TỆP 12
phân đoạn 2
truyện kí thứ sáu
TRẦN XUÂN AN
VỚI NGỌN BÚT, THANH GƯƠM,
RA BẮC TIỄU PHỈ
Truyện kí thứ sáu
(phân đoạn 2)
4
Mười bốn tháng nữa đă trôi qua.
Suốt mười bốn tháng qua, Nguyễn Văn Tường và Vũ Trọng B́nh rất thân
thiết với nhau. Hầu như trong công việc nào hai vị quan này cũng đều
đồng ḷng chung sức. Giữa họ, là t́nh cảm bạn bè, mặc dù Vũ Trọng B́nh
lớn hơn Nguyễn Văn Tường đến mười hai tuổi và phẩm hàm cao hơn.
Giữa họ có những kỉ niệm chung trong nhiều lần tham mưu và hội
quân chiến đấu với tướng Phùng Tử Tài nhà Thanh.
Hồi tháng bảy năm Tự Đức thứ hai mươi hai (1869), án sát Hải Dương
Tôn Thất Thuyết mới được sung chức tán tương quân thứ Thái Nguyên chưa
đầy một tháng (35). Đó là lúc bọn phỉ Tàu vây hăm phủ Phú B́nh thuộc
tỉnh Thái Nguyên, tán tương quân thứ Tôn Thất Thuyết, quyền đề đốc
Nguyễn Văn Nhuận chia đường tiến đánh, lấy lại được phủ thành (35). Đó
cũng là lúc, để cùng phối hợp, Vũ Trọng B́nh và Nguyễn Văn Tường ở Lạng
Sơn liền bàn với Phùng Tử Tài tiến quân về Thái Nguyên, Bắc Ninh, Sơn
Tây, Tuyên Quang để cùng đánh một loạt cứ điểm sào huyệt của bọn phỉ
(35). Lần tham mưu cho tướng Thanh Phùng Tử Tài ấy là lần quân Thanh dốc
toàn lực mười sáu doanh đánh đồng loạt. Nếu không đánh đồng loạt, chúng
cứ như chuột, chạy từ tỉnh này sang tỉnh kia, không bao giờ tiêu diệt
sạch chúng được. Địa phận miền núi với địa h́nh hóc hiểm rất khó truy
kích. Đó là một trận lớn, thắng khá gịn giă. Và gịn giă nhất, bất ngờ
nhất, là khi quân Thanh, quân Việt đánh tổng lực trên vùng miền núi, bọn
phỉ Ngô Côn lẻn thoát về xuôi, vây sát thành Bắc Ninh với khí thế rất
mạnh và bị đánh tan (35). Chúng tưởng trong thành thiếu quân, bởi ḍ la,
chúng thấy tất cả quân tiễu phỉ đă lên biên giới. Nguyễn Văn Phong, Bùi
Tuấn cố giữ thành, cho lính kị binh phi báo. Ông Ích Khiêm từ huyện Kim
Anh liền đem tượng binh, bộ binh tiến về trong khuya. Trong thành bắn ra,
quân Ông Ích Khiêm từ sau bắn tới, bọn phỉ Ngô Côn tan tác. Trong trận
đó, Ngô Côn trúng đạn lạc (35). Mấy tháng sau, vết thương không chữa nổi,
tên tướng phỉ giảo quyệt nhất nh́ ấy mới chết.
Đó là lần chiến thắng vang dội nhất, từ sau chiến thắng đánh chiếm
lại thành Cao Bằng do Vũ Trọng B́nh, Nguyễn Hiên, Đinh Hội chỉ huy (36)!
Hai trận thắng cách nhau chỉ hai tháng.
Sau khi chiếm lại được thành Cao Bằng hồi tháng năm năm ngoái
(1869), tổng thống Lạng – Bằng Vũ Trọng B́nh bận rất nhiều việc. V́ vậy,
vua Tự Đức hầu như giao hẳn việc thám xét, tâu báo, kiến nghị khắp địa
phận thuộc cánh quân chính đạo phụ trách cho Nguyễn Văn Tường, Đặng Toán,
Trần Đôn Phục (37). Do đó, trong trận tháng bảy gịn giă vừa qua, thật
sự là đợt tấn công chính Nguyễn Văn Tường và hai quan tỉnh họ Đặng, họ
Trần vạch ra và hầu như tự đề xuất với tướng Thanh Phùng Tử Tài.
Tháng chín năm ngoái (1869), lúc Phùng Tử Tài đem quân về Bắc Ninh
nghỉ (38), ông ta viết bút đàm:
- Ngô Côn đă chết thật rồi phải không?
- Đúng vậy. Y bị thương hồi tháng bảy, nay đă chết tại trại Na Hựu,
tỉnh Thái Nguyên (39). Tin thám báo lần này rất chính xác. – Nguyễn Văn
Tường bút đàm đáp –.
- Chiến trận ngộ nghĩnh thế đấy. Tướng giặc không chết v́ đại quân
tiền phương lại chết do tiểu quân hậu phương!
- Không phải tiểu quân! Chúng tôi luôn dự bị quân ở hậu phương.
Ông Ích Khiêm là một tướng tài của chúng tôi. Vả lại, địa bàn Bắc Ninh
có bọn giặc trốn Lê Văn Khuông, c̣n gọi là Lê Khuông hoặc gọi gọn lỏn là
Tịch, rất tàn ác và xảo trá (40). Dưới trướng hắn c̣n có các tên gian ác
kinh khủng là Đỗ Chuyên, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Nhiễm, Nguyễn Đ́nh Chích
(40), cùng hai tên khác cũng giết dân đốt nhà không gớm tay khác là Đỗ
Văn Đạo, Nguyễn Văn Năm (40)! – Nguyễn Văn Tường bút đàm đáp –. Do đó,
không thể không dự bị quân.
- Đúng như quan Nguyễn tán tương nói! Nhưng c̣n phải thấy, dẫu sao
cũng nhờ uy lực của ba mươi mốt doanh quân, gồm non một vạn viên lính
nhà Thanh của Phùng tướng quân, mới làm nên chiến thắng đó (41). – Vũ
Trọng B́nh cầm bút viết trên xấp giấy đối thoại –.
- Cảm ơn! Cảm ơn! – Phùng Tử Tài cười ha hả, tỏ ra khoái trá, lại
cầm bút viết –. Tiền phương và hậu phương là một mà! Tôi cũng thành thật
khâm phục tướng quân Đoàn Thọ. Ông ấy xin chế ống phụt lửa để trị tên
Ngô Côn, bởi lẽ tên phỉ họ Ngô này khi xung trận mang cả súng lục, súng
trường, sử dụng cả hoả mù (lựu đạn khói), cỡi ngựa phóng như chớp (42)!
May là hắn đă chầu Diêm vương! Cái đầu của Ngô Côn một thời cũng có giá
đấy, hai nước
Nam
– Thanh phải treo giải chung từ một ngàn đến tám ngàn, rồi đến mức mười
một ngàn lạng bạc (43)!
- Bọn Pháp và Anh viện trợ vũ khí thường xuyên cho chúng mà! Cho
nên càng đáng phải chết! Kĩ nghệ chế tạo ống phụt lửa, chế tạo đạn toé (đạn
công phá), triều đ́nh
Nam quốc chúng tôi
đang cho nghiên cứu và t́m dùng người am hiểu (44), nhưng trước mắt là
vũ khí chúng tôi c̣n kém chúng. Theo thiển kiến, Đại Thanh quư quốc cũng
đang nghiên cứu
“Tây học vi dụng”
để
“cầu cường”,
hướng tới hùng mạnh! – Nguyễn Văn Tường bút đàm –.
- Đa tạ, đa tạ. Quả là phải “cầu cường” bằng Tây dương học. Hàng
trăm năm trước chúng học ta, nay ta phải học lại! – Phùng Tử Tài bỗng
quay lại vấn đề tiễu phỉ –. Về lũ phỉ… Bọn phỉ này lẽ ra phải chết sạch.
Nhưng cũng nên tha cho những tên lính bị bắt ép phải theo. Chúng ra hàng
cả hàng vạn tên (45).
- Mong Phùng tướng quân cho chúng về nước Thanh, quê hương bản
quán của chúng. – Nguyễn Văn Tường viết –.
Ngẫm nghĩ một lúc, Phùng Tử Tài gật đầu, cầm bút viết:
- Tôi sẽ cho dẫn chúng về.
- Xin cảm ơn.
- Việc này là việc nước Thanh chúng tôi, để lây sang quư quốc, tôi
thật áy náy.
- Mong Phùng tướng quân tiếp tục truy kích, quy phục bọn phỉ và
dẫn độ chúng về nước cho ḱ hết. Như thế quư Thanh quốc và bản quốc mới
yên ổn được. – Nguyễn Văn Tường ghi lên giấy –.
- Tôi xin hết sức.
Sau đợt dưỡng quân ngắn hạn ấy, Vũ Trọng B́nh, Nguyễn Văn Tường
động viên Phùng Tử Tài tiến quân về Tuyên Quang, ngang qua Thái Nguyên.
Quan tổng thống Lạng – Bằng và tán tương quân thứ Lạng Sơn tiễn chân
Phùng đến tận Thái Nguyên, lại trở về Bắc Ninh. Đó là đợt hành quân thu
được thắng lợi khá lớn của quân họ Phùng.
Khi Phùng Tử Tài đến Tuyên Quang theo như yêu cầu của Vũ Trọng
B́nh, Nguyễn Văn Tường, quân Thanh dưới quyền họ Phùng hội quân với quân
ta tại đấy. Quân Thanh đóng trại ở xă Linh Hồ, ngoài thành (46). Phùng
phàn nàn lương thực và đạn dược tiếp vận chậm. Nguyễn Bá Nghi, Đào Trí
liền bị vua Tự Đức cách chức, phát đi quân thứ làm việc chuộc tội.
Sau đó, Vũ Trọng B́nh, Nguyễn Văn Tường phải lo việc vận lương
tiếp tế thay tổng đốc Sơn –Hưng – Tuyên Nguyễn Bá Nghi, thống đốc Đào
Trí. Thự tuần vũ Hà Nội Trần B́nh ngay lập tức được điều động làm hộ đốc
Sơn – Hưng – Tuyên. Nhưng chẳng bao lâu Nguyễn Bá Nghi, Đào Trí được
phục chức bố chính Sơn Tây, lănh binh quan cùng tỉnh (47).
Vua Tự Đức liền gửi dụ ra mặt trận:
“Ngợi khen [Vũ Trọng] B́nh, [Nguyễn Văn] Tường giỏi về ứng đối [với tướng
nhà Thanh], cho chuyên sung việc hộ dẫn, theo bàn công việc mưu kế đánh
dẹp, vỗ về” (48).
Mười bốn tháng ấy đă trôi qua.
Dưới ánh nắng tháng sáu, năm Tự Đức thứ hai mươi ba, Canh ngọ
(1870), vẫn ánh nắng cuối mùa hè khá gay gắt ở Lạng Sơn, tán tương
Nguyễn Văn Tường theo sắc dụ của vua Tự Đức, sung làm khâm mạng đến đại
bản doanh của tướng nhà Thanh Phùng Tử Tài để phúng điếu tổng trấn Quan
Tùng Chi nhà Thanh mới chết bệnh và các chiến sĩ trận vong của họ với số
tiền tượng trưng là hai trăm lạng bạc cùng nhiều lễ vật khác, đồng thời
ông cũng uỷ lạo các doanh quân Thanh bằng số bạc ba ngàn lạng, để tiễn
chân quân Thanh hợp lực tiễu phỉ về nước (49).
Hôm ấy, gặp Phùng Tử Tài, hai người cùng thi lễ chào nhau. Họ ngồi
đối diện, giữa bàn là hai xấp giấy và bút nghiên. Nguyễn Văn Tường đă
nhiều lần bàn bạc việc quân với ông ta bằng bút đàm. Lần này, lại là
những câu viết chia tay.
- Đức vua của bản triều từ kinh đô Huế có gửi ra tặng Phùng tướng
quân hai thanh kiếm vàng và một cái như ư nạm ngọc, đồng thời cũng tặng
thêm chiếc quạt có đề ba bài thơ của chính đức vua Tự Đức, cùng các quà
lưu niệm khác. Mong rằng t́nh bạn láng giềng hai nước được bền vững.
- Đa tạ, thật ḷng kính đa tạ đức vua Tự Đức. Nhưng tôi tự xét
nghĩ, việc tiễu trừ tàn quân Thái b́nh là việc của Thanh triều nước
chúng tôi. Cuộc phản loạn Thái b́nh thiên quốc không may mà gây binh đao
cho hai nước. Đă thế, lẽ nào tôi dám nhận tặng vật quá quư báu này của
đức vua Tự Đức.
- Thật ḷng chúng tôi vẫn chỉ muốn chính thanh gươm của quân tướng
nhà Thanh quư quốc trừng phạt bọn phỉ Thái b́nh. Mặc dù chúng tràn qua
cướp phá, chiếm cứ nhiều bản mường, xưng hùng xưng bá, câu kết và che
chở cho bọn phỉ người Việt chúng tôi, chúng tôi vẫn mong như thế. Thực
chất đó là nội loạn của quư quốc, quư quốc tự giải quyết là tốt nhất.
Nhưng dẫu sao hai nước chúng ta chung biên giới, ngọn cỏ dây leo cũng ḅ
lan sang nhau, tiếng chuông, canh gà bên này, bên kia cũng nghe, nên
nước tôi phải ra tay. Hơn nữa, nếu đợi quân tướng quư quốc qua nước tôi
tiễu trừ bọn chúng, th́ nhân dân biên giới chúng tôi không c̣n một nóc
nhà, một người sống sót. Nói tóm lại, v́ là việc cần kíp phải bảo vệ
nhân dân Đại Nam, kể cả nhân dân Đại Thanh phía biên giới quư quốc, nên
chúng tôi phải ra tay và đồng thời kêu gọi sự ra tay của quư quốc. – Tán
tương Nguyễn Văn Tường mỉm cười, bút đàm tiếp –. Dẫu sao, mong Phùng Tử
Tài tướng quân nhận những tặng vật của đức vua chúng tôi ban tặng để giữ
t́nh hữu nghị chiến đấu và để lưu niệm.
- Thật không dám nhận kiếm vàng và như ư nạm ngọc. Tôi tự thấy
không xứng đáng. Mặc dù bọn phỉ vẫn c̣n ít nhiều, nhưng quân binh nước
Thanh chúng tôi tử trận, bệnh ốm quá nhiều, chúng tôi đă tâu xin vua bản
triều nhà Thanh cho rút quân về nước. Như vậy, thật xấu hổ nếu nhận hai
thanh kiếm vàng và cái như ư nạm ngọc này. – Tướng Thanh Phùng Tử Tài
bút đàm –. Chỉ xin nhận những quà lưu niệm nho nhỏ thôi.
Không thể ép Phùng Tử Tài được, tán tương Nguyễn Văn Tường đành
chia tay ông, sau khi viết câu chúc sức khoẻ và t́nh bang giao tốt đẹp.
Mặc dù bọn tàn quân Thái b́nh vẫn c̣n lén lút quấy nhiễu nhưng viên
tướng nhà Thanh Phùng Tử Tài đă mỏi mệt, tâu xin với vua Thanh để rút
quân và đem hàng vạn tên hàng binh về! Thế là quân ta c̣n phải tiếp tục
đương đầu với số bọn phỉ c̣n lại!
Trong lúc đó, Vũ Trọng B́nh đang chỉ đạo trực tiếp việc xây đền
Chiểu trung ở phía ngoài thành Lạng Sơn để tưởng niệm các tướng tá, binh
lính nhà Thanh tiễu phỉ chết trận trên đất nước ta. Tiếp đó, triều đ́nh
c̣n cho tổ chức đàn tế ở Sơn Tây, Bắc Ninh (49). Những công việc bày tỏ
t́nh hữu nghị này, Nguyễn Văn Tường và Vũ Trọng B́nh vẫn phối hợp với
nhau.
Sau khi chia tay với tướng họ Phùng nhà Thanh, Nguyễn Văn Tường
không thể không hồi nhớ suốt mười bốn tháng đă trôi qua, ông và tổng
thống quân thứ Lạng – Bằng Vũ Trọng B́nh đă thường xuyên làm việc với
viên tướng nhà Thanh ấy.
5
Mười bốn tháng ấy c̣n có biết bao những sự việc, những nếm trải không thể
quên.
Ngoài những trận đánh tán tương Nguyễn Văn Tường trực tiếp xung
trận, ông c̣n thu thập, nghiên cứu nhiều trận đánh tiễu trừ bọn phỉ ở
các quân thứ khác trên khắp núi rừng biên giới phía Bắc. Trận quân Thanh
phối hợp với thảo nghịch tả tướng quân Nguyễn Hiên ở Kỳ Lừa, Chu Quyển,
Đồng Đăng cũng rất đáng nhớ (50). Đáng nhớ nhất là bọn phỉ Thái b́nh
thiên quốc đă chia rẽ nhau đến mức trầm kha. Phỉ Cờ vàng do Hoàng Sùng
Anh (Hoàng Anh) làm đầu sỏ đang quyết đánh với phỉ Cờ đen của Lưu Vĩnh
Phúc (51). Giữa chúng với nhau đă nhiều phen máu đổ thịt rơi. Lưu Vĩnh
Phúc từng toan chiếm cứ Cao Bằng, giết chóc dân ta ở biên giới không ít,
nhưng nay chừng như muốn quy thuận quan quân ta. Hắn quyết đánh Hoàng
Sùng Anh để lập công chuộc tội. Hắn không dám về nước Thanh, sợ sẽ bị xử
tử h́nh (52)! Tuy nhiên, có lẽ không việc nào gây xúc động cho ba quân,
và chắc hẳn không bao giờ phai nhạt trong trí nhớ Nguyễn Văn Tường,
trong kí ức quan binh như cái chết tử tiết dũng cảm của đề đốc quân thứ
Thái Nguyên Phan Bân (53). Phan Bân người huyện Hải Lăng, thuộc tỉnh
Quảng Trị. Vị tướng này vốn là quan chưởng vệ, lănh đạo một vệ quân lớn
ở Hải Dương – Quảng Yên. Dân làng quê ông thường gọi là Ông Chưởng.
Tướng Phan Bân, trước đây sung làm đề đốc quân thứ Lạng – Bằng, sau đó
được điều chuyển qua quân thứ Thái Nguyên để truy kích tên tướng phỉ Ngô
Côn. Năm ngoái, Phan Bân bị giặc bắt sống được, khi ông dẫn quân đánh
đồn Chợ Mới. Vua Tự Đức rất buồn khi được tin, liền chuẩn cho các quan
quân thứ t́m cách đ̣i về cho bằng được. Nhưng, cảm phục thay người đă
giữ tiết tháo! Phan Bân đă không chịu khuất phục bọn phỉ Tàu, quyết tự
tử để khỏi chịu nhục. May là các quan quân đă t́m được hài cốt mang về.
Vua Tự Đức thương tiếc, truy phong hàm thống chế.
Ngoài án sát Hải Dương Tôn Thất Thuyết sung chức tán tương
quân thứ Thái Nguyên, ở Lạng Sơn mới có thêm một tán lí quân thứ vốn
đương chức hiệp lí hải pḥng cũng thuộc tỉnh ven biển ấy. Đó là Hồ Trọng
Đĩnh (54). Điều vui mừng nhất là hai người con trai của cố thượng thư
Trương Đăng Quế là viên ngoại lang Bộ Binh Trương Văn Đễ, tú tài Trương
Quang Đản đă t́nh nguyện đến Sơn Tây, Bắc Ninh mộ quân tiễu phỉ và đă
được nhà vua chuẩn y (55). Mặt trận biên giới phía Bắc đă có thêm tướng
tá bổ sung, để đánh dẹp cho sạch bọn phỉ Tàu, phỉ Việt.
Và một hôm tháng bảy, Kỉ tị năm ngoái (1869), Nguyễn Văn Tường c̣n
nhớ Vũ Trọng B́nh đến án thư ông, buồn bă báo tin:
- Nguyễn Tri Phương cũng bị hăm hại rồi! Cụ thượng thư Vũ hiển
điện đại học sĩ họ Nguyễn ấy tâu về vụ đánh giá lại Nguyễn Văn Chất của
ông thế này:
“Việc này chắc có người tâu
mật muốn hại thần” (56)!
Ḿnh đă đoán trước sự thể! Vua xử quan lớn họ Nguyễn phải bị giáng hai
cấp, phải trả việc Bộ Công, chỉ c̣n được chuyên sung bàn việc Cơ mật
viện, việc hải pḥng, dự đ́nh nghị. Ngay sau đó, bọn Phan Huy Vịnh, Trần
Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ xin vua đưa Nguyễn Tri Phương ra Bắc sung chức
Bắc Ḱ kinh lược đại sứ. Bọn họ muốn đẩy Nguyễn Tri Phương ra Bắc lâu
rồi, trước đó đă nhiều lần tâu xin nhà vua, nhưng ngay cả lần này nhà
vua cũng chưa đồng ư chuẩn y (56).
Nguyễn Văn Tường không ngạc nhiên nhưng thật tâm rất buồn. Ông đă
hiểu ít nhiều về vụ Nguyễn Tri Phương đánh giá lại biện lí Bộ Công
Nguyễn Văn Chất.
- Chắc quan tán tương c̣n nhớ Nguyễn Văn Chất, viên biện lí nổi
tiếng tàn nhẫn, hà khắc với thợ thầy ở xưởng thợ Dương Xuân khi xây dựng
Vạn niên cơ? – Vũ Trọng B́nh lại khẽ hỏi –.
- Vâng, tôi c̣n nhớ chứ!
- Khi mới về triều sau vụ Đoàn Trưng, một lần với ḿnh, cụ thượng
họ Nguyễn chỉ trích biện lí Nguyễn Văn Chất rất nặng về thói tàn nhẫn,
hà khắc. Nay làm việc với Nguyễn Văn Chất, lại khen. Vua cho là
“trước ghét, sau yêu”, bất nhất (56)!
- Có lẽ do nguyên nhân sâu xa hơn?
- Đúng! Người ta chỉ muốn đổ bớt tội, quy cho Nguyễn Văn Chất,
rằng một phần là do y hà khắc, tàn nhẫn với thợ thầy mới nổ ra vụ Đoàn
Trưng!
- Vâng, tôi hiểu từ lâu! Thân Văn Nhiếp đă chỉ trích đức vua, vạch
rơ nguyên nhân chính lâu rồi. Nói rơ hơn, đơn giản hơn, là nếu không xây
Vạn niên cơ, không nghị “hoà” th́ không có vụ Đoàn Trưng! – Tán tương
Nguyễn Văn Tường nói –.
- Dẫu sao th́ trong triều từ nay thật không c̣n người chủ chiến
nữa!
- Nhưng cụ thượng Nguyễn Tri Phương cũng không gây ảnh hưởng ǵ
được so với Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ, Phan Huy Vịnh! Có khi cụ ra
Bắc Ḱ lại có tác dụng hơn.
“Phó
vương” Bắc Ḱ
c̣n có ảnh hưởng hơn là giữ vai tṛ bị lép vế ở
triều, tâu nói chẳng được vua nghe theo! – Tán tương Nguyễn Văn Tường
lại nói –.
Nguyễn Văn Tường khẽ thở dài. Ngẫm nghĩ một lúc, tổng thống quân thứ Lạng –
Bằng Vũ Trọng B́nh ngẩng mặt nh́n người bạn nhỏ tuổi hơn ông, khẽ nói:
- Những ư tưởng ông nhận xét về các quan ở triều và quân thứ,
trong đó có ḿnh, theo yêu cầu tham khảo của nhà vua, cứ khiến ḿnh suy
nghĩ măi.
- Nhưng tôi nào dám gửi vào kinh, dâng lên nhà vua đâu. Tôi cứ để
lần lữa măi.
- Thật ra, cũng phải nhận thức cho đúng thực trạng phe chủ chiến,
phe chủ “hoà”. Quan tán tương hẳn thấy cánh nào thắng thế!
- Đúng hơn, những tay chủ “hoà” lúc này có dịp để phát huy năng
lực hơn. Những người chủ chiến có điều kiện phát huy đâu mà bảo không
lép!
- Quan hiệp biện có nhận thấy việc đánh bọn phỉ Tàu Thái b́nh
thiên quốc này vừa khó về địa h́nh miền núi, sơn lam chướng khí, vừa khó
về súng đạn, lại vừa có chút lấn cấn lương tâm thế nào đó, thật là vừa
giận vừa thương?
- Nhưng Hán tộc hay Măn tộc ǵ cũng xâu xé nhau đă nhiều trăm năm,
chúng oán trách ai được. Ta cũng đă nhân nghĩa, cấp bạc, lại sắp xếp cho
chúng chỗ sinh sống, nhưng chúng vẫn cứ cướp bóc, giết chóc dân ta, câu
kết với bọn phỉ người Việt, thế th́ c̣n lấn cấn cái chi! Chín giận nhưng
chỉ một thương thôi.
- Tôi ngờ Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ có cảm t́nh với bọn phỉ
Hán tộc Thái b́nh thiên quốc phù Hán diệt Măn Thanh này!
Vũ Trọng B́nh giật ḿnh, vỗ tay xuống đùi:
- Thật không c̣n nghi ngờ ǵ nữa! – Và quan họ Vũ lắc đầu chua
chát –. Gốc Hán tộc, Minh Hương mà!
- Hay chúng ta đồng tâu xin, kiến nghị nhà vua cử quan Vũ hiển
điện đại học sĩ Nguyễn Tri Phương ra làm kinh lược sứ Bắc Ḱ? Như thế
các quan quân thứ hầu như chỉ nhận lệnh của cụ Nguyễn mà thôi. Như vậy
tiện hơn chăng?
- Đúng, nhưng để nghĩ lại xem sao…
Mười bốn tháng trôi qua, kể từ ngày xuất quân ở kinh đô ra Bắc, có
nhiều điều thật khó quên. Trong hồi ức của Nguyễn Văn Tường c̣n những
mẩu tin tức ở triều, trong ấy đưa ra. Ông biết vào tháng tư năm Tự Đức
thứ hai mươi ba (1870) này, Phan Huy Vịnh, thượng thư Bộ Lễ kiêm chưởng
Bộ H́nh đă bị giáng, cho về hưu, và Bùi Thức Kiên, Nguyễn Chính cũng bị
giáng, nên Nguyễn Tri Phương lănh thượng thư Bộ Lại thay Bùi Thức Kiên,
lại kiêm cả Bộ Công thay Nguyễn Chính (57). Cũng ngậm ngùi khi tán tương
Nguyễn Văn Tường biết tin cả Nguyễn Bá Nghi ở Sơn Tây (58), lẫn nhà thơ
Miên Thẩm ở Huế đă chết (59), và Đào Trí trước đây cũng ở Sơn Tây, nay
đă xin vềâ hưu (60)… trong tháng tư ấy.
Mười bốn tháng ấy c̣n có biết bao những sự việc, những nếm trải
không thể quên!
6
Sau nhiều ngày đi thám xét mặt trận, nghiên cứu các bản báo cáo của các
quân thứ, tán tương Nguyễn Văn Tường suy nghĩ để viết tập tâu đệ tŕnh
vào vua Tự Đức.
Đêm trung tuần tháng sáu ở miền cao xứ Lạng, trời trong xanh với
ánh trăng vằng vặc sáng, khói sương lăng đăng nhưng lạnh buốt. Tán tương
Nguyễn Văn Tường nhớ những đêm hồi c̣n ở huyện Thành Hoá, tỉnh Quảng Trị,
hồi ở Phủ Thừa Thiên, ông cũng suy nghĩ viết những tập tâu thế này.
Nhưng khác với hồi phụ trách địa bàn một huyện, rồi một tỉnh kiêm thêm
một đạo, lúc này ông chỉ làm tán tương một quân thứ nhưng vẫn phải tổng
hợp tin tức về t́nh h́nh toàn cơi Bắc. Hơn nữa, lúc này, ông đang chuẩn
bị để viết một tập bản sớ với những nhận định, kiến nghị việc xếp đặt ở
Bắc Ḱ.
Tán tương Nguyễn Văn Tường đặt đầu bút lông xuống trang giấy:
“Nam Ḱ,
Bắc Ḱ là căn bản của nước. Theo sự thế, trong Nam,
nên tính thư thả; trước hết, [việc] giữ Bắc Ḱ, [thần xin] cho là việc
cần [kíp]. [Ta nên lo] giữ phên giậu ở Cao, Lạng, Thái, Tuyên; giữ rừng
biển ở đông, tây, nam, bắc. Hà Nội ở giữa, [ấy] là nơi h́nh thế danh
thắng, trong khi vô sự phải rất chú ư, huống chi [bọn] giặc trốn coi
thường chiến tranh [lấy việc gây máu lửa, cướp bóc làm nghề kiếm sống]
c̣n nhiều đứa lọt lưới. Giặc trước về Tầu [:Tàu], gián hoặc [chúng c̣n]
mến tiếc sào huyệt, [ta] chưa nên cho là việc đă yên mà bỏ qua.
Hiện nay kho tàng [cả] công [lẫn] tư đáng phải thương xót, sức lực
quân dân cũng gọi là đă kiệt. [Nếu cứ như thế], đợi đến lúc ấy [lúc nguy
cấp, bọn giặc trốn ngóc đầu dậy, bọn phỉ Tầu [:Tàu] lại tràn qua], sợ
không có cách ǵ [cứu văn]. Người đảm đương công việc thường hay cẩu thả,
h́nh như không để ư tới, [khi] bỗng chợt có biến, chỉ [c̣n nước] lấy
quân nhát, dân ngu tự gỡ.
[Ngoài ra], ai chịu cái lỗi làm cho dân nhọc, dân oán? Muốn tâu
bày thẳng tệ ấy th́ nói không thể xiết được. Muốn dùng pháp luật để sửa
chữa, lại sợ không thể cậy được. Người xưa có nói: “Được một quan huyện
tốt, hơn là có ba vạn quân tinh nhuệ”, là v́ không có chính sự hà khắc
th́ không có phản nghịch lớn.
Xin chọn quan văn vơ [chỉ gồm những] người thanh
liêm, tài giỏi, [điều động đến bốn phía] đông, tây, nam, bắc, mỗi tỉnh
đều hai (2) người, sung làm tổng đốc, đề đốc, lại giao cho [mỗi tỉnh]
năm trăm (500) quân tinh nhuệ (lính thú, mỗi tỉnh Đường Ngoài năm trăm
(500) tên, [gồm] một nửa lính kinh, một nửa lính Thanh, Nghệ). Ở Hà Nội
th́ lấy quan đại thần có ḷng công bằng, trung trực, biết xếp đặt việc
nước, uy vọng rơ rệt, như quan Vơ hiển Nguyễn Tri Phương, sung làm kinh
lược đại sứ, [và xin] giao cho [kinh lược đại sứ] hai ngàn (2.000) quân
tinh nhuệ để giúp việc đàn áp [bọn phỉ Tàu, bọn giặc trốn người Việt].
Các tỉnh ở Bắc Ḱ, việc chỉnh [đốn] bờ cơi, đốc suất việc binh, xét hỏi
quan lại, vỗ yên nhân dân, đều ủy cho [kinh lược] đại sứ chuyên việc
trông coi. Quy chế cũ ở Hà Nội cũng nên theo thời sửa đổi.
Như thế, [một khi] quan chính đính th́ dân chẳng ai dám chẳng
chính đính. Mà [nhờ vậy, là sẽ tạo được điều kiện để giúp] Trung châu [có]
thế mạnh, đủ để trấn áp bọn gian, [và cũng từ đó, ở] các tỉnh ven biên
giới, [ta] mới tính dần được công việc xếp đặt về sau. [Sau đó], đợi một
vài năm công việc được xong, quân [tăng viện] có nên rút [hay chưa], [xin]
do quan [kinh lược] đại sứ xét nghĩ, thi hành. Không thế th́ đại binh ca
hát trở về, chưa khỏi lại phải chú ư xếp đặt công việc lần nữa.
Không dám nói hết, sợ làm tăng sự ngày đêm lo nghĩ của hoàng
thượng” (61).
Năm Tự Đức thứ hai mươi ba, tháng sáu (6) Canh ngọ (tháng 7.1870).
Khi viết tập
bản sớ này, tán tương Nguyễn Văn Tường ư thức rất rơ ông đang thể hiện
quan điểm chính trị của ḿnh trong sự vận dụng quan điểm ấy vào t́nh
h́nh thực tế ở Bắc Ḱ và trong cả nước. Đó là quan điểm chính trị nhân
trị, đức trị, chứ không phải chỉ dùng h́nh pháp đơn thuần. Ông vẫn luôn
suy nghĩ và tự tâm đắc với ư tưởng:
“Muốn dùng pháp luật để sửa chữa, lại sợ không
thể cậy được. Người xưa có nói: “Được một quan huyện tốt, hơn là có ba
vạn quân tinh nhuệ”, là v́ không có chính sự hà khắc th́ không có phản
nghịch lớn”.
Tán tương
Nguyễn Văn Tường vẫn thường chiêm nghiệm, suy
ngẫm về câu ngạn ngữ: “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Quả thật,
chân lí ấy rất giản dị mà vô cùng sâu sắc: Người làm quan chức hay
bậc phụ huynh sống và hành xử một cách bất chính, chắc chắn nhân dân hay
con em phải nổi loạn bằng h́nh thức này hoặc h́nh thức khác, chứ không
thể tốt lành được. Do đó, vấn đề gương mẫu phải luôn luôn khắc ghi
và thể hiện trong mọi mặt đời sống, ở mọi khi, mọi chốn. Chính tấm gương
sáng của quan chức trong xă hội, của bậc phụ huynh trong gia đ́nh là có
sức giáo dục cảm hoá mạnh mẽ và sâu sắc nhất. Rơ ràng sự gương mẫu về
đạo đức, về công tác hay về làm ăn sinh sống với các nghề nghiệp, mặc
nhiên tạo ra uy lực, khiến không phải dùng h́nh pháp, các cách răn đe,
người dưới quyền cũng phải nể sợ, kính trọng bằng tâm cảm:
“[Một khi] quan chính đính th́ dân chẳng ai dám chẳng chính đính”.
Vị quan có uy
vọng bởi chiến công và đạo đức ấy không ai khác hơn là Nguyễn Tri Phương!
Nhưng Nguyễn Văn Tường không thể cho phép ḿnh ảo tưởng trước t́nh h́nh
thực tế ở Bắc Ḱ. Trước mắt, bọn phỉ Tàu, c̣n gọi là giặc Cờ, một số lớn
hàng vạn tên đă đầu hàng, được dẫn độ theo Phùng Tử Tài về nguyên quán ở
Trung Quốc, một số khác sau khi bị truy quét mạnh, chúng đang im hơi
lặng tiếng chờ cơ hội được Pháp, Anh hà hơi tiếp sức. Tên đầu sỏ Ngô Côn,
nguyên là quân Cờ đen, y đă chết, c̣n tên đầu sỏ giặc Cờ vàng Hoàng Sùng
Anh, hắn đă trốn về Trung Quốc
(62). Và cũng
trước mắt, bọn giặc trốn người Việt (Tày, Thái, Kinh…), bọn “giậu đổ, b́m leo” ấy, vốn là tàn quân
của Pierre Tạ Văn Phụng và những kẻ xem ra như thể cuồng trung với nhà
Lê, thực chất chỉ mượn chiêu bài phù Lê, hoặc đa số trong đó là bọn lấy
cướp bóc, giết chóc làm nghề kiếm sống, chúng nhân lúc hàng vạn tên phỉ
Tàu tràn qua chiếm cứ, cướp phá, lại ngóc đầu dậy, “duồng gió bẻ măng”.
Cả hai loại phỉ ấy làm quan quân không một chút rảnh tay để đối phó với
bọn Pháp ở Nam Ḱ, bọn “tả đạo” rải rác trong cả nước. Lúc này, nh́n
chung, t́nh h́nh cũng mới tạm yên, nhưng c̣n phải cảnh giác, luôn chuẩn
bị quân lực, vật lực để c̣n đối phó trong những tháng năm tới.
Ông
đă phân tích rơ thực trạng quan lại:
“[Ngoài ra], ai chịu cái lỗi làm cho dân nhọc, dân oán? Muốn tâu
bày thẳng tệ ấy th́ nói không thể xiết được”.
Từ
đó, tán tương Nguyễn Văn Tường đề xuất việc tuyển chọn các quan văn vơ thanh liêm, tài giỏi, đề xuất cải tổ cơ cấu quan chức
toàn Bắc Ḱ, đổi mới quy chế ở Hà Nội (vốn là thủ đô Thăng Long).
Ông cũng phân tích rơ t́nh h́nh bọn phỉ và đề ra kế hoạch quân sự cụ thể để đối phó.
Tán tương Nguyễn Văn Tường đặc biệt nhấn mạnh vai tṛ, chức năng, quyền
hạn của quan đại thần sung kinh lược đại sứ toàn cơi Bắc Ḱ. Kinh lược
đại sứ Bắc Ḱ lănh đạo toàn diện trên toàn cơi ấy như một vị phó vương,
chỉ đứng sau hoàng đế (quốc vương).
Như vậy, quan điểm chính trị nhân trị, đức trị phải đi đôi với việc củng
cố quân đội chủ lực thiện chiến và quân tỉnh (quân địa phương) để trấn
giữ.
Đồng thời, nhưng trên hết, ông xác định rơ mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm,
cấp bách trước mắt, và quyết tâm dứt điểm, tạo cơ sở cho việc tiến tới
mục tiêu, thực hiện nhiệm vụ sau: Phải củng cố Bắc Ḱ, tạo cơ sở cho
việc tái chiếm Nam Ḱ. Như thế mới tránh được t́nh trạng ôm đồm, “xôi
hỏng bỏng không”.
Đêm đă khuya,
vẫn với hai dĩa đèn dầu phụng, tán tương Nguyễn Văn Tường ngồi sau bàn
án thư trong thành luỹ Lạng Sơn, ngẫm nghĩ để viết tập bản sớ. Ông hi
vọng vua Tự Đức, thượng thư Bộ Lại, kiêm lănh Bộ Công Nguyễn Tri Phương
sẽ đọc duyệt thật kĩ.
Khuya tháng sáu miền cao xứ Lạng se lạnh.
Hết
phân đoạn 2
truyện kí thứ sáu
(c̣n tiếp)
Viết đến ḍng
chữ này lúc 16 giờ kém 10 phút,
ngày mùng ba
tháng mười, năm 2002
(27.8, Nh. ngọ,
HB.2),
tại thành phố Hồ
Chí Minh.
TXA.
(35) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 350; tr. 357.
(36) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 339.
(37) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 370 – 371.
(38) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 371.
(39) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 10 – 11.
(40) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 94, 98, 126, 141, 143, 174, 205, 298. Trích nguyên văn: “Trước
đây bọn giặc ra hàng lại vây thành Lạng, giặc trốn ở Bắc Ninh là tên
Tịch (xưng bậy là đại nguyên soái) lại nổi lên…” (tr. 94); “Trạm
Bắc Lệ tỉnh Bắc Ninh có tên Lao Nhị là bè lũ của Tô Quốc Hán chia đi
quấy nhiễu hạt Kim Anh, Đông Ngàn, bọn thổ phỉ là tên Chuyên, tên Tịch
cũng thường đến quấy nhiễu, cướp bóc” (tr. 98); “Ḍ thám được tên
tù trưởng dân Mèo ở động Suối Bốc là người chủ chứa chấp tên giặc Hoàng
Anh, giặc Hoàng Anh lại là người chứa chấp các giặc trốn ở tỉnh Bắc,
tỉnh Thái” (tr. 143).
(41) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 32.
(42) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 328 – 329.
(43) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 331.
(44) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 373.
(45) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 373.
(46) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 10 – 11.
(47)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 15.
(48) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 11.
(49) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 29 – 30, 30 – 31.
(50) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 328 – 329.
(51) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 338.
(52) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 42.
(53) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 11; Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.),
bản dịch Viện Sử học, tập 4, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 395 – 396.
(54) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 347.
(55) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 357.
(56) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 355 – 356.
(57) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 19.
(58) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 20.
(59) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 23.
(60) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 29.
(61) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 31 – 32.
(62) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 31.
Hết
phân đoạn 2
truyện kí thứ sáu
XIN
XEM TIẾP TỆP 13
phân đoạn 2
truyện kí thứ sáu