TRẦN
XUÂN AN
NGUYỄN
VĂN TƯỜNG,
“NHỮNG NGƯỜI TRUNG NGHĨA
TỪ XƯA,
TƯỞNG
KHÔNG HƠN ĐƯỢC”
KHẢO LUẬN VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH SỬ HỌC
Nhà Xuất bản
2003
48. Vụ Lê Trung Đ́nh ở Quảng Ngăi,
đầu tháng 7 Ất dậu (tháng 8.1885):
“… B́nh Sơn tả vệ hương binh
chánh quản là cử nhân Lê Trung Đ́nh, hữu phó quản là bọn tú tài Nguyễn Tự
Tân, Vũ Hội [thuộc vơ hội hương binh? – TXA. ct.], và thương biện Nguyễn Văn
Hoành cho rằng, xe vua đă ra, lại nghe có Dụ Cần vương, muốn nhân đó dấy
quân, tức th́ tới tỉnh xin cấp khí giới, lương xướng. Tỉnh thần cho rằng
lính hương binh chi canh giữ nơi làng xóm, không ví với lính tỉnh được,
không dám tự tiện cấp, đợi chạy giấy mời những quan viên tại quán [quan hưu
trí – TXA. ct.] bàn nghĩ sẽ làm. Bọn Đ́nh, Tân bèn chia phát binh phu làm 3
đạo, tất cả hơn 3.000 tên. Trước ngày mồng 2 tháng này, tiến đến tỉnh thành,
hiệp quản Trần Tu, thành thủ úy là Nguyễn Côn mở cửa nội ứng, bọn ấy sấn vào
tỉnh thành, đem hai viên bố, án ra thành giam trói, thu lấy ấn triện, binh
trượng, tiền lương, buông tha tù phạm, trước chém một tên suất đội, 2 tên
dân đạo, cất nguyên Tuy Lư vương Miên Trinh (nguyên được giáng tước công, an
trí ở trong tỉnh thành này) làm phụ chính quốc vương. Miên Trinh không theo,
giả làm có bệnh nằm lỳ không dậy. Bọn ấy bèn đặt những danh chức ngụy là
thống đốc, tham tán, đề đốc, lănh binh, đốt nhà và giết chết dân giáo, làm
việc ngang ngược không kiêng nể ai. Quyền tiễu phủ sứ ở Sơn pḥng Nghĩa Định
là Nguyễn Thân báo với tổng đốc B́nh – Phú là Lê Thận (Thận đă ủy cho án sát
B́nh Định là Lê Duy Cung đi cùng Sơn pḥng họp làm), ủy cho Đinh Hội đem hơn
900 biền binh tiến tiễu. Ngày mồng 5 tháng ấy, đến tỉnh chia quân sấn vào
thu phục tỉnh thành và ấn triện bố, án, bắt sống được Trung Đ́nh, và giết
được bọn Tự Tân tất cả 7 tên, c̣n dư đều trốn chạy, bèn đưa 2 viên phiên,
niết về dinh, tiễu phủ sứ ấy tức th́ ủy cho mời các quan viên ở quán (nguyên
Lễ bộ thượng thư là Đỗ Đệ, thự đốc B́nh – Phú là Nguyễn Trọng Biện [Nguyễn
Hiệp – TXA. ct.], tuần phủ Nam – Ngăi là Đoàn Nhượng, biện lư Công bộ là Vũ
Duy Tĩnh (nguyên cũ là Văn Thanh)) họp bàn, và tư bàn với tuần phủ Nam –
Ngăi là Nguyễn Ngoạn, quyền lưu 2 phiên, niết nhận ấn làm việc, để chờ mẹânh
Triều đ́nh, và Trung Đ́nh, chém ngay; rồi người ta báo cho Hộ bộ lang trung
biết. […].
Đến đây Cơ mật viện cho rằng Sơn
pḥng ấy sớm làm tắt được ng̣i cơ biến, nghĩ chuẩn theo đặc cách thưởng cất
cho Đinh Hội, Nguyễn Thân để tỏ sự khuyến khích. C̣n bọn dư đảng nguyên đi
theo Trung Đ́nh đă tan về th́ miễn khỏi cứu xét” [*].
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 238 – 239).
[*] Vụ
Quảng Ngăi (Lê Trung Đ́nh) và vụ B́nh Định (Đào Doăn Địch) khác nhau về
“ngọn cờ khởi nghĩa”. Lê Trung Đ́nh tôn phù Tuy Lư vương Miên Trinh, một nhà
thơ hoàng tộc chủ “ḥa”, câu kết với Pháp thời Hiệp Ḥa, vốn bị đày vào
Quảng Ngăi (mặc dù Miên Trinh từ chối); do đó Nguyễn Văn Tường đánh giá đấy
là cuộc “nổi loạn” duy nhất (ĐNTL.CB, tập 36, sđd., tr. 233 – 234). Đào Doăn
Địch chỉ thuần hưởng ứng Dụ Cần vương, “b́nh Tây sát tả” (đánh Pháp và đánh
bọn dữu dân trong giáo dân, vốn đích thực là tay sai của thực dân), nên ngầm
được ủng hộ (mặc dù De Champeaux thúc giục đánh dẹp), và cuối cùng là được
“rộng tha”. Xin xem lại: bài “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc
Kinh Đô Quật Khởi, 05.7.1885”. TXA.
49. Vụ B́nh Định, tháng 7 Ất dâïu (tháng 8.1885):
“… Tháng trước, thân hào tỉnh ấy
cũng nghe hành tại có Dụ Cần vương, mưu dấy quân, bèn họp đem những lính
kinh tan về và lính dơng ở dân đốt phá nhà đạo, d́m giết giáo dân, rồi đem
binh dân ước hơn vạn người, quanh tới tỉnh thành, yêu cầu cấp cho khí giới (đă
bách giám đốc thần là Lê Thận lại cho về dinh), ngụy đặt những danh mục đề
đốc, tham tán, lại đi khắp trong hạt giết dân giáo, mộ lính dơng, nói phao
lên tiến đánh quân Pháp ở cửa Thi Nại. Khâm sứ Pháp là Tham-bô bàn phái cho
khâm sai đă mẹânh, cho Binh bộ tham tri Hoàng Hữu Thường sung phái ngồi tầu
thủy Pháp chạy đi. Lúc đó v́ đường ngăn trở, phải trở về. Khâm sứ Pháp lại
bàn tục phái đổi sai thị lang Bộ Lễ là Ngô Trọng Tố (lănh bố chính sứ tỉnh
ấy về trước, t́nh thế đă am hiểu) rồi v́ đường dịch lộ Quảng Ngăi không đi
được, lại sai lănh bố chánh sứ Quảng Nam là Bùi Tiến Tiên (nhưng lấy án sát
Hà Thúc Quán quyền sung bố chánh sứ Quảng Nam, Hồng lô tự khanh về nuôi cha
mẹ, là Nguyễn Duy Hiệu sung làm án sát sứ). Thự thống chế Ngô Tất Ninh sung
chánh phó khâm sai quản đem quan binh 2 tỉnh Nam – Ngăi 700 tên đi ngay đến,
họp làm, đều nhân đường ngăn trở chưa đi được.
Đến đây thự tổng đốc là Lê Thận
tâu nói: “Đă họp văn thân quan viên trong hạt ấy hiểu dụ. Bọn ấy đă tản về,
xin nên rộng tha, cho yên sự phản trắc …” […].
“… […] Nếu c̣n giữ thói mê, do
các quan đô thống, khâm sai đem đại đội quan binh, không kể lương hay giáo,
cũng phải đau ḷng đánh dẹp…” ”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 241 – 242).
50. Dụ của Từ Dũ và 2 cung,
đánh giá cao cuộc Kinh Đô Quật Khởi, tháng 7 Ất dậu (cuối tháng 8 bước sang
đầu tháng 9.1885):
“… Từ điều ước tái định [Patenôtre – TXA.
ct.] đă được phân minh, khiến nước Pháp trước tự bại ḥa gây biến, th́ phàm
ai ở đất vua, cũng đều thù ghét [giặc Pháp – TXA. ct.], ai bảo là không nên.
Không ǵ bằng cuộc nghĩa cử đêm 22
tháng 5 năm nay …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, cuối tr. 244).
51. Dụ của 3 cung về vấn đề lương,
giáo phục thù, ít hôm trước ngày Nguyễn Văn Tường bị bắt, cuối tháng 7 Ất
dậu (đầu tháng 9.1885):
“… Đến đây lại lấy hai bên b́nh, giáo c̣n
chưa yên, lại dụ thêm rằng:
“B́nh, giáo dù có khác lỗi, nhưng đều là con
đỏ của Triều đ́nh, không nên chia rẽ khác nhau. Gần đây, có nhiều việc giống
nhau và khác nhau. Người làm dân lương ghét v́ không đồng đạo [không cùng
đạo thờ kính anh hùng dân tộc, thờ kính tổ tiên lâu đời của người Việt Nam –
TXA. ct.] mà trong ḷng sinh nóng lạnh. Người làm dân giáo, cậy thế [thực
dân Pháp, cố đạo Pháp – TXA. ct.] lấn át, mà t́nh ruột thịt đem đặt ra ngoài
da. Hai đằng ghét nhau th́ hai đằng hẳn thù nhau, th́ thế cố nhiên như thế.
Nhưng xét kỹ ra th́ đầu đuôi cũng tự người đầu mục không khéo xử trí cho nên
nỗi ấy. Ôi! Nhà nước dựng nên quan tư mục, cốt để trị dân. Làm sư đạo của
dân một địa phương, phải nên giữ ḷng minh chính. Hoặc có kẻ bị ghét quá
đáng, một khi kiện cáo, gia thêm nạt nộ mà dân giáo uất ức không bày tỏ được.
Hoặc sợ hơi nóng bốc lên, gặp có sự lăng ngược, một chiều nín náu, mà ẩn
t́nh của người dân lương không bày được. Làm giám linh mục ấy, trách nhiệm
giảng giáo, phải nên giữ ḷng công b́nh. B́nh dân hoặc có kẻ trốn tránh dao
thuế, mà chạy vào nhà giáo ấy, hoặc có kẻ tranh chiếm ruộng đất mà nhờ thế
ấy, đều bao dung cả. Đến nỗi, có kẻ cậy thế mà bức bách người, hoặc có kẻ
khinh thường pháp luật mà không đoái, đều không phải là sở ư của Thiên Chúa
dạy dân. Kẻ b́nh dân kia sao không nghĩ cùng ở đất vua, đều là dân vua, giáo
dân b́nh nhật binh đao thuế khóa cùng với lương dân cùng thế. Gián hoặc bức
hiếp b́nh dân v́ lẽ ǵ, sao không tới địa phương quan mà tố cáo, mà dám hại
nhau, ngược đăi nhau ngang trái như thế, đối với pháp luật thực khó dung.
Giáo dân ấy sao chẳng nghĩ sinh ở đời này, tam giáo cửu lưu, đều có đạo cả,
nào ai có cấm đâu mà bèn mượn thế lấn người, đến nỗi chứa bao thù oán, ḷng
sao nỡ thế. Ôi! Giáo đă không dung được lương, th́ lương cũng không cam tâm
chịu thua giáo, phải đến tranh nhau, khiến cho trong chốn làng xóm, không
lấy ơn lễ ở với nhau mà lại trông nhau như thù nghịch. Giết người, đốt nhà,
tội có nhỏ đâu, mà lại đem thêm thử pháp luật như việc gần đây xảy ra ở B́nh
Định và Quảng Ngăi, rất là quái gở, đáng giận, cần nên tỏ rơ điển h́nh để
răn bảo. Nhưng nghĩ bọn ngươi một khi giận dỗi, dám làm điều trái đạo, rồi
hay cải hối được; nếu chẳng uốn nắn cầu toàn, hẳn đến ngọc đá đều cháy;
trong ḷng ta thực không nỡ thế, đă chuẩn gia ơn cho miễn sự tra xét một lần.
Từ này nên hậu t́nh ḥa hảo, không nên ghen
ghét lẫn nhau. Làm người coi địa phương phải ngay sáng để xướng xuất, mà sự
oan uổng cần được thân lư; làm giám linh mục phải công bằng để dạy dỗ, mà sự
ghen ghét phải bỏ đi; khiến cho cùng thuận, cùng giúp, cùng phù tŕ nhau,
hai bên hoà thuận th́ c̣n ǵ vui bằng. Nếu không khéo khu xử, đều tự thù hằn
nhau, th́ đều có tội để xử. Địa phương quan, chiếu theo lệ nịch chức nghiêm
trị. Giám linh mục, tư sang nước Pháp nghĩ xử. Đều nên kính cẩn nhé! Thông
lục đều tuân”. …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 245 – 246).
52. Bản án của thực dân
Pháp về Nguyễn Văn Tường, do De Courcy, De Champeaux cáo thị, ngày 27.7 Ất
dậu (05.9.1885):
“Đô thống Đại Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy –
TXA. ct.] bắt thái phó, Cần Chánh điện đại học sĩ, lănh Lại bộ thượng thư,
kiêm sung Cơ mật viện đại thần, Ḱ Vĩ quận công, là Nguyễn Văn Tường xuống
tàu thủy chạy đi Gia Định.
Cứ theo lời cáo thị của khâm sứ Tham-bô [De
Champeaux – TXA. ct.] nói: Văn Tường từng đă chống cự nước ấy [nước Pháp –
TXA. ct.] thực đă nhiều năm. Từ khi cùng Tôn Thất Thuyết sung làm phụ chánh,
chỉn [: vốn – TXA. ct.] lại đổng suất quan quân nổi dậy công kích quan binh
nước ấy [nước Pháp – TXA. ct.]; và Văn Tường do đô thống ấy xin [chính phủ
Pháp – TXA. ct.] cho hai tháng [nhằm để – TXA. ct.] lo liệu việc nước cùng
Bắc Kỳ cùng được lặng yên vô sự; [ḱ thực – TXA. ct.] đến ngày 27 tháng ấy
hết hạn, mà các tỉnh Tả kỳ về phía nam, có nhiều nơi nổi quân chém giết dân
giáo. Đến đây đô thống ấy định án, ƯNG [:NÊN ; PHẢI – TXA. ct.] kết tội lưu.
Hôm ấy chở đem Văn Tường đến cửa biển Thuận
An. Buổi chiều Nguyễn Hữu Độ, Phan Đ́nh B́nh đi tàu thủy Pháp cũng về đến
cửa biển ấy.
(Thuyền Pháp chở Văn Tường đến Gia Định, sau
chở gồm cả Phạm Thận Duật, Lê Đính đem về nước ấy [thuộc địa Tahiti – TXA.
ct.]; Thận Duật trong khi đi đường bị ốm chết ở trong tầu, buông xác xuống
biển) …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 247).
@ @ @ @ @ @
53. Trích phàm lệ của kỉ đệ lục: VIẾT SỬ THEO TIÊU CHÍ NGƯỢC:
“Phàm lệ phụ biên ở kỷ đệ ngũ,
trong đó có một điều chép rơ: từ ngày 23 tháng 5 năm Hàm Nghi nguyên niên,
sau khi kinh thành có việc, đến ngày 10 tháng 8 trở về trước, xe vua dời đi,
trong, ngoài không hệ thuộc được, và tự ngày 10 tháng ấy trở về sau đến cuối
tháng 9, Cảnh tông Thuần hoàng đế [vua ngụy Đồng Khánh – TXA. ct.] ta tuy đă
nối ngôi, nhưng tuyên bố dụ bảo, sợ chưa biết được khắp, niên hiệu vẫn c̣n
chép là Hàm Nghi; về việc Nam – Bắc có vâng theo dụ của vua Hàm Nghi, mà
khởi việc cần vương th́ đều hăy chép làm “khởi binh”, để có cớ mà nói. C̣n
tự mồng 1 tháng 10 năm Đồng Khánh Ất dậu trở về sau, ngôi lớn định đă lâu,
dụ bảo chắc đă biết khắp cả, mà c̣n làm liều, th́ ở kỷ đệ lục kỷ sẽ lại chép
là nghịch; đă được chuẩn cho lục ra để chép vào.
Nay hai tháng 8 và 9 năm Hàm
Nghi nguyên niên [tức là tháng 8 và tháng 9 âm lịch, năm Ất dậu (1885) – TXA.
ct.], là c̣n thuộc vào phận tháng của kỷ ấy, cũng vẫn theo thế chép là khởi
binh; c̣n từ mồng 1 tháng 10, là năm Đồng Khánh Ất dậu trở về sau, th́ mới
chép là nghịch”.
(ĐNTL.CB., kỉ đệ lục – kỉ bị “bảo hộ”,
tập 37, Nxb. KHXH., 1977, tr. 15 – 16).
54. Quốc thư gửi Chính phủ
Pháp của ngụy triều Đồng Khánh, tháng 8 Ất dậu (tháng 9.1885):
“… Quyền thần là Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết […].Ngày 23 tháng 5 năm nay, kinh thành thất thủ, xe tiên đế dời đi,
hai người ấy thực là căn nguyên của tai vạ […]”.
(ĐNTL.CB., kỉ đệ lục – kỉ bị “bảo hộ”,
tập 37, Nxb. KHXH., 1977, tr. 33).
55. Bản án chung thẩm của ngụy triều
Đồng Khánh (có chữ kí của De Courcy) về Nguyễn Văn
Tường và 3 thành viên khác của nhóm chủ chiến Triều đ́nh Huế, tháng 8 Ất dậu
(tháng 9.1885):
“Tôn nhân phủ và đ́nh thần dâng sớ tâu bày
tội trạng của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước và
tịch thu gia sản; tham tri Trương Văn Đễ đă quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân
Soạn, đều là bè đảng làm loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, th́ Tôn
Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng được và
chém ngay, để tỏ rơ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo”.
(ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH.,
1977, tr. 35).
56. Dụ của Đồng Khánh (do
khâm sứ thực dân Hector, Nguyễn Hữu Độ hợp soạn, Đồng Khánh chỉ sửa chữa lại),
niêm yết khắp các tỉnh từ Quảng Nam trở vào, tháng 02 Bính tuất (tháng
3.1886):
“… Duy trẫm tin là các sĩ phu, thực t́nh là
nhận nhầm, chứ không có ḷng làm loạn; Triều đ́nh đă đem đầu mối họa loạn,
là tự Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết gây ra, nói rơ ràng với quan Đại
Pháp, đă tin không ngờ, để cho Triều đ́nh ta phải xử trí ngay, cho lương,
giáo đều được yên ổn …”.
(ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH.,
1977, tr. 134).
57. Cáo thị của ngụy triều
Đồng Khánh (do hai khâm sai Phan Liêm, Phạm Phú Lâm hợp soạn, Đồng Khánh tự
sửa định), niêm yết khắp các tỉnh từ Quảng Nam trở vào, tháng 02 Bính tuất (tháng
3.1886):
“… Nay Lê Thuyết [Tôn Thất Thuyết – TXA.
ct.], trốn tránh ở rừng gập ghềnh, một thân tuy nhỏ, mà coi đất trời như c̣n
hẹp; Nguyễn Văn Tường th́ đă bị đi đày; tức là trời trừ kẻ tật ác; huống chi
tai ách 10 đời, [mà Quang Vũ trung hưng – VSH. ct.]; con của Tấn công có 9
người, [mà c̣n được Tùng Nhĩ – VSH. ct.]; xem ư trời cũng có thể biết. Trẫm
cùng bọn ngươi, phải nên hết sức lo toan khôi phục lại, để lại thấy được
cảnh tượng thái b́nh như xưa. Không ngờ bọn ngươi [tức là các sĩ phu, nhân
dân – TXA. ct.] theo ư làm liều, hoặc bức đuổi quan tỉnh, hoặc đốt phá phủ,
huyện, kháng cự mệnh lệnh Triều đ́nh, cam tâm hết ḷng trung với kẻ thù [tức
là Hàm Nghi, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, nhưng theo mạch văn, th́ chỉ
nhắm đến hai phụ chính – TXA. ct.], từ Hải Vân trở vào nam, không chỗ nào là
không loạn [khởi nghĩa – TXA. ct.], rất đáng quái lạ; sao không xem châu
Hoan, châu Diễn, Quảng B́nh, Quảng Trị (*), mượn tiếng là xướng nghĩa, cần
vương, đều đem thân bón cho đồng cỏ, mười nhà th́ chín nhà hết sạch; c̣n
những kẻ lọt lưới, th́ bị mưa độc, khí núi, liền hóa làm giống sâu ở cát,
tức như tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn là thủ xướng, phải giải quân trốn xa, thám
hoa Nguyễn Đức Đạt phải đến tỉnh đầu thú; đă thấy được đại khái …”.
(ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH.,
1977, tr. 138 – 139).
(*) Xem Jabouille, bài
“Một trang viết về lịch sử tỉnh Quảng Trị: tháng 9.1885”, Những người bạn cố
đô Huế (BAVH., 1923), bản dịch, tập X, Nxb. Thuận Hoá, 2002, tr. 434, 439…
Xin đối chiếu với ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 26 – 27, tr. 39 – 40, tr. 54,
tr. 60, tr. 124 – 125, tr. 130, tr. 162 – 164, tr. 176 – 177, tr. 178 – 180,
tr. 186, tr. 192 – 193.
58. Theo lệnh Pháp, ngụy triều Đồng
Khánh và Nguyễn Hữu Độ, cùng với Phan Liêm, Phạm Phú Lâm tuyên truyền bôi
nhọ nhằm triệt hạ uy tín Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và nhóm chủ chiến,
để dập tắt phong trào Cần vương, nên đă bị sĩ phu, nhân dân phản ứng, tháng
11 Bính tuất (tháng 12.1886):
“Phó khâm sai Tả trực kỳ là Phạm Phú Lâm
chịu tội.
Phú Lâm đến Đà Nẵng, được 10 ngày dâng tập
tâu: “Bọn giặc [quân Cần vương, ngụy triều Đồng Khánh gọi là “giặc”!!! – TXA.
ct.] đưa giấy bắt họ thân và bắt được vợ y, làm đủ h́nh ác; xin tự trói về
kinh đợi tội”; lại lục tư cho Viện Cơ mật, nói: “Giặc hiện bắt xă thôn ấy
chỉ dẫn phần mộ tổ tiên của y, nếu để chậm, tất đến mắc vạ; bèn không đợi
chỉ, lập tức đáp thuyền về kinh, đến Viện Cơ mật, xin đến Bộ H́nh đợi tọâi”
(*).
Tập tâu ấy, Viện thần hiện đương nghĩ biên
phiếu tâu lên hặc tội, nói: “Phú Lâm không đợi chỉ chuẩn cho, dám tự tiện về,
đi lại ở thành thị, không lo sợ chút nào, coi pháp lệnh Triều đ́nh như tṛ
trẻ con, sau này, người khác trông thế bắt chước, th́ thành sự thể ǵ. Xin
trước hết giải chức, xích lại giao cho Bộ H́nh nghiêm nghĩ, để chỉnh đốn
phép làm tôi”.
Vua chuẩn y lời tâu. Sau Bộ nghĩ, xin xử tội
100 trượng, cách chức, không được bổ dụng. Vua cho nghĩ xử ấy là nhẹ, bác đi,
giao cho Các thần giữ mực công bằng nghị xử lại. Các thần phúc tâu, nói:
“Xin chiểu điều luật “lầm lỡ việc quân” xử tội “trảm giam hậu””.
Vua lại nghĩ đến chú ruột y là Phạm Phú Thứ
là cựu thần của tiên triều, vốn có trọng vọng, đáng nên ban ân cho con cháu;
mới chuẩn cho cách chức, phát giao đi sai phái làm việc ở đạo Hữu trực kỳ”.
(ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH.,
1977, tr. 222).
(*) Biện
pháp tàn ác gần như tru di tam tộc, tam đại (giết cả người chết, bằng cách
quật mồ, băm xương) này, thực ra khởi đầu là do bọn tay sai đắc lực của Pháp
khởi xướng, theo lệnh của Pháp, để đàn áp, dập tắt phong trào khởi nghĩa Cần
vương. Đó là bọn Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân. Bọn quan tỉnh, thực chất đă là
tay sai của thực dân, cũng thực thi biện pháp ấy.
ĐNTL.CB.,
tập 37, sđd., tr. 197 ghi rơ: “Vua [bù nh́n Đồng Khánh – TXA. ct.] sai bọn
khâm sai Phan Liêm tiến đi, (mang theo 300 lính tập và 100 binh giản). Phạm
Phú Lâm v́ mẹ ốm và t́nh trạng giặc [quân Cần vương – TXA. ct.] hoành hành,
quấy nhiễu (quan viên hạt tỉnh ấy dự bàn đánh dẹp, đốt nhà, bắt thân nhân,
và đào phá phần mộ của giặc), xin thôi chức phó khâm sai. Vua y cho”.
Chúng tôi
phải chú thích thêm để thấy rằng, quân Cần vương cũng ở trong cái thế phải
dùng “độc trị độc”. Trong trường hợp này, không thể trách quân Cần vương
được!
Biện pháp
dă man thời Trung cổ ấy, xin được hiểu với cái nh́n lịch sử – cụ thể và phải
cần phê phán mạnh mẽ theo quan điểm luật pháp văn minh, công bằng, nhân đạo.
Nói rơ hơn, hồi đó sự thể nó như thế; sự thể ấy do nhiều yếu tố của thời bấy
giờ chi phối, trong đó có thói tục “một người làm quan cả họ được nhờ”, “một
người làm giặc cả họ phải tội”. Và nói rơ hơn, sự thể ấy khác hẳn với quan
niệm hiện đại của chúng ta: “ai làm ác nấy chịu, ai có công nấy hưởng”.
Ở đây,
chúng tôi liên tưởng đến một trí thức tu sĩ Thiên Chúa giáo nào đó, hiện
nay, trong mươi năm gần đây, vẫn c̣n khoái trá một cách bệnh hoạn, hả hê một
cách man rợ khi xem phim Sám hối, ca ngợi một người đàn bà thuộc chủng da
trắng châu Âu đă trả thù kẻ cầm quyền độc tài bằng cách ba lần quật mồ y!
Vẫn là luật Trung cổ “mắt trả mắt, răng trả răng” ư? Thật rùng rợn và đáng
phẫn nộ! TXA.
59. Là chánh khâm sai trong chiến dịch bôi nhọ, triệt hạ uy tín
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và nhóm chủ chiến, nhằm dập tắt phong trào
Cần vương, cuối cùng Phan Liêm cũng như Phạm Phú Lâm, đều thú nhận: sĩ phu,
nhân dân sáng suốt, giàu ḷng yêu nước, không chịu khuất phục giặc Pháp và
ngụy triều Đồng Khánh, tháng 8 Đinh hợi (tháng 9 – tháng 10. 1886):
“Giáng chức viên mới chuẩn cho
lănh tổng đốc B́nh Thuận, Khánh Ḥa là Phan Liêm … […].
[…] … Lúc đầu Liêm đă được mệnh
mới, tức thời dâng sớ nói: “Hai tỉnh B́nh Thuận, Khánh Ḥa, dân sau khi bị
loạn, vỗ yên răn dẹp thật khó; Liêm này ḿnh ốm, tài xoàng, sợ không kham
nổi chức ấy, xin chọn bậc danh khanh tài cán, lăo luyện đến nhận chức; sẽ
xin vào kinh chiêm bái, về quê quán chữa bệnh, để dưỡng tuổi trời”.
[…] … Sau khi đă về tới nơi,
Liêm lại nói: “Dân hạt ấy, sau khi bị bọn giặc [quân Cần vương – TXA. ct.]
mê hoặc [thức tỉnh, giác ngộ – TXA. ct.], chưa chắc mười phần hết ngờ …
[…]”.
Vua [bù nh́n Đồng Khánh – TXA.
ct.] cho Liêm đă nhiều lần từ chối, không cần ủy gượng, đổi sai Văn Phong
thay thế, rồi đem Liêm giải chức, giao cho đ́nh thần trừng trị.
Đ́nh thần xin xử tội đánh 100
trượng, cách chức không được tŕnh bày.
Vua lại nghĩ, Liêm đă từng làm
tổng đốc, lại là đời đời làm quan, chuẩn cho giáng làm biên tu, bắt về hưu”.
(ĐNTL.CB., tập 38, Nxb. KHXH.,
1978, tr. 12 – 13).
PHỤ LỤC:
CÁC TƯ LIỆU KHÁC
60. Về năm mất của Nguyễn Văn Tường:
“Nguyễn Văn Tường, người xă An
Cư, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị […]; làm quan tới chức Cần Chánh điện
đại học sĩ, phụ trách đại thần, tấn phong Ḱ Vĩ quận công. Sau sự biến năm
Ất dậu (1885), chết ở bên Tây” [*].
(Cao Xuân Dục và Quốc sử quán
triều Nguyễn, Quốc triều hương khoa lục, bản dịch, Nxb. TP.HCM., 1993, tr.
297).
[*] Đảo
TAHITI, thuộc địa của Pháp. Xem thêm: Aldophe Delvaux, bài “Cái chết của
Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH.,1923),
bản dịch, sđd., tr. 478 – 485. Chúng tôi đă có ư kiến ở bài nghiên cứu
“Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi 05.7.1885”
về bài báo xuyên tạc và đầy thù hận này, đồng thời vẫn tiếp nhận để sử dụng
các tư liệu gốc (ở đây là văn bản hành chính) của thực dân Pháp trong bài
báo ấy. TXA.
61. Giấy khai tử, thủ tục hộ tịch về
sự qua đời của Nguyễn Văn Tường:
“CÔNG SỞ PHÁP TẠI CHÂU ĐẠI DƯƠNG
Đảo Tahiti
Thị chính Papeete
Số 60
Cái chết của ngài Nguyễn Văn Tường
30.7.1886
Trích sao từ sổ hộ tịch của xă Papeete
(Tahiti)
năm 1886
GIẤY KHAI TỬ
Năm 1886, 30.7, 4 giờ chiều, trước
mặt chúng tôi là Adolphe Marouo Poroi, là sĩ quan hộ tịch của xă Papeete,
đảo Tahiti. Có đến: 1. Alphonse Bonnet, là quyền giám đốc Sở Nội vụ của các
công sở Pháp tại châu lục, 57 tuổi; 2. Etienne Deheaulme, quyền chánh văn
pḥng của Sở Nội vụ, 26 tuổi; cả 2 người đều sống tại Papeete, đă khai với
chúng tôi là sáng nay, lúc 4.h 30, ngài Nguyễn Văn Tường, cựu thủ tướng của
Vương quốc An Nam, khoảng 65 tuổi, cư trú tại Papeete, không rơ tên cha mẹ,
đă chết; chúng tôi lập giấy khai tử này, và đă kư tên với các nhân chứng;
mọi người đều đă đọc.
Chứng nhận trích sao văn bản:
Papeete, 08.12.1922
Kư tên:
A. BONNET,
Thị trưởng
E. DEHEAULME, AM. POROT.
(Aldophe Delvaux, bài “Cái chết
của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH.,1923),
bản dịch, sđd., tr. 482 – 483).
62. Trích tin tức về sự qua đời của Nguyễn Văn Tường trên Công báo
Tahiti, 05.8.1886, trang 202:
“Nguyễn Văn Tường, cựu thủ tướng
của Vương quốc An Nam, đến
Tahiti tháng hai vừa qua trên tàu Scorff, chết tại
Papeete, ngày thứ sáu,
30.7.1886, lúc 4.h 30 sáng.
Thân thể của ông được liệm trong
một quan tài bốn lớp, hiện được giữ tạm trong hầm nhà xác để chở về Huế”.
(Aldophe Delveaux, bài “Cái chết
của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH.,1923),
bản dịch, sđd., tr. 481 – 482).
63. Quyết định di chuyển thi
hài Nguyễn Văn Tường về Đại Nam:
“QUYẾT ĐỊNH CHO PHÉP
DI CHUYỂN THI HÀI CỦA NGÀI TƯỜNG
(Công báo của thuộc địa,
09.12.1886)
“Toàn quyền các công sở Pháp tại
châu Đại Dương,
Chiếu theo văn thư của Bộ ngày
20.10.1886: chỉ định gửi về nước An Nam thi hài của ngài Tường, chết tại
Papeete ngày 30.7 vừa qua,
Chiếu theo đề nghị của giám đốc
Bộ Nội vụ,
Quyết định:
Cho phép di chuyển thi hài của
ngài Tường, chết tại Papeete, ngày 30.7 vừa qua.
Việc di chuyển sẽ được thực hiện
trong sự có mặt của ông chủ sự Y tế và ông trưởng ty Cảnh sát hành chánh có
phận sự lập biên bản về việc này.
Do quyết định của toàn quyền:
Giám đốc Sở Nội vụ
A. MATHIVET.
Papeete, ngày 9.12.1886
Th. LACASCADE”.
(Aldophe Delvaux, bài “Cái
chết của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam”, Những người bạn cố đô Huế
(BAVH.,1923), bản dịch, sđd., tr. 482).