TỆP 10
Phân đoạn 3
Truyện kí thứ năm
TRẦN XUÂN AN
BANG BIỆN KHÂM PHÁI HUYỆN THÀNH HOÁ VÀ NHÀ NGOẠI GIAO CHỦ
CHIẾN
Truyện kí thứ năm
(phân đoạn 3)
9
Cuối hạ tuần tháng năm, Đinh măo (19.05 nguyệt lịch, 20.06.1867),
những ngư dân và các gia đ́nh sống trên sông nước ở bến thuyền Vĩnh Long
thấy xuất hiện nhiều tàu chiến Pháp sau những loạt súng trường và đại bác
nổ ở phía cửa biển.
Nhân dân và binh lính nháo nhác, chuẩn bị tản cư. Nh́n cảnh tượng đó,
quan kinh lược sứ Phan Thanh Giản lập tức ra lệnh trấn tĩnh dân chúng và
quân binh. Ông cho người xuống bến thuyền để gặp người Pháp. Pháp cũng đă
chuẩn bị một phong thư viết bằng chữ Hán. Chúng trao cho lính của kinh
lược sứ. Họ tức tốc phóng ngựa về thành luỹ Vĩnh Long.
Phan Thanh Giản bóc phong thư niêm kín, bối rối đọc. Th́ ra, bọn
Pháp ở phủ suư Gia Định nhắc lại, chúng đă nhiều lần cho sứ giả đến kinh
đô Huế thương thuyết, để triều đ́nh Đại Nam giao hẳn cho chúng ba tỉnh
Miền tây Nam Ḱ, nhằm vun đắp
“t́nh hoà hiếu lâu dài (!)”,
nhưng nước ta không đồng ư (49).
Nay bọn Pháp cũng vin vào cớ cũ rích của chúng là nhân dân lục tỉnh thường
xuyên “quấy rối” (nhân dân gọi là
“khởi
nghĩa”)
chống lại chúng, để buộc Phan Thanh Giản giao ngay cho chúng Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.
Kinh lược sứ Phan Thanh Giản biết rơ ư định của chúng từ rất lâu: kế
tằm ăn lá dâu, người ta hay dùng chữ Hán là “tàm thực”. Chúng những muốn
nuốt trọng cả sáu tỉnh Nam Ḱ từ trước, nhưng khó bề một lúc lại nuốt gọn.
Do đó, chúng tính toán phải nuốt ba tỉnh Miền đông (Biên Hoà, Gia Định,
Định Tường) trước. Nuốt được ba tỉnh ấy, chúng hoàn toàn cô lập ba tỉnh
Miền tây, nhất là khi hai năm sau (1864) chúng nuốt được Cao Miên với
chiêu bài
“bảo hộ”, thực chất
“mọi việc đều do nước Phú Lăng Sa trông nom, tô thuế sai quan coi thu
rất nặng” (62). Ba tỉnh Miền tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên)
nằm cheo leo giữa hai hàm răng cọp dữ là bọn Pháp.
Không phải đến lúc này Phan Thanh Giản mới hiểu ra ông và cả Lâm Duy
Thiếp đă ngu ngốc như thế nào khi đặt bút kí vào
“hoà” ước Nhâm tuất (1862)
và cũng vô ích biết bao khi triều đ́nh nhiều lần đ̣i đổi ba tỉnh Miền tây để lấy lại ba
tỉnh Miền đông, hoặc ít ra là lấy lại Biên Hoà, Gia Định, hoặc ít nữa cũng
lấy lại được mỗi một Biên Hoà, và khỏi phải nộp hằng năm số tiền “bồi
thường chiến phí” ngược ngạo và khổng lồ (51). Pháp biết chắc ba tỉnh Vĩnh
Long, An Giang, Hà Tiên
“h́nh [thể] cách [ĺa], [địa] thế cấm [ngặt]”,
“cheo leo, trơ trọi”
kia
chúng chưa nuốt nhưng gần như đặt sẵn trước mồm cọp của chúng rồi. Chúng
không ngu ǵ lại đổi chác, trả Miền đông lấy Miền tây.
Phan Thanh Giản hiểu rơ, khi ông đặt bút kí “hoà” ước Nhâm tuất (1862) là vô h́nh trung
ông đă kí vào giấy nhượng
đứt cả sáu tỉnh.
Hơn nữa chấp nhận “bồi thường chiến
phí” là chấp nhận cho thực dân Pháp vét cạn kho tàng ngân
sách của triều đ́nh và bóp nặn hầu bao nhân dân, nghĩa là vô phương sắm
sanh, chế tạo vũ khí, đạn dược cùng các thứ quân nhu khác để kháng chiến.
Chưa kể điều khoản cho chúng tự do truyền “tả đạo” để mê hoặc nhân dân ta
bằng thứ tôn giáo đă bị xuyên tạc nhằm tạo nội phản.
Phan Thanh Giản trong mấy năm gần đây càng thấm thía cái được gọi là
“hoà” ước Nhâm tuất (1862). Tất cả đại hoạ của nước Đại Nam khởi đầu từ
“hoà” ước Nhâm tuất (1862) đó, cho đến khi mất luôn cả nước từ Cà Mau đến
Nam Quan. Thế th́ ba tỉnh Miền tây này đúng là đă mất từ năm Nhâm tuất
(1862) kia, chứ đâu phải đến tháng năm năm Đinh măo (1867) này!
Phan Thanh Giản đă già, không c̣n cưỡi ngựa được nữa. Ông ra hiệu
cho lính hầu cận mang vơng đến. Nằm trên vơng, một phương tiện di chuyển
khá sang trọng của quan chức già và các phú hào, ông bỗng thanh thản đến
lạ lùng. Chẳng c̣n ǵ để bàn luận nữa! Ra lệnh cho quân binh chống cự lại
Pháp ư? Vô ích! Cơ mật viện chả để nghị từ hồi tháng chín năm ngoái (1866)
đó sao:
“Tướng nước Pháp hoặc uỷ điều ước [mới],
bức lấy ba tỉnh, th́ đối với ta đă là vô t́nh, tưởng cũng không thể trách
bằng giấy tờ [mà] được. [Việc chúng bức chiếm] chỉ khiến ba tỉnh ấy một
ḷng chống giữ, hoặc sinh việc ngại khác. Xin tư cho quan kinh lược không
đánh nhau với quân Pháp, [mà] tự phải rút lui. [Khi] việc đă rơ ràng, th́
lấy ngay việc ấy cũng đủ làm cớ để nói. Nếu người Pháp bức lấy tỉnh Vĩnh
Long, th́ c̣n hai tỉnh An Giang, Hà Tiên, có thể dời đóng, hoặc bị người
Pháp bức lấy tất cả, th́ tất phải chuyển về B́nh Thuận để đợi lệnh triều
đ́nh. Đến khi ấy sĩ dân sáu tỉnh tức giận lũ lượt nổi lên, bấy giờ ta sẽ
tuỳ cơ định liệu. Lũ tôi nghĩ đi nghĩ lại, sự thế đến thế, tưởng phải nên
như thế” (52).
Vua Tự Đức vẫn một mực dụ cho ông phải đ̣i lại cho được ba tỉnh Miền đông, không để mất thêm ba tỉnh Miền tây:
“Trẫm ngày ngày mong tin ngươi thu lại ba tỉnh ấy, báo cho trẫm. [Lấy lại
được] th́ ngươi giả sử có chết cũng nhắm được mắt, trẫm [có chết] cũng yên
tâm. Không thế th́ [trẫm] cùng [với] ngươi cùng mang tội đến muôn đời,
không bao giờ chuộc được. [Khi chết xuống] hồn vía không tan cũng làm hùng
kiệt loài quỷ để mong báo [thù] mới hả. Nói đến đau ḷng không thể viết
được nữa. Tuy cách xa muôn ngh́n dặm, [trẫm] như nói trước mặt ngươi. [Thế
mà] ngươi c̣n không tin [ḷng trẫm], tự để lụy hay sao? Từ sau có trông
thấy, nghe tiếng [về việc ǵ] và trù tính việc ǵ đều tâu vào [tập tâu] cả,
chớ lại [toàn quyền định đoạt] như trước” (54), (63).
Đó là dụ của vua hồi tháng hai năm nay (1867)! Thật vô vọng!
Xuống tàu chiến của giặc Pháp, Phan Thanh Giản cũng nói
dăm điều may chăng vớt vát, mong chúng đừng cướp luôn kho tàng của ba tỉnh,
để lấy đó bù vào số tiền phải nộp khoản
“bồi thường chiến phí”
năm nay (1.000.000 đồng bạc) (64). Ông lên vơng về lại dinh. Giặc cũng đă ập vào bốn mặt thành. Ông
ra lệnh cho quân binh không một ai được nổ súng, rút gươm chống cự giặc
Pháp.
Tướng Pháp liền chiếm gọn tỉnh An Giang vào ngày kế đến,
hai mươi tháng năm (22.06.1867). Ba ngày sau, kể từ ngày mất Vĩnh Long,
hôm hai mươi ba (24.06.1867), cũng không một tiếng súng, đường gươm, chúng
nuốt luôn tỉnh Hà Tiên một cách rất khoẻ khoắn. Quan chức hai tỉnh đều bị
bắt về thành tỉnh Vĩnh Long. Và Pháp cho tàu thuỷ chạy ra Huế báo tin cho
triều đ́nh biết (64)! Kẻ nhận nhiệm vụ báo tin ấy, lại chính là cố đạo
Trường (Legrand de la Liraye) (65). Đó là tên thực dân đội lốt tôn giáo,
trước đây cùng Charles Duval làm quân sư, cố vấn cho tên Pierre Tạ Văn
Phụng ở Bắc Ḱ!
Quan kinh lược sứ Phan Thanh Giản chỉ c̣n viết sớ trần
t́nh, nhận lỗi, và xin gửi trả áo măo, sắc phong chức tước ra Huế. Ông
quay mặt ra Huế, lạy tạ, nhịn ăn để chết.
Vua cùng các quan bàn kế đánh giữ. Cứ ngỡ sự thể sẽ
diễn ra y như dự kiến của Cơ mật viện: dân sáu tỉnh Nam Ḱ lũ lượt nổi dậy
và triều đ́nh lần này quyết tâm đánh bật bọn Pháp ra khỏi Nam Ḱ. Nhưng,
rất tiếc là không một phản kháng nào! Tại sao? Phan Thanh Giản đă hiểu thị
cho dân Nam Ḱ lục tỉnh thế nào? Đ́nh thần chỉ mong vua xuống dụ cho quân
binh các tỉnh chỉ tăng cường pḥng thủ các tỉnh c̣n lại, từ B́nh Thuận đến
Cao Bằng, và giấu nhẹm nhân dân cả nước sự kiện đó.
Thật ra, trong khi đó, nhân dân lục tỉnh Nam Ḱ
“trông tin vua như trời hạn trông mưa” (66)!
Nhà vua cũng chỉ biết bảo quan đạo Phú Yên (ở tả ḱ) cứ ứng xử bằng cách khuyên họ nên theo
đúng phép tắc, khi được tâu rằng, giám mục, linh mục và tín đồ “tả đạo”
kiêu ngạo, khinh lờn, xin đuổi đi! Khi được tâu tàu thuỷ Pháp do thám B́nh
Thuận, vua cũng đành phải bảo, cứ ứng xử cho “thản nhiên” (67)!
Phải tự cứu lấy danh dự của ḿnh, theo như lời khẳng
khái và quyết liệt của Nguyễn Trung Trực,
“bao giờ c̣n một ngọn cỏ mọc trên đất Nam
Ḱ, th́ Nam Ḱ vẫn c̣n người đánh Pháp”,
phó đốc binh Lê Đ́nh Đường đă lănh đạo ba trăm nghĩa binh căn cứ Long Điền (thuộc tổng B́nh
Trị Thượng) phản công cuộc tập kích của thực dân Pháp (68). Lê Đ́nh Đường
hi sinh trong chiến thắng. Sự kiện lừng lẫy đó đă dẫn tới
“sự nổi dậy của toàn thể dân chúng”
Trà Vinh, như chính bọn Pháp nhận định. Ngay sau đó, Pháp tấn công Cầu Ngan, cũng kề
Long Điền. Nghĩa binh xông thẳng vào đội h́nh giặc, phản công và rút lui.
Nghĩa quân Trà Vinh c̣n kháng chiến chống Pháp đến những năm sau dưới sự
chỉ huy của tán lí Lê Văn Quân, đề đốc Triều, đốc binh Say…
“khiến cho người Âu sống ở đó phải kinh hồn táng đởm
đến cực độ” (68)
mà bọn Pháp phải ghi lại để nhớ!
10
Bang biện khâm phái Nguyễn Văn Tường lại được chỉ dụ của nhà vua cho
người do thám hành tung của bọn Pháp ở sông Khung (Mê Kông), điều mà từ
tháng mười một năm ngoái, Bính dần (1866), ông đă tâu vào kinh và có biện
pháp khai hoang giữ đất. Th́ ra, đoàn thực dân đi thám hiểm để thăm ḍ địa
h́nh, lưu lượng và dân t́nh ấy nay đă đến Nghệ An! Thổ mục Trấn Ninh (Nghệ
An), tên là Thiệu Ứng, ông ấy đă đi thám thính về, tâu vào triều:
“Người Pháp đi đến đâu [cũng] vỗ về, hậu đăi nhân dân”.
Dân tỉnh Quảng B́nh tâu báo:
“Người Pháp đóng [neo] thuyền ở bến sông Khung Giang; [tại] chỗ ấy [vốn có]
đóng đồn [, trước đây vua] sai canh giữ nghiêm mật, thổ man không dám [cho]
chúng đi” (69).
Những tin tức về ba tỉnh Miền tây Nam Ḱ ập đến cùng với sắc dụ do
thám bọn Pháp do tên Doudart de Lagrée và FranÇis Garnier cầm đầu không
phải quá bất ngờ. Tuy có cái ông đă biết trước nhờ tin thám báo, nhưng
cũng khiến Nguyễn Văn Tường bị chấn động trong đau xót và căm giận bọn
Pháp quỷ quyệt, giở tṛ mua chuộc dân để cướp nước.
T́nh thế của Đất nước không c̣n có thể phản công trừng phạt lũ ngoại
xâm nữa sao! Nguyễn Tri Phương c̣n nắm giữ Bộ Binh, Vũ Trọng B́nh c̣n nắm
giữ Bộ Lại, hai bộ quan trọng bậc nhất, cũng chả làm ǵ được nữa sao!
Không thể được, nếu trên Tổ quốc Đại Nam này, ai cũng dễ dàng trao dân,
trao Đất nước cho bọn thực dân rồi tự sát như Phan Thanh Giản, th́ vận
mệnh của Tổ quốc Đại Nam có c̣n tồn tại đến ngày nay với niềm tự hào như
Loa thành, như lời thề Hai Bà Trưng, như ư chí Bà Triệu, như bài thơ Nam
quốc sơn hà, như
Hịch tướng sĩ,
như B́nh Ngô đại cáo,
như
câu
nói khẳng khái và quyết
liệt
của Nguyễn Trung Trực?
Nguyễn Văn Tường vẫn kiên tŕ kế hoạch ba điểm và sáu điểm của ông
và Nguyễn Quưnh. Nó đă trở thành kế hoạch của triều đ́nh, vua chuẩn y và
cho triển khai. Ông đang chủ tŕ ở Thành Hoá này, nhưng luôn theo dơi các
tỉnh từ B́nh Định đến Nghệ An, xem các tỉnh ấy đă phân đoạn thượng đạo để
phối hợp khai mở như thế nào. Đă nhiều lần ông với những người lính tuỳ
tùng phóng ngựa vào Thừa Thiên, tiếp xúc, vận động đồng bào Cơ Tu ở A Sao,
A Lưới, ra Quảng B́nh, Hà Tĩnh bàn bạc với tổng đốc An – Tĩnh Hoàng Tá
Viêm, với bố chính sứ Ngụy Khắc Đản, cả với thuộc cấp trực tiếp đang tiến
hành. Ngụy Khắc Đản vốn là
người thổ trước (người chính gốc địa phương)
Nghệ An, v́
t́nh h́nh lương – giáo
cực ḱ mâu
thuẫn ở tỉnh ấy, nhà vua phải đặc biệt sử dụng ngoài lệ hồi tị để giải
quyết. Hồi tị là lệ không bổ nhiệm người chính gốc địa phương đảm nhiệm
chức quan ở địa phương ấy, nhằm tránh được t́nh trạng thiên vị, khó xử,
thiếu công bằng, khách quan. Nhưng, Ngụy Khắc Đản cũng như ông, trong
trường hợp t́nh h́nh đặc biệt, phải ngoại lệ. Ngụy Khắc Đản cũng đang làm
việc ở biên giới, lo mở thượng đạo xuyên Trường Sơn (70)…
Ông mở tấm bản đồ, nh́n rơ biên giới nước ta ở vùng Quảng Trị đến
Thanh Hoá, đất đai bản triều sát liền với sông Khung (Mê Kông). Những địa
danh khởi đầu từ chữ
Cam: Cam Lộ, Cam Linh, Cam Môn,
Cam Cát… và Trấn: Trấn Ninh ở Nghệ An, Trấn
Lao ở Thành Hoá này. Ông dừng mắt ở Động Phướn, Động Ba Màn và Núi Mang [Gông]
(71). H́nh dung những đỉnh núi cao chọc trời, thác liền thác đổ xuống như
phướn trắng treo cao, tưởng tượng lại từ kí ức không thể quên một mảy nào
các vách đá có vằn thớ, như sợi dọc sợi ngang của những tấm màn ngăn,
những chiếc mùng tránh muỗi sốt rét, và ông liên tưởng lại những người tù
khổ sai vốn là đầu mục giặc, mỗi lần đi làm ở công trường, ngang qua một
vùng cây cối rậm rạp, khe động gập ghềnh đều phải mang lại gông, qua khỏi
mới được mở ra, hầu như thành tục lệ (71).
“T́m người dũng cảm, nên t́m ở đám tội đồ”! Các sách binh pháp viết vậy. Vua Tự Đức
cũng có lần nói thế (72). Ngẫm cho sâu mọi lẽ, quả thật là đúng, nếu ta
biết
“lấy chí nhân mà thay cường bạo”.
Nhưng phải biết phân loại những kẻ tội
đồ, không biết phân loại là sẽ hỏng bét… Quan bang biện khâm phái Nguyễn
Văn Tường thấy thương biết mấy, tiếc biết mấy những tội đồ như hai người
học tṛ làng Tiên Lễ, làng Lệ Sơn của huyện Minh Chính, tỉnh Quảng B́nh
năm nào. Ông chợt muốn chữa lại câu binh pháp:
“T́m người dũng cảm, trí tuệ
vượt người thường đương thời, nên t́m ở đám tội đồ”!
Những ngày tháng sau sự kiện thực dân Pháp bức chiếm ba tỉnh Miền tây
Nam Ḱ, vốn gây chấn động lớn trong tâm trí ông và bao người khác, vẫn
phải trôi qua theo công việc cụ thể hằng ngày, những suy tư thường nhật!
Trần Đ́nh Túc vẫn phải ngày ngày lo khoi lại sông Vĩnh Định, tuyến đường
thuỷ nối Thừa Thiên với Quảng B́nh, chảy ngang qua quê nhà, nhưng lần này
là khoi đền bù v́ lần trước khoi thiếu kĩ thuật trị thuỷ (73)! Hoàng Tá
Viêm cũng khoi thêm đường thuỷ từ cửa biển Quảng Tuần đến bến đ̣ Linh
Giang (sông Gianh), từ Man Khê đến bến đ̣ Thuế Trường, Vĩnh Cảng ngoài
Quảng B́nh, Hà Tĩnh (74)…
Sau trận băo tháng tám theo lịch mặt trăng (nguyệt lịch) ở các tỉnh
phía Bắc và ở Thừa Thiên, Quảng Trị (75), khâm phái Nguyễn Văn Tường lại
nghe tin triều đ́nh đang tiến hành nghị xử vụ lục tỉnh Nam Ḱ! Vua Tự Đức
ban dụ tiến hành nghị xử theo nhận định bước đầu của chính nhà vua:
“Dụ rằng:
Sáu tỉnh ở Nam Ḱ bị mất [là do]: Bọn Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất
Hạp, Phạm Thế Hiển, Nguyễn Bá Nghi đánh giữ bất lực để mất trước. Phan
Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp nghị hoà coi nhẹ, bỏ mất, hỏng ở quăng giữa. Kế
tiếp lại lũ Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Đản vâng mệnh đi sứ
lại không được công trạng ǵ, bỏ mất ở sau. Từ đấy về sau lũ Phan Thanh
Giản, Trương Văn Uyển, Nguyễn Hữu Cơ, Trần Hoán nhân theo cẩu thả, hèn kém,
mất ở sau cùng. [Nay] giao nghị xử ngay, chờ quyết định!” (76).
“Khâm thử (hăy kính vâng dụ này)”.
Bang biện khâm phái Nguyễn Văn Tường dẫu biết sự thể nước
ḿnh cũng như Nhật Bản (các “hoà” ước 1842, 1858…) (22), cũng như Triều
Tiên, Trung Quốc nhà Thanh, Tây Tạng, Ấn Độ, Xiêm, Miến, Hạ Châu (Mă Lai),
Lữ Tống (Phi Luật Tân), cũng như các nước Hồi giáo Trung Á, Quách Nhĩ Kỳ (Népal),
Bố Đan (Brutan), Triết Mạnh Hùng (Sikkim), Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư (Iran) (22)…
Nhưng không thể không tiếp tục tiến hành kế hoạch thủ để chiến, pḥng thủ
để sẵn sàng chiến đấu, và chỉ có chiến đấu mới có thể giành lại nhân dân
và một phần Đất nước ở Nam Ḱ. Nghị “hoà” chỉ là cầm cự, và cũng chỉ là
cầm cự, hoặc chỉ sa vào ảo tưởng!
11
Vua Tự Đức rất đau xót và căm phẫn bọn Pháp về việc chúng bức chiếm ba
tỉnh Miền đông hồi năm Nhâm tuất (1862), rồi mới đây (Đinh măo, 1867), lại
bức chiếm cả ba tỉnh Miền tây Nam Ḱ. Nhà vua thấy cần phải chước nghị lại
“hoà” ước Nhâm tuất (1862) để mong c̣n gỡ gạc lại hai tỉnh Biên Hoà, Gia
Định!
Chọn người để lập phái bộ, vua suy nghĩ, lấy ư kiến của các đại thần.
Thượng thư Bộ Công Trần Tiễn Thành vừa thoát khỏi danh sách nghị xử, mặc
dù ông ta bị nhóm chống đối nghị
“hoà”
Hồng Tập (1864) kết tội tử h́nh, chỉ đứng sau Phan Thanh Giản! Đó là một điều lạ. Nhưng ngẫm lại, cũng may cho
Trần Tiễn Thành v́ ông ta chỉ có vai tṛ thứ hai trong việc bàn thảo rồi
đi đến nhân nhượng tục ước Aubaret (1864),
tục ước
“bảo hộ” lục tỉnh Nam Ḱ (77),
mà đ́nh thần, thân phiên thấy c̣n
đáng quan ngại hơn cả “hoà” ước Nhâm tuất (1862), nên cuối cùng băi bỏ,
vẫn giữ nguyên “hoà” ước Nhâm tuất (78)! Khi tục ước Aubaret không thành
th́ Trần Tiễn Thành vẫn xem như được vô can! Vả lại, vua Tự Đức h́nh như
có một thiên vị rất đặc biệt với kẻ chủ “hoà” này (79)!
Do đó, Trần Tiễn Thành được chọn làm chánh sứ. Vua Tự Đức vẫn theo
phương châm quân b́nh dịch học, muốn giữ tính cân bằng giữa “hoà” và thủ
với chiến và thủ chăng, nên theo ư của chính vua và cũng theo đề nghị của
Cơ mật viện, đ́nh thần, nhà vua chọn bang biện huyện vụ Thành Hoá Nguyễn
Văn Tường làm tuỳ biện. Vua Tự Đức vốn đă biết rất rơ về Nguyễn Văn Tường
từ hồi ông c̣n làm tri huyện và phủ doăn, lại rơ hơn trong hai năm làm
khâm phái bang biện gần đây.
Vua Tự Đức gặp mặt hai sứ thần của ḿnh với lời dặn kĩ lưỡng:
“Nước ta giao hoà với nước Pháp có định ước cũ. Nay việc bờ cơi
Nam
Kỳ nên phải chước nghị. Giấy tờ đi lại không bằng bàn ngay trước mặt”. “Đi
chuyến này không phải là toàn quyền. Mọi việc không được tự tiện quyết
định. Theo từng khoản bàn định thế nào, [phải] biên rơ, [để] khi về trả
lời” (80).
Vua Tự Đức lại bảo các quan hội đồng biên [chép] đúng điều ước mới
“để hoà hiếu được lâu dài”
(!) (80). Sau đó, căn cứ vào chức
trách được giao phó, nhà vua ban cho mỗi người một món bạc để chi phí
riêng.
Vua Tự Đức bảo Nguyễn Văn Tường:
- Trẫm đă biết tiếng của ngươi từ lúc ngươi c̣n làm tri huyện ở
Thành Hoá. Ngày ấy, thượng thư Vũ Trọng B́nh hiện có mặt ở đây c̣n đảm
đương chức phủ doăn kinh sư, họ Vũ đă chuyển tŕnh cho trẫm nhiều bản tấu,
sớ của ngươi. Sau này, lúc ngươi làm biện lí Bộ Binh, kinh doăn, rồi mới
hai năm khâm phái bang biện gần đây, trẫm đă gặp mặt, đă đọc và phê tất cả
các tấu, sớ ngươi đệ tŕnh. Trẫm rất mong ngươi tiếp tục phát huy ngày
càng cao, càng tài, chứ đừng thụt lùi lại. Như vậy là đă tri ngộ, chứ
không phải là vị ngộ, chưa biết, chưa gặp. – Vua Tự Đức mỉm cười, lại bảo
–. Trẫm luôn tâm niệm lời cầu hiền, cần t́m người hiền tài giúp nước, nhất
là trong lúc khó khăn, cam go này, ấy là
“ai tiến cử được người hiền tài, sẽ được thưởng hậu; kẻ nào che giấu người
hiền tài, tất sẽ bị giết” (81)… Mong rằng ngươi đi sứ chuyến này
sẽ không phụ
ân tri ngộ
của trẫm. Ngươi cố ra sức đàm phán bằng tất cả tài
năng ứng đối giỏi xưa nay của ngươi… Nay ngươi đang bị cách tuột chức hàm,
ta chỉ cho ngươi được làm chức năng
tuỳ
biện.
Đây là trường hợp rất đặc biệt, phó sứ của sứ bộ một triều đ́nh mà không có chức hàm nào tương xứng! Thường
thường, theo lệ, ít ra cũng phải cho ngươi được mượn hàm tham tri!… Tuy
vậy, vẫn cứ làm thật xứng với nhiệm vụ được giao. Ngươi hăy tuỳ theo bản
điều ước dự thảo của trẫm và thân phiên, đ́nh thần mà biện thuyết với bọn
rợ Tây dương. Nhớ thật kĩ lời dặn của trẫm.
- Tâu hoàng thượng, thần xin làm hết sức ḿnh v́ quốc thể và để đền
đáp ân tri ngộ của hoàng thượng. – Nguyễn Văn Tường thi lễ và đáp tạ –.
Theo ư vua, đây chỉ là cuộc đàm phán sơ bộ, sau đó sứ đoàn sẽ sang
Paris,
thủ đô nước Pháp, đàm phán tiếp. Nhà vua đă rút kinh nghiệm về Phan Thanh
Giản, Lâm Duy Thiếp, hồi ấy, hai kẻ đó đă quá lạm dụng quyền hạn
“toàn quyền đại thần”.
Từ nay về sau, không thể “toàn quyền”
như thế được!
Ngoài ra, cần người thông dịch, phải đành t́m ở các tín đồ Gia Tô.
Người được chọn là Nguyễn Đức Hậu, cửu phẩm hành nhân (82).
Những ngày cuối tháng chạp nguyệt lịch năm Tự Đức thứ hai mươi, v́
yêu cầu quá bức thiết của phía Pháp, không thể hoăn được đến sau Tết
Nguyên đán, phái đoàn sứ bộ gồm khâm sai đại thần Trần Tiễn Thành, tuỳ
biện Nguyễn Văn Tường cùng những người tuỳ tùng với một thông dịch viên đă
lên tàu thuỷ chạy bằng máy hơi nước của triều đ́nh, vào Gia Định. Tàu cập
bến Vũng Tàu (bấy giờ vốn thuộc tỉnh Biên Hoà) vào ngày đầu năm mới, Tết
Nguyên đán Mậu th́n, mùng một, tháng giêng (25.01.1868) (82).
Đô đốc De Lagrandière đón tiếp sứ bộ một cách lịch sự. Biết đó chỉ
là phép lịch sự trong nghiệp vụ ngoại giao, Nguyễn Văn Tường và chánh sứ
của phái đoàn cảm thấy không khí thật gượng gạo, không thể không bày tỏ
đây là một việc bất đắc dĩ. Cũng có người đă không thể ḱm ḷng, thốt lên
những lời cay đắng.
- H́nh như các ngài có điều ǵ bận tâm phiền muộn? – De Lagrandière
nói, khi y và hai sứ thần Đại
Nam đang ngồi đối
diện –.
Người thông ngôn của y dịch ra tiếng Việt.
- Làm thế nào để có thể vui, trong khi t́nh cảnh thật bất lợi và
thất thế đối với chúng tôi! Chúng tôi chỉ có thể vui, không phải bận tâm
phiền muộn, một khi ngài đô đốc De Lagrandière và nước Pháp của ngài thật
sự công bằng! – Nguyễn Văn Tường thấy Trần Tiễn Thành hơi lúng túng, vội
xin phép đỡ lời –.
Người thông ngôn của ta dịch ra tiếng Pháp.
De Lagrandière hơi nhếch bộ râu vàng hoe của y, nhưng kịp giấu nụ
cười nhạt.
Sau đó, bước vào buổi đàm phán thứ nhất.
Trong buổi này, Trần Tiễn Thành tố cáo sự bức chiếm ba tỉnh Miền tây
Nam Ḱ của Pháp. Cũng như mọi người, ông cho rằng Pháp đă vi phạm điều ước
Nhâm tuất (1862). De Lagrandière lại giở luận điệu cũ rích và ngược ngạo.
Y vẫn vin cớ nghĩa sĩ Nam Ḱ nổi dậy, nói theo ngôn từ của y là
“bọn phiến loạn luôn quấy nhiễu” (82)
và các quan Đại Nam luôn bao che, hỗ trợ “chúng”!
Và do đó, y cũng như các nguyên suư Pháp tại Gia Định trước đây quyết tâm
phải chiếm cứ ba tỉnh Miền tây Nam Ḱ ấy.
Như phương án đă sắp xếp, phân công trước của vua Tự Đức và triều
đ́nh, trong buổi thứ nhất này, chỉ một ḿnh chánh sứ Trần Tiễn Thành sẽ
tranh luận với phía Pháp. Lập luận của chúng, ta đă rơ từ lâu. Lí lẽ của
ta, chúng cũng không phải mới biết.
- “Rằng các quan Đại Nam đă đoán trước từ rất lâu, trước khi sự việc
xẩy ra lâu lắm, là sẽ không giữ được ba tỉnh Miền tây, [nhiều lắm cũng]
chỉ c̣n giữ một thời gian rất ngắn nữa thôi, bởi v́ đô đốc muốn bảo hộ xứ
Campuchia mà lâu nay ông
(83) vẫn đặt nhiều hi vọng. Đă thế th́ sớm muộn ǵ ông cũng thấy
việc chiếm ba tỉnh [ấy] là thuận tiện và rất có lợi, để dễ quan hệ với
Campuchia và kiểm soát vương quốc này dễ dàng hơn. Tuy nhiên, triều đ́nh
Việt Nam được yên tâm phần nào v́ lời lẽ của hiệp ước Nhâm tuất 1862. Hiệp
ước này cho phép Đại Nam trông cậy vào sự bảo vệ của Pháp để giữ ǵn ba
tỉnh chống lại ngoại xâm bất cứ từ đâu” (82).
– Chánh sứ Trần Tiễn Thành nói, và
ông ta nói tiếp
–. “Dù sao đi nữa việc đô
đốc chiếm ba tỉnh [Miền tây
Nam
Ḱ] là sự đă rồi. Các quan Đại
Nam
không hề có chút oán hận nào đối với một sự việc mà họ đoán biết từ lâu.
Tuy vậy, sự thật vẫn là: sự kiện ấy là tổn thất rất lớn cho Đại Nam…”
(82).
– Và chánh sứ Trần Tiễn
Thành yêu cầu người Pháp phải tôn trọng sự công bằng và lẽ phải, từ đó sẽ
đền bù cho Đại
Nam
một cách xứng đáng…
- Các ngài có thể nói thẳng những ǵ các ngài và đức vua của các
ngài yêu cầu! – De Lagrandière nh́n vào chánh sứ, phát biểu –.
- Đức vua và triều thần chúng tôi mong các ngài sẽ trao trả lại tỉnh
Biên Hoà!
- Không thể được, thưa ngài chánh sứ! Chúng tôi chỉ đề nghị nước Đại
Nam nhận số tiền
đền bù là hai triệu đồng. Trong hiệp ước mới bản thân tôi đă đề nghị như
vậy.
- “Cái tiền bạc hữu hạn, c̣n thổ địa th́ lại vô cùng” (82). – Trần Tiễn Thành nói nhanh –.
De Lagrandière lại xoay qua luận điệu cũ, rằng không thể trả lại cho
Đại
Nam một tấc đất
nào hết, v́
“bọn phiến loạn sẽ lại
quấy nhiễu”…
Cuối cùng y đề nghị lại một điều đă có trong hiệp
ước Nhâm tuất (1862), là sẽ giúp Đại
Nam tiễu phỉ. Tiễu
phỉ trên biển bằng tàu hơi nước chi phí không phải nhỏ!
Thấy chánh sứ Trần Tiễn Thành đă hơi xiêu ḷng, Nguyễn Văn Tường
liền tỏ ư muốn nói, và ông nói ngay:
- Tôi xin được phát biểu. – Tuỳ biện Nguyễn Văn Tường nói –. Về nạn
giặc Tàu Ô trên biển, lực lượng thuỷ hải quân chúng tôi thừa sức để trừng
phạt chúng (82). Thật không nên đem điều khoản đă có từ hiệp ước cũ để gọi
là đền bù cho việc bức chiếm ba tỉnh Miền tây! Và xin trở lại vấn đề từ
đầu, ai vi phạm hiệp ước Nhâm tuất ngay cả điều khoản này? Thử hỏi người
Pháp đă giúp ǵ cho Đại
Nam trong việc
tiễu phỉ từ năm Nhâm tuất 1862 đến nay? Đó là chưa nói sự vi phạm bức
chiếm ba tỉnh gần đây là quá tày trời…
- Tôi xin sẽ chiết tính phí tổn của mỗi lần tiễu phỉ theo yêu cầu
của Đại
Nam. Và mặt khác,
khi phía chúng tôi nhận được yêu cầu th́ quá muộn. Tàu chiến Pháp đến nơi,
chúng đă bị dẹp tan hoặc đă tẩu thoát rồi. – De Lagrandière nói –. Xin các
ngài thông cảm.
- Nói lại là không nên đem điều này để đặt vấn đề nữa! Chúng tôi
hiểu ư ngài đô đốc De Lagrandière nói, phải chăng ngài muốn nhân việc đền
bù bằng cách tiễu phỉ ấy mà yêu cầu được thường xuyên tuần tiễu trên bờ
biển của chúng tôi chăng? Thế là các ngài đền bù một cách quá khôn ngoan,
rất có lợi cho các ngài, và bờ biển chúng tôi lại bị vi phạm chủ quyền.
Xin nhấn mạnh, như thế là Đất nước chúng tôi bị vi phạm chủ quyền lănh
hải! Xin chấm dứt việc bàn bạc vấn đề tiễu phỉ trên biển này. Chúng tôi
chỉ muốn được giữ trọn vẹn Tổ quốc của chúng tôi, lấy lại cả sáu tỉnh Nam
Ḱ, mà quan khâm sai toàn quyền Phan Thanh Giản lỡ kí nhượng ba tỉnh Miền
đông một cách thất lợi và thất thế, hay yêu cầu thấp hơn là đổi ba tỉnh
Miền đông lấy ba tỉnh Miền tây, hoặc giữ nguyên hiệp ước Nhâm tuất 1862,
hoặc ít ra phải trả cho nước Đại Nam hai tỉnh Biên Hoà, Gia Định, chí ít
cũng một tỉnh Biên Hoà! Chúng tôi v́ yếu thế trước liên quân của các ngài,
nên đành phải nhân nhượng, từ nhân nhượng này rơi xuống nhân nhượng khác
một cách đau ḷng. Các ngài phải biết dừng lại tham vọng bất chính!
Buổi đàm phán thứ nhất đành phải tạm ngưng v́ lí lẽ đanh thép của
Nguyễn Văn Tường và chủ yếu là v́ đă quá trưa, vượt giờ giấc quy định.
Trong buổi đàm phán thứ hai, phía Pháp đề nghị cho một số
“nhân sĩ”
cam tâm làm tay sai cho chúng được vào bàn luận,
trong đó có tên nhà thơ đă bị thi sĩ cử nhân Phan Văn Trị dùng bút chiến
để vạch trần bản chất của y là làm nô bộc cho bọn ngoại xâm, ấy là tên đốn
mạt Tôn Thọ Tường. Ngoài ra, c̣n có một số tên tay sai người Việt mới được
thực dân Pháp đào tạo làm “viên chức” cho chúng (82).
Ngay phút đầu, chánh sứ Trần Tiễn Thành giới thiệu tuỳ biện Nguyễn
Văn Tường như một phó sứ và là nguyên phủ doăn kinh sư Thừa Thiên – Quảng
Trị! Ông ta đề nghị những người tham dự đàm phán nghe Nguyễn Văn Tường
nhắc lại các điều khoản của cái gọi là hiệp ước Nhâm tuất 1862 và các điều
khoản trong hiệp ước dự thảo mà vua Tự Đức cùng thân phiên, đ́nh thần đă
biên soạn sẵn (82).
Một cách khúc chiết và găy gọn, tuỳ biện Nguyễn Văn Tường tŕnh bày
dơng dạc với một giọng nói và cách nói dễ gây thiện cảm cho mọi người.
Trên môi ông luôn luôn có một khoé cười nhẹ, biểu thị bản lĩnh và tự tin.
Khoé cười của sứ giả thuyết khách chỉ bất giác tắt đi, trong những khi
thấy cần mở rộng các điều khoản cho dễ hiểu với giọng nói biện luận, ngữ
điệu trở nên hùng hồn hoặc bi tráng. Nguyễn Văn Tường cũng nhắc lại những
điểm thương lượng mà Trần Tiễn Thành quên, không nhớ hết. Thật ra, đó là
những điểm Trần Tiễn Thành bị hớ hoặc quá chịu lép vế trước đối phương.
- Quan chánh sứ của sứ bộ chúng tôi, Trần Tiễn Thành, trong buổi thứ
nhất có nói:
“Dù sao đi nữa, việc đô đốc chiếm ba tỉnh [Miền tây
Nam
Ḱ] là sự đă rồi. Các quan Đại
Nam
không hề có một chút oán hận nào đối với một sự việc mà họ đă đoán biết
trước từ lâu”.
Đó là một câu nói mà chúng tôi đă góp
ư ngay cho chánh sứ Trần Tiễn Thành sau buổi đàm phán thứ nhất. Xin nói:
Không thể là “chuyện đă rồi” được và càng không thể “không oán hận” một
khi Tổ quốc chúng tôi bị xâm chiếm, và phải nhân nhượng, trót kí hiệp ước,
rồi lại bị vi phạm hiệp ước! Do đó, những cái gọi là hiệp ước chỉ là giao
ước trong thế yếu tạm thời và chắc các người Pháp đứng vào địa vị người
Đại
Nam chúng tôi cũng
nghĩ là chúng chỉ có giá trị giao ước tạm thời. Mong rằng các vị hăy thử
h́nh dung nước Pháp của các ngài bị xâm chiếm và bị bọn ngoại xâm buộc
phải kí các hiệp ước như thế!
- “Cá lớn nuốt cá bé”!
Đời vốn thế, thưa ngài phó sứ Nguyễn
Văn Tường! – De Lagrandière trắng trợn nói –.
Những tên thực dân Pháp và các tên tay sai cho chúng thảo luận
từng điều khoản của hiệp ước mới và chúng bác bỏ cả nội dung lẫn h́nh thức
của văn bản dự thảo ấy!
Trần Tiễn Thành chỉ c̣n biết nói bằng giọng điệu van nài thảm hại.
Ông ta nhắc lại h́nh ảnh trong câu nói của vua Tự Đức hồi mới kí kết “hoà”
ước Nhâm tuất 1862: một người cha mất con, con t́m về, lại bị buộc phải
giao nộp cho kẻ bắt chúng (84) (82)!Người cha ấy là vua Tự Đức và con cái
chính là nhân dân t́m ra tị địa B́nh Thuận, là nghĩa binh Nam Ḱ. Nguyễn
Văn Tường thấy đó là một h́nh ảnh cảm động mà chính ông cũng ứa nước mắt,
nhưng vội ḱm lại nỗi yếu mềm trước đối phương đang lạnh tanh những nét
mặt sắt đá. Điều đề nghị cuối cùng của Trần Tiễn Thành là mong Pháp đồng
thuận chính sách “bảo hộ” ở sáu tỉnh Nam Ḱ, thay v́ chính sách thuộc địa
do người Pháp trực trị. Với chính sách “bảo hộ”, quan Việt cai trị người
Việt bằng pháp luật Việt, thu thuế cho Pháp, không thiếu một xu, như chính
người Pháp trực tiếp thu (82). Với chính sách trực trị kiểu thuộc địa, và
luật pháp của thực dân Pháp, nhân dân Nam Ḱ không thể chịu nổi sự hà khắc
và nhục nhă (82). “Bảo hộ”, đó chính là nội dung tục ước Aubaret 1864!
Trong thời điểm 1864 ấy, ta chưa bị mất cả ba tỉnh Miền tây!
Tuỳ biện Nguyễn Văn Tường thấy đến thế là đă cùng cực ô nhục cho
quốc thể. Đường đường sứ bộ của một nước có bốn ngàn năm văn hiến, từng
đánh bại đế quốc Nguyên – Mông hung hăn bá quyền cả thế giới, lúc này lại
phải van nài cho dân như thế. Nghĩa là cả quan lẫn dân đều làm trâu ngựa
cho Pháp! Nhưng ông cũng chẳng biết làm thế nào được! Trong thời điểm Mậu
th́n (1868) này, nội dung tục ước Aubaret 1864 lại xem ra c̣n dễ được sĩ
dân chấp nhận tạm thời, v́ mới xem ra, nhân dân Nam Ḱ đỡ tủi nhục hơn,
theo cách nói
thà người Việt làm đầy tớ người Việt, c̣n hơn làm đầy tớ bọn da trắng bạch tạng, bọn dạy người khác quên tổ tiên nguồn cội, chỉ
biết tôn thờ Nhi Nhu (Giê Su, Jésus) xa lạ!
Ông thấm thía một lẽ đơn giản: Phải chiến để đàm v́ mọi
đàm phán cũng vô ích nếu không có lưỡi gươm, viên đạn quân lực trên chiến
trường làm hậu thuẫn.
Tất nhiên De Lagrandière và những tên Pháp có mặt tại đó đều phản
đối, bác bỏ đề nghị phương án “bảo hộ” cho lục tỉnh! Chúng đang hớn hở v́
vớ bẫm túi tiền nhân dân Nam Ḱ, một phần nhét vào túi riêng mỗi đứa, một
phần đưa về nước Pháp để tâng công, thăng chức. Bọn Pháp ở Paris đang cụng
chén sâm banh (Champagne) trước chiến thắng trong việc xâm lược ba tỉnh
Miền tây Nam Ḱ tại Viễn Đông, chiến thắng mà không tốn đến dăm, bảy viên
đạn!
Chúng không chấp thuận một nhân nhượng nào cho phía Đại Nam, ngoài
việc De Lagrandière hứa hẹn với Trần Tiễn Thành rằng chúng sẽ chỉ giảm cho
số tiền “bồi thường chiến phí” (82) khổng lồ và ngược ngạo, số tiền ta
phải trả cho kẻ xâm lược ta, bắn giết ta, gây nên cảnh nồi da xáo thịt
trong nước, và trước mắt là chúng uy hiếp, khống chế để bóc lột nhân dân
Nam Ḱ, đồng bào ruột thịt của ta, tận xương tuỷ!
Sứ bộ Đại
Nam đă biết trước
kết quả sẽ bằng không, nhưng biết làm thế nào được! Nguyễn Văn Tường chợt
thấy nực cười đến muốn khóc lên trước cái gọi là nghị “hoà”!
Sứ bộ lên tàu thuỷ về Huế vào những ngày đầu tháng hai theo lịch mặt
trời, lịch Nhi Nhu (Jésus), 1868. Đó là những ngày Tết Nguyên đán chưa hạ
cây nêu!
Khi xuống tàu, một người dân ở bến thuyền nói như hét:
- Trần Tiễn Thành! Nghe đây! “Người khách” th́ lo làm khách, chớ
tranh làm chủ! Nước Đại
Nam này không phải
thiếu người! Hăy nhớ thuyết chính danh định phận!
Kẻ vừa bắc loa tay nói như hét ấy chạy nhanh vào chợ, biến mất. Toán
lính toan chạy theo bắt lại, nhưng quan chánh sứ Trần Tiễn Thành chỉ lắc
đầu, đỏ bừng mặt, nghẹn giọng, bởi ông ta biết chạy theo để bắt người ấy
là vô ích! Là một người khôn ngoan, ông không muốn để cái sảy nẩy cái ung!
Ông chỉ biết hăm doạ những người lính theo hầu cận phái đoàn với giọng rất
khẽ:
- Về kinh đô Huế, chúng mi đừng bao giờ kể lại chuyện ni nghe! Hăy
liệu cho cái đầu trên cổ mỗi đứa chúng mi!
Thật ra, chánh sứ hiệp biện đại học sĩ, thượng thư Bộ Công Trần Tiễn
Thành c̣n ngầm răn đe những quan chức khác trong sứ bộ Đại
Nam.
Khi tàu thuỷ ra đến biển khơi, quan hiệp biện đại học sĩ cũng chẳng
nói ǵ. Ông ta đăm chiêu nghĩ ngợi. Không phải lần đầu tiên ông nghe đến
hai chữ “người Khách” hoặc “Hoa kiều”.
“Kiều” có nghĩa là khách trú mà thôi. Chính bản thân ông và người Hoa, kể cả số người Hoa được gọi là Minh
Hương, đều nói thế, và luôn tâm niệm “nhất
thịnh phạn, bất vong cố quốc”,
không bao giờ quên nước cũ, Tổ quốc của ḿnh là Trung Hoa. Thế mà…
Cứ h́nh dung người Đại
Nam cho ḿnh ở
trọ, với sự xác định rơ chủ là chủ, khách là khách, bỗng dưng ḿnh đ̣i làm
chức này, vai nọ, thậm chí có nhiều kẻ c̣n khuynh loát trong nhà người ta!
Vậy cũng thật khó coi, thật vô đạo lí! Nhưng, ông biết rơ có những Hoa
kiều đă bảo nhau:
“Đời mà! Ở đâu, kiếm chác được ǵ, cứ ở! Lúc
nào kiếm chác được ǵ, cứ kiếm chác!”.
Trần Tiễn Thành nhếch mép cười một ḿnh! Ông cảm
thấo”những Hoa kiều ấy thật đáng trách. Bản thân ông, ông tự nhủ, Tổ quốc
ḿnh là Trung Hoa,
nhưng dân và nước Đại Nam này cho tổ tiên ḿnh và chính ḿnh làm khách trú, ở trọ, chỉ chừng đó thôi ḿnh cũng
phải sống cho đúng
ân
nghĩa.
Và ông tự hỏi, sao ḿnh và những Hoa kiều không
giữ đúng
thuyết chính danh định phận?
Chính tuyệt đại đa số người Việt mới yêu Tổ quốc Đại
Nam này của họ một
cách sâu sắc nhất.
12
Thời điểm đàm phán bị Pháp bức ép, ngay ngày Tết Nguyên đán, chứng
tỏ chúng thiếu tinh thần tôn trọng văn hoá của dân tộc khác. Nội dung cuộc
đàm phán cũng không mang đến một kết quả nào. Thực dân Pháp chỉ muốn chúng
hoàn toàn có lợi và ngày càng có lợi nhiều hơn!
Non hai tháng sau, Trần Tiễn Thành bị giáng xuống một bậc, tả
tham tri Bộ Công. Tuy thế, ông ta vẫn được giữ chức năng thượng thư bộ ấy
(85). Nhưng Nguyễn Văn Tường lại được vua và thân phiên, đ́nh thần đánh
giá cao. Đó là nghị luận, b́nh xét về cuộc đi sứ, đàm phán vào dịp áp Tết
và đúng ngày Tết cổ truyền mừng năm mới của nước ta.
Vua Tự Đức thấy cần chủ động đặt vấn đề tiếp tục đàm phán, nhưng
chưa biết phải tiến hành thế nào để khỏi tốn công vô ích.
Phủ suư Pháp tại Gia Định từ sau ngày bức chiếm được ba tỉnh Miền
tây Nam Ḱ, chúng đă dự thảo “hoà” ước mới,
“định lại điều ước mới, đem tờ thay đổi đến bắt ta phải đóng ấn
kí tên” (86)
như Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp đă làm! Phủ suư Pháp c̣n đề nghị
triều đ́nh Đại
Nam
cử luôn sứ bộ cùng y sang
Paris
để định ước.
Vua Tự Đức và triều đ́nh đă thảo luận, đề ra mục đích của chuyến đi
sứ này: Trong sáu tỉnh Nam Ḱ bị Pháp bức chiếm, phải biện thuyết thế nào
để chúng trả lại ba tỉnh, đồng thời hoàn toàn băi bỏ điều khoản về số tiền
“bồi thường chiến phí” khổng lồ và ngược ngạo. Lần này, vua cùng đ́nh thần
cũng bàn việc đề cử. Thượng thư Bộ Lễ Nguyễn Văn Phong, người Tuy Viễn,
B́nh Định, có văn tài rất hứa hẹn là văn tài lớn nhưng thi hoài không đỗ
(87), làm chánh sứ. Tả thị lang Bộ Lễ, sung làm việc ở Nội các Phan Đ́nh
B́nh, người huyện Quảng Điền, Thừa Thiên, hội nguyên tiến sĩ khoa Bính
th́n (1856) (88), làm phó sứ. Và bồi sứ, nhân vật thứ ba của sứ bộ, là
bang biện khâm phái Thành Hoá, cử nhân Nguyễn Văn Tường, người vừa được
gia hàm thị độc học sĩ (chánh tứ phẩm) trong dịp này. Sứ bộ không những
sang thủ đô nước Pháp mà c̣n đi các thủ đô nhiều nước ở châu Âu, như Anh,
Tây Ban Nha để vận động ủng hộ Đại
Nam (86).
Khi được chiếu chỉ triệu về triều phụng mệnh sung vào sứ bộ,
Nguyễn Văn Tường đau ḷng cảm thấy việc đó cũng chỉ vô ích. Với kinh
nghiệm sau nhiều lần chứng kiến sự đàm phán ngoại giao ở Huế cũng như trực
tiếp biện thuyết ở Gia Định vừa rồi, Nguyễn Văn Tường đă đau xót thấm
hiểu, không
chiến và thủ, sẽ không đàm được ǵ hết. Thắng lợi ở bàn
đàm
phán là do chiến và thủ có kết quả ở mặt trận.
Nguyễn Văn Tường và mọi người, từ quan đến
dân, đều hiểu điều đó. Đàm phán với ư thức giữ ǵn quốc thể của một nước,
không thể van nài, kêu xin bọn thực dân rũ ḷng thương hại được. Chính
trong dịp Tết Nguyên đán Mậu th́n (1868) vừa rồi, ông đă thấy tận mắt và
thấm thía điều đó. Vả lại, đây là âm mưu của bọn tướng tá Pháp và tay sai
của chúng tại Gia Định. Chúng chỉ mong triều đ́nh nước ta kí vào “hoà” ước
mới để chúng được hợp thức hoá chủ quyền trên cả lục tỉnh Nam Ḱ. Triều
đ́nh đă bị nhân dân Biên Hoà, Gia Định, Định Tường kết án là “khí dân”, bỏ
rơi dân trong tay bọn cướp nước. Nay nếu bị mắc mưu chúng lại kí tiếp, th́
chứng tỏ triều đ́nh đă cam tâm nhượng đứt, nếu không muốn nói là “bán đứt”
để mua thời gian cầm cự. Thực dân Pháp cầm được “hoà” ước mới, sĩ dân ba
tỉnh Miền tây Nam Ḱ sẽ hết đường ăn nói với bọn chúng, không biết vin vào
đâu để đấu tranh bằng h́nh thức này hay h́nh thức khác với chúng. Thực ra,
sứ bộ không thể đàm phán theo mục tiêu của triều đ́nh là buộc Pháp trả lại
ba tỉnh trong sáu tỉnh và xoá bỏ khoản “bồi thường chiến phí” được! Muốn
đàm phán đạt mục tiêu ấy, sĩ dân phải lũ lượt nổi dậy, quân binh triều
đ́nh phải tấn công đánh bại chúng ở nhiều nơi, với nhiều trận thắng.
Nhưng, thực tế trận mạc là đáng buồn!
Dă tâm của bọn phủ suư Pháp tại Gia Định là chúng chỉ muốn ép ta, lừa ta
chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán mà thôi! Ai chẳng rơ điều đó. Nhưng hơn ai
hết, Nguyễn Văn Tường quá hiểu điều này. Ông xác định rơ và c̣n phải xác
định măi: Nếu
không chiến và thủ th́ đừng đàm phán, thương thuyết làm ǵ! Chỉ tốn công
vô ích.
“Hoà” nghị để lấy lại ba tỉnh đă mất và khỏi “bồi thường chiến phí”, khoản “bồi
thường” theo yêu cầu ngược ngạo của chúng, chỉ là ảo tưởng! Kinh nghiệm
lịch sử đă bao đời đúc kết: Đấu tranh bằng phương thức “hoà” nghị, lấy lẽ
phải, đạo lí để đấu tranh với tham vọng cuồng bạo là ảo tưởng, trong t́nh
huống cán cân lực lượng, giữa chính nghĩa chống ngoại xâm là ta và phi
nghĩa thực dân là địch, quá chênh lệch!
Vào đến Huế, ông viết ngay bản sớ kính tŕnh vua Tự Đức, với sự đồng
thuận của Nguyễn Văn Phong, Phan Đ́nh B́nh:
“Ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên đă vào trong
bụng người, h́nh [thể] cách [ĺa], [địa] thế cấm [ngặt], ta đă khó giữ
được, mà người Tây cũng coi là vật ở trong túi. Năm trước Dô Du Anh Đê
[-Luy] [Drouyn de Lhuys, ngoại trưởng nước Pháp – ct.] thường cùng Phô Na
[Bonard – ct.] từng đến yêu cầu ta giao cho. Gần đây Gia Lăng [De
Lagrandière – ct.] lại nói là sáu tỉnh ấy không thể cắt đứt được. [Xem
thế] th́ mưu kế thôn tính, tưởng [vua, tướng] nước ấy cùng hội bàn [với
nhau] từ lâu. Tỉnh Gia Định hiện nay, sửa sang nền nếp đă thành, nước ấy
mới lấy đấy làm thế trọng yếu. Tuy ta có phí nhiều lời khúc chiết, [chúng
– ct.] đâu có chịu bỏ. Nếu [chúng] hư ứng [:vờ đồng ư], nhất thời nhường
giả ít nhiều, rồi [chúng] lại bội ước mà lấy, tưởng cũng như việc tỉnh
Vĩnh Long trước mà thôi. Huống chi sinh việc cầu công [:gây việc ḥng lập
công] là thói thường của quan ở biên giới [:biên thần; ở đây, chỉ tướng
Pháp tại Gia Định thuộc Pháp – ct.], mà ghen công tranh giỏi cũng là ḷng
người tất có. Tướng Pháp mà c̣n ở lại Gia Định, th́ sứ thần đến thẳng [Ba
Lê (Paris)
– ct.] làm việc quyền nghị, hoặc [:có thể] c̣n có cơ; nay hắn đến [Ba Lê
(Paris) – ct.] trước, thêu dệt che đậy, [vua] nước ấy tất uỷ cho hắn cùng
nói [:đàm phán] với ta. Nếu hắn vẫn [c̣n] có ḷng tốt th́ trong khi bàn
nói ở Gia Định, tưởng [hắn] đă làm điều hay cho người, để ơn về ḿnh, đâu
phải đợi [sứ thần nước ta] đến nước ấy mà để cho người khác cướp mất cái
tốt ư? Xem thư hắn gửi đến, thứ nhất th́ nói rằng: không phải nói nữa; thứ
hai th́ nói rằng: có hắn ở đấy [:Paris]
để cùng chước định; [xem thế,] th́ ư cự tuyệt [hắn] nói
kín đă rơ. Về việc [ta yêu cầu Pháp] nhường trả đất đai, mười phần đă khó
dắt lời. Nếu hoặc nước Tây [:Pháp] đă lợi về đất đai, mà tha hết tiền bồi
thường, th́ đường đường sứ bộ một nước mà cầu xin chỉ có bốn mươi vạn
(400.000) đồng! [Với chừng đó], không kể không đủ tiền phí tổn, mà ư kiến
[về sự] nhỏ mọn [kia] đồn vang, e [rằng sẽ đến nỗi triều đ́nh ta] bị nước
láng giềng ḍm dỏ [xem thường hoặc mưu thôn tính]. Sự t́nh [nếu] đến thế,
thực đáng ngại.
Trộm nghĩ, từ xưa nghị hoà, yếu mà xin hoà th́ có. Nước Pháp đối với ta,
[chúng đang] chiến thắng, đánh đâu được đấy, th́ khó ǵ mà [chúng] cùng ta
ước hẹn [:giao ước]! [Chẳng qua] bởi v́ [bọn Pháp] vượt mấy lần biển mà
đến, ở đất nước ta, [chúng] thấy sĩ dân ta phần nhiều đem ḷng ngờ vực
[chúng], cho nên [nước Pháp – ct.] tất muốn được khoán ước [:“hoà” ước]
của ta, cho khiến nước ta tự nhận là trái, [và] để
[ta –
ct.] cô phụ [:bỏ mặc trong cô lập – ct.] tấm ḷng mong mỏi
của sĩ dân. Không thế th́ hoà ước năm trước, rơ ràng biết là nhường nào,
mà nay [chúng] cho là hư văn hết, [chúng] lại cầu [mong] định lại [“hoà”
ước]. Một lần [định ước] đă là quá lắm, c̣n làm lại sao được! Thà rằng [cứ
để cho
bọn Pháp – ct.] tạm bợ mà thành [:không có khoán ước (tức là không có
“hoà” ước) – ct.], mối lo [của Pháp, khi chúng chiếm cứ ba tỉnh Miền Tây –
ct.] không ǵ lớn bằng [v́ dân lục tỉnh c̣n có cớ nổi dậy – ct.] .[C̣n
nước ta, việc chấp nhận kí kết “hoà” ước] sao bằng không thể giữ được th́
bỏ đi, mà [không kí kết th́ c̣n có lí lẽ để] lo toan về sau.
[Xin trộm nghĩ, ngay] kinh sư là nơi căn bản, đồn
luỹ đă kiên cố chưa? [Cả nước] khí giới đă sắc bén chưa? Chí quân ḷng dân
đă hăng hái chưa? Đường thuỷ, đường bộ pḥng bị đă chu đáo, bền vững chưa?
[Tỉnh B́nh Thuận đương xung yếu, các tỉnh khác cũng có hải phận – ct.
(86)]. Lương quân, khí giới làm sao cho đầy đủ?
Hào mục, sĩ dân làm thế nào cho cố kết? Chỗ nào hiểm yếu mà phải giữ th́
phải canh giữ bằng cách nào cho tất bền vững? Hoặc nên
đặt viên quan chuyên trách để uỷ làm việc ấy, hoặc nên sai người địa
phương để cho [dễ] am hiểu. Phàm những việc ấy tưởng nên tính kĩ, cho thi
hành ngay, ngơ hầu khỏi ngại về sau. Hoặc thế của ta c̣n có thể đợi, xin
[đức vua] làm quốc thư, [và] cả thư của viên Thương bạc, mỗi thứ một bức,
đưa cho tướng [Pháp] ấy, xem nước ấy trả lời thế nào mới được” (86).
Vua
Tự Đức sau khi nghiền ngẫm, suy nghĩ và bàn bạc với Cơ mật viện, thân phiên, đ́nh thần xong, liền
vời Nguyễn Văn Tường cùng hai sứ thần kia vào điện Cần Chính để hỏi thêm ư
kiến.
-
Ngươi, Nguyễn Văn Tường! Trẫm cùng các đại thần đă đọc rất kĩ bản sớ của
ngươi. Trẫm nghe nói, nhiều kẻ ở ngoài cũng có ư kiến như vậy. Ngay cả tên
giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ, mấy tháng trước và cách đây mươi ngày nằng nặc
kiến nghị lập sứ bộ đi Pháp, bây giờ cũng đổi ư kiến, xin băi bỏ chuyến đi
sứ (89). Nhưng trẫm biết, những kẻ kia và tên Nguyễn Trường Tộ cũng nhận
định t́nh h́nh là bế tắc nhưng nói điều đó với mục đích khác, ư hướng
khác. C̣n ngươi, ngươi phân tích rất sâu, vạch trần rất rơ âm mưu của bọn
rợ Pháp ở Nam Ḱ. Đúng như ngươi nói, Gia Lăng (De Lagrandière) chỉ muốn
lừa sứ bộ ta sang Pháp, trong khi hắn đă về trước để đấu hót trước rồi!
Hắn ngỡ trẫm lại một lần dại dột nữa như hồi cử sứ bộ Phan Thanh Giản, Lâm
Duy Thiếp! Đúng như bản sớ của ngươi, quả thực dă tâm của chúng là muốn ta
lần này lại kí kết “hoà” ước để “khí dân” (bỏ rơi dân), “cô phụ” (bỏ
mặc trong cô lập) ḷng mong mỏi của dân ba tỉnh Vĩnh Long, An
Giang, Hà Tiên, để rồi đến khi chúng đă cầm “hoà” ước mới trong
tay, chúng tha hồ thao túng, bóp nặn dân, dân chẳng biết kêu ai, vin vào
đâu để c̣n chống đỡ được chúng. Đúng như ngươi viết trong bản sớ, ta quyết
không kí thêm một “hoà” ước nào nữa. Chúng bức chiếm ba tỉnh rồi cả sáu
tỉnh, chứ ta không thuận, lại không kí kết ǵ thêm cả, để sau này ta c̣n
có lí lẽ mà tranh biện với chúng và với công luận các nước. Trẫm c̣n thấy
đúng như bản sớ ngươi viết, chúng nuốt vào họng rồi, ta khó bề moi ra
được. Muốn lấy lại sáu tỉnh hoặc ba tỉnh ấy, chỉ c̣n một cách là chém đầu
nước Pháp, mổ bụng moi ra! Nhưng ta chưa đủ sức! T́nh h́nh Bắc Ḱ lại rất
nước sôi lửa bỏng!
Nguyễn Văn Tường thi lễ và tâu:
-
Tâu hoàng thượng, không thủ để chiến th́ không thể đàm phán được.
Vả lại, vận động rợ Anh Cát Lợi, rợ Tây Ban Nha và các nước Tây Âu thế nào
được trong khi chúng đang liên minh với nhau để xâu xé nước ta và các lân
bang da vàng máu đỏ láng giềng với nước ta. – Nguyễn Văn Tường lại tiếp
tục tâu –. Nhưng thần cũng kính mạn phép tŕnh bày trong sự ngu dốt của
thần, kính mong được bệ hạ soi sáng thêm. Muôn tâu hoàng thượng, thủ để
chiến và chiến được mới đàm được với bọn rợ Pháp. Điều đó thần không dám
nói suông. Thần đă kính tŕnh bày ở đoạn kết của bản sớ rồi ạ. Và, về t́nh
h́nh Bắc Ḱ hiện nay, ít nhiều thần cũng có biết đến. Muôn tâu…
-
Trẫm và các đại thần c̣n biết t́nh h́nh lương – đạo ở các tỉnh, đạo thuộc
hữu trực ḱ, hữu ḱ nay lại gay gắt lắm! Nay mai thượng thư Vũ Trọng B́nh
lại c̣n phải ra kinh lí, trấn dẹp, vỗ về ngoài ấy…
Vua
Tự Đức nghe theo bản sớ ấy của Nguyễn Văn Tường, sai
viên Thương bạc viết thư cho tướng Pháp, rồi lại phát quốc thư đưa đến
nước Pháp. Nhà vua cũng bảo Nguyễn Văn Tường trở về Cam Lộ làm việc như
cũ (86).
13
Thế là gần đúng hai năm dài, Nguyễn Văn Tường về Thành Hoá làm bang biện khâm phái.
Dẫu
sao, ông cũng mở thêm được một con đường để Thành Hoá thoát khỏi thế độc
đạo và dễ bị cô lập, đồng thời đă tâu xin và được chuẩn y để cùng các tỉnh
tiến hành mở con đường thượng du xuyên Trường Sơn, nối B́nh Định với
Nghệ An và nhiều tỉnh khác. Huyện Thành Hoá (Cam Lộ, Hướng Hoá,
Đắc Krông) đă được mở rộng phạm vi địa bàn và số lượng dân cư. Cùng với
thượng đạo xuyên Trường Sơn, ông đặc biệt tâm đắc với những làng gia binh,
“ngụ binh ư nông, ngụ binh ư lâm” tại đây, quê hương thứ hai của
ông. Những làng gia binh ấy hoàn toàn là lính tuyển mộ thuộc các cơ Định
biên, vơ nghệ giỏi, tư cách đạo đức và sức khoẻ tốt. Đó là lực lượng cơ
bản. Ông cũng cảm thấy rất vui ḷng với những làng tự tân. Thực tế
cho thấy, trừ những kẻ can phạm đáng tội chết và đă bị niết ty (dinh án
sát), Bộ H́nh xử tử h́nh, thực sự những tù phạm chỉ ở mức tội đồ, án đày
ải khổ sai tột bậc là ba năm, trong thực tế họ rất dễ được cảm hoá. Và
cũng thực tế cho thấy, có nhiều phạm nhân ông phải giấu ḷng kính trọng
trí tuệ và tâm huyết của họ đối với Tổ quốc như Lương Trợ Lư, Hoàng Hữu
Phu (90).
Dẫu
sao, ông đă đổ mồ hôi sôi nước mắt, đội mưa lội bùn với nhân dân và đất
ruộng, núi rừng Thành Hoá.
Dẫu
sao, nơi đây đă hoàn toàn có thể là một căn cứ địa kháng chiến chống Pháp.
Chín năm hơn, một huyện miền núi ấy!
Gần
hai năm, cũng một huyện miền núi ấy!
Thế
mà nay mai ông phải từ giă để lần này ra Bắc, lao vào trận mạc. Luyến
tiếc, thương mến, nhưng ông không thể không từ giă nơi đây để thật sự cầm
gươm xung trận.
Trong năm Tự Đức thứ hai mươi mốt, Mậu th́n (1868) này, từ tháng hai,
trước khi ông được chiếu chỉ vào kinh sung vào sứ bộ mà ông đă dâng sớ xin
thôi, Nguyễn Văn Tường đă biết t́nh h́nh phía biên giới Bắc nước ta rất
gay gắt với nạn giặc Cờ và phỉ, trong đó các tên Ngô Côn (91), Tô Tứ là
những đầu sỏ thật hung tợn, giảo quyệt, thoắt xin hàng, ăn yên ở yên,
thoắt lại giết chóc, cướp phá, xưng hùng, xưng bá!
Mới
tháng tư nhuận vừa rồi, lúc huyện lị Minh Linh (Vĩnh Linh) của tỉnh nhà từ
Dan Duệ dời đến Kinh Môn (92), thượng thư Bộ Lại, hiệp biện đại học sĩ Vũ
Trọng B́nh đă ra Quảng Trị, Quảng B́nh, Hà Tĩnh, Nghệ An để xử trí việc
lương – đạo, mâu thuẫn giữa hai thủ lĩnh nho sĩ Văn thân là thầy tṛ tú
tài Trần Tấn, Đặng Như Mai với các linh mục, giám mục như tên Ngô Gia Hậu
(Gauthier) (93). Thực chất của các cố đạo này rất mực “tả đạo”, do đó xảy
ra các vụ đốt nhà thờ Chúa, đốt nhà dân đạo. Chính các tỉnh, đạo thần
Hoàng Tá Viêm, Ngụy Khắc Đản, Bùi Thái Bút cũng xin chỉ xử nhẹ cho các nhà
nho Văn thân (93)… Thêm vào đó, sĩ tử chuẩn bị khảo khoá, xét hạch cho ḱ
thi hương tháng bảy, ngay từ tháng năm, đă bị răn đe, cảnh cáo trước về
những xung đột của họ với dân đạo có thể sẽ xảy ra (94)! T́nh h́nh đến nỗi
thế đó!
Điều diễn ra ở Quảng Trị vừa qua, tháng sáu nguyệt lịch trước, với tập tâu
của quản đạo mới, Trần Ngọc Lư, là về ruộng xă thương (95). Tập tâu nói rơ
về t́nh trạng đất cao và xấu, dân nghèo trong tỉnh phần lớn sống bằng nghề
đốn củi. Từ khi trích ruộng công ra là ruộng xă thương, ít người bỏ vốn ra
cày cấy ruộng ấy. Vả lại, nông cụ phần nhiều lấy ở dân, thành ra làm nơi
này bỏ nơi kia. Đó là việc toàn đạo Quảng Trị, phần lớn ngoài chức trách,
nhưng đó là chuyện quê nhà, cũng liên quan đến huyện Thành Hoá, bang biện
khâm phái Nguyễn Văn Tường không thể không để tâm suy nghĩ. Đúng là dân
không thích cày cấy ruộng xă thương v́ thu hoạch không hoàn toàn về ḿnh,
và v́ làm chung, hưởng chung, tích luỹ dành cho lúc khó khăn chung lại
sinh tệ nạn đùn đẩy rất đáng chán! Ruộng xă thương lập ra là để dân tự dự
bị nhằm tự giúp nhau khi tháng ba ngày tám, thiên tai, dịch lệ đói kém, mà
vẫn đùn đẩy nhau (96)! Trần Ngọc Lư xin băi bỏ h́nh thức ruộng xă thương,
nhưng Bộ Hộ xin vua tuỳ t́nh h́nh, có thể quân cấp (chia đều) hoặc cứ vẫn
duy tŕ loại h́nh ruộng đất ấy (95).
Cũng không thể không để tâm suy nghĩ đến con sông Vĩnh Định của quê hương
Quảng Trị. Quăng sông chảy qua bốn xă Câu Hoan, Đa Nghi, Hội Yên, Đan Quế
(thuộc Hải Lăng), đang khơi đào những chỗ bị cát đùn, lại bị mưa lụt, phải
nghỉ tay (97)!
Lại
nghe Trần Tú Vạn, một người Hoa kiều Minh Hương thuộc sổ dân nội tịch của
tỉnh nộp đơn xin khai hoang phục hoá ruộng ở Phan Xá, Tiên An, gần kề sông
Minh Lương (Bến Hải) (98).
Trong những chuyện tháng sáu năm Mậu th́n (1868) này, có hai điều khiến
Bang biện khâm phái Nguyễn Văn Tường cảm thấy tự hào, rằng ḿnh có ích cho
Thành Hoá và cho kế hoạch thủ để chiến. Ấy là việc thượng thư Bộ Hộ
Phạm Phú Thứ tâu xin vua duyệt y tăng thuế trường mậu dịch huyện Thành
Hoá, từ bốn ngh́n năm trăm quan tăng lên đến sáu ngh́n quan. Nhận công văn
với nội dung nhà vua muốn tham khảo ư kiến, bang biện Nguyễn Văn
Tường lập tức viết tập tâu đệ tŕnh trực tiếp lên vua:
“Trường [mậu dịch] ấy [phải] dời đến chỗ mới, [lại
phải] khai khẩn [đất đai], mở rộng thêm nguồn lợi, [rồi] mới có thể chiêu
tập [dân] đến được. Nếu vội tăng thêm thuế, th́ người buôn nghèo không
[biết] lấy ǵ làm vốn, mà dân Man cũng không muốn thế. Xin [vẫn] theo giá
trước [để] đánh thuế” (99).
Vua
Tự Đức đă chuẩn y theo ư của khâm phái bang biện Nguyễn Văn Tường. Dân Thành Hoá, Kinh lẫn
Thượng, đều rất vui mừng.
Việc thứ hai, không vui, lại hơi buồn, khi biết tin tổng đốc An – Tĩnh
Hoàng Tá Viêm tâu vào kinh về con đường thượng du mới mở từ Hương
Khê (Hà Tĩnh) đến Lũ Châu (huyện Minh Hoá, Quảng B́nh), gồm cả đường thuỷ
với các bến đ̣ về xuôi, so với đường vận tải từ trước đến nay, chất lượng
công tŕnh có hơi sút kém. Ông đề xuất những biện pháp khuyến khích như
treo giải thưởng. Đ́nh thần cho có nhiều khó khăn, và lại xin ban sắc chỉ
cho Vũ Trọng B́nh đang đi kinh lí, ghé bàn với quan hai tỉnh ấy một cách
cụ thể. Vui là vua nghe theo, buồn là vua lại cho thôi (74)!
Nguyễn Văn Tường biết làm thế nào được! Ông chỉ biết làm hết sức ḿnh
trong phạm vi trách nhiệm của ḿnh: khâm phái bang biện, chức năng tham
mưu là chính! Những ǵ ông kiến nghị hoặc được vua hỏi ư kiến, và được vua
nghe theo, ấy là niềm vui chính của ông.
Dẫu
sao, với kế hoạch thủ để chiến, chiến để đàm, ông đă làm được cho
Thành Hoá trở nên một căn cứ địa kháng chiến chống Pháp. Chín năm hơn, một
huyện miền núi ấy! Gần hai năm, cũng một huyện miền núi ấy (100)! Nay mai,
ông phải từ giă
Thành Hoá để ra Bắc với yên ngựa, lưỡi gươm trận mạc! Bọn giặc Cờ đang
tràn sang biên giới phía Bắc, lũ phỉ Bắc lại thừa cơ “giậu đổ b́m leo”,
làm sao bàn chuyện Nam Ḱ!
Viết đến ḍng chữ này lúc 17 giờ 14 phút,
Ngày
16.09.2002 (10.08 Nh. ngọ, HB.2).
Chú
thích xong vào lúc 17 giờ 02 phút, 20.9.2002
(Tiết Trung thu, 14.8
Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN
AN
(63)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 114. Xin nhấn
mạnh bức dụ này. Xem chú thích (54).
(64)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 133 – 135.
(65)
Nguyễn Đắc Xuân (biên soạn),
Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành (PCĐT. Tr.TTh.),
trong đó có bài viết của Đào Duy Anh,
“Những thế gia vọng tộc ở Huế: Phụ chính
đại thần Trần Tiễn Thành”,
trích từ Tập san Những người bạn cố đô Huế (Bulletin des amis du
vieux Huế),
4 – 6.1944 [bản dịch của Bùi Trần Phượng], Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 46. Xin lưu ư:
Đào Duy Anh viết và đăng tải trên một tập san thuộc quỹ đạo chế độ thực
dân, do cố đạo Cadière làm chủ bút.
(66)
Văn tế của Nguyễn Đ́nh Chiểu.
(67)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 136.
(68)
VN.NSKLS., tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 116.
(69)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 137.
(70)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 268.
(71)
ĐNNTC., tập 1, sđd., 1992, tr. 134, 139 – 140.
(72)
Về lực lượng
Thái b́nh thiên quốc biến tướng thành bọn phỉ, trước quấy phá nước ta, sau
được quan binh ta phủ dụ, sử dụng, Lưu Vĩnh Phúc là một trường hợp tiêu
biểu. Về các phạm nhân người Việt: Trong cuộc tấn kích quân Pháp tại Sứ
quán và Mang Cá, Huế, 05.7.1885, Tôn Thất Thuyết cũng sử dụng “đội quân”
này.
(73)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 146.
(74)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 227 – 228.
(75)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 165 – 166.
(76)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 168 – 169.
(77)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 84 – 86.
(78)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 92 – 93.
(79)
PCĐT. Tr.TTh., xem bài viết của Đào Duy Anh, sđd.,
1992, tr. 120.
(80)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 184.
(81)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 267 – 268.
(82)
PCĐT. Tr.TTh., xem bài viết của Đào Duy Anh, sđd.,
1992, tr. 46 – 54.
(83)
PCĐT. Tr.TT., xem bản dịch bài viết của Đào Duy
Anh, sđd., 1992. Trong bản dịch của Bùi Trần Phượng, chữ “ông” được sử
dụng. Theo chúng tôi nghĩ, có lẽ chữ “ngài” phù hợp với ngôn ngữ ngoại
giao thời phong kiến hơn. Thực chất, “ngài” là một biến âm khác của
“người”, nhưng tỏ vẻ tôn trọng, và tuỳ theo ngữ cảnh mà có sắc thái khác
nhau, có khi lại biểu thị sự tôn trọng
một cách mỉa mai, châm biếm…
Ở đây chúng tôi trích nguyên văn bản dịch nên hơi chỏi.
(84)
ĐNTL.CB., tập 29, sđd., 1974, tr. 302.
(85)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 194.
(86)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 202 – 204. Bản
này thiếu một câu:
“ … Tỉnh B́nh Thuận đương xung yếu, các tỉnh khác cũng có hải phận”, nối
tiếp vào câu: “Quân lương, binh lính làm thế
nào cho sinh và đủ? Hào mục, sĩ dân làm thế nào cho chuyên luyện?…”.
(87)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học,
tập 4, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 243 – 244.
(88)
QTHKL., sđd., 1993, tr. 297.
(89)
Nhiều tác giả,
Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân đất nước
(NTT. & VĐCTĐN.), Nxb.
Đà Nẵng, 2000: phần Niên biểu, tr. 393 – 394.
(90)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., 1973, tr. 381 – 382.
(91)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 198.
(92)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 213.
(93)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 213.
(94)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 214.
(95)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 225.
(96)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 276. Xem thêm:
VN.NSKLS., tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 77 – 79.
(97)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 228.
(98)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 236.
(99)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 221.
(100)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd.,
1974, tr. 170 – 172. Xem thêm: Nhiều tác giả (Trần Xuân An biên soạn),
Thơ Nguyễn Văn Tường [Ḱ Vĩ phụ chính đại thần NVT. thi tập] – Vài nét về
con người, tâm hồn và tư tưởng, chú thích
số (16), bài thơ số 56.
Hết
phân đoạn 3
trọn
truyện kí thứ năm
XIN XEM TIẾP TỆP 11
truyện kí thứ sáu