TRẦN XUÂN AN
NƯỚC MẮT CÓ VỊ NGỌT
tập truyện ngắn
liên hoàn
Nhà Xuất bản
Đă đăng trọn vẹn
TẬP TRUYỆN LIÊN HOÀN này
trên Tạp chí điện tử Giao Điểm,
10-2005:
search:
http://www.giaodiem.com
link trực tiếp:
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1005_txa_nuocmatI.htm
“XUẤT GIA”
a
Buổi tối, ánh đèn từ mái nhà bát giác lợp bằng lá dừa nước tỏa
xuống hai chiếc bàn trống và một bàn đôi ngổn ngang li chén. Vẫn chín người
trẻ tuổi quanh hai chiếc bàn ghép lại. Cuộc tiệc nhỏ đang vào những phút gần
văn. Hát và Trúc Xinh ngồi bên nhau, mỉm cười, nâng li, nhận những lời chúc
hạnh phúc.
- Tṛn một năm ngọt ngào! Đáng kể hơn, phải tṛn một đời măi
ngọt ngào như vậy! - Đợi các bạn chúc xong, Thôn nói, khi đứng dậy, nâng li
-.
- Vâng! Xin ham hố một chút: Muôn năm hạnh phúc ngọt ngào! - Hát
cười vang, một lần nữa cụng li với bạn bè, em gái, em rể và cả chị vợ -.
Khoảng chín giờ, những người trẻ tuổi bước xuống bậc cấp của nền
nhà bát giác, ra chỗ gửi xe. Nghiệm ôm một chồng quà được gói bằng giấy nhũ
óng ánh các màu hoa đi sau Hát và Trúc Xinh. Quế Sương dắt xe thay Nghiệm,
đợi anh trao chồng quà cho chị dâu ngồi sau anh trai trên xe gắn máy của hai
người.
Ở quận nội thành này vẫn có mấy con phố tên Hương Lộ, mỗi đường
được thêm một con số sau cái tên chung ấy. Cùng đi với nhau một quăng, họ
chia tay nhau để về nhà riêng. Hát và Trúc Xinh rẽ qua đường khác, vào một
lối hẻm khá rộng. Căn pḥng Hát và Trúc Xinh thuê để sống chung, thuộc căn
nhà trước mặt.
Đó là đêm kỉ niệm một năm ngày cưới của đôi vợ chồng trẻ. Năm
ngoái, vào ngày áp cuối tháng năm như thế này, Hát đă cùng Trúc Xinh ra cơ
quan Uẵy ban Phường đăng kí kết hôn. Cũng trong ngày đó, vào buổi chiều, một
cuộc tiệc cưới được tổ chức với khá đông bạn bè, những người lớn tuổi ở cơ
quan. Đó là tiệc cưới vắng bóng ba mẹ hai bên của cô dâu, chú rể.
Đến lúc này, tṛn đúng một năm chung sống vợ chồng. Vừa chia tay
bạn bè, người thân trẻ tuổi sau bữa tiệc kỉ niệm, Hát và Trúc Xinh ngồi bên
nhau ngắm những món quà nhỏ đă mở giấy gói. Cả hai ngẩn ngơ trong cảm động.
Trúc Xinh và Hát vẫn thấy có ǵ đó thật chưa ổn, hơi phiêu lưu và rất nhiều
áy náy trong hạnh phúc của họ, nhưng không ai muốn nói ra những băn khoăn ấy.
Chút men bia vừa rồi vẫn c̣n ngây ngất, giúp họ vừa dễ say với hạnh phúc hơn,
vừa dễ nhớ hơn những ǵ chưa thật yên ḷng. Cả Trúc Xinh lẫn Hát chưa bao
giờ thấm thía ân nghĩa bạn bè, ân nghĩa từ những người thân trẻ tuổi đến vậy.
Riêng với Trúc Xinh, có lẽ cảm tưởng này rơ hơn ở Hát, là không ngờ cuộc
sống và hạnh phúc lại giản dị đến thế. Trước ngày cưới, với sự bất đồng gay
gắt của ba mẹ hai bên, cả sau ngày cưới nhiều tháng, chỉ gần đây nỗi niềm
mới nhạt bớt, trong tâm tư Trúc Xinh. Nỗi niềm ấy là một trời cay đắng, âu
lo, trăn trở, đôi khi run lên v́ sự cả gan đến liều mạng của chính cô và của
Hát. Tất cả chỉ v́ họ dám vượt khỏi lệ đời: tự họ, không cần sự đồng ư của
ba mẹ hai bên, họ dám cùng nhau kết hôn, sau khi dẫn nhau đi làm thủ tục xét
nghiệm y tế, một nghi thức hiện đại hóa lễ lại mặt cổ truyền.
Nằm bên nhau trong đêm kỉ niệm một năm thành thân, niềm băn
khoăn vẫn c̣n thoảng qua giấc ngủ của Trúc Xinh và Hát. Có điều, tự trong
sâu thẳm suy nghĩ, họ tự biết với nhau, họ không hề bất hiếu.
Thức dậy sớm hơn chồng, Trúc Xinh cắm phích điện đun nước. Ngoài
cửa sổ, ánh nắng ngày nghỉ cuối tuần đă hừng sáng.
Nghe tiếng động của li tách và phin lọc cà phê, Hát mở mắt, nằm
im một lúc rồi choàng dậy. ọánh răng, rửa mặt, cùng vợ tập thể dục xong, Hát
nhấc phin, quậy đường, mỉm cười với vợ một lần nữa, khi cùng vợ ngồi vào bàn
viết cũng là bàn ăn. Trúc Xinh nh́n vào tờ lịch đỏ hôm nay ở lốc lịch trên
tường: ba mươi tháng năm, tṛn đúng một năm cộng với một đêm tân hôn lần thứ
hai.
b
Tháng ba năm ngoái, cuộc li dị của Quế Sương với Gián khiến ba
má Hát - ông Khoảng và bà Bông Súng - xây xẩm, choáng váng, chới với. Cũng
cách đó không lâu, trước Tết nguyên đán, giữa tháng giêng mặt trời, Hát thưa
với ba má việc xin cưới Trúc Xinh. Chẳng hiểu sao lại ba dồn bảy dập như vậy.
Cưới, thoắt lại li hôn là chuyện kinh hoàng, từ cô con gái với chàng rể nhà
giàu đang bệnh hoang tưởng trở thành thần linh. Hát lại chen vào cái kinh
hoàng ấy cái kinh hoàng khác, đối với ông Khoảng và bà nhà. Nhưng đâu phải
Hát lẫn Trúc Xinh không nhận thấy khi sự cố diễn ra, thậm chí nỗi kinh hoàng
ở họ c̣n kinh hoàng hơn. Tất cả đều nằm ngoài dự đoán.
Dự định của Trúc Xinh và Hát về lễ hỏi, lễ cưới đă có từ lâu,
không ngờ Quế Sương và Gián lại tổ chức trước họ. Tưởng việc của em gái đă
ổn, Hát mới thưa việc ḿnh với ba má. Ba má cho Hát biết, Quế Sương đang bị
lừa phỉnh. Hai ông bà đang rối ruột về chuyện Quế Sương không chịu sống
chung pḥng với chồng. Gián đang bị bệnh, lờ đờ, uể oải, chuyện tṛ với ảo
ảnh thần tiên. Ba mẹ Gián chưa chịu và chắc hẳn không bao giờ chịu tiến hành
làm giấy tờ ủy nhiệm tài sản như đă hứa cho vợ chồng Quế Sương. Ông Khoảng
nói với Hát:
- Chuyện hỏi cưới không có ǵ khó, một năm tổ chức mười cái cũng
được nếu ba má có mười đứa con. Đám cưới Quế Sương ŕnh rang, bởi nhà chồng
nó giàu. C̣n con muốn cưới vợ, nếu chịu chỉ một mâm trầu cau để lễ gia tiên
hai họ, việc đó dễ ợt. Nhưng con xem đó, phải t́m hiểu Trúc Xinh và gia đ́nh
nó thật kĩ, kẻo rồi rắc rối như chuyện Quế Sương!
Hát đă hơi chùn lại ư định khi hiểu chuyện của vợ chồng em gái.
Anh chợt thấy ḿnh quá vô tâm. Nhưng từ rất lâu, thuở c̣n học trung học phổ
thông đến khi tốt nghiệp đại học, suốt hai năm đi làm ở một xưởng in, Hát ít
khi để ư đến chuyện nhà. Vả lại, cũng chẳng có chuyện ǵ xảy ra trong căn
nhà vỏn vẹn chỉ bốn người, ba má và hai anh em Hát. Việc ai người ấy lo. Mỗi
người bằng cách của ḿnh, đóng góp chung vào ngân khoản gia đ́nh. Hát và Quế
Sương đều phải tự đi làm thêm sau giờ học ở trường, khi mỗi người đến tuổi
mười sáu. Bây giờ, nghe ba nói về em gái, Hát mới giật ḿnh. Ngần ngừ một
lúc, anh thưa:
- Việc hỏi cưới, bọn con tự lo liệu. Cũng chẳng có ǵ rườm rà
đâu ba. Cho dù hoăn lại việc của con và Trúc Xinh, cũng chẳng giải quyết
được việc của Quế Sương với gia đ́nh ba má Gián. Không ngờ chuyện của Quế
Sương lại như vậy! - Hát bỗng chạnh ḷng thương em. Anh cau mày -. Tính nết
con nhỏ Quế Sương gặp khổ là phải. Con gái ǵ lại quá cứng cỏi! Nó khôn lỏi
lắm, cho nhiều vào, bất ngờ lại bộp chộp lấy thằng Gián! - Hát không nỡ
trách em gái ham chồng nhà giàu. Anh chợt ngừng lại, im lặng -.
Ông Khoảng sửa lại cái nút cà vạt, có lẽ cho dễ thở. Ông đứng
dậy, sau khi nh́n đồng hồ tay.
- Nó cứng cỏi, ba đỡ lo. Chuyện đâu c̣n có đó. C̣n con, hăy từ
từ. - Ông Khoảng cầm mũ, bước ra cửa -. Con phải ra Đà Nẵng thêm một lần nữa,
xem gia đ́nh Trúc Xinh làm ăn sinh sống ra sao, có tử tế không. Ăn Tết xong,
hẵng tính chuyện -. Ông Khoảng bước hẳn ra hẻm -.
Hát nh́n theo dáng ba trong bộ đồng phục của hăng tắc xi X., khẽ
thở dài.
Hát dắt xe gắn máy ra hiên, lấy chùm ch́a khóa và ổ khóa mắc
trên tường, đóng cửa sổ, tắt đèn ống, khóa chặt cửa. Anh lại đẩy xe ra, dựng
lên, khóa cổng.
Chạy xe ra đầu hẻm, thấy má đang uể oải với gói xôi sau quầy
báo, anh khẽ chào và giao ch́a khóa nhà. Hát nẫu ruột, không muốn nói thêm
một điều ǵ nữa. Anh đến xưởng in.
Tết nguyên đán xong, ông Khoảng xin phép hăng tắc xi, được nghỉ
mươi ngày. Ông liền ra thăm Huế.
Hơn một tuần lễ sau, cuối buổi chiều, Hát đi làm về, gặp ba đă
từ Huế vào.
- Tắm rửa đi, ra đây ba nói chuyện.
Hát dạ. Lát sau, ngồi trước mặt ông Khoảng, anh hỏi chuyện ở Huế,
về sức khỏe ông bà nội và gia đ́nh chú Khoát. Rồi câu chuyện lại quay về
chuyện cưới hỏi của anh với Trúc Xinh. Hát thấy h́nh như nét mặt ba sa sầm,
tối lại. Anh mong anh đă nh́n nhầm tâm trạng của ông.
- Ba có ghé Đà Nẵng. - Ông không nh́n Hát, hơi nghẹn lại. Hát
hồi hộp. Ông Khoảng phân vân, rồi cơ chừng dứt khoát hẳn -. Nhà đó bậy bạ
lắm. Ba không hiểu sao Trúc Xinh và Muống Xanh xem ra cũng đàng hoàng!
Hát không ngạc nhiên. Anh mấp máy môi, định hỏi ba. Ông Khoảng
nói:
- Tội phạm h́nh sự! Sợ thật. Cḥm xóm người ta rơ hết! Ba của
con nhỏ Trúc Xinh chuyên chở ma túy! Trưởng tàu, đă bị kỉ luật, rớt xuống
làm nhân viên ở ga. C̣n kinh hơn, là má Trúc Xinh chích thuốc dỏm, gây sốc
chết một bà lăo, lại thường bắt chẹt bệnh nhân, câu móc về nhà để bán thuốc
chui! Hồi năm tám mốt, bị tù, đến tám tư mới được thả. Nghe đâu Trúc Xinh
c̣n có thằng em trai trời đánh thánh vật nữa, đă vượt biên từ hồi đó. - Ông
Khoảng kể một mạch, thở dài -. Cái ǵ cũng cho qua, nhưng ác đức quá là
không được! - Ông nh́n Hát -. Không được. Con nghĩ sao? Ba sợ cái ác đức
thất nhân lắm!
Hát đă biết chuyện, anh không nao núng:
- Thưa ba, con cưới Trúc Xinh, đâu có cưới gia cảnh của Trúc
Xinh. Thời này, có ai làm rể, làm dâu đâu mà lo!
Ông Khoảng tṛn mắt:
- Nhưng... Nhà này chỉ có một ḿnh con là con trai! - Hơi bất
ngờ v́ câu nói của Hát, ông Khoảng lúng túng -. Mày... Con nghĩ ǵ lạ vậy!
Mày điên rồi chắc! Tao không muốn chuyện văn, thăm viếng, kết thông gia với
bọn tội phạm h́nh sự! Thôi! Không thể được, nghe chưa? Quả báo đến muôn đời!
Không được là không được! - Ông Khoảng gh́m tiếng nói giận dữ, nghe như rít
lên -.
Hát ngồi chết sững.
- Ba đau đầu với vụ con Quế Sương đến vỡ năo đây. Má của con e
cũng đứt mạch máu mà chết! - Ông Khoảng ngả đầu ra tựa ghế -. Đúng là nhà
này sắp điên hết cả rồi!
Bỗng đến tháng ba, Quế Sương ra ṭa xin li hôn với Gián. Ông
Khoảng và bà Bông Súng điếng hồn. Quế Sương b́nh thản đi thuê một căn pḥng
để ở riêng, lại sang được một quầy mĩ phẩm ngoài chợ. Tất cả diễn ra như
những tai họa của nhiều tai họa. Ông Khoảng vốn xem đường phố là nhà, sợ
cảnh ghẻ lạnh của gia đ́nh từ nhiều năm nay, giờ lại càng coi nhà như quán
trọ qua đêm. Ông hoàn toàn phó mặc, thây kệ con cái. Bà Bông Súng cơ chừng
nhạt với sự đời, với gia đ́nh, chỉ biết ngày ngày ngồi buồn bă sau quầy báo.
Bà nghĩ, hồi thi tú tài hai xong, mới mười tám tuổi, cha mẹ mất, chỉ một
ḿnh bước vào đời kiếm sống, tiếp tục học đại học, có hề hấn ǵ đâu. Bà thở
dài, con cái đă lớn, cử nhân cả rồi, lo lắng làm ǵ, và lo nhiều cũng chả
giúp được ǵ! Nghĩ vậy, nhưng đâu khác ǵ ông Khoảng, bà Bông Súng đang
trong cơn xây xẩm, choáng váng, chới với kéo dài. Bà thương Quế Sương, lo âu
cho Hát đến đứt ruột, nhưng cả hai chừng như vẫn b́nh tĩnh đương đầu với
bước ngoặt đời bất ngờ. Quế Sương như thể vẫn ra riêng, tránh tai tiếng với
láng giềng, cũng không muốn phiền lụy ba má! Do bản tính và v́ yêu mến Trúc
Xinh, Hát vẫn cứng ḷng không kém!
c
Ánh đèn từ pḥng khách hắt ra một vuông sân nhỏ trước nhà. Trên
mái hiên đúc, buông xuống dăm ḍ hoa phong lan. Trong ánh sáng xen ḥa với
bóng đêm, đôi cánh hoa nở vàng, trở nên huyền ảo. Bên trong hàng rào, cũng
sáng mờ một dăy chậu kiểng xanh lá. Hát và Trúc Xinh hơi hồi hộp trông ra
cổng nhà.
Rất đúng giờ, ba má Trúc Xinh đến. Hát chạy ra mở cổng ngay. Anh
tỏ ra niềm nở, thật ḷng đang âu lo. Ông Tiễn và bà Đặng hơi dè dặt, cũng tỏ
ra vui vẻ, bước vào. Đợi chiếc xích lô đạp trở đầu xong, Hát cảm ơn anh
thanh niên đạp xe, rồi đóng cổng lại.
Ông Khoảng, bà Bông Súng, hai chị em Trúc Xinh và Quế Sương đang
chào hỏi ba má vợ tương lai của Hát.
Chuyện tṛ một lúc, những người trẻ tuổi bưng thức ăn, li chén
ra bàn. Họ vẫn để b́nh hoa hồng ngay tâm của mặt bàn tṛn đă phủ khăn trắng.
Bốn người lớn tuổi và bốn người đang tuổi hai mươi đă bắt đầu
nâng li vào tiệc.
- Con cái đă lớn rồi, cũng mừng là đều có việc làm cả. Hát nhà
tôi mới đó đă hai mươi sáu tuổi, kể thêm tuổi mụ nữa, là hai bảy. Trúc Xinh
đă hai mươi tư, nếu theo cách tính tuổi ta. - Ông Khoảng cố giữ vẻ tự nhiên,
cởi mở -. Rất mừng là anh chị có dịp từ Đà Nẵng vào đây, nhân thể, cùng bàn
chuyện thêm cho hai cháu.
- Anh cũng đă hai lần ra nhà. Thế cũng đă quen biết nhau rồi.
Nhưng lần này vợ chồng chúng tôi vào đâu phải theo giao ước ǵ đâu. Nhân
tiện thăm nhau thôi mà. - Ông Tiễn, mái tóc đă ngả bạc, gương mặt tṛn đỏ
lựng men bia, từ tốn nói, theo cách giữ kẽ của phía nhà gái -.
Vốn có định kiến và hơi ác cảm với vợ chồng ông Tiễn, ba của Hát
thấy nóng người. Ông trấn tĩnh một lúc rồi nói:
- Vợ chồng chúng tôi đă điện thoại ra mời anh chị...
Ông Tiễn cười:
- Vâng. Tôi cũng quên mất... - Ông vờ cau mày, như thể gắng nhớ
lại cuộc điện thoại ấy -.
Sáu người c̣n lại đều hiểu màn giáo đầu thường gặp này. Quế
Sương cười thầm cho sự đời. Cô sực nhớ cách đây không lâu, với tư cách nhà
gái, ba của cô cũng phải giữ kẽ như vậy. Nhà gái luôn luôn sợ bị xem rẻ! Bà
Bông Súng ngồi cạnh bà Đặng, tṛ chuyện khẽ với nhau, cố ư để chuyện hôn
nhân được xem là chuyện lớn cho hai người bố bàn bạc.
Đă không bằng ḷng từ trước, nhưng Hát vẫn khăng khăng giữ vững
ư định làm lễ thành hôn, ông Khoảng rất bực ḿnh. Nể vợ, chiều theo ư con
trai, ông Khoảng mới dự cuộc tiệc nhỏ này. Ông bỗng trầm ngâm không nói ǵ
nữa. Bữa ăn bị trùm lên một không khí nặng nề. Cảm nhận sự khó chịu này rơ
nhất là ông Tiễn. Thật ḷng ông cũng không muốn cất công từ Đà Nẵng vào đây
đáp lễ. Qua Trúc Xinh, vợ chồng ông đă hiểu thái độ của ông Khoảng. Muốn
không khí bớt nặng trên đầu mọi người, bà Bông Súng liên tục mời khách, gắp
thức ăn đầy cả chén bà Đặng. Bà Bông Súng chợt nhận ra bà hơi vụng về, chừng
như cô giáo Bông Súng lịch thiệp ngày xưa đă rời khỏi bà từ lâu lắm rồi.
Ông Tiễn uống khá nhiều bia, hầu như không nuốt nổi miếng nào.
Ông bực quá, nhưng chả lẽ lại đon đả.
Chuyện tṛ vớ vẩn một hồi, vừa muốn dứt khoát ngay, vừa tránh đả
động đến chuyện cưới hỏi, ông Tiễn nói:
- Anh Khoảng à, lần này vợ chồng tôi chỉ vào thăm cho biết,
chuyện ǵ th́ để từ từ rồi tính. - Ông Tiễn cũng không ngờ chính ông lại nói
ra như vậy. Ông ngập ngừng, định nói lại, nhưng chẳng biết nói sao -. Chắc
anh khinh vợ chồng chúng tôi! - Hóa ra, ông lại bất ngờ dằn dỗi -.
Ông Khoảng và mọi người có mặt đều sững người.
- Thôi, vậy là dẹp chuyện cưới hỏi đi. Khinh người quá thể! Hai
lần trước, gặp mặt nhau ở Đà Nẵng, tôi biết trước cơ sự rồi. - Ông Tiễn nói
to, kéo ghế đứng dậy. Như trào ra sự giận dữ đă không thể kềm chế được, ông
bất chấp phép lịch sự, văng ra luôn những lời lẽ thô tục -. Thôi, dẹp. Về,
về thôi bà! - Ông quát lớn -. Con Trúc Xinh, con Muống Xanh, về, về khỏi nhà
này ngay! Đồ trí thức cùn! Đồ kĩ sư bị sa thải!
Ông Khoảng kinh ngạc, vô thức
cười khẩy:
- Đúng là thứ... thứ... tiền án tiền sự!... Ối...
Hát cuống lên:
- Thôi. Thôi. Ba thương con. Hai ba hăy thương chúng con.
Nhưng ông Khoảng đă ôm miệng, máu từ kẽ tay chảy ra, sau một
tiếng kêu ối và tiếng thủy tinh vỡ trên nền nhà. Ông Tiễn đă ném vào ông
Khoảng chiếc li rượu cao chân ấy, cắt ngang câu rủa của ông Khoảng. Mọi
người rời ghế, bâu quanh ông Khoảng.
Ông Tiễn nắm tay vợ, như lôi bà Đặng ra cửa. Bà Đặng đă bật khóc
hoảng hốt, giằng tay lại.
Không nói thêm một lời, ông Tiễn bước vội ra cổng, tự mở cổng,
đi nhanh ra hẻm một ḿnh. Hát trông thấy, anh chạy ra sân, rồi đứng sững ở
đó. Anh không ngờ cơ sự lại tồi tệ đến vậy.
Trong ánh đèn từ pḥng khách hắt ra, Hát thấy tay ḿnh ướt máu.
Anh tỉnh người, bước ngay vào. Ba anh đă được đỡ vào pḥng trong, đang nằm
trên giường. Má anh và Quế Sương đă giặt khăn trong thau nước nóng, lau mặt
cho ba anh. Chiếc áo sơ mi trắng của ông đỏ những vệt máu.
Trúc Xinh, Muống Xanh và bà Đặng chỉ biết đứng khóc, sửng sốt,
bàng hoàng, chẳng biết làm ǵ lúc này. Nỗi tủi nhục dâng lên, nghẹn cả ngực
họ. Trúc Xinh nấc lên từng hồi. Cô cố gắng không để khóc ra thành tiếng.
d
Hai vợ chồng trẻ rời khỏi tiệm ḿ Quảng, chủ tiệm vốn là chỗ bà
con xa với Trúc Xinh. Hát chở vợ đến chợ. Anh nói với Trúc Xinh, anh chờ cô
ở đầu con hẻm bên hông chợ như mọi khi. Trúc Xinh mỉm cười với Hát trước khi
bước vào nhà lồng bán cá. Hát chạy xe chậm đến điểm chờ. Ngồi trên yên xe,
tắt máy, anh lơ đăng ngó quanh. Mắt anh ngừng lại ở tờ lịch đỏ - tập lịch
khổ lớn - trên tường quán, giữa hai b́nh lá xanh: ba mươi tháng năm, tṛn
một năm cộng mười mấy giờ, kể từ ngày cưới. Hát mỉm cười bâng quơ, rời mắt
khỏi quán cà phê đang xập x́nh nhạc. Sáng chủ nhật cuối tuần, khách nhâm nhi
khá đông.
Nửa giờ sau, Trúc Xinh ngồi sau lưng Hát, với xách thức ăn đă
mua ở một bên tay. Mặc dù là vợ chồng, Trúc Xinh vẫn ư tứ không ngồi sát vào
lưng Hát. Hát lái xe gắn máy men theo những con phố, rẻ vào hẻm nhà cho thuê
pḥng ở dài hạn.
Lên lại pḥng thuê, Hát và Trúc Xinh thay áo quần, rửa mặt. Ra
phố một chốc, da mặt đă nhám cả bụi!
- Trưa nay, ḿnh với nhau thôi. Cũng t́nh ra phết, Trúc Xinh
nhỉ! - Hát cười -.
- T́nh tứ ǵ! Cứ như là cặp nhân t́nh nhân ngăi lén lút. Một năm
ở đây rồi, mấy người đầu hẻm vẫn nghi ḿnh bất chính đấy! - Nói vậy, nhưng
Trúc Xinh vẫn mỉm cười, ánh mắt long lanh nh́n Hát -.
- Thây kệ thiên hạ. Hơi đâu lo ḅ trắng răng. Đâu phải ở giữa sa
mạc. Ḿnh đă làm thủ tục các thứ rồi mà, Trúc Xinh lo ngại ǵ! - Hát lại
nh́n vợ, mỉm cười cho cô yên tâm -.
Hát mở nhạc vừa đủ nghe. Anh định nói thêm, ''mọi sự thể xem
bề ngoài gần giống nhau, nhưng thực chất bên trong lại một trời một vực'',
song Hát không muốn cứ nhắc măi một câu ấy với Trúc Xinh. Anh đến giường,
với tay chất mấy chiếc gối lên nhau, ngả người kiểu nửa nằm nửa ngồi, tựa
đầu vào vách. Hát thấy thương vợ thật nhiều. Anh hiểu cô ở miền trung vào,
chưa quen với nếp sống thành phố lớn. Ở thành phố lớn nào cũng vậy, đa số là
dân góp tứ xứ, áp lực phong tục sau lũy tre xanh, của các thị xă bé bằng
ḷng tay, trở nên giảm thiểu. Thành phố lớn, ưu tú đấy, cặn bă đấy, nơi
người này xa lạ với người kia, chẳng ai để ư đến ai. Thành phố lớn, cửa ngơ
của văn hóa xa lạ. Tất cả, càng xa lạ với những người tạm trú, mới nhập cư,
chưa có hẳn một căn hộ hoặc mái nhà riêng. Hát mỉm cười, nhận ra vợ chồng
anh đang rơi vào trường hợp ''du cư''! Ngoái nh́n Trúc Xinh đang t́ một tay
lênbàn, ngồi song song với chiều dọc mặt bàn, hướng mắt nh́n về anh, Hát
không muốn để nỗi băn khoăn trong ḷng vợ chồng anh dấy lên thành đề tài câu
chuyện của hai người trong ngày hôm nay. Hôm nay, kỉ niệm một năm ngày cưới,
phải ngọt ngào hạnh phúc như lời chúc của Thôn hồi hôm.
- Trưa nay, đă có một bữa ăn ngon. Anh quên mua vài lon bia.
Phải có chút men cho vui chứ!
- Lát nữa, để em ra ngoài phố mua, luôn tiện ghé chỗ nào đó kiếm
vài viên nước đá. Hôm nay, ḿnh ăn ḿ sợi đó nghe, cho lạ miệng.
- Ờ, cũng hay. Đến đây ngồi chơi với anh.
- Thôi! - Trúc Xinh cười -. Sao hôm nay t́nh vậy! - Nói thế,
nhưng Trúc Xinh cũng đến ngồi cạnh chồng, cong môi, tỏ vẻ âu yếm -.
Hát chợt say đắm nh́n gương mặt trắng hồng với những sợi tóc mai
đen mượt của vợ. Mái tóc cắt ngắn, chấm vai, trông thật đáng yêu. Anh nắm
lấy bàn tay của Trúc Xinh, siết khẽ.
- Lẽ ra, hôm nay, hai đứa ḿnh phải qua nhà, thăm ba má chứ anh!
- Trúc Xinh buồn buồn nói -.
Hát hơi nhói ḷng. Im lặng một lúc, anh nói hơi nghèn nghẹn:
- Nhắc việc đó làm ǵ! Cứ xem như thể con cái lấy vợ lấy chồng,
ra riêng, làm ăn xa vậy mà! - Hát gượng cười -. Ba má c̣n trẻ, lo ǵ em! Ông
bà bây giờ cũng xem như son rỗi, hệt vợ chồng ḿnh! - Hát cười lớn -. Em có
điện tín ra ba má ngoài Đà Nẵng, điện tín về nhà ba má anh là được rồi.
- Lẽ ra phải viết thư! Điện thoại th́... khó nói chuyện quá! Em
định điện thoại rồi đó.
Hát sực nhớ bức thư dài đến tám trang giấy, anh cắm cúi viết,
trút hết suy nghĩ của ḿnh thành chữ, gửi cho ba má Trúc Xinh và ba má anh,
như một cuộc ''giải tŕnh'', trước khi cùng Trúc Xinh quyết định ''ra riêng
hẳn'' thế này. Trong suy nghĩ của anh, Hát không phải không nhiều lần khẳng
định với chính ḿnh, mỗi con người không chọn lựa được sự ra đời trong
gia đ́nh nào, nên phải có quyền được xă hội và tự bản thân nh́n nhận như một
số phận độc lập, độc lập đến mức có thể. Ai làm nấy chịu và ai làm nấy
hưởng, khi đă đủ trí khôn, khi đă đến tuổi ''ra riêng''.
Anh chợt bật cười:
- Ḿnh đă ''xuất gia'' để tu
đạo, đạo vợ chồng. Em không nhớ hôm nào đă nói với nhau sao! Đạo lí Việt Nam
ấy mà!
- Vậy sao anh không vào chùa, đi tu luôn! Tu hành đắc đạo, thành
nhà sư để làm gương diệt dục, cứu trợ xă hội cho chúng sinh! Sao lại ''xuất
gia'' kiểu này! - Trúc Xinh nén tiếng cười trêu, vờ vênh mặt, lườm Hát. Cô
cũng gắng đùa một chút với chồng -.
- Ừ nhỉ! Lỡ yêu mất rồi... - Hát
cũng vờ phớt tỉnh, nhưng thật ḷng không cười nổi -.
Trúc Xinh cười khẽ. Cô nh́n vào mắt Hát. Cô hơi bàng hoàng khi
thấy trong đôi mắt anh bóng của hai tháp Chăm. Đó là bóng của bức phù điêu
bằng đá, khá lớn, treo trên vách, in vào đôi con ngươi đen nhánh của Hát. Cô
bâng khuâng, bỗng buột miệng:
- Thế này rồi chúng ḿnh trở thành những người xa lạ, hoàn toàn
mất gốc! Cũng không phải Chăm, cũng không phải Kinh! Cũng không c̣n bà con,
ḍng họ, quê quán!
Hát giật ḿnh:
- Em nói ǵ ḱ vậy! Ồ, thôi, bớt băn khoăn đi!
- Em đùa ấy mà! Xin lỗi nhé, ông cưng! - Trúc Xinh mỉm cười -.
Vẫn c̣n có Quế Sương, chị Muống Xanh đấy chứ...
Bỗng dưng, cả hai đều rơi vào im lặng. Họ mơ hồ biết, ở họ,
trong trái tim mỗi người có một đóa hoa Chăm-pa - hoa sứ trắng (*). Có khi
họ muốn quên, có khi họ thao thức t́m cách để giữ được cội rễ. Nhưng đă bao
đời rồi, họ không biết rơ, đóa hoa Chăm-pa kia có thật hay không trong tim
họ. Sống tách hẳn các làng Chăm thuần tộc, ông bà tổ tiên họ dần dần Kinh
hóa lúc nào không hay. Nếp nghĩ, tâm lí, cả phần tâm linh sâu thẳm, họ
và cha ông họ đă rất Việt Nam, nhưng nghiêng về Kinh hóa với ư thức trong
văn hóa Kinh vốn có văn hóa Chăm-pa cổ. Không phải rất Chăm-pa một cách Việt
Nam! Họ đă trót lai đến mức tận cùng, tận bản thể, chiều sâu tâm thức. Trong
ḍng máu của họ, có bao nhiêu phần trăm huyết thống Chăm, họ không rơ. Họ
chỉ rơ một điều là họ không biết một từ tiếng Chăm nào, từ ba mẹ họ. Hát
bỗng cười với ư tưởng vu vơ.
- Anh cười ǵ vậy! - Trúc Xinh khẽ khàng hỏi -.
- Hôm nay là ngày hạnh phúc. Quên mọi chuyện gốc gác đi. Tất cả
đều hoang đường! Chuyện gốc gác chỉ là huyền thoại thôi mà! Gốc Chim Lạc,
Rồng Tiên hay gốc... ǵ nhỉ... gốc Hoa Sứ Trắng (hoa Chăm-pa)..., cũng không
rơ có phải không, đều là huyền thoại cả mà! Hăy rất Kinh – Chăm – Môn -
Khơ-me... trên đất nước ḿnh. Hăy rất Việt, nghĩa là rất Nam. Sợ ǵ mất
gốc! Chúng ta gốc Việt Nam mà! - Hát cười, đùa với vợ -. Chỉ sợ mất em thôi!
Trúc Xinh âu yếm nh́n chồng, nhắc lại lời chúc của Thôn:
- Một đời, trọn đời ngọt ngào hạnh phúc, nhớ nghe...
Hát kéo vợ sát vào ḿnh. Anh hôn lên trán, lên đôi mắt, lên mũi,
lên đôi bầu má và hôn vào đôi môi Trúc Xinh. Trúc Xinh khẽ đẩy gương mặt Hát
ra bằng đôi tay mềm mại.
- Năm năm sau, có nhà cửa, rồi mới có con nghe, anh! - Trúc Xinh
thầm th́ trong hơi thở đă rối -.
____________________________
(*) Quốc hiệu ''Hoa Sứ Trắng'' này do vua
Khu Liên (Chăm) đặt, năm 192.
Viết xong vào ngày mười tám,
tháng mười một, năm một
ngàn chín trăm chín mươi chín (ngày
mười một tháng mười, năm Kỉ Măo)
tại thành phố Hồ Chí Minh.
Bản phác thảo, chép tặng Nghiệm và Quế Sương, hai nhân vật của
tôi, lúc họ suưt rơi vào cảnh chia tan, như một lời chúc hàn gắn và hạnh
phúc.
ĐÔI MẮT EM
là hai quả đất và hai
ṿm trời!
nhân hai bóng h́nh
tôi,
thuở em tŕu mến
nắng ngời tươi đôi
vầng trăng tṛn
long lanh, quyến luyến
hay đôi bong bóng
bay,
tôi t́m
tôi, níu giữ giữa vô cùng
bong bóng ảo vỡ tan,
thành mưa, mưa,
mặn đắng đôi quả đất,
và đôi ṿm trời dưới
vầng
trán em,
bao giọt xé cay, vụn vỡ
bóng h́nh tôi nát
tan, chia trăm mảnh thơ
buồn
trôi giạt ngoài chân
không,
theo hạt
lệ hư huyền cùng tuyệt vọng
làm sao về,
trong
đôi ḷng mắt người thương?
TRẦN XUÂN AN
Chú thích bổ sung
1. Chú thích (**) cuối truyện ngắn III (Ân sủng của tư nhiên):
Về chi tiết Đức Mẹ Ma-ri-a (Maria) Trọn đời đồng Trinh:... Hoặc
vẫn ''đồng trinh'' nhờ kĩ thuật thụ tinh gián tiếp, nhân tạo, thô sơ, thuở
xa xưa ấy, theo sự ''báo mộng - thiên khải'' ở những người có niềm
tin tôn giáo (niềm tin vào Cựu Ước), tại đất nước Do Thái (Israel) cổ đại.
Có thể giải mă mẫu đề (motif) ''con Trời (thiên tử) - hoang
thai - chữ trinh'' theo khuynh hướng này cho các truyền thuyết, cổ tích:
Thánh Dóng, Mai Hắc Đế, Pô Rô-mê (Po Rome), Thạch Sanh...
Dẫu sao, cách giải mă ấy cũng chỉ là giả thiết - một giả thiết
hợp lí và có luân lí.
2. Chú thích (3) của truyện ngắn IV (Huyết thống
nhân tộc ấy thơm mùi hương hoa sứ
trắng): các chữ ''Môn - Khơ-me'' in nghiêng hoặc đứng
[khác kiểu]):
Các nhân tộc Môn - Khơ-me: Cụm từ tạm dùng để gọi chung các nhân
tộc cùng ngữ hệ Môn - Khơ-me ở Trường Sơn và ở Tây Bắc (Khơ-mú...). Đó là
các nhân tộc đồng bào thiểu số, hẳn ít nhiều có quan hệ nhân chủng với nhân
tộc Khơ-me tại Căm-pu-chia (Campuchia) và với nhân tộc Môn ở Mi-an-ma (Miến
Điện - Myanmar), Thái Lan...''Ngữ hệ Môn - Khơ-me'' là thuật ngữ chỉ chung
cho cả trăm ngôn ngữ ở Đông Nam Á, có thể gồm cả nhánh ngữ căn Kinh - Mường.
Ngữ căn Kinh - Mường là một dạng biến thái, phát triển theo
hướng chi biệt hóa của hệ ngữ căn Môn - Chứt. Ngữ căn Môn - Chứt lại là một
nhánh biệt phái của ngữ hệ Môn - Khơ-me.
(Theo tư liệu ngôn ngữ học của
Ts. HD.).
3. Trích Đại Nam thực lục (Quốc sử quán triều Nguyễn, bản dịch
Viện Sử học, tập 35 & tập 36, Nxb. KHXH., 1976):
“Băi bỏ binh đội Lạc Hoá phủ Lư Nhân (thuộc Hà Nội). Tiên tổ
nước ấy trước là 2 đội Chiêm Hậu, Xiêm Hậu (đều là người man)
[có] tài bắn súng nỏ. Trước khi dẹp yên
cả nước, chúng hết sức theo việc nghĩa, sau để đóng ở Bắc Thành. Khoảng năm
Gia Long phái đến trấn Sơn Nam. Khoảng năm Minh Mệnh đổi tên đội thuộc vào
trấn ấy, sau đổi trấn làm phủ, vẫn theo phủ sai phái. Đến nay con cháu không
có nghề bắn giỏi, mà vỡ đất lập phường, cùng với người Kinh không khác, bèn
bỏ đi, cho vào sổ đinh chịu thuế ở phường Quy Lưu. (Năm Minh Mệnh thứ 20 đội
man ấy có đơn xin trưng 20 mẫu đất đất lậu. Năm Tự Đức thứ 3, chuẩn cho đặt
là phường Quy Lưu)”.
(ĐNTL., tập 35, đề mục
tháng 10 âm lịch
[1881], sđd., tr. 75).
“Nguyên phân sáp, an trí những
người Man, người Lạp làm dân, làm nô ở từ các tỉnh hữu kỳ về phía nam, trừ
người nào đă thành sản nghiệp, t́nh nguyện xin lưu ở lại nên cho, ngoài c̣n
dư, đều được thả, về quê cũ yên nghiệp”.
(ĐNTL., tập 36, sđd., đề
mục tháng 11
âm lịch [1883], tr. 27).
Trên đây là hai đoạn trích từ bộ sử thời Nguyễn do sử gia phong
kiến biên soạn. Do đó, trong hạn chế lịch sử – cụ thể, quan điểm miệt thị
nhân tộc (sô-vanh nước lớn) thể hiện rơ.
Riêng đoạn thứ hai, chúng tôi không chỉ đọc thấy một lần. Ở kỉ
đệ tứ, đệ ngũ, đệ lục, hầu như các tờ chiếu ban ân (ân chiếu) trong các dịp
đại khánh, đăng quang đều có điều khoản khoan hồng ấy. Chúng ta thừa hiểu
rằng:
a)
Theo luật nhà Nguyễn, tội lưu đày có nhiều
mức: tội càng nặng, đày càng xa quê hương bản quán. Trong đó, có nhiều đoàn
người Chăm (Chiêm), Xiêm (Thái Lan), Lạp (Chân Lạp, tức là Miên,
Cam-pu-chia, Kh’Mer) bị đày tít tận các tỉnh ở hữu ḱ về phía bắc (từ Thanh
Hoá ra đến Cao Bằng, Lạng Sơn). Và những người bị đày xa như thế đă không
được khoan hồng, phải vĩnh viễn ở lại ngoài đó, và
dần dần đă Kinh hoá. Ân chiếu chỉ khoan
thứ cho các đoàn “tội nhân” bị mức án nhẹ, bị lưu đày từ các tỉnh hữu ḱ về
phía nam (từ Thanh Hoá trở vào), nhưng vẫn có bộ phận đă xin ở lại, trở
thành người Kinh, v́ họ đă có cơ ngơi, sản nghiệp, chung sống thắm thiết.
b)
Thật ra, nói là “tội” cũng không đúng. Đó là
các đoàn dân, lính Chăm, Xiêm, Lạp bị bắt làm “chiến lợi phẩm” [!], tù binh
với hai mục đích:
- Hoán vị dân cư (đưa lính, dân Kinh vào phía Nam; đưa lính, dân Chăm, Xiêm,
Lạp ra phía Bắc) để khai hoang, lập ấp …
- Ổn định t́nh h́nh ở các vùng đất mới xâm lược được (từ Đèo Cả trở vào Cà
Mau).
(Chú
thích 3 này mới bổ sung
vào tháng 8.2002).
(*) Thời Nguyễn, lấy Thừa Thiên làm
kinh đô (có một thời gian dài dưới thời Tự Đức, gồm cả đạo Quảng Trị), lấy
Quảng Nam làm tả trực ḱ, Quảng B́nh làm hữu trực ḱ, lấy các tỉnh từ Quảng
Ngăi trở vào làm tả ḱ, các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra làm hữu ḱ).
TƯ LIỆU
tham khảo 1
54 NHÂN TỘC THUỘC CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAM:
Gồm có 08 nhóm ngôn ngữ:
1.
Nhóm Việt – Mường có 04 nhân tộc: Việt (Kinh), Chứt, Mường,
Thổ.
2.
Nhóm Tày – Thái có 08 nhân tộc: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng,
Sán Chay, Tày, Thái.
3.
Nhóm Môn – Khơ-me có 21 nhân tộc: Ba-na, Brâu, Bru – Vân
Kiều (hoặc chỉ gọi tắt là Bru), Chơ Ro, Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Giẻ-triêng, Hrê,
Kháng, Khơ-me, Khơ-mú, Mạ, Mảng, M’Nông, Ơ-du, Rơ-măm, Tà Ôi, Xinh-mum,
Xơ-đăng, Xtiêng.
4.
Nhóm Mông – Dao có 03 nhân tộc: Dao, Mông, Pà Thẻn.
5.
Nhóm Ka-đai (Kadai) có 04 nhân tộc: Cờ-lao, La-chí, La-ha,
Pu-péo.
6.
Nhóm Nam Đảo có 05 nhân tộc: Chăm, Chu-ru, Ê-đê, Gia
Lai, Ra-glai.
7.
Nhóm Hán có 03 nhân tộc: Hoa, Ngai, Sán-d́u.
8.
Nhóm Tạng có 06 nhân tộc: Cống, Hà Nh́, La Hủ, Lô-lô, Phù
La, Si-la.
Ngoài ra, c̣n có một nhân tộc mới được phát hiện ở Quảng B́nh vào đầu những
năm 1990: nhân tộc Rục (chỉ c̣n khoảng bốn chục [40] nhân khẩu), có lẽ thuộc
nhánh ngôn ngữ Việt – Chứt (nhóm Việt – Mường).
Theo Tạp chí Xưa & Nay,
số 216, tháng 07. 2004, tr. 40 và các tư liệu khác.
03.8.2004
(18.06 G. thân HB4)
TƯ LIỆU THAM KHẢO
2
(bổ sung vào năm 2001 & 2005)
1)
Dương Văn An, Ô
Châu cận lục, số A. 263, Thư viện Khoa học trung ương, Bùi Lương dịch,
Nxb. (?); Trần Đại Vinh, Ḥang Văn Phúc dịch, Nxb. Thuận Hóa, 2001.
2)
Đào Duy Anh, Đất nước
Việt Nam qua các đời,
Nxb. KHXH., 1964; Nxb. Thuận Hoá tái bản, 1995.
3)
Lê Quư Đôn, Phủ Biên
tạp lục, bản dịch Lê Xuân Giáo, UB.DT.PQVK. ĐTVH. xb., 1972.
4)
Nguyễn Đ́nh Đầu, Việt
Nam, quốc hiệu và cương vực qua các
thời đại, Nxb. Trẻ, 1999.
5)
Nguyễn Kiên, Nguyễn Cao
Lũy, Lịch sử 6, tái bản lần thứ 12, Nxb. Giáo Dục, 1999.
6)
Phan Khoang, Việt sử:
Xứ Đàng Trong, Nxb. Văn Học tái bản, 1996.
7)
Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng,
Các triều đại Việt Nam, bản in lần thứ 2, Nxb. Thanh Niên, 1995.
8)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam liệt truyện
(chính biên, sơ tập), tập 2, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hoá,
1993.
9)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam nhất thống chí, bản dịch Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh hiệu
đính, tập1 & tập 2, Nxb. Thuận Hoá, 1992.
10) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại
Nam thực lục, tiền biên & chính biên (trọn bộ), bản dịch Viện Sử học,
Nxb. Thuận Hoá, 1964 – 1978.
11) Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt
sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là Cương mục), tiền biên
và chính biên, bản dịch (2 tập), Tổ Biên dịch Viện Sử học (Hoa Bằng, Phạm
Trọng Điềm, Trần Văn Giáp), Nxb. Giáo Dục, 1998.
12) Quốc sử viện triều Trần & Sử quán triều Hậu
Lê, Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội
các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), dịch giả Ngô Đức Thọ, hiệu đính: GS.
Hà Văn Tấn, giới thiệu: GS. VS. Nguyễn Khánh Toàn, khảo cứu văn bản: GS.
Phan Huy Lê, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003.
13) Trần Quốc Vượng, Việt
Nam, cái nh́n địa – văn hoá, Nxb. Văn hoá Dân tộc, Tạp chí Văn hoá Nghệ
thuật liên kết xuất bản, 1998.
14) Trần Trọng Kim, Việt
Nam sử lược,
bản in lần thứ 5, Nxb. Tân Việt, 1954.
15)
Từ điển triết học,
bản tiếng Việt, Nxb. Tiến Bộ, Mát-x-cơ-va (Moscou) và
Nxb. Sự Thật, 1986.
16) Tạp chí Cửa Việt (TcCV.)
[liệt kê theo thứ tự số ấn hành]:
a)
Nguyễn Văn Ngọc, bài
“Xứ Cửa Tùng”, TcCv., số 9, 1991, tr. 72 – 77.
b)
Nguyễn Cửu Sà, bài “Về
nguồn gốc các giếng cổ ở Gio Linh”, TcCV., số 9, 1991, tr. 78 – 80.
c)
Nguyễn Văn Ngọc, bài
“Sự thành lập các làng cổ ở Quảng Trị”, TcCV., số 10, 1991, tr. 70 – 76.
d)
Mai Lĩnh, Tư liệu về
Quảng Trị, số 11, 1991, tr. 89 – 90.
e)
Nguyễn Lương, bài “Mấy
ư kiến về bài “Sự thành lập các làng cổ ở Quảng Trị””, TcCV., số 15,
1992, tr. 88 – 89.
f)
Lê Văn Thuyên, bài “Di
tích Chăm-pa ở Quảng Trị”, TcCv., số 16, 1992, tr. 84 – 86.
15) Tạp chí Văn hoá các dân tộc, số 9, 1999,
chuyên đề: Văn hoá Chăm.
(*) Tất cả các tác phẩm, soạn
phẩm biên khảo đă được xếp chữ vi tính, ấn hành trong phạm vi từ 10 đến 20
bản sách (gửi các toà soạn, nhà xuất bản, cơ quan khoa học lịch sử và một số
nhà nghiên cứu, bà con, bạn văn thân thiết), trong khi chờ giấy phép và điều
kiện để có thể xuất bản rộng răi. TXA.
NƯỚC MẮT CÓ VỊ NGỌT
tiểu thuyết
(năm truyện ngắn liên hoàn)
TRẦN XUÂN AN
1999
1. Tổ kiến màu đất (mở và kết).
7
2. Trên chuyến tàu lửa ra miền Trung. 22
3. Ân sủng của tự nhiên.
36
4. Huyết thống nhân tộc ấy thơm mùi hương hoa sứ trắng? 58
5. “Xuất gia”.
97
* Và một vài trang phụ lục.
115
GHI CHÚ THEO THỦ TỤC:
Xin được tạ ơn sự liêm khiết của trí tuệ…
Xin hăy bảo vệ, yêu thương, trân trọng những giọt mồ hôi của chất xám và
của trái tim trên trang viết …
TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN TỪNG CHỮ, TỪNG Ư TƯỞNG
CỦA M̀NH.
TRÂN TRỌNG
VÀ THÀNH THẬT BIẾT ƠN.
N G O À I S Á C H
N h ữ n g d ̣ n g d ư ới đ â y c h ỉ đ ư ợ c g
h i c h ú đ ể n h ớ,
c ầ n b ỏ đ i k h i đ ă n g b á o, t ạ p c h
í,
v à c ũ n g k h ô n g i n v à o s á c h :
INRASARA thân mến,
Năm truyện ngắn này, như Inrasara biết,
ḿnh nhờ anh Lê Kư Thương xếp chữ vi tính. Bấy giờ, ḿnh chưa có máy vi tính
ở nhà.
Nay ḿnh cũng chỉ sao bản từ đĩa mềm cũ và
dàn trang lại, đồng thời chữa những chữ cái khác “phông” (font). V́ không
rành “phông” VnTimes, ḿnh chữa bằng “phông” VNI-Times. Đó là các chữ:
Đ (ọ), Ồ, Á ([]), Ú ([]) và Ù.
V́ vậy, có thể chỉnh lại giúp (hoặc nhờ
chính anh Thương, khi xếp chữ cho Tagalau). Tuy nhiên, thế này cũng in và
đọc được.
Inrasara đă có bản
photocopy từ bản gốc vi tính của ḿnh, tiện thể nên đối chiếu lại giúp.
Thân mến. Cảm ơn.
06.08.2002
TRẦN XUÂN AN
N H ẬT K Í X Ế P C H Ữ & S Ử A C H Ữ A
·
Bản vi
tính thứ nhất do anh Lê Kư Thương và chị Cao Thị Kim Quy xếp chữ từ bản thảo
viết tay của Trần Xuân An, vốn theo hệ QuartXpress, font VnTimes. Nay tác
giả tự chuyển sang hệ Word 2000, vẫn giữ nguyên font VnTimes (và những ḍng
như thế này, theo font VNI-Times), để tiện dụng.
·
Trên trang
đầu cuốn tiểu thuyết gồm 5 truyện ngắn liên hoàn này, xin trân trọng đề thêm
lời tặng. Ở những trang cuối, cũng đă bổ sung thêm danh mục sách tham khảo
và danh mục sách đă được tác giả biên soạn, nghiên cứu, viết thêm trong các
năm: 1999 – 2002.
·
Tháng
4-2005, tác giả (TXA.) tự chuyển sang hệ mă Unicode, font Arial.
Ngoài ra, tất cả đều y
nguyên bản 1999.
Kính ghi.
TXA.
BỔ SUNG NGÀY 24 THÁNG 04, 2005
CHO TRUYỆN THỨ NHẤT (TỔ KIẾN MÀU ĐẤT):
…
Nghiệm có cảm giác đang nổi da gà. Anh đâm sờ sợ cái nh́n của
vợ. Chẳng lẽ loài người lúc nhúc và sống chui rúc như đàn kiến kia sao! Kiến
vàng, kiến đen, kiến trắng! Nhưng… - Nghiệm chợt khẽ giật ḿnh khi liên
tưởng trượt xa thêm một chút -, loài kiến không thể chung sống với nhau, nếu
khác màu! Chúng hơn loài người ở ư thức hoà b́nh, không gây chiến tranh xâm
lược, nhưng kém loài người rất xa ở chỗ không thể sống chung giữa các chủng
tộc vốn khác nhau về màu da. Làm ǵ có một tổ kiến chung sống hoà b́nh giữa
các loại kiến vàng, kiến đen, kiến trắng! Tuy vậy, Nghiệm lại mỉm cười, tự
bảo, ồ, cái nh́n của Quế Sương cũng có khía cạnh lạc quan đấy chứ! Nghiệm
định chia sẻ ư nghĩ vừa rồi với vợ, và đọc cho Quế Sương hai câu thơ Xuân
Diệu rất được nhiều người nhớ đến: “Không phải anh yêu đôi mắt, Anh yêu
cái nh́n của em”, để khuyến khích cô, hướng cái nh́n của cô về phía tươi
sáng, cho dù “lạc quan tếu” một chút, nhưng Quế Sương chợt hỏi:
- Mặt trời đâu anh?
- Trên bàn đó! - Bất giác, Nghiệm chỉ tay vào chiếc mũ
đỏ khá rộng vành của Quế Sương, chiếc mũ thường hắt xuống gương mặt cô một
sắc hồng mỗi khi đội lên -.
- Ồ! Tuyệt! - Quế Sương reo lên -. Nhưng anh có vẻ lạc
quan hơi quá đáng.
…
26-8-2005, BỎ BỚT VÀI D̉NG ĐỀ TỪ Ở
CÁC CHƯƠNG, SỬA CHỮA THÊM MẤY CHỖ …
H Ế T
Tháng 9 năm 2005,
gửi đăng trên Tạp chí điện tử GIAO ĐIỂM
– www.giaodiem.com --