TỆP 11
phân đoạn 1
truyện kí thứ sáu
TRẦN XUÂN AN
VỚI NGỌN BÚT, THANH GƯƠM,
RA BẮC TIỄU PHỈ
Truyện kí thứ sáu
(phân đoạn 1)
1
Ba đạo binh hùng hậu với đầy đủ khí giới và các loại trang bị khác đứng theo
đội ngũ trên khoảng đất rộng trước cửa Ngọ Môn, phía sau đài cột cờ hoành
tráng của kinh thành Huế. Doanh Vũ Lâm đứng đối diện với vệ Tuyển Phong.
Quân Trung Bảo chia làm hai cánh, cũng đối diện nhau, đứng sát luỹ thành
xây bằng gạch, cao đến mấy trượng.
Phía trước cầu Kim Thuỷ, một hương án được bày sẵn, khói trầm bay
nghi ngút. Các văn vơ đại thần đều mang triều phục đứng hai bên. Sắp hàng
nối theo, cũng trước hương án, là các tướng lĩnh, tham tá của ba đạo quân
sắp hành quân ra Bắc. Đoàn Thọ hiện là thự đô thống chưởng phủ sự Phủ Đô
thống Trung quân, ông đang được sung làm b́nh khấu tướng quân, cầm quyền
tiết chế cả ba đạo quân. Trong giờ khắc làm lễ xuất quân này, Đoàn Thọ đọc
lời tuyên thệ và quyết tâm chiến thắng. Giọng An Giang vang lên trong
không khí trang nghiêm sau hồi trống hào hùng. Sau đó, Trần Tiễn Thành
được cử bước ra, cùng với một thị vệ, vâng lệnh vua rót ngự tửu trao tận
tay từng tướng tá một.
1.
Thự đô thống chưởng phủ sự Phủ Đô thống Trung quân
Đoàn Thọ: b́nh khấu tướng quân.
2.
Tả quân đô thống Nguyễn Hiên: thảo nghịch tả tướng
quân.
3.
Thượng thư Bộ Binh lănh tuần phủ
Nam – Ngăi Phan
Khắc Thận: thảo nghịch hữu tướng quân.
4.
Phó đô ngự sử Viện Đô sát Lê Bá Thận: chính đạo
tham tán đại thần.
5.
Tả tham tri Bộ Hộ Hoàng Văn Tuyển: tả đạo tham tán
đại thần.
6.
Chưởng vệ quyền chưởng doanh Hổ oai Trương Phúc Lư:
hữu đạo tham tán đại thần.
7.
Thị lang sung biện Các vụ Nguyễn Hữu Điềm: tán lí
quân thứ.
8.
Bang biện khâm phái huyện vụ Thành Hoá Nguyễn Văn
Tường: tán tương quân thứ.
9.
Chỉ huy sứ Nguyễn Văn Hùng: phó đề đốc.
10.
Phó vệ uư Trần Văn Hùng: lănh binh quan Lạng Sơn
(1).
Ở vị trí thứ tư của hàng bên tả, bang biện khâm phái Nguyễn Văn
Tường, nay sung làm tán tương quân thứ đạo quân chính, nhận chén rượu từ
tay Trần Tiễn Thành, ngửa cổ dốc cạn.
Mỗi tướng tá và quân binh trước đó cũng đă được vua Tự Đức tặng
thưởng theo cấp bậc (1).
Lệnh xuất phát đă vang lớn với tiếng trống quân hành thôi thúc.
Đó là một buổi sáng thượng tuần tháng bảy nguyệt lịch, năm Tự Đức
thứ hai mươi mốt, Mậu th́n (1868).
Cùng với đại tướng quân Đoàn Thọ, hai tả hữu tướng quân Nguyễn Hiên,
Phan Khắc Thận và chính đạo tham tán đại thần Lê Bá Thận, tán tương quân
thứ chính đạo Nguyễn Văn Tường dẫn đầu đoàn quân tiến ra Bắc. Đó là lần
xuất binh ngay tại kinh đô với khí thế và lực lượng hùng hậu nhất, kể từ
năm Nhâm tuất (1862). Đạo quân chính trong đội h́nh tiên phong sẽ tiến ra
Lạng Sơn và cùng với đại bản doanh thống lĩnh tiết chế cả ba đạo đóng tại
đó. Kế tiếp trên đường hành quân là đạo quân cánh tả. Bản doanh đạo quân
này sẽ đặt tại tỉnh
Thái Nguyên. Đạo quân đang rầm rập tiến ra sau cùng, cánh hữu, sẽ hạ trại chỉ huy tại tỉnh
Tuyên Quang.
Trên đường hành quân, ba đạo quân sẽ được bổ sung quân bộ binh và
tượng binh của các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Nội,
Ninh B́nh,
Nam Định, Sơn Tây,
Hưng Yên (1).
Tán tương Nguyễn Văn Tường điều khiển cương ngựa với tốc độ giữ
nguyên đội h́nh hành quân. Ông đă vận binh phục, nai nịt gọn gàng, thay v́
trang phục quan văn xưa nay. Phía sau lưng ông là một thanh gươm mang chéo,
chuôi gỗ đen bóng với tua ngũ sắc nhô lên quá ngù vai trái lấp lánh màu
đồng. Bên hông, treo một ống tre sơn đỏ đựng nghiên bút. Là quan văn đến
lúc phải cầm thanh gươm tán tương quân thứ, ông làm chức năng tham mưu cho
các tướng tá vơ quan. Hơn nữa, trong cuộc phối hợp với quân nhà Thanh
Trung Quốc để tiễu phỉ, ông vẫn c̣n phải mang theo những ngọn bút, thỏi
mực để đàm thoại, bàn việc quân trên giấy với họ.
Trong không khí hùng tráng của ngày xuất quân đầu tiên, tán tương
Nguyễn Văn Tường vẫn cảm nhận rơ: Tổ quốc c̣n gánh nặng nỗi nhục bị cướp
mất một phần Đất nước phía Nam, c̣n trĩu oằn nỗi đau bị xâm chiếm, quấy
phá, bởi bọn phỉ Tàu và bởi sự câu kết để phản loạn ở các tỉnh phía Bắc!
Trong trái tim ông bỗng nhiên như khẽ vang lên những câu thơ:
“Khứ tuế Gia Định nam
Kim niên Lạng Sơn bắc
Tây nhân kí chỉnh cư
Ngô đoàn diệc khổng cức…” (2)
Năm ngoái Gia Định nam
Năm nay Lạng Sơn bắc
Tây chễm chệ cướp đất
Gai góc giặc Cờ bươn…
“Tận diệt bỉ cừ khôi
Vô ô ngă viên bức
Dị loại tuyệt tanh chiên
Lưỡng ḱ đồng quách thức…” (2)
Diệt sạch lũ cầm đầu
Khỏi ô uế Đất nước
Tiệt cừu tanh khác loài
Cùng một mối
Nam Bắc…
Tán tương Nguyễn Văn Tường, cũng như tướng tá binh lính của ông,
không ai không hiểu hai kẻ thù, hai lũ giặc ở hai đầu Đất nước, xét tận
sâu xa, cũng chỉ là một. Phía nam, kẻ thù phơi bày trắng trợn bộ mặt thật:
thực dân Pháp. Phía bắc, tàn quân Thái b́nh thiên quốc biến chất thành phỉ
và bọn người Việt câu kết với chúng để cướp phá, chống triều đ́nh và làm
nội phản thực chất cũng là tay sai, bán linh hồn cho bạch quỷ: thực dân Âu
Mỹ, trong đó, vai tṛ giựt dây chủ yếu vẫn là Pháp, Anh (3) và các tên
gián điệp xâm lược đội lốt cố đạo!
Tổ quốc, tả hữu Trung ḱ và lưỡng ḱ Nam Bắc, hay Đàng Trong cùng
Đàng Ngoài, phải liền một dải non sông Nam – Bắc! Đó là điều hiển nhiên
bao năm nay, bây giờ lại trở thành một niềm khát vọng. Và để đạt được khát
vọng ấy, không c̣n cách nào khác, phải bằng gươm súng, máu xương!
Đầu tháng bảy, bắt đầu vào mùa thu, tán tương Nguyễn Văn Tường vẫn
nghĩ ngợi, thầm viết trong đầu những câu thơ, trong khi cùng các tướng tá
và quân lính hành quân dưới ánh nắng vẫn đang chói rực.
2
Sau gần bốn tháng kể từ ngày làm lễ xuất quân, tán tương Nguyễn Văn
Tường rất vui mừng và cũng rất băn khoăn đón tiếp Vũ Trọng B́nh tại đại
bản doanh đóng ở thành Lạng Sơn (4). Sau chuyến đi đường dài, trông nguyên
thượng thư Bộ Lại có vẻ hơi mỏi mệt và già hẳn.
Cơm nước xong, ngủ một giấc ngắn, chừng như trông ông khoẻ và trẻ
lại với nụ cười tươi tắn bên b́nh trà mạn. Nguyễn Văn Tường mải nghiên cứu
địa h́nh các tỉnh biên giới và các tỉnh phía bắc sông Hồng, chú ư nhất vào
hai tỉnh Lạng Sơn, Bắc Ninh, nghiên cứu lại mấy lá thư công vụ của tướng
nhà Thanh Phùng Tử Tài, ông quên bẵng cả giấc nghỉ trưa (5). Lúc này, rời
khỏi những tấm bản đồ, ngồi đối diện với Vũ Trọng B́nh, Nguyễn Văn Tường
muốn hỏi chuyện ông, vị quan vừa mới rời kinh đô ra chốn hẻo lánh nhưng
đầy rẫy sào huyệt của đủ loại phỉ là đây. Nhấp một ngụm trà, quan tán
tương nói:
- Bẩm quan khâm sai đại thần, chắc quan lớn c̣n mỏi mệt v́ chuyến đi
đường dài?
- Không, khoẻ hẳn rồi. Quan tán tương ra đây đă nhiều tháng, chiến
trận liên miên, chắc nhớ kinh đô và quê nhà Quảng Trị lắm?
- Vâng, cũng không thể không nhớ! Ở kinh đô chắc có nhiều sự việc
khác trước? H́nh như, nghe nói là lẽ ra, thay v́ quan khâm sai, thượng thư
Bộ Công Trần Tiễn Thành ra đây làm chiêu thảo sứ mới đúng ư vua (4)?
- Đúng, hồi tháng chín vừa rồi, sau thời điểm triều đ́nh nhận được
công văn Phủ Thái B́nh nước Thanh thông báo sẽ cùng hội quân đánh giặc Ngô
Côn (5), khoảng vài chục ngày, quả thật là vua có ư ấy. Tuy vậy, cũng có
thể vua chỉ muốn thăm ḍ ư đ́nh thần mà thôi, nhưng đ́nh thần ở triều lúc
này nghiêng về cánh “hoà”, lại cho rằng chưa nên sai phái. Sau đó một
tháng, ḿnh phải nhận thực thụ hàm tổng đốc Hà – Ninh, đồng thời sung khâm
sai đại thần với chức trách tham mưu, đốc suất ba quân thứ Tuyên – Thái –
Lạng. – Quan khâm sai cười buồn –. Ra đây là nhiệm vụ, từ nan ǵ! Vả lại,
ḿnh trước đây đă từng làm tổng đốc Ninh – Thái, kinh lược Lạng – Bằng,
địa thế, t́nh h́nh bọn phỉ ở xứ này ḿnh biết quá rơ… Nhưng ở triều, nay
chỉ c̣n một Nguyễn Tri Phương, đă hơi già yếu rồi. Nói thẳng ra, cánh ḿnh
đă phải lép!
Tán tương Nguyễn Văn Tường im lặng, băn khoăn, nhưng vẫn bày tỏ sự
chia sẻ với nhận định của khâm sai Vũ Trọng B́nh. Trước đây khá lâu, một
lần ông và Nguyễn Quưnh, rồi một lần khác, ông với vị quan họ Vũ, đều đă
thấy sự thể sẽ như vậy.
- Quan khâm sai có nghe tin tổng đốc B́nh – Phú Thân Văn Nhiếp sẽ về
triều chứ? – Nguyễn Văn Tường thử hỏi, nhưng trong ḷng đă thầm nghĩ câu
trả lời sẽ là “không” –.
- Ồ, Thân Văn Nhiếp lại vừa dâng sớ thiết trách đức vua. Đó là một
bản sớ cực ḱ hay và dũng cảm. Ḿnh c̣n nhớ vài câu, thấy cũng tâm đắc
lắm:
“Đất cũ [phía Nam] bị mất, giặc phương Bắc tràn lan. Lụt, hạn, nạn băo, cáo cấp khắp nơi. Của hết, sức
kiệt, dân không c̣n được nhờ để sống. [Do đó] ḷng người ở nơi gần kinh ḱ
náo động, các nơi làm loạn, cái thế yên nguy không chỉ trăm mối lo mà
thôi. Thế mà gần đây, việc xây dựng, sửa sang liên tiếp, xa xỉ bừa băi
không ngớt. Làm Vạn niên cơ so với lăng Thiên thụ chẳng những gấp mười
lần. Này như ngói nung già mua ở Hạ Châu, giày tṛ chơi mua ở nước Thanh;
sa tanh, tủ rượu hàng năm phái đi mua nhiều; đàn Tây, tranh Tây hàng năm
có đơn mua hàng; lại c̣n đi chơi thường đem cung nữ đi chèo thuyền. Đó là
những việc từ trước chưa từng có, mà khoảng bốn, năm năm nay thấy luôn.
Lại nay lầu ở trong cung vừa mới xong, lầu ở băi sông tiếp tục xây dựng
[…]. Hoàng thượng ngày thường mong như vua Văn đế, thế mà […] lấy khổ nhọc
người làm thích, lấy việc tốn tiền làm vui, cốt hơn phép trước mà khoe đẹp
về sau, muốn chơi xem nhiều như thế để hưởng hết tuổi trời, chớ bảo là có
tổn thương, tai hại ǵ đâu! [Thế] mà không biết ḷng ấy đă hoá ra là phiền
hoạ dao động, ḷng người ta oán, đường sá xôn xao, hầu không thể cứu được.
Tôi sợ ḷng người tan ră, đến lúc đó dù có gác cao, lầu đẹp, c̣n th́ giờ
đâu mà du ngoạn được. Hoàng thượng có nước mà chẳng biết tiếc, tôi đâu dám
tiếc chết. Tôi đă nhiều lần tâu nói, chưa được sửa đổi, nay lại xúc phạm
những điều kiêng kị, xin tội chết với quan Bộ H́nh, để xứng đáng cái tội
không biết đem ḷng thành làm cảm động vua”
(6).
Vũ Trọng B́nh nghẹn ngào không nói ǵ nữa, Nguyễn Văn Tường cũng xúc
động ngồi bóp trán suy nghĩ. Một lúc lâu, ông lại hỏi với giọng khẽ khàng:
- Vậy đức vua không tỉnh táo lại sao?
- Đức vua cũng thừa nhận những lời thiết trách ấy đúng với các lỗi
đức vua phạm phải. Đức vua nói:
“Những điều ngươi thiết trách đều là lỗi của ta, nhưng có cái ngươi chưa
hiểu, c̣n câu nệ ở dấu trước. [Theo dấu trước] th́ người làm vua nhất
thiết đều phải câu thúc, không được chơi, thưởng chút nào, cử động làm ǵ
là chuốc lấy tội lỗi. Ta nay việc bận, bệnh nhiều, không [đủ rỗi] ḷng
sức, không dám viện dẫn xa để phân trần, cũng không dám nói ǵ, chỉ một
ḷng uất khổ quá lắm mà thôi…”. Tuy nhiên, nhà vua “chỉ mong ở trên là
thần minh, dưới là người xét mà tha thứ cho”. Nhà vua lại c̣n bảo rằng:
“Nhưng nếu bó buộc phiền toái quá th́ thân này không chịu nổi, c̣n sức đâu
mà có thể cùng nhau làm việc. Đậy nắp quan tài th́ tâm tích người hay,
người dở tự khắc định được, đâu phải đợi nói. Nhưng kẻ làm tôi thường cần
phải nói, để vua nghe biết điều lỗi mới phải. Riêng ḷng ta tự có nắm
vững, không dám sai trái, chỉ có quỷ thần biết thôi…” (6).
Cả hai người đều ngồi lặng yên suy nghĩ. B́nh trà đă nguội ngắt, họ
cũng chẳng bảo người lính hầu cận châm nước, thay trà. Nguyễn Văn Tường
cũng đă có lần nói, vua Tự Đức chỉ là một vị vua thủ thành, không phải là
vị vua sáng nghiệp. Vua thủ thành sinh ra, lớn lên trong nhung lụa, quyền
lực, làm sao chịu nổi cảnh nằm gai nếm mật, làm sao hiểu nỗi khổ nhân dân.
Giữa ư thức, tấm ḷng hướng thiện với thực tế hành xử có một khoảng cách
không vượt được, là do thể chất ốm yếu và do chưa luyện tập được khả năng
bền bỉ chịu đựng gian khổ, đói rét trong làng thôn hẻo lánh, rẻo cao xa
xôi, hoang rậm, trong việc thực sự lao vào trận mạc. Nhưng, biết làm thế
nào được! Ông cũng bao lần than thở như thế, dù chỉ giấu kín trong ḷng
ḿnh!
- Tôi nghĩ, nhà vua đă chân thành và cũng dũng cảm tự nhận lỗi như
thế, đó là một điều cũng hết sức quư hiếm của vua Tự Đức. Vị vua khác đọc
thấy thế, hẳn đùng đùng nổi cơn lôi đ́nh, chiếc đầu rất bản lĩnh của tổng
đốc Thân Văn Nhiếp chắc không c̣n. Đó là một đức tính của đức vua, ta phải
thừa nhận. Nhưng giá như đức vua có thêm ưu điểm nữa là biết dùng người đủ
sức chịu đựng gian khổ thay vua, thấu hiểu ḷng dân giúp vua. Vấn đề là
nhà vua chịu nghe lời can ngăn, lời tâu việc của các quan. Hơn nữa, khi
kháng chiến, cho dẫu phải lên chốn rừng sâu nước độc, phải bôn tẩu nơi
sóng to biển lớn, bậc đế vương vẫn có thể đủ cao lương mĩ vị, rượu ngon,
nhạc ngọt. Và nếu ở kinh đô, đế vương vẫn rất đế vương mà dứt khoát không
xây dựng Vạn niên cơ, dứt khoát không xây dựng hành cung th́ cũng không
làm chướng tai gai mắt dân, không đến nỗi làm khổ dân. Tuy nhiên, nói là
nói thế…
- Đúng, quan tán tương nói đúng. Nhưng khổ nỗi là
người thế nào th́ tai nghe như vậy.
Xin phạm thượng nói là vua chỉ chịu
nghe những kẻ như Trần Tiễn Thành thôi!
- Thật chí lí là người thế nào th́ tai nghe như vậy. Nhưng tôi vẫn
ước ao một điều hơi mâu thuẫn với câu
vua thế nào th́ chọn quan đại thần như vậy,
ấy là: Nếu như đ́nh thần và Cơ mật
viện đều là người đă từng nằm gai nếm mật và sẵn sàng nằm gai nếm mật, th́
vẫn giúp vua được. – Quan tán tương Nguyễn Văn Tường ngẫm nghĩ, lại nói. –
T́nh h́nh các nước da vàng máu đỏ quanh ta như Trung Quốc, Xiêm, Triều
Tiên, Nhật, Ấn, Mă Lai… cũng đang khốn đốn (7). Ở các nước đó, chẳng lẽ
hoàng đế của họ đều b́nh thường đến mức tầm thường, không đảm đương nổi
việc giữ nước?…
Theo mạch chuyện, tán tương Nguyễn Văn Tường chợt nhớ mẩu chuyện về
biến động của triều đ́nh Nhật Bản với phái Thiên hoàng và phái Mạc Phủ
suốt hai năm qua, từ cuối năm Bính dần (12.1866) đến cuối năm Đinh măo
(01.1868), tức là từ sau cái chết đột ngột của cựu thiên hoàng, hoàng tử
mới mười mấy tuổi lên ngôi, đến khi lật đổ hoàn toàn Mạc Phủ (8). Mạc Phủ,
đó là một thế lực ḱm kẹp cánh Thiên hoàng suốt hai trăm năm mươi năm,
kiểu phủ chúa thu tóm hết mọi quyền hành, ngân sách, ḱm kẹp triều vua bù
nh́n, oèo uột như thân phận con sâu xanh trong tổ ṭ ṿ… Mạc Phủ bị lật
đổ, chú bé mười mấy tuổi lên ngôi lấy hiệu Minh Trị thiên hoàng. Minh Trị
thiên hoàng được các đại thần phù giúp, bắt đầu canh tân đất nước Nhật…
Canh tân bằng cách nối tiếp
“phong trào Hà Lan
học”,
học tập theo Phương Tây về khoa học tự nhiên, về công nghệ với phương châm “Đông
vi thể, Tây vi dụng”, và bằng cách chuẩn bị
“chinh Hàn”, đi xâm lược Triều Tiên để bóc lột tài lực, nhân lực một
cách tàn ác (8)…
Hai người đành phải bỏ lửng câu chuyện, khi trông thấy tướng quân
thống lĩnh Đoàn Thọ, những vị quan cùng lính hầu cận phóng ngựa trở về, và
cũng v́ vấn đề trong cuộc chuyện tṛ rất nan giải! Ngoài trời nắng đă ngả
chiều, gió miền cao se lạnh, các vị quan mới bước vào đều mặc thêm tấm áo
ấm vua Tự Đức mới gửi ra ban cho tướng tá và quân lính trong tháng tám vừa
qua (9) khi phi ngựa đi thám sát. Tán tương Nguyễn Văn Tường chợt nghĩ,
giá như nhà vua đừng xây Vạn niên cơ, đừng ŕnh rang thị nữ chèo thuyền
mỗi lần du ngoạn thư giăn, đừng mua sắm đồ xa xỉ tốn kém, có lẽ c̣n ấm
ḷng nhân dân chốn hẻo lánh, tối tăm, và chắc chắn sẽ ấm ḷng quân tướng
nơi biên tái hơn vạn lần.
Đêm ấy, sau một bữa cơm thân mật nhưng vẫn hơi kham khổ ở miền núi,
với vài chén rượu chúc mừng ngày gặp mặt của các tướng tá, Vũ Trọng B́nh
lại được các quan hỏi chuyện ở kinh đô. Ông kể:
- Thật ra đây cũng có thể xem là chuyện cơ mật nhưng nghĩ lại chẳng
có ai đây để giấu giếm. Hơn nữa, sắp tới hẳn sẽ có thông tư mật được triều
đ́nh gửi tới các quân thứ để nắm rơ t́nh h́nh lương – giáo ở thời điểm
này.
- Lương – giáo
trong ấy vẫn c̣n căng thẳng lắm sao? Quan lớn
có thể nói rơ hơn. Tôi ngỡ chỉ ngoài này… – Đại tướng quân Đoàn Thọ nh́n
vào gương mặt Vũ Trọng B́nh, cất tiếng hỏi –.
- Trường hợp này hơi lạ, c̣n nói chung vẫn thế. Ngay mấy ngày cuối
cùng trước khi ḿnh từ giă Tả vu điện Cần Chánh, Cơ mật viện và đ́nh thần
có họp bàn về tập bản sớ của một tên giáo dân Ninh B́nh. Y là người Yên Mô
thuộc tỉnh Ninh B́nh. Triều thần đă cho lục lại hồ sơ về y, và thế mới
biết y là một trong những tên
“đầu sỏ trong đám dân đạo, từng đă [quấy rối] để hoạ từ trước” (10).
Tập sớ ấy cũng có nhiều điểm là
lạ. Điểm lạ nhất cũng như ở tên giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ, đó là nhờ người
Anh giúp ta chống Pháp! Ḿnh chỉ nhớ đại lược thế này:
“Đặt doanh điền; khai mỏ vàng; đóng tàu thuỷ; triệu
người Phương Tây đến; nhờ người Anh giúp đỡ chống Pháp; lập ti b́nh chuẩn
[:giữ việc buôn bán] ở các nước để lưu thông bài hoá; bỏ cấm binh thư,
binh pháp để được giảng tập; binh sĩ cho chuyên tập bắn, bớt làm việc,
tăng lương, để chuyên cần duyệt tập; khi lâm sự, hậu thưởng phẩm trật; khi
bị chết, xét dùng con cháu; khi bị thương tật, cấp dưỡng suốt đời”
(10). Hôm đ́nh thần xét bàn về tập tâu của y, ḿnh có tham dự,
c̣n nhớ rơ kết luận thế này:
“… [Quá khứ hắn như thế]
cho nên lời nói h́nh như phần nhiều là [để] nḥm biết, thử thăm ḍ [triều
đ́nh]. Nhưng xét kĩ tâm tích hắn, cũng chẳng qua muốn theo đạo giáo [Gia
Tô], cho nên xướng ra lời tâu kín ấy. Vả lại, đương lúc dân lương, dân
giáo chưa hết nghi kị này, túng sử muốn dùng, [e rằng] chưa hợp thời thế,
sợ [trong sĩ dân, quan lại] sinh gièm pha, ngờ vực [triều đ́nh]. Mà trong
ḷng [hắn] như thế, đối với ta rút cuộc không có lợi ích ǵ”. Do đó, “vua
bèn sai bỏ [tập tâu ấy] đi” (10).
- Bẩm, quan hiệp biện khâm sai có thể nói rơ hơn một chút? Theo tôi,
nếu căn cứ vào lời nghị bàn của đ́nh thần, th́ một là, tên giáo dân Đinh
Văn Điền này muốn chứng tỏ y có chính nghĩa chống Pháp để tiếp tục được
theo đạo Gia Tô, hai là, y muốn triều đ́nh đều theo đạo Gia Tô. Nhưng hẳn
là y chẳng dám nói rơ. – Tán tương Nguyễn Văn Tường nói –. Thật ra, mọi
kiến nghị của y chẳng có ǵ mới mẻ. Trong chúng ta, ai chẳng biết phải ra
sức học tập công nghệ Phương Tây. Và triều đ́nh cũng đă cử người đi học,
nhưng chúng không dạy cho, chẳng học tṛ nào học thành tài, mặc dù ph́ tổn
là quá lớn. Hơn nữa, tên Đinh Văn Điền này há chẳng biết bọn Anh với bọn
Pháp cũng như các nước Âu Mỹ khác đều một giuộc với nhau, liên minh với
nhau để xâm lược các nước châu Á
Tế Á (Á), châu A Phi Lị Căn (Phi), cả các nước ở phía
nam châu Mỹ Lợi Kiên (Nam Mỹ)… Bọn bạch quỷ muốn cô lập ta, khống chế ta,
y chẳng rơ sao! Vậy làm sao để mở rộng giao thương ở các nước? Mục đích và
cũng là điều kiện trước sau như một của bọn bạch quỷ là
chịu bị “bảo hộ” và chấp nhận đạo Gia Tô là quốc giáo.
Cả hai điều kiện đều không thể chấp
nhận được. Chỉ có bọn vô liêm sỉ, chẳng biết quốc thể (danh dự Tổ quốc) là
ǵ, mới chấp nhận như thế! – Tán tương Nguyễn Văn Tường căm phẫn nói –. Và
dẫu bị buộc phải chấp nhận như thế th́ cũng như Lữ Tống (Phi Luật Tân), Ấn
Độ, Hạ Châu (Mă Lai)… mà thôi. Các nước ấy chỉ bị bóc lột sức người, tài
nguyên khoáng sản, và ngu dốt hơn trước, chứ chẳng phải chịu cảnh “cố đấm
ăn xôi” mà khá lên đâu! Khách thương các nước đến ta cũng nhiều, phái bộ
ta, sứ bộ ta cũng ghé nhiều nơi. Trước đây, năm nào chẳng có thuyền của
triều đ́nh ta “đi thăm ḍ t́nh h́nh các nước phương xa” (11)! Ta quá hiểu!
Các quan tướng tá quân thứ mải chuyện tṛ, bàn bạc, cho đến khi
tiếng điêu đẩu vang lên báo hiệu đổi phiên tuần canh.
- Hay là tên giáo dân Đinh Văn Điền này muốn thoát khỏi quyền lực
của giáo hoàng La Mă như Anh giáo? Anh giáo là một thứ Thiên Chúa giáo
(đạo Gia Tô) của nước Anh, độc lập, không có quan hệ với La Mă. Và y cũng
muốn thoát khỏi nanh vuốt của Hội Truyền giáo Ba Lê (Paris)?
- Những tên theo Thiên Chúa giáo (đạo Gia Tô) ở các nước như nước
ta, giáo hoàng bạch tạng La Mă bảo ǵ chúng tuân lệnh răm rắp, đến mức bảo
chấp nhận mất nước, làm dân nô lệ, chúng cũng vâng lời! Ngu không thể
tưởng được!
- Tên giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ vẫn như cái đuôi của con chó Ngô Gia
Hậu (Gauthier). Chó bị chặt đuôi vẫn c̣n sống được, nhưng đuôi chó ĺa
khỏi đít chó th́ thối rữa khác ǵ khúc thịt chết! Nguyễn Trường Tộ đă bao
giờ rời khỏi hai tên giám mục Hậu (mgr. Gauthier), Phê Chính Hoà (mgr.
Croc) đâu! Nguyễn Trường Tộ như thế, nữa là Đinh Văn Điền!
- Việc “sát tả” ở nước ta, đâu phải chống dị giáo Tin Lành như vua
Phi Líp đệ nhị (Philippe II) của Y Pha Nho và vua Lu Y đệ thập tứ (Louis
XIV) của Pháp (12)! Hai hoàng đế Tây Âu ấy giết hại biết bao nhiêu người
chỉ v́ dị giáo! Ở nước ta, đó là vấn đề giữ nước khỏi bị xâm lược, nô
dịch, sùng bái Nhi Nhu (Jésus) mà quên mất tổ tiên, anh hùng dân tộc! Ai
chẳng biết những tên cố đạo như giám mục Hậu (Gauthier) (13), giám mục Hoà
(Croc) là thực dân đội lốt tôn giáo, nhất là tên giám mục Phu Nhi Chi
(Puginier) ở Kẻ Sở (Hưng Yên), ở Hà Nội!
- Giá như tên Nguyễn Trường Tộ bỏ hẳn đạo Gia Tô để đứng vào giới
Văn thân nho sĩ chúng ta th́ hay biết bao nhiêu! Chỉ tiếc là y không chịu
bỏ “tả đạo” mà chỉ chấp nhận bỏ tổ tiên, nguồn cội mà thôi! Ta học triết
thuyết Khổng Mạnh nhưng đâu có thờ lạy, sùng bái, mê muội như y sùng bái,
mê muội Nhi Nhu (Jésus) đâu! Chúng ta vẫn chỉ thờ kính tổ tiên, nguồn cội
và anh hùng dân tộc ta, c̣n lập Khổng miếu là chỉ để tỏ ra biết ơn danh
nhân “vạn thế sư biểu” thôi! Hăy xem trên bàn thờ các nhà, từ dân cho đến
quan, có bức tượng, tấm tranh nào tạc, vẽ Khổng tử đâu! Chẳng lẽ Nguyễn
Trường Tộ chưa hiểu tiểu truyện Nhi Nhu (Jésus) trong Kinh thánh, chẳng lẽ
chưa đọc Gia Tô bí lục và những chương về Cảnh giáo (một tên khác của đạo
Gia Tô) do Nguyễn Văn Siêu mới viết (14)?
- Thôi, xin phép các quan! Để bữa khác! Thế nào triều đ́nh cũng có
thông tư về t́nh về lương – giáo. Nhưng nhiệm vụ chính của ba đạo quân
binh chúng ta là tiễu phỉ! Phải diệt cho bằng hết bọn phỉ Tàu, phỉ Bắc Ḱ
mới rảnh tay, nhẹ đầu để lo việc lấy lại Nam Ḱ và làm việc khác được!
Đêm đă bước sang canh hai. Các tướng tá chia tay nhau đi làm công
việc của ḿnh.
Bước ra cửa, tán tương Nguyễn Văn Tường hít một hơi dài không khí
lạnh buốt của miền núi rừng Lạng Sơn. Ông cảm thấy tỉnh táo hẳn. Ông vẫn
đang tiếp tục suy nghĩ, tại sao nước Nhật vẫn “sát tả”, rồi cũng ít nhiều
xoá bỏ việc cấm đạo Gia Tô, lại học tập được khoa học, công nghệ của
Phương Tây, trong khi nước ta lại bị chúng ḱm hăm, giấu nghề? Nước Nhật
vốn lạc hậu hơn cả Triều Tiên, nghĩa là vốn lạc hậu hơn nước ta. Như thế,
nói chung, t́nh cảnh như ta, thậm chí kém hơn ta về đất đai, khoáng sản,
văn hoá, cũng bị bó buộc bởi các
“hoà” ước
nhục nhă như ta, sao nước Nhật canh tân được đất
nước của họ theo khoa học, công nghệ Phương Tây?! Nguyễn Văn Tường cũng đă
biết
“phong trào Dương vụ”, “Tân
chính tự cường”
với phương châm
“Trung Quốc vi thể, Tây dương vi dụng”
được khởi xướng bảy năm trước đây (1961) trong sĩ dân và một số thân
vương, đại thần ở nước Thanh (15)…
Thể và dụng! Bản thể và vận dụng!
Ai chẳng biết tàu thuỷ
chạy bằng máy hơi nước, súng liên thanh, đạn công phá là tốt hơn thuyền
chèo tay, lưỡi gươm, súng hoả mai bắn mỗi phát mỗi nạp đạn và đạn thần
công chỉ là quả cầu sắt, bắn ra, rớt xuống, vẫn im ĺm một cục! Phải học
khoa học tự nhiên, công nghệ Tây dương, nhưng phải giữ bản thể Việt, nghĩa
là giữ cốt cách, tâm hồn, tư tưởng Việt; nói chung là giữ ǵn văn hoá
Việt! Nhưng vấn đề là làm thế nào để học được ở Tây dương để chống lại sự
xâm lược của Tây dương như tổ tiên ta đă học Tàu để đánh thắng Tàu, thắng
bất ḱ triều đại hùng mạnh nào của Tàu! Vấn đề là ở đó: làm cách nào để
học được Tây dương học để đánh thắng giặc Tây, giữ vững độc lập cho Tổ
quốc?
Tán tương Nguyễn Văn Tường lại bước vào nhà, khép cửa, đến ngồi ở
chiếc ghế sau bàn án thư.
3
Tháng tư, trời đă bắt đầu bước vào mùa hè. Gần mười tháng rồi
tán tương Nguyễn Văn Tường rời khỏi kinh sư, kinh đô Huế và Quảng Trị quê
nhà! Năm Tự Đức thứ hai mươi hai, Kỉ tị (1969) này đă qua rồi mùa hoa, để
bước sang mùa trái chín. Ông cũng đă đến tuổi bốn mươi sáu! Thế là đă sáu
năm trong lứa tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”, tuổi không dễ bị mê muội về bất
ḱ điều ǵ nữa.
Tán tương Nguyễn Văn Tường mỉm cười nh́n món quà thưởng của vua Tự
Đức từ Huế gửi ra. Cùng với các quan ở đại bản doanh và các quân thứ, ông
được tặng ba chỉ sâm và một thanh quế hạng tư để chống lam chướng, thêm
tráng kiện, cùng một ít tiền vàng chi tiêu.
Trong những ngày tháng qua, nhất là tháng cuối năm ngoái, trời miền
núi đầy sương muối, nước gần đóng băng, lính tráng phát bệnh sốt rét, một
số đào ngũ (16), nhưng vẫn có những niềm vui lớn từ những chiến thắng trên
các mặt trận biên giới.
Từ tháng chạp năm ngoái ấy, hiệp biện đại học sĩ lănh tổng đốc Hà –
Ninh, sung khâm sai đại thần Vũ Trọng B́nh đă cùng thự đô thống chưởng phủ
sự Phủ Đô thống Trung quân, sung b́nh khấu tướng quân, giữ quyền thống
lĩnh tiết chế là Đoàn Thọ và các tướng tá các quân thứ đệ tŕnh vào kinh,
dâng lên vua Tự Đức tập tâu với nội dung: vỗ yên (phủ dụ) bọn phỉ, thay v́
dồn chúng đến bước đường cùng. Trước khi đi đến quyết định viết tập tâu
ấy, trong đại bản doanh đă có những cuộc họp bàn rất gay gắt.
Có nhiều lần, chính tán tương Nguyễn Văn Tường đă suy nghĩ: Các
tướng tá trong các quân thứ và ở đại bản doanh chúng ta ai cũng biết mâu
thuẫn giữa Hán tộc với Măn tộc ở Trung Quốc là rất căng thẳng. Măn tộc ở
phía đông bắc sau khi chiếm lĩnh trung nguyên và toàn cơi Trung Quốc, đă
lập nên nhà Thanh. Suốt hơn hai trăm năm nay (1660 – 1868), họ không sử
dụng người Hán. Đó là mầm mống sâu xa để bùng nổ cuộc khởi binh Thái b́nh
thiên quốc. Nhưng tiếc thay, ngay từ đầu, Thái b́nh thiên quốc đă bị Anh,
Pháp và các nước Âu Mỹ nói chung lợi dụng để làm suy yếu nhà Thanh. Mưu đồ
của bọn Âu Mỹ là sau khi mượn tay Thái b́nh thiên quốc diệt Thanh, chúng
sẽ diệt luôn Thái b́nh hoặc sẽ khống chế bọn Thái b́nh ấy. Nếu nhà Thanh
mạnh hơn, ngă về phía Âu Mỹ, chúng sẽ quay lại giúp nhà Thanh diệt Thái
b́nh thiên quốc. Âu Mỹ đẩy mạnh được nội chiến, đằng nào Trung Quốc cũng
suy yếu. Mười lăm năm (1850 – 1864) nổi dậy phong trào Thái b́nh thiên
quốc, Hồng Tú Toàn và binh tướng kéo quân đánh phá, chiếm lĩnh mười sáu
tỉnh, đủ khiến nhà Thanh vốn suy vi từ nha phiến chiến tranh (1842), lại
càng suy vi, chỉ c̣n chút sức tàn, phải đi từ nhân nhượng này đến nhân
nhượng khác trước sự xâm lược của Âu Mỹ.– Tán tương Nguyễn văn Tường nghĩ
–. Mặc dù các quan chúng ta biết rằng Hán tộc chuyên đi xâm lược, thống
trị các nước lân bang, trong đó có cả Măn Châu quốc, để bành trướng lănh
thổ. Do đó, từ thời Nguyên – Mông, Hán tộc đă một lần bị “Tây nhung”, “Bắc
địch” phục hận, đánh chiếm, thống trị, lập nên nhà Nguyên suốt tám mươi
chín năm (1279 – 1368). Hai trăm năm gần đây, ấy là lần thứ hai Hán tộc bị
thống trị bởi dân tộc khác. Triều Thanh của Măn tộc thống trị Hán tộc, nên
Hán tộc nổi dậy lập nên Thái b́nh thiên quốc là đúng, là chính nghĩa.
Nhưng tiếc thay chính nghĩa của Thái b́nh thiên quốc đă bị Âu Mỹ lợi dụng.
Và càng tiếc thay Thái b́nh lại xướng lên tà thuyết
“đứa con thứ hai
của thượng đế”, “em ruột của Nhi Nhu (Jésus)”,
cải biên thuyết xă hội đại đồng viễn tưởng Tây
Âu bằng cách vẫn duy tŕ chính thể quân chủ phong kiến, phá tan chùa chiền
miếu vũ, đập phá tượng Phật, tượng Khổng, tượng Lăo, cấm đọc tứ thư ngũ
kinh, toan san định lại các sách kinh điển ấy. Hơn nữa, Thái b́nh thiên
quốc cách mạng, thay cũ đổi mới văn hoá, xă hội bằng bạo lực, dùng bạo lực
phá huỷ sạch sành sanh văn hoá Trung Quốc. Do vậy, chính nghĩa, cách mạng
của Thái b́nh đă mất sạch ư nghĩa (17).
Đâu phải đến khi giáp mặt tàn quân Thái b́nh thiên quốc tại biên
giới Bắc này, tán tương Nguyễn Văn Tường mới nghĩ ngợi về điều ấy. Từ lúc
c̣n ở huyện Thành Hoá, quyết định tiếp nhận lũ đầu mục Cao Bằng, tiếp xúc
với họ, điều động họ khai khẩn lập đồn Ba Xuân, ông đă phải t́m hiểu
nhiều. Binh pháp chẳng viết đó sao: “Biết địch biết ta, trăm trận trăm
thắng”. Khi ra đến đây với chức năng tham mưu cho quân thứ, ông càng phải
t́m hiểu nhiều. Ông đă vào trận, cùng quân binh vung gươm tiêu diệt chúng
sau những hồi thuyết phục chúng qua tiếng loa của các mơ làng rành tiếng
nhân tộc thiểu số và tiếng Hoa Quảng Đông, Quảng Tây. Mặc dù chúng thật sự
thành phỉ, sống bằng nghề cướp bóc, giết chóc, toan chiếm cứ các buôn bản
miền núi của ta để xưng hùng, xưng bá, nhưng tán tương Nguyễn Văn Tường
vẫn mong chúng buông vũ khí, quay về đầu thú nhà Thanh. Như thế, sạch bóng
chúng ở biên giới nước ta. Một khi sào huyệt của chúng không c̣n, bọn phỉ
người Kinh, người Tày, người Thái nước ta không c̣n câu kết được, không
c̣n chốn nương thân. Được như thế là yên được toàn cơi Bắc Ḱ.
Chính Vũ Trọng B́nh, Đoàn Thọ, hai người nắm quyền thống lĩnh ba đạo
quân tiễu phỉ của triều đ́nh nước ta, cũng nhận định và ước mong như thế.
Tập tâu của hai vị quan cao cấp nhất ấy, ngay trong tháng mười hai, đă
nhạân được châu phê của vua Tự Đức:
“Giặc nên đánh hay nên phủ dụ, rất quan hệ đến việc trọng ở biên cương. Hôm trước
[các ngươi] cứ tâu báo, [rằng] chưa nên nói đến việc phủ dụ, nay [cũng
chính các ngươi] lại nói tạm phủ dụ là tiện. [Như thế] biện pháp thích
đáng vẫn chưa nhất định. Vậy chuẩn cho quan quân thứ và quan khâm sai đem
ngay việc ấy bàn tính, không quan ngại ǵ, [hăy] cùng nhau tâu xin dứt
khoát, không được lưỡng lự. Lại chuẩn cho những biền binh [đă] phái đi,
[nay] đều lưu lại Bắc Ninh, Hà Nội thao diễn, pḥng khi [cần, lại sẵn quân
để] sai phái” (18).
Kết quả là Ngô Côn, tên tướng phỉ Tàu hung hăn, giảo quyệt nhất nh́
trong đám Thái b́nh thiên quốc đă quy hàng. Quan quân thứ tiền nhiệm Phạm
Chi Hương đă dẫn y đến cửa thành Lạng Sơn. Đoàn Thọ, Vũ Trọng B́nh chấp
thuận cho y đầu hàng, cấp cho y và quân lính của y đến một vạn lạng bạc,
lại cho cả đoàn lũ về Cao Bằng sinh sống. Y cũng trả lại phố Cầu Phong cho
ta (19).
Một kết quả khác, Hoàng Sùng Anh, thường tự xưng tắt là Hoàng Anh,
một tên tướng phỉ Tàu thuộc tàn quân Thái b́nh thiên quốc, từng dựng lên
ngọn cờ vàng, cũng rất hung hăn, giảo quyệt, chẳng kém ǵ Ngô Côn, y cũng
đă đầu thú ở Tuyên Quang. Y xin được sinh sống ở mỏ Tụ Long (20). Đoàn
Thọ, Vũ Trọng B́nh cũng mở lượng hiếu sinh tâu xin cho, và được vua Tự Đức
chuẩn y.
Không ngờ đến tháng ba, cách đây một tháng, tướng phỉ Ngô Côn lại
giáo giở, thúc quân phỉ chiếm lại Đồng Đăng, Ḱ Lừa ở Lạng Sơn! Thế th́
không c̣n cách nào khác hơn là phải tiêu diệt chúng! Ta đă nhân đạo với
chúng, tốn mất toi một vạn lạng bạc, chấp nhận cho chúng yên nghiệp làm ăn
ở nước ta, chúng vẫn một mực giữ thói phỉ (19)!
Không c̣n cách nào khác, phải hợp đồng chiến đấu với tướng nhà Thanh
Phùng Tử Tài để tiêu diệt chúng. Các tướng, khâm sai và Nguyễn Văn Tường
đă bút đàm với Phùng Tử Tài để bàn việc hội đánh. Án sát Hải Dương Tôn
Thất Thuyết cũng đă tâu xin về việc pḥng thủ cả mặt biển và xin tuyển
thêm lính Nghệ – Tĩnh, lính hai tỉnh ấy giỏi chịu đựng gian khổ và thiện
chiến (21). T́nh h́nh toàn mặt trận đă căng thẳng, càng ngày càng căng
thẳng. Vua Tự Đức ra sắc dụ, các quan quân thứ tiễu phỉ ở phía Bắc phải
mười ngày một lần tâu báo về kinh (22).
Chính sự phân vân giữa hai biện pháp, một là quyết tâm tiêu diệt bọn
tàn quân Thái b́nh thiên quốc, hai là mở lượng hiếu sinh cho chúng, đă dẫn
đến những cuộc bàn căi dữ dội, dữ dội nhất là sau khi tướng phỉ Ngô Côn
giáo giở chiếm lại Đồng Đăng, Ḱ Lừa. Tháng chạp, v́ tranh luận, đến lúc
gay gắt quá, Vũ Trọng B́nh moi cả chuyện cũ của Lê Bá Thận thời c̣n ở
triều để chứng minh: Lê Bá Thận đă từng
“doạ nạt tâu hặc
người cờ bạc [để] ăn hối lộ”!
Vua Tự Đức ban dụ trách: “Vũ Trọng B́nh tuổi đă già cả mà c̣n giữ tính thô bạo,
nóng nảy. Khi [c̣n] ở kinh, nếu có nghe biết, sao không đem tâu hặc ngay.
Nếu cho là nghe bóng, nghe gió đă bỏ th́ bỏ hẳn. Nay đương uỷ cho việc
quân, chính [là lúc] nên cùng ḷng, hết sức trù tính làm việc, thế mà
trong lúc chuyện tṛ, là quan đồng sự với nhau, lại riêng trách móc nhau ở
chỗ đông người, cho mọi người nghe khắp cả, th́ quyền lệnh hầu thi hành
sao được. Quan quân thứ, quan tỉnh là bọn Đoàn Thọ, Đặng Toán, Nguyễn Văn
Tường cùng ngồi ở đó, không biết khuyên giải, đều là không đúng. [Nay] đều
giao cho Bộ Lại xét phân biệt giáng, phạt” (23).
Nguyễn Văn Tường và họ Đoàn, họ Đặng đều
oan, vướng tội lây!
Vũ Trọng B́nh nói riêng với Nguyễn Văn Tường:
- Thật là vớ vẩn! Ḿnh biết có kẻ gièm. Mới cách đây mươi ngày, Trần
Tiễn Thành lại nắm Bộ Binh, c̣n Nguyễn Tri Phương già yếu, phải đổi sang
quản lí sự vụ Bộ Công (24)! – Vũ Trọng B́nh lắc đầu –. Sự việc là thế,
nhưng vấn đề là cách tâu, tâu đúng hay tâu gièm. Về Lê Bá Thận, rồi thế
nào cũng có ngày sẽ lộ chân tướng! Lê Bá Thận là tay tham lam, chiếm ruộng
đất của dân, rất tàn nhẫn với con cái, dân trong làng y sợ mà không dám ở
quanh nhà y (25)! Ḿnh đă tâu, nhưng nào được xét, phải tạm gác lại!
- C̣n b́nh khấu tướng quân Đoàn Thọ? – Tán tương Nguyễn Văn Tường
hỏi, mặc dù ít nhiều ông đă biết về vị tướng vơ rất được vua sủng ái này
–.
- Cũng như Trần Tiễn Thành, Đoàn Thọ được nhà vua cất nhắc lên không
theo thứ tự (26). Đó là hai người được vua chiếu cố đặc biệt. Nhưng so với
Trần Tiễn Thành, viên tướng vơ người Nam Ḱ này tâm tính tốt hơn. Viên họ
Đoàn ấy rất hào sảng. – Hiệp biện Vũ Trọng B́nh lại lắc đầu –. Nhưng rất
tiếc viên tướng vơ ấy lại ngă về phía Lê Bá Thận!
Tán tương Nguyễn Văn Tường rất buồn ḷng sau lần tranh luận đến mức căi vă
hồi cuối năm ngoái, giữa hai viên quan họ Vũ và họ Lê, khiến ông cùng hai
viên khác cũng bị phạt do không can ngăn được sự mất đoàn kết. Nay lại vừa
xảy ra một lần mất đoàn kết nữa, giữa Vũ Trọng B́nh với Đoàn Thọ và Lê Bá
Thận. Lần thứ hai này gay gắt đến mức cả ba viên quan cao cấp ấy đều tâu
xin nhà vua chọn người khác thay, cam về triều chịu tội. Vua Tự Đức rất
giận, đành phân nhiệm lại: Đoàn Thọ sung làm tổng thống đạo Thái Nguyên,
Vũ Trọng B́nh sung làm tổng thống đạo Lạng – Bằng, Lê Bá Thận sung làm
tham tán đạo Thái Nguyên. Vô can, nhưng ngay cả Nguyễn Hiên, Trương Phúc
Lư và quan tỉnh Mai Quư cũng bị chuyển đổi. Cũng vô can, Nguyễn Văn Tường
vẫn phải sung làm tham tán quân thứ Tuyên Quang (27).
Khi chuẩn bị qua Tuyên Quang, cũng là lúc Nguyễn Văn Tường hay tin
thượng thư Bộ Lễ Nguyễn Văn Phong đă ra đến Bắc Ninh với chức trách khâm
sai đại thần, Trần Đ́nh Túc làm tuần vũ Hà Nội thay Đào Trí, để Đào Trí
cũng đến Bắc Ninh bàn việc quân (28).
Lúc ông đă mang gươm bút với một rương nhỏ đựng áo quần, cùng với
toán lính tuỳ tùng, phóng ngựa qua Tuyên Quang, ở tại bản doanh quân thứ
thuộc đạo quân cánh hữu đó được nửa tháng, cũng đă vài lần trao đổi công
tác với tổng đốc Sơn Tây – Hưng Hoá – Tuyên Quang Nguyễn Bá Nghi, th́ quan
hiệp biện họ Vũ lại phóng ngựa qua Tuyên Quang, bảo tham tán Nguyễn Văn
Tường:
- Ḿnh đă tâu xin đức vua, cứ để quan tán tương ở lại tham mưu việc
quân cho quân thứ Lạng Sơn. Mặc dù chức vụ tham tán cao hơn tán tương hai
bậc, nhưng cũng là tham mưu. Ông nên ở lại Lạng Sơn để bàn việc quân với
ḿnh. Lê Bá Thận đă qua Thái Nguyên với Đoàn Thọ rồi. Ḿnh và ông làm việc
với nhau, như thế hợp hơn. Chắc tán tương đồng ư?
- Vâng, đồng ư. Làm việc với tôi, quan hiệp biện tha hồ bộc trực!
Vũ Trọng B́nh cười ha hả. Một thoáng im lặng, ông nói:
- Quan tán tương Nguyễn cứ tin ḿnh đi. Ḿnh phê b́nh ai, kẻ ấy dứt
khoát sai, trước sau cũng lộ chân tướng. Tuy nhiên, ḿnh rất tiếc cho
tướng Đoàn Thọ. Viên họ Đoàn này rất khí khái, hào sảng, nhưng chỉ là
tướng lược, tài cầm quân c̣n sơ suất lắm. Chả là ông ta được cất nhắc lên
quá nhanh (26), c̣n thiếu kinh nghiệm!
- Đúng, tôi cũng thấy như vậy. Ông ấy c̣n hạn chế, nhưng tôi rất quư
mến. Phải nói là
“Đoàn Thọ trung hậu, siêng năng, cẩn
thận mà không đủ quyết đoán. V́ vậy [tướng họ Đoàn này, cũng như vài viên
khác] đều là tướng lược mà không sở trường, nên khó thành tựu”
(châu bản, 2 bản tấu: 07. 6 và 20.6 Quư dậu, 1873) (29).
Về tham tán họ Lê, tôi thấy
“Lê Bá Thận
siêng năng xét kín, việc bộ làm tốt, nhưng lâm cơ ứng biến sợ hơi chậm”
(29).
Đối với Trần Tiễn Thành, tôi thấy thượng thư này
đúng là kẻ chủ “hoà”. Tôi thật ḷng không thích điều đó. Tuy vậy cũng phải
thấy mặt khác của ông ấy. Theo tôi, mặt khác ấy là
“Trần Tiễn Thành biết xa nghĩ sâu, đương được đại cuộc, trọng hậu, kiên nhẫn, lay chuyển
chẳng rung. [Nhiều] người đều khen là có khí lượng… Xét kĩ th́ tựa có nghi
ngại, e sợ, hoặc là do răn ḿnh về việc thịnh măn nên cố thu nén, chẳng
dám nỗ lực đảm đương” (29).
Về mặt ưu của thượng thư Bộ Hộ hiện nay:
“Phạm Phú Thứ, học thức đă giỏi, từng trải đă
lâu, xử trí các việc rắc rối, chuyển xoay hiệu nghiệm; trước dự vào việc
tuyển cử, có ít người nói là nối được việc chuyên giữ tính toán; công luận
khá yên” (29).
Đó là tôi chưa nói đến nhược điểm
của những vị quan ấy. Ngoài ra, tôi cũng xin dám mạnh dạn nhận định về
quan Vũ hiển điện đại học sĩ, người mà tôi rất mực kính trọng:
“Nguyễn Tri Phương, trung dũng có thừa…” (29).
C̣n riêng quan hiệp biện, tôi cũng nhận xét
là quan hiệp biện Vũ Trọng B́nh, viên quan tôi đang được phụ tá đây, đúng
là
“thanh liêm, mẫn cán, sáng suốt, đảm đương”
(châu bản, 2 bản tấu: 07.6 và 20.6 Quư dậu, 1873) (30)
“cai trị dân rất xứng nhưng chẳng có tài liệu biện với
giặc” (29).
Giá như quan hiệp biện được nhà vua quyết định vẫn để giữ chức vụ thượng thư Bộ Lại, th́ mối tệ bổ nhiệm sai lầm do tham nhũng và
do không biết người biết việc sẽ giảm bớt
(châu bản, dẫn theo ư 2 bản tấu: 07.6 và 20.6 Quư dậu, 1873)
(30). Biết quan hiệp biện khâm sai đại thần là
người bộc trực, ngay thẳng, thanh liêm nổi tiếng
(31) và cũng nổi tiếng là được dân quư trọng,
tôi cũng xin nói thẳng, nói thật như thế. Nếu quan
hiệp biện không mích ḷng khi nghe tôi nói thế, th́ tôi sẽ đồng ư, đồng
tâm làm việc với quan lớn ở xứ Lạng này, như hồi năy tôi đă nói.
Quan hiệp biện Vũ Trọng B́nh ngẫm nghĩ một lúc khá lâu. Ông mỉm cười
nói:
- “Cai trị dân rất xứng nhưng chẳng có tài liệu biện với giặc”
(29). Quan tán tương nhận xét về ḿnh như thế quả là hơi đau. Nhưng tính ḿnh vẫn rất thích những lời nói trung thực
như thế. “Trung ngôn nghịch nhĩ”, lời nói thẳng nghe rất khó, rất trái
tai, nhưng có thế mới đúng là “thuốc đắng dả tật”.– Quan hiệp biện ngẫm
nghĩ –. Ḿnh cũng tự biết ḿnh liệu biện với giặc không bằng quan tán
tương, nên mới hội ư để ta cùng làm việc với nhau. Ông phải bổ sung cho
ḿnh chỗ ḿnh c̣n hạn chế.
Vũ Trọng B́nh nh́n Nguyễn Văn Tường với ánh mắt cảm mến, quư trọng.
Quan tán tương Nguyễn nói với giọng xúc động:
- Thật không dám… Nhưng quan hiệp biện vốn đă rất thanh liêm, trung
thực, ngay thẳng và chân thành, th́ xin vâng… Vâng, tôi xin hết ḷng với
quan hiệp biện. – Quan tán tương lại nói tiếp với giọng trầm tĩnh –. Có
điều, chẳng hiểu sao quan hiệp biện không cho ư kiến về những nhận xét mạo
muội của tôi đối với các viên quan vừa nói? Xin được chỉ giáo.
- Hoàng thượng có ban dụ tham khảo ư kiến quan tán tương và các quan
khác, hôm nào đó trong tuần trước. Tôi biết đó là những ư tưởng mà quan
tán tương dè dặt chưa dám phúc tâu vào hoàng thượng… Dẫu sao cũng chỉ là
nhận định riêng. Nhận định như thế th́ đúng là
“cường tân áp chủ” (người
khách mạnh lấn ép chủ nhà), có vẻ xă giao,
“đăi khách”
quá đáng chăng?
- Cảm ơn quan hiệp biện. Đúng là quá “đăi khách”, đúng là
“cường tân áp chủ”
thật. “Đăi khách” là hiếu khách, rất tốt, nhưng
ở trường hợp khác.
Công lí chung là khách ra khách, chủ ra chủ, người khách không được tranh làm chủ, lấn ép chủ,
người chủ không nên v́ phép khiêm tốn xă giao mà hạ ḿnh quá đáng, đến nỗi
người chủ tự mất quyền làm chủ của ḿnh. Ḿnh là người Đại
Nam phải phù vua Đại Nam để làm chủ nước Đại Nam của ḿnh, không nên để
người gốc Tàu lấn lướt, thao túng, lũng đoạn nước ḿnh. Đúng là như vậy
thật, khách hay chủ ǵ hẳn cũng tán thành như thế, đất nước nào chắc chắn
cũng cho đó là công lí chung. – Tán tương Nguyễn Văn Tường nói –. Thật ra,
chỉ có hai người gốc Tàu mà tôi nhận xét thôi, đó là Trần Tiễn Thành, Phạm
Phú Thứ, ngoài ra, những viên quan khác đều là người Đại Nam ḿnh cả. Xin
cảm ơn sự chỉ giáo của quan hiệp biện. Và hôm trước cũng như hôm nay, quan
hiệp biện có nói một câu tôi rất tâm đắc:
Thời gian sẽ bóc trần, làm lộ chân tướng
những kẻ giả trá.
Nguyễn Văn Tường không thể quên được tiếng hét của một người dân Gia
Định trong khi sứ bộ Đại
Nam xuống tàu thuỷ
để về Huế, sau cuộc đàm phán đúng vào dịp Tết Nguyên đán Mậu th́n (1868).
Ông nhớ lại và đang chờ quan hiệp biện khâm sai Vũ Trọng B́nh nói.
- Đúng! – Quan hiệp biện Vũ Trọng B́nh quả quyết hẳn –. Thật đúng
như vậy:
Thời gian sẽ bóc trần, làm lộ chân tướng những kẻ giả trá.
Nhưng đừng ỷ y vào thời gian, để đến lúc phát
hiện ra th́ quá muộn! Không phải tôi là nhà tiên tri, thấu thị, nhưng tôi
đoan chắc rồi quan tán tương sẽ thấy sự thực: Lê Bá Thận và hai tên gốc
Hoa Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ sẽ tự rơi mặt nạ giả h́nh của chúng.
- Đa tạ sự chỉ giáo của quan hiệp biện. Tôi đă sai lầm. Tuy phải
tuân chỉ đức vua, mạn phép nhận xét như thế nhưng tôi cũng bổ khuyết thêm
là
“việc nghe thấy [nhất thời] cũng không phải là bằng cớ xác đáng”
và con người
“tuỳ môi trường mà đổi tiết, tuỳ chỗ dùng mà thấy sở trường, thực khó phẩm
b́nh”
(châu bản, 2 bản tấu: 07.6 và 20.6 Quư dậu, 1873)
(29). “Trường đồ tri mă lực” (đường dài mới biết sức ngựa)!
- Thật chí lí!
“Ḍ sông ḍ bể dễ ḍ, Nào ai lấy thước mà đo
ḷng người”! “Đi lâu mới biết đường dài, Ở lâu mới biết ḷng người ra
sao”!
- Nhưng dẫu tài cao đức tốt mấy, dẫu tài hèn đức mỏng mấy, th́ chủ
vẫn làm chủ, khách chỉ nên làm khách. Chính danh định phận trong trường
hợp này là công lí của muôn vạn đời.
Mươi ngày sau, theo đường bưu trạm dịch lộ tối khẩn cấp phục vụ cho
việc liên lạc giữa triều đ́nh và mặt trận biên giới Bắc, Vũ Trọng B́nh
nhận được dụ chuẩn y của vua Tự Đức. Ông cho toán lính phụ trách ngựa trạm
phóng nhanh qua bản doanh đạo quân cánh hữu, trao bản sắc dụ cho Nguyễn
Văn Tường. Thế là quan tham tán lại mang gươm bút với một rương nhỏ đựng
áo quần, cùng với toán lính tuỳ tùng, phóng ngựa về lại thành luỹ Lạng
Sơn.
Cuối tháng tư năm Tự Đức thứ hai mươi hai, Kỉ tị (1969) này, tổng
đốc Sơn Tây – Hưng Hoá – Tuyên Quang Nguyễn Bá Nghi chợt cảm thấy rất tiếc
khi tham tán Nguyễn Văn Tường lại về Lạng Sơn với Vũ Trọng B́nh. Nguyễn Bá
Nghi viết tập tâu đệ vào kinh:
“Tán tương ở quân thứ Tuyên Quang Nguyễn Văn Tường giỏi giang, hiểu biết,
xin cất lên chức đốc phủ (tổng đốc, tuần vũ)”.
Nhưng châu phê của nhà vua:
“Biết người rất khó, bậc thánh cũng c̣n chưa chắc, huống chi tṛ chuyện
chốc lát một lần. Ngươi chớ khinh thường, tư vị” (32).
Tham tán Nguyễn Văn Tường rất buồn khi nhận được lá thư của tổng đốc
Sơn –Hưng – Tuyên Nguyễn Bá Nghi, trong thư có chép lại hai ḍng chữ phê
bằng bút son đỏ ấy của nhà vua. Hoá ra, đến lúc này, vua Tự Đức cũng chưa
thật tin tưởng vào Nguyễn Văn Tường! Nguyễn Văn Tường nghĩ ngợi, chẳng lẽ
vụ Đoàn Trưng hồi tháng tám năm Bính dần (1866), cách đây đă ba năm dài,
vua Tự Đức vẫn chưa quên? Vụ ấy đă được nghị xử:
“V́ sơ suất việc canh pḥng, kiểm soát”
(33). Rất rơ là từ bấy đến nay, nhà vua luôn giao phó cho ông những nhiệm vụ quan trọng nhưng không có thực quyền! Những
là bang biện khâm phái, bang biện chỉ là một chức hàm hư, tạm bợ, nhất
thời, không có thực quyền. Những là tán tương quân thứ, tán tương cũng chỉ
là chức năng tham mưu, bàn bạc việc quân với các tướng cầm quân, c̣n các
tướng ấy có nhất trí với lời bàn của tán tương hay không là việc khác. Tán
tương quân thứ không có quyền ban quân lệnh hành quân, tấn công, mai phục
hoặc thoái thủ… Vua Tự Đức biết Nguyễn Văn Tường có tài chính trị, ngoại
giao, quân sự nhưng không thật tin dùng? Ông hồi tưởng lại những lần được
yết kiến vua Tự Đức tại điện Cần Chánh, và tự kết luận, quả thật, không
phải nhà vua không tin dùng. Không, không phải như thế. Ông biết sau vụ
Đoàn Trưng, ông bị cách tuột chức và cho đi làm việc chuộc tội, ấy là theo
nguyên tắc, để mọi quan chức đều phải có trách nhiệm cao. Thực sự trong
t́nh h́nh hiện nay, đúng như quan hiệp biện Vũ Trọng B́nh đă nói:
Giai đoạn này, cánh chủ chiến (chiến để thủ, thủ để chiến, hoà là cơ
nghi) đang thực sự bị lép vế!
Nguyễn Bá Nghi là viên quan lớn chuyên chủ “hoà”, hồi năm Nhâm tuất
(1862), ông ta chỉ một mực bàn “hoà” (34)! Đúng là ông ta không hiểu
Nguyễn Văn Tường bằng vua Tự Đức. Câu châu phê ấy, nghĩ cho cùng, có nghĩa
là:
Nguyễn Văn Tường giỏi giang, hiểu biết, nhưng cũng là người chủ chiến.
Nguyễn Bá Nghi không hiểu rơ về Nguyễn Văn Tường, đă vội đề bạt làm tổng
đốc, tuần vũ. Nguyễn Bá Nghi mới một lần chuyện tṛ, trao đổi về công tác,
đă vội cảm t́nh và chỉ cảm tính mà thôi. Phải chăng là thế? Nghĩ
ngợi, băn khoăn, ông chỉ biết mỉm cười cay đắng. Nụ cười cay đắng ấy sau
một chốc, lại trở thành nụ cười trầm tĩnh, tự tin. Tán tương Nguyễn Văn
Tường tự nhủ, dẫu thế nào th́ ḿnh vẫn vậy, vẫn thuộc cánh chủ chiến
(chiến để thủ, thủ để chiến, hoà là cơ nghi).
Nhưng sự mất đoàn kết trong tướng tá, sự chuyển đổi cương vị của họ,
thật sự chẳng có ǵ nghiêm trọng. Vấn đề căng thẳng gay gắt vẫn là t́nh
trạng bọn phỉ Tàu và giặc trốn nước ta câu kết với nhau, quân triều đ́nh
khó ḷng tiêu diệt nhanh chóng như lúc đầu nhận định. Bọn phỉ này, ta càng
mở lượng hiếu sinh, kêu gọi cho chúng đầu hàng, chấp nhận sắp xếp cho
chúng nơi làm ăn sinh sống với số bạc trợ cấp không ít, chúng càng lộng
hành!
Hết
phân đoạn
1
truyện kí thứ sáu
(c̣n tiếp)
Viết đến ḍng chữ này
lúc 16 giờ kém 10 phút,
ngày mùng ba tháng
mười, năm 2002
(27.8, Nh. ngọ,
HB.2),
tại thành phố Hồ Chí
Minh.
TXA.
(1)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.), tập 31, bản dịch Viện Sử học,
Nxb. KHXH., Hà Nội, 1974, tr. 238.
(2)
Trần Xuân An (biên soạn),
Ḱ Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ, vài nét về con người, tâm
hồn và tư tưởng (KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. & TT.), bản in vi tính, 2000
(chưa có điều kiện xuất bản rộng răi), bài thơ số 1, tr. 133, 139.
(3)
Phan Khoang, Trung quốc sử
lược (TQSL.), ấn quán Hồng Phát, Chợ Lớn, 1958, tr. 376. Xem thêm chú
thích (27) ở truyện thứ năm.
(4)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 257 – 258, 262.
(5)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 240, 241.
(6)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 244, 246.
(7)
Nguyễn Văn Hồng, Vũ Dương
Ninh, Vơ Mai Bạch Tuyết, Lịch sử cận đại thế giới, (LSCĐTG.), tập
3, Nxb. KHXH., 1985: về các nước châu Á.
(8)
Nguyễn Văn Hồng, Vũ Dương
Ninh, Vơ Mai Bạch Tuyết, Lịch sử cận đại thế giới, (LSCĐTG.), tập
1, Nxb. KHXH., 1986, tr. 459 – 490.
(9)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 248.
(10)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 262 – 263.
(11)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 130.
(12)
Trần Trọng Kim, Việt
Nam sử lược (VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr.
426.
(13)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 306.
(14)
GS. Trần Văn Giàu, Hệ ư
thức phong kiến và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử (HYTPK. &
STBCNTNVLS.), Nxb. TP.HCM., 1993, tr. 337 – 381.
(15)
Nhiều tác giả, Nguyễn
Trường Tộ và vấn đề canh tân đất nước (NTT. & VĐCTĐN.), Nxb. Đà Nẵng,
2000, tr. 343, 365, 383; Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4 (323), tháng VII
– VIII, 2002: bài của Đào Duy Đạt, “T́m hiểu chính sách văn hoá “Trung
học vi thể, Tân học vi dụng” ở Trung Quốc trong phong trào Dương Vụ (1861
– 1894)”, tr. 70 – 78.
(16)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 279 – 280.
(17)
TQSL., sđd., 1958, tr. 363 –
368, 376.
(18)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974,
tr. 281.
(19)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 288 – 289; tập 30, sđd., 1974, tr. 315, 316 – 317.
(20)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 311.
(21)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 305 – 306.
(22)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 315.
(23)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 286 – 287.
(24)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 280.
(25)
ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1975,
tr. 137 – 139 (tháng bảy nguyệt lịch, 1878).
(26)
Nguyễn Đắc Xuân (biên soạn),
Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành (PCĐT. Tr.TT.), Nxb. Thuận Hoá,
1992, tr. 120 – 123: châu phê của vua Tự Đức: “Trong tất cả những người
được trẫm cất nhắc không theo thứ tự, chỉ có ngươi và Đoàn Thọ là hơn ai
hết. Ngươi lại được ưu tiên nhất…”. Xem thêm châu phê: “… [Nguyễn]
Trường Tộ việc ǵ cũng đă nghi ngờ Triều đ́nh, ngươi lại c̣n theo mà tạo
nghi ngờ nữa, th́ mọi việc mỗi ngày mỗi hỏng không mong ǵ thành công được
[…] Trẫm sợ rồi đây ngươi không khỏi phụ ơn, cũng không tránh khỏi điều
chê trách. Thế th́ những hạng như ngươi đều vô ích. Nay phải rửa sạch hiềm
nghi, quyết ḷng lo báo, làm sao cho Nhà nước được tôn, rợ Tây phải phục.
Đó là ngươi báo đáp ơn nuôi dạy của tổ khảo ta, chứ không phải chỉ rửa
nhục cho một ḿnh ta mà thôi…”. Chúng tôi (TXA.) có thay một đại từ
nhân xưng cho câu dịch được nhă hơn. Đại từ “ngươi” được sử dụng
trong bản dịch ĐNTL.CB. của Viện Sử học.
(27)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 315, 316 – 317.
(28)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 325.
(29)
Châu bản Nguyễn Văn Tường
được trích dẫn theo ba bài viết của nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc (nguyên
giảng viên ĐHSP. Tp. HCM.)., trong kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử về đề
tài “Nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế và Nguyễn Văn Tường” (gồm 28 bài
nghiên cứu của 29 tác giả), do ĐHSP. TP.HCM. tổ chức, 20.6.1996, tr. 203 –
216, và trong tập tài liệu Các báo cáo khoa học, (gồm 15 bài nghiên
cứu của 13 tác giả), Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn
Tường (1824 – 1886) tại Huế, ngày 02.7.2002, tr. 8 –19, tr. 42 – 58.
Chúng tôi vẫn xác định chuẩn cứ là ĐNTL.CB.. Trong ĐNTL.CB. vốn có các
đoạn châu bản, châu phê, sắc dụ… đă được trích dẫn. Đó là tư liệu có giá
trị xác tín tuyệt đối. C̣n các trang châu bản trên, trong các bài
của Trần Viết Ngạc, hầu hết là ở ngoài ĐNTL.CB., chúng tôi mạn phép vẫn
chỉ xem là tư liệu tham khảo (có thể chép đúng, có thể chép sai sót,
kể cả nhầm lẫn ngày tháng viết trên từng bản tấu, sớ…), bởi chúng chưa
được Hội đồng khoa học lịch sử và các cơ quan liên ngành giám định bằng
phương pháp khoa học thực nghiệm. Trong khi chờ sự đối chiếu với các
bản gốc trong Kho Lưu trữ Châu bản triều Nguyễn, sự giám định thực nghiệm
và công bố chính thức của Viện Sử học, chúng tôi mạo muội xác định, phân
loại tư liệu như trên. Nhân đây, xin bày tỏ ḷng kính mong chờ ở Viện Sử
học và các ngành hữu quan.
(30)
Châu bản Nguyễn Văn Tường,
dẫn theo bài viết của Trần Viết Ngạc, trong Nhóm chủ chiến triều
đ́nh Huế và Nguyễn Văn Tường, kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử, ĐHSP.
TP. HCM., 20.6.1996, tr. 214: “Ông [tức Nguyễn Văn Tường] nhận xét việc
tuyển bổ quan lại lắm khi không đúng với khả năng như “lấy quan thái y mà
cử làm quan phủ huyện, kẻ thư kí mà bổ làm học quan”. Ông đề nghị để Vũ
Trọng B́nh mà theo ông là “thanh liêm, cần mẫn, sáng suốt, đảm đương” phụ
trách Bộ Lại để chấm dứt mối tệ hối lộ trong việc bổ dụng, làm cho sĩ phu
phấn chấn hơn” (trích: bài viết của Trần Viết Ngạc). Chúng tôi nhận
thấy điều này hoàn toàn khớp với mối quan hệ đồng chí, thắm thiết, tin cậy
lẫn nhau giữa Vũ Trọng B́nh và Nguyễn Văn Tường trong ĐNTL.CB., tập 31 –
32…
(31)
Quốc sử quán triều Nguyễn và
Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục (QTHKL.), bản dịch: Nguyễn
Thuư Nga, Nguyễn Thị Lâm, hiệu đính: Cao Tự Thanh, Nxb. Tp. HCM., 1993,
tr. 177: mục về Vũ Trọng B́nh.
(32)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 330 – 331.
(33)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 53 – 57.
(34)
ĐNTL.CB., tập 29, sđd., 1974,
tr. 208 – 213, 226 – 228.
Hết
phân đoạn
1
truyện kí
thứ sáu
XIN XEM
TIẾP TỆP 12
phân đoạn
2
truyện kí
thứ sáu