầu, chẳng riêng người trong họ ta mà thôi. Trẫm vâng di
mệnh của tiên quân, và các vương công phụ thần cùng suy tôn lên quyền giữ
việc nước. Phàm có trăm điều đều duy kiến nghị, phải ấy th́ theo. Trẫm tuổi
trẻ, kiến thức chưa rộng, dám đâu chuyên trái việc ǵ, cho nên hễ khi tiếp
được thư của nước Đại Pháp gửi đến khoản ǵ, nếu quá lăng nhục và yêu sách
quá đáng, nhân t́nh không thể chịu được, mật nghe vương công và các phụ
chính khuyên bảo, không đâu là không cưỡng tự đau đớn nín náu, chịu theo êm
việc, v́ muốn bảo toàn xă tắc, để họ mạc lâu dài hưởng tôn quư giàu sang vậy.
Không ngờ sứ Pháp ngang ngược ngày thêm, không c̣n được chút quốc thể, cúi
xuống đất, ngửa lên trời, xiết bao hổ thẹn, vạn bất đắc dĩ mà phải làm ra
việc này; quay nh́n nơi lăng miếu và các bậc ư thân, thực không biết bao
nhiêu là tưởng nhớ, chả biết trong tôn tộc từng có tin đến sự lo xuôi nghĩ
ngược của ta không? Nay đă có phụ chính huân thần là Nguyễn khanh [tức là
Nguyễn Văn Tường – TXA. ct.] ở lại giảng nói, che chở nhiều việc, hơi được
yên ổn; huân thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế, thực là đau khổ quá
chừng. Nhân vật nước ta, những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn
được. Trẫm cũng dụ cho đại thần ấy hết ḷng bàn tính công việc, tâu chờ
quyết định. Vương công đều là cốt nhục chí thân, đều nên thương ta khổ tâm,
thể tất ta vô cùng. Phàm việc ǵ cùng với Nguyễn khanh châm chước thoả đáng,
cốt không trái với cương thường của trời đất. Nên được nền b́nh trị lâu dài
của quốc gia, ngơ hầu để được tiếng thơm muôn đời, thế là lành lắm, tốt lắm.
Trời đất dài lâu, gặp nhau có hẹn. Nước nhà suy thịnh, gặp hội đổi thay,
càng nên trân trọng di dưỡng, để yên tấm ḷng xa của người tuổi trẻ. C̣n ra
sẽ uỷ cho Nguyễn khanh sẽ v́ ư thân điều đ́nh cho thoả đáng, vụ được như
thường. Phàm người họ ta, cần tin lời ta nhé, thế th́ ta mới yên ḷng””.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 226 – 228).
44. Thọ Xuân vương
Miên Định làm giám quốc, ngày 08.6 Ất dậu (19.7.1885):
“Ư chỉ 3 cung chuẩn cho Thọ Xuân
vương là Miên Định quyền coi việc nước; phàm việc tâu suốt 3 cung, xin chỉ
tuân hành …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 229).
45. Dụ của Từ Dũ, tháng 6 Ất dậu (tháng 7.1885):
“… Trong khi vội vă, phụ chính
đại thần là Nguyễn Văn Tường, tức th́ đem lăo cung và xe vua ra thành tạm
lánh. Ta nhân dặn thầm đại thần ấy rằng: “Lui cùng với quan Pháp ở trong bàn
tính; may được nghe lời và sớm tan quân” …” [*].
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 230).
[*] Trích
tiểu sử Nguyễn Nhược thị Bích:
“… Năm 36,
Dực Tôn Anh hoàng đế lên chầu trời, vâng ư chỉ 2 cung, sắc dụ đều cho tay
thị ấy làm. Năm Hàm Nghi thứ nhất, tháng 5, kinh thành có việc, đi theo 2
cung đi Quảng Trị có bài hát quốc âm Xe vua vào đất Thục [Đường Minh Hoàng
tránh loạn đi vào Thục – VSH. chú thích]. Ngày 2 xe cùng về, các sắc phụng
chiếu thư, cầm bút viết xong ngay, việc ǵ cũng xứng chỉ. Năm Thành Thái thứ
4, kính vâng từ chỉ, nghĩ công khó nhọc, tấn phong tam giai Lễ tần. Năm Duy
Tân thứ 3, tháng 11, thị chết, thọ 80 tuổi” (Đại Nam liệt truyện, tập 3, bản
dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hóa, 1993, tr. 78). TXA.
46. Bản tấu của Nguyễn Văn Tường phúc tâu lên Từ Dũ thái hoàng thái
hậu, khoảng từ 16 – 19.6 Ất dậu (tháng 8.1885):
“Ngày 23 tháng trước, có việc
xảy ra. Chiều hôm ấy, thần bàn với quân Pháp vào thành tạm đóng. Ngày 24,
hội đồng quan Pháp, yết thị hai nước đă ḥa hảo như xưa, quan lại binh dân
đều về như cũ.
Từ sau đi, thần hỏi các nơi ở
ngoài: từ ngày 23, 24 trở đi, những xă ở gần kinh thành, gián hoặc có bọn
cướp bóc nổi lên; đến ngày 26, thần sức cho các viên huyện, rọâng đi tuần
trập, bắt được 2, 3 tên phạm, đem chính pháp ngay. Từ đấy đi, bọn côn đồ sợ
có uy lẹânh của Triều đ́nh, dần phải liễm chấp; hiện nay dần được ninh thiếp,
dân được yên ở; tin tức các tỉnh Nam, Bắc, gần đây đều được cùng thông, cũng
không có việc ǵ khác. Duy [:chỉ mỗi một; chỉ riêng một – TXA. ct.] có Lê
Trung Đ́nh tỉnh Quảng Ngăi nổi loạn, rồi cũng yên tĩnh.
Binh dân trong ngoài kinh thành
bị thương, chết rất nhiều; người bị thương đều đă lục tục về quê, c̣n người
chết th́ quan binh Pháp hoặc đốt đi, hoặc chôn cất, nay đă sạch sẽ.
Đến như điều khoản nghị hoà,
quan Pháp bàn nói: Chờ khi rước hoàng thượng hồi loan, giao trả thành tŕ,
mới có thể bàn định được.
Lại như quan viên trong ngoài,
gián hoặc có người tài, có người không tài, vốn nên cất, bỏ. Nhưng nay ngôi
lớn trong kinh chưa định, hiệu lệnh chưa thống nhất, sự thưởng phạt chưa nên
vội ra, xin chờ sau sẽ làm. Và khởi dùng người cũ là việc cần kíp hiện nay,
là duy Đ́nh Túc, tuổi gần 80, đi đứng thế khó khoẻ mạnh, Hoàng Tá Viêm, Vũ
Trọng B́nh lại bị bọn kia ngờ ghét, cũng khó giảng giải. Việc nhiều nguời ít,
không biết làm sao, thần chỉ biết hết ḷng hết sức thôi. (Việc Lê Trung Đ́nh
chép ở dưới)”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 233 – 234).
47. Nguyễn Văn Tường đấu tranh với De Courcy, De
Champeaux, Nguyễn Hữu Độ về vấn đề bố trí quan chức ở Bắc ḱ, cuối tháng 6
Ất dậu (7.1885):
“Lấy quyền tổng đốc Hà – Ninh là Nguyễn Hữu
Độ thăng thự Vũ Hiển điện đại học sĩ, sung Cơ mật viện đại thần, vẫn sung
Bắc ḱ kinh lược đại sứ.
Khi ấy Hữu Độ đă trở về Hà Nội, đô thống
Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy – TXA. ct.], khâm sứ là Tham-bô [De Champeaux –
TXA. ct.] bàn nói: “Hiện nay Bắc ḱ lắm việc, Hữu Độ ở đấy hiểu nhiều, nên
trao cho điện hàm, sung viện chức, và vẫn sung chức sứ ấy; phàm đốc, phủ, bố,
án, ở các tỉnh Bắc ḱ cho đến các phủ huyện, nếu nơi nào có khuyết, cho do
Nha Kinh lược sứ chọn tâu, chờ chỉ định đoạt”. Nhiếp chính Miên Định, phụ
chính Nguyễn Văn Tường phúc tâu [lên Từ Dũ và 2 cung – TXA. ct.]: Việc đó là
tạm thời, nghĩ nên tạm nghe ư đó mà làm. Văn Tường nhân phụng dụ [của Từ Dũ
– TXA. ct.] nói: Trải bày lư do. Lại nói: Do ngươi, tuy việc thoả bàn vụ hợp
thời nghi, để xứng với lời khen của người mới được. V́ ư ám chỉ chê Hữu Độ
nương tựa vào thế quan Pháp, để được ngôi cao, mà không phải tự bản ư do
mệnh lệnh của Triều đ́nh vậy.
(Trước đây, Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất
Thuyết cho rằng Hữu Độ ở Hà Nội phần nhiều hay nịnh hót, quan Pháp rất được
vui ḷng; Cơ mật viẹân nhiều lần đem việc tâu lên, chuẩn cho khiển giáng hay
triệu về, Hữu Độ đều được quan Pháp che chở, rất là đáng ghét.
Ngày tháng 7 năm ngoái, khuyên Bùi Hữu Tạo
lấy việc xây sinh từ [của Nguyễn Hữu Độ – TXA. ct.] để tâu hặc, v́ muốn nhân
đó để đẩy Hữu Độ đến tội. Hữu Độ chứa sự bất b́nh đă lâu. Gần đây, đô thống
Pháp từ Bắc về Sứ quán, tức th́ trước mời Văn Tường và Thuyết đến họp.
Thuyết ngờ sợ cho là hẳn Hữu Độ đă có ngầm chỉ thế nào, nên mới như thế, cho
nên sau không chịu đi; bèn gây hận; đến đây [Hữu Độ – TXA. ct.] về kinh, [ y
– TXA. ct.] lại đến Sứ quán, rồi về nhà riêng [của Hữu Độ tại Huế – TXA.
ct.], uỷ đón nhiếp chính Thọ Xuân vương Miên Định tới bàn với Văn Tường; và
[Hữu Độ – TXA. ct.] gièm [rằng – TXA. ct.], không bàn với Thọ Xuân vương
th́ đừng đi. Kịp khi Hữu Độ tới Sở Thương bạc mà Văn Tường ở đó, hai người
nói chuyện với nhau, đă hơi có ư khiếm ḥa [:thiếu ḥa khí – TXA. ct.]; Văn
Tường phụng dụ này, lời lẽ lại có ư chê ngầm theo kiểu b́ lí xuân thu [: bề
ngoài với lí lẽ khác nhau như mùa xuân với mùa thu – TXA. ct.]. Hữu Độ tiếp
dụ, giận lắm, nhân đó càng thêm để ḷng).
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 236 – 237).