TỆP 14
phân đoạn 4
truyện kí thứ sáu
TRẦN XUÂN AN
VỚI NGỌN BÚT, THANH GƯƠM,
RA BẮC TIỄU PHỈ
Truyện kí thứ sáu
(phân đoạn 4)
9
Một đêm
khuya trung tuần tháng mười, trời miền núi lạnh buốt
như cắt da thịt. Trong đại bản doanh của các quân thứ, tổng thống Bắc Ḱ
quân vụ Đoàn Thọ, hiệp thống Vũ Trọng B́nh, tán tương Nguyễn Văn Tường,
tuần vũ Đặng Toán, lănh binh quan Lê Văn Dă đang vây quanh tấm bản đồ mở
rộng trên bàn án thư. Dưới những chiếc đèn lồng, các tướng tá chú mục vào
tấm bản đồ toàn cảnh các tỉnh biên giới phía bắc nước ta, giáp giới với
nước Thanh. Họ đang bàn các phương án tác chiến, quyết tâm tiến đánh, truy
kích, tiêu diệt bọn phỉ Tàu (giặc Cờ) và phỉ Việt (Kinh, Tày, Thái, Mèo…).
Bấy giờ tiếng điêu đẩu canh ba đă vang lên từ lâu,
sắp bước vào giờ tí, lúc nửa khuya. Sương mù và khí núi, đám ngùn ngụt bốc
lên, đám trôi bảng lảng. Các quan chỉ huy ba đạo quân đang tiếp tục bàn
luận để t́m ra một phương án tốt nhất. Hết giọng An Giang, Nam Ḱ của Đoàn
Thọ, đến giọng Quảng B́nh, Quảng Trị, tả trực Trung Ḱ của Vũ Trọng B́nh,
Nguyễn Văn Tường, lại đến giọng Hành Thiện, Nam Định, Bắc Ḱ của Đặng
[Kim] Toán (80), và một giọng Nam Ḱ khác (?), của Lê Văn Dă. Những giọng
nói của ba miền Đất nước cứ thay nhau, xen vào nhau vang lên trong tiền
sảnh được đóng kín cửa và canh tuần cẩn mật nhất. Rất nhiều lúc, rất im
lặng, mỗi người ch́m vào suy nghĩ.
Tướng quân Đoàn Thọ nói:
- Như vậy là đă đồng tâm nhất trí với phương án hành
quân, tiến công truy quét và chiêu dụ. Truy quét, đă xác định các đối
tượng. Bọn ấy dẫu có đầu hàng cũng không tha, bởi ngoa ngạnh, giáo giở quá
mức. Chiêu dụ, các đối tượng cũng xét kĩ rồi. Giá như tên nào cũng như Lưu
Vĩnh Phúc th́ ta vừa được tiếng nhân đạo, biết mở lượng hiếu sinh, vừa đỡ
tổn quân hao tướng. Cụ thể như chúng ta đă bàn, dứt khoát như thế.
- Thế là thiết thạch đồng tâm, cùng một ḷng bền
vững, cùng kiên tâm như sắt đá, không lay chuyển nữa. Dứt khoát như thế! –
Vũ Trọng B́nh tán thành –.
- Khuya rồi! Thôi, mỗi vị ở đây về giường cố chợp
mắt một lát. Tán lí Ông Ích Khiêm, án sát tỉnh Lạng Hoàng Tướng Hiệp, tôi
đă nhất trí cho hai viên ấy mang quân đến trạm Lạng Quang để đánh sào
huyệt bọn phỉ Tàu ở Nà Dương, ngày mai sẽ về (81). Thật ḷng tôi hơi khó
ngủ… Các quan về ngủ đi!
- Như thế… Trong thành nay chỉ c̣n khoảng một đội
lính! Quan tổng thống quân vụ thật chủ quan quá đáng! – Nguyễn Văn Tường
kinh ngạc nói –.
- Cứ yên tâm! Tôi đă tính toán. Trong phạm vi bốn
hướng, mỗi hướng hai mươi dặm, không thể c̣n một tên giặc Cờ, giặc trốn.
Nà Dương cũng gần đây, nếu có biến, quan họ Ông, quan họ Hoàng rút quân về
kịp ngay! – Đoàn Thọ nói, tuy óc suy nghĩ tính toán là thế, nhưng ḷng
cũng hơi thấy đă quá chủ quan, khinh địch –.
Tướng quân tổng chỉ huy mặt trận bỗng dưng cảm thấy
ḿnh táo bạo quá, dẫu táo bạo có suy tính theo kinh nghiệm cầm quân và sự
khảo sát kĩ t́nh h́nh địa phương. Ông rót nước trà đặc Bắc Thái vào chén,
nâng chén uống trọn. Chất đắng ngọt của trà nguội khiến ông tỉnh người.
Các quan đành về giường ngủ. Họ thiếp đi trong giấc
khuya chập chờn.
Khi tiếng điêu đẩu vang lên báo hiệu đổi phiên tuần
canh, họ bỗng nghe tiếng súng thần công vác vai nổ vang. Ngói rớt xuống ào
ạt. Tiếng Tàu chửi rủa, ḥ hét, hô xung phong ồn vang (81).
Các quan tổng chỉ huy, quan quân thứ, quan tỉnh cùng
trỗi dậy, tay đều nắm vào đốc kiếm. Đoàn Thọ nói to:
- Các quan chuẩn bị chiến đấu! – Ông lại hét lớn –.
Quân đâu?
- Dạ, có mặt! Thành đă bị bọn giặc Cờ đánh úp!
- Thế các toán mai phục quanh thành đâu rồi? Trời
đất! Bộ chúng chết cả hay sao? – Đoàn Thọ rút kiếm, mở cửa tiền sảnh bằng
gỗ lim, lại nép vào một bên vách, cảnh giác –.
Thấy lính ta xuất hiện với gương mặt quen thuộc, ông
yên tâm bước ra khỏi cửa, tay vẫn cầm chặt cán của lưỡi kiếm trần sáng
quắc.
Trên thành, quân ta đang bắn súng và ném những tảng
đá lớn xuống bọn giặc Cờ đang bắc thang lên thành. Bọn giặc Cờ này được
trang bị cả súng ngắn, súng dài lẫn súng thần công bằng đồng cỡ vừa, có
thể vác trên vai trực xạ (bắn thẳng). Tất nhiên, chúng c̣n dùng gươm, đao
sắc lẻm. Trèo lên thành, quan sát trận địa trong ánh lửa bừng lên từ các
con cúi rơm có mồi bùi nhùi, diêm sinh, thuốc súng, quân ta ném xuống bốn
mặt thành, Đoàn Thọ thấy bọn giặc Cờ đông quá. Ông hiểu các toán phục kích
quanh thành đă bị chúng tiêu diệt gọn! Không c̣n một người lính nào chạy
về báo cáo! Ông lập tức truyền lệnh:
- Quân đâu?
- Dạ!
- Châm ngay phong hoả đài để quân ta rút về cứu viện!
- Dạ!
Nh́n phong hoả đài phụt lửa, những chiếc pháo thăng
thiên vút lên trời xoè đỏ, ông tin chắc Ông Ích Khiêm, Hoàng Tướng Hiệp ở
Nà Dương đă trông thấy pháo tín hiệu. Ông bảo bốn viên toán lính hầu cận:
- Cố giữ thành! Sẵn sàng tử thủ! Truyền lệnh này
ngay cho bốn mặt thành!
- Dạ! Tuân lệnh truyền!
Những ngọn gió khuya vẫn thổi vun vút như băo, lạnh
buốt. Ngói trong thành đổ ào ào không dứt theo tiếng súng thần công vác
vai rất cơ động của bọn giặc Cờ. Ông bước nhanh ra phía vọng gác trên
thành, hỏi:
- Biết bọn phỉ nào đang đánh thành không?
- Bẩm, bọn Tô Tứ!
- Tô Tứ? – Đoàn Thọ rít lên giận dữ –. Lần này nó
phải đền mạng!
Từ nhiều năm nay, Tô Tứ là tên tướng phỉ có cách
dụng binh khá nguy hiểm. Đội kị binh của hắn rất thần tốc, vũ khí lại được
bọn Anh, Pháp viện trợ! Hắn có cả súng lục, súng trường liên thanh và lựu
đạn hoả mù. Thật ra, ông đă biết ngay từ lúc mới thấy hoả mù bắn vào thành,
chính bọn Tô Tứ chứ không ai khác! Chính Tô Tứ mới hành quân với tốc độ
nhanh đến thế, thanh toán gọn đến thế lính phục kích tiền khu của ông! Cửa
tả của thành bỗng vỡ. Những tên phỉ Tàu tiến vào ḥ hét. Ông thoáng thấy
phía lănh binh quan Lê Văn Dă án ngữ, quân ta đang đánh giáp lá cà với bọn
giặc Cờ bằng những miếng vơ cận chiến. Ông cũng thấy bọn giặc tiến vào
tiền sảnh, nơi các quan văn đang rút gươm xông ra giao chiến. Vũ Trọng
B́nh đă già, tay vẫn vung những đường gươm rất khoẻ. Nguyễn Văn Tường hạ
ngay hai tên phỉ Tàu trong mấy phút ra gươm. Đặng Toán thật sự trổ hết sức
b́nh sinh để so gươm với nhóm giặc khác.
Trong vài phút, Đoàn Thọ liền ra lệnh cho toán lính
hầu cận ḿnh cùng ông lao vào chỗ các quan văn đang chiến đấu. Lưỡi gươm
của tướng quân Đoàn Thọ như ánh rồng bay lượn. Đầu giặc rụng liên tiếp. Là
một quan vơ thăng lên đến cấp tướng, mặc dù ít nhiều được vua Tự Đức đặc
cách, Đoàn Thọ vẫn là tay bắn súng bách phát bách trúng, vẫn là tay cầm
kiếm với nhiều tuyệt chiêu điêu luyện, bên cạnh khả năng tiếp nhận sự tham
mưu hoặc tự vạch những kế sách điều quân khiển tướng rất tài t́nh.
Khi tướng quân Đoàn Thọ đến được chỗ Vũ Trọng B́nh,
Nguyễn Văn Tường, Đặng Toán chiến đấu, ông nói to nhưng rất đanh:
- Cần cẩn trọng! Có tôi đây! Chúng không làm ǵ nổi
các quan đâu! Đoàn Thọ này chết mới mất thành!
Với thanh gươm, khẩu súng của Đoàn Thọ, không c̣n
một tên giặc nào trong khu đại bản doanh. Ông rất mừng khi các tướng tá
quan văn đều không ai bị thương tích ǵ. Ông cảm thấy thật khâm phục các
quan văn đang mang hàm quan vơ ấy. Không những giỏi cầm bút, họ cầm gươm
cũng không kém!
Thấy bên ngoài tiếng súng vẫn nổ, tiếng gươm đao vẫn
vang lên trong va chạm, Đoàn Thọ biết thành sẽ mất trong một chốc nữa thôi.
Bọn giặc đông quá, ngựa chiến của chúng nhiều quá, chắc chắn các cửa thành
khác cũng sắp vỡ. Cửa tả đă vỡ, may là lănh binh quan Lê Văn Dă c̣n kiên
cường chống giữ được, đẩy lùi toán giặc, và kịp đóng lại then bằng thanh
sắt khác, đồng thời chặn lại bằng một cây gỗ lớn dự trữ. Như thế, bốn cửa
thành vẫn c̣n được đóng kín và giữ chặt.
- Bây giờ, chúng ta phải nhận thức là t́nh huống cực
ḱ nguy nan. Quân trong thành chỉ c̣n khoảng vài chục, nhờ đá khối chống
công thành c̣n nhiều nên bọn giặc không bắc thang leo lên, vượt thành được.
– Đoàn Thọ nói khẽ –. Nay tôi đề nghị ba quan, từ quan hiệp thống, quan
tán tương đến quan tuần vũ, phải nhanh chóng theo nhóm lính cận vệ của tôi
thoát khỏi thành bằng đường hầm bí mật. Ngoài tôi và nhóm lính cận vệ ấy,
không một ai hay biết đường hầm đó. Đường hầm ấy sẽ thông ra bờ sông, chỗ
ngôi mộ của quan án sát họ Hoàng trước đây. Nếu ba quan không thoát được
bằng đường hầm, tôi đành phải dụ địch tập trung về một cửa, để các vị vượt
thành, cùng một toán lính mở đường máu (huyết lộ) để thoát.
- Nhưng c̣n quan tổng thống quân vụ? Quan lănh binh?
Và không thể để thành mất mà chúng ta lại c̣n! – Tán tương Nguyễn Văn
Tường nói –.
Hiệp thống Vũ Trọng B́nh cay đắng đến nghẹn ngào.
Ông giữ thái độ im lặng, chợt lên tiếng:
- Quan tổng thống quân vụ chủ quan, khinh địch, để
đến nỗi này! Cả thành rộng đến thế mà chỉ để một đội quân vài chục viên
lính pḥng thủ, hầu như trống trơn quân! Nhưng thôi, bây giờ là lúc cùng
sống hoặc cùng chết với thành! Luật bản triều, ta không tuân, c̣n chỉ huy
được ai!
- Đó là lỗi tại tôi! Tôi đề nghị quan hiệp thống,
quan tán tương và quan tuần vũ thoát khỏi thành ngay. Xin đi theo toán
lính cận vệ của tôi. Sợ không c̣n kịp nữa! Cấp bách lắm rồi! C̣n tôi, tôi
tiếp tục cầm cự, chờ quân Ông Ích Khiêm, Hoàng Tướng Hiệp từ Nà Dương kéo
về. Xin đi nhanh, kẻo muộn mất! – Tổng thống quân vụ Đoàn Thọ nói nhanh –.
- Chúng tôi cũng theo quân luật! Chúng tôi là hiệp
thống, tán tương quân vụ! Làm quân vụ phải chết theo quân, theo thành. Ấy
là luật! Chỉ dám xin ư kiến quan tuần vũ? – Tán tương Nguyễn Văn Tường lại
nói –.
- Tôi cũng theo luật giữ thành, mặc dù theo quẻ
“sử” trong Kinh Dịch, rút lui nếu hợp cơ nghi, th́ vẫn không
phải bị lỗi (82)! – Tuần vũ Đặng Toán nói –.
- Nhưng đă có quan vơ! Tôi là vơ tướng! Nhanh lên!
Không nghe thấy bọn phỉ bắn súng công thành sao? Chúng đang ḥ hét xung
phong! Sợ không c̣n kịp nữa! Các quan là bộ năo của quân thứ Lạng, của ba
đạo quân và toàn mặt trận. – Tổng thống quân vụ Đoàn Thọ lại nói, giọng
rất gấp –. Không thể để bộ năo của quân thứ, của toàn mặt trận phải chết
hoặc tổn thương! Tôi và Lê lănh binh hi sinh cũng như chiếc đầu của ba
quân bị trầy chợt mà thôi! Hăy nhớ là c̣n ba quân! Ai chỉ huy họ? Nếu các
vị lần chần, tôi sẽ buộc ḷng ra lệnh cho lính đưa ra đường hầm!
- Đến lúc này tướng quân vẫn c̣n khiêm tốn! – Quan
tán tương Nguyễn Văn Tường thốt lên với niềm áy náy –.
Cửa tả lại vỡ, lănh binh quan Lê Văn Dă hô lính bắn
vào lớp phỉ tiến vào thành. Nhiều tên gục xuống. Không thể không cận chiến,
Lê Văn Dă cầm gươm xông tới, liền bị một mũi tên của bọn phỉ bắn vào mặt.
Một thằng giặc phỉ Tàu huơ đại đao chém ngang đùi quan phó lănh binh, bởi
y biết viên quan vơ của ta mang áo giáp sắt. Lê Văn Dă chỉ kịp chém bổ từ
vai tên giặc với sức mạnh kinh người, chẻ y ra làm hai. Ông cũng ngă xuống.
Không cách nào khác, Vũ Trọng B́nh cùng Nguyễn Văn
Tường, Đặng Toán đi nhanh theo toán lính. Đường hầm chật và ẩm ướt.
Họ bỗng dừng chân lại. Trong ánh đuốc, trước mặt họ,
hiện ra một mặt nước đen ng̣m. Đường hầm đă bị ngập nước! Không thể chần
chừ, họ cùng nhau lội với những bước chân gấp gáp. Thêm một quăng nữa,
giọng người lính cận vệ như thể bật ra:
- Đường hầm bị sạt lở, đất đá bít kín đường thoát
rồi! – Giọng nói nghẹn lại –. Xin các quan đứng tại đây, để chúng tôi bước
tới xem xét đă.
Ánh sáng bập bùng từ ngọn đuốc trong tay anh ta càng
tới gần, càng soi rơ những thanh gỗ, cây tre vốn được dùng làm trần và cừ
hai bên vách hầm đang bị xiêu vẹo, nằm ngổn ngang, lẫn lộn trong đống đất
đá sạt lở.
- Bẩm, không thể thoát bằng đường hầm được! Chúng
tôi thật đắc tội… Quả thật, gần đây chúng tôi mới đi kiểm tra, nào ngờ bây
giờ…
Quan tán tương Nguyễn Văn Tường cầm lấy ngọn đuốc từ
tay viên lính, bước tới chỗ sạt lở. Ông cẩn thận xem xét để may chăng có
thể t́m thấy một lối thoát. Nhưng cuối cùng, ông lội trở lại chỗ các quan
lính đang đứng. Ông nói:
- Phải quay lại, tiếp tục chiến đấu hoặc vượt thành,
mở đường máu để thoát ra phía bờ sông. Có lẽ đó là hướng bọn địch bất ngờ
nhất. Chúng không ngờ ta vượt sông đâu. – Không đợi trả lời, ông nói tiếp
–. Các quan theo tôi. Tôi cử một viên lính chạy nhanh ra báo cho tướng
quân Đoàn Thọ biết sự thể, một vài anh khác chạy đi lấy thang tre, càng
nhanh càng tốt.
Các viên lính được phân công chạy vụt đi sau tiếng “dạ”.
Ba vị quan cùng mấy viên lính c̣n lại quay bước về
phía miệng đường hầm. Lên đến mặt đất, họ c̣n nghe thấy tiếng ḥ reo,
tiếng thét gầm, tiếng súng nổ, gươm khua trong ánh lửa phía cửa tả.
Thành luỹ khá cao. Nền trời khuya đen kịt.
Người lính được phái đi bẩm báo với Đoàn Thọ, đă
chạy về, bẩm:
- Thưa, đại tướng quân Đoàn Thọ bảo, ba quan đành
phải vượt thành, mở đường máu, c̣n tướng quân sẽ cố nhử bọn giặc Cờ tập
trung ở cửa tả, đúng như phương án thứ hai. Xin khẩn cấp!
Những người lính đi lấy thang tre cũng đă quay lại,
thưa đă chuẩn bị xong.
Toán quan lính nhanh chóng vượt thành. Họ cảm thấy
mừng v́ đúng như dự kiến của quan tán tương Nguyễn Văn Tường, bọn giặc Cờ
không ngờ họ sẽ vượt thành thoát ra phía bờ sông, nên chỉ thấy một nhóm
vài tên giặc Cờ đang đứng phía này, trong ánh sáng bập bùng của ngọn đuốc
chúng cắm trên đất. Thông thường, mở đường máu (huyết lộ) phải dùng ngựa,
phi trên đường bộ. Cỡi ngựa c̣n dễ tránh đạn và tên bắn theo truy kích.
Bơi qua sông không thể thoát khỏi tên đạn dưới ánh đuốc hoặc ánh tên lửa (mũi
tên có quấn vải tẩm dầu). Hơn nữa, lúc này bọn giặc Cờ đang tập trung hoả
lực để tấn công phá cửa thành, chỗ lănh binh Lê Văn Dă đă hi sinh và tướng
quân Đoàn Thọ đang đốc chiến.
Trong bóng tối, các viên lính xuống thang trước liền
tiến về phía mấy tên giặc Cờ. Bọn này đứng khá xa ngọn đuốc chúng cắm trên
đất. Chúng chỉ kịp há họng, tiếng kêu chưa thoát ra khỏi miệng, đầu chúng
đă ĺa khỏi cổ trong những ánh gươm vung lên. Chúng không kịp tri hô báo
động cho đồng bọn.
Cuối cùng, quan hiệp thống Vũ Trọng B́nh, tuần vũ
Đặng Toán, tán tương quân thứ Nguyễn Văn Tường cùng nhóm lính cận vệ cũng
thoát ra đến bờ sông an toàn.
Sau khóm tre, dưới ánh trăng cuối trung tuần, Nguyễn
Văn Tường thấy nấm mộ Hoàng Văn Giảng, người quê ở Diên Sanh, Hải Lăng,
Quảng Trị, bạn cùng ḱ khảo khoá thi hương năm nào của ông. Ngôi mộ ấy,
trên bờ sông này, suốt hơn hai năm nay ông thường hay ra thắp hương tưởng
niệm. Cố án sát Lạng Sơn Hoàng Văn Giảng đă bị bọn cổ phỉ giết hại từ sáu
năm về trước, năm Tự Đức thứ mười bảy (1864) (83)! Ông lại nh́n vào thành,
súng vẫn c̣n nổ vang với tiếng Tàu ḥ hét, lửa vẫn bập bùng cháy, thỉnh
thoảng cháy bùng! Ngoài kia, phía sau lưng, mặt sông rộng lạnh buốt!
- Vượt sông, qua sông, rồi sẽ căn cứ theo lối ṃn,
đi tắt đến Nà Dương! – Quan tán tương nói, giọng trầm tĩnh –
- Sao quân Ông Ích Khiêm, Hoàng Tướng Hiệp chưa thấy
kéo về? – Vũ Trọng B́nh hỏi –.
- Thôi, đă thế, th́ nhanh lên. Không chết với thành
mà chết trên đường thoát th́ ô nhục muôn đời! – Quan tán tương nói, quả
quyết –.
Ba vị quan và năm người lính cận vệ hộ tống cùng lội
xuống sông. Nước sông lại ấm hơn gió lạnh bên trên. Họ bơi qua sông dưới
ánh trăng thượng tuần rất mờ. Đến bờ sông bên kia, nh́n sang, họ lại thấy
lửa cháy bùng lên, bọn phỉ cầm cờ vàng của chúng, chạy trên thành. Họ biết
thành đă mất, nhưng vẫn hi vọng Đoàn Thọ c̣n sống sót, tuy họ biết rằng
đại tướng quân họ Đoàn không chết trong khi chiến đấu đến hơi thở cuối
cùng, cũng tử tiết theo thành luỹ đại bản doanh! Nguyễn Văn Tường và hai
vị quan không thể không nhớ lời nói cuối rất mực dũng cảm, kiên quyết lại
quá đỗi khiêm nhường của Đoàn Thọ: Các quan là bộ năo của quân thứ Lạng,
của ba đạo quân và toàn mặt trận. – Tổng thống quân vụ Đoàn Thọ lại nói,
giọng rất gấp –. Không thể để bộ năo của quân thứ, của toàn mặt trận phải
chết một lúc! Tôi và Lê lănh binh hi sinh cũng như chiếc đầu của ba quân
bị trầy chợt mà thôi! Hăy nhớ là c̣n ba quân! Ai chỉ huy họ? Nếu các vị
lần chần, tôi sẽ buộc ḷng ra lệnh cho lính đưa ra đường hầm!
Tám người cảm thấy
lạnh buốt đến tận xương sống. Ba vị quan
bảo nhau rút trong túi ra những miếng quế và sâm tháng trước vua Tự Đức
gửi ra mặt trận tặng thưởng (84). Họ chia sẻ cùng năm người lính hộ tống.
Vị nồng nàn của quế, vị ng̣n ngọt của sâm đă hoá đắng cay trong miệng,
nhưng cũng giúp họ đủ sức bước trong sương lạnh. Tám người đều chảy nước
mắt khi ngoái lại nh́n thành Lạng Sơn, nơi đóng đại bản doanh của toàn mặt
trận, đang bị giặc Cờ chiếm cứ! Không phải chỉ là thành luỹ của một tỉnh
Lạng Sơn, đó c̣n là đại bản doanh của ba đạo quân, của toàn mặt trận!
Lúc này, áo quần ướt át, gió lạnh, họ vừa đi vừa chạy
cho hơi nóng toát ra để chống lại cái rét run người.
Họ không chạy theo lối ṃn v́ sợ gặp giặc mai phục,
chỉ lấy lối ṃn làm chuẩn cho khỏi lạc. Sau một quăng khá xa, họ tỉnh
người, thấy quần áo đă rách bươm. Phố Kỳ Lừa cũng đă xa xa trước mặt.
Đằng xa kia, ở Kỳ Lừa, quân Ông Ích Khiêm, quân
Hoàng Tướng Hiệp đang trên đường kéo về. Khi nhận đúng quân ta, họ chạy ra,
gọi to tên hai viên quan tán lí, án sát.
Năm vị quan quân thứ và quan tỉnh, Vũ Trọng B́nh,
Nguyễn Văn Tường, Ông Ích Khiêm và Đặng Toán, Hoàng Tướng Hiệp, cùng nhau
hội bàn cách giải cứu thành Lạng Sơn, may chăng cứu được Đoàn Thọ, nếu ông
chỉ bị bắt sống.
Trăng cuối trung tuần mờ mờ, gió cuộn sương rừng,
thổi lạnh buốt.
Khi họ hạ
quyết tâm lên ngựa kéo quân về thành Lạng để giải
cứu Đoàn Thọ, lính tiền khu dẫn tới chỗ hội bàn hai viên cận vệ của Đoàn
Thọ. Hai viên ấy c̣n sống sót, cướp được ngựa của bọn tàn quân Thái b́nh
thiên quốc Tô Tứ, mở đường máu phóng chạy khỏi thành. Trên người hai viên
cận vệ máu me bê bết.
- Đại tướng quân c̣n sống hay đă chết? – Tán lí Ông
Ích Khiêm hỏi –.
- Bẩm quan tán lí, đại tướng quân đă chết. Chúng tôi
thấy thế mới tháo chạy. – Một viên cận vệ run rẩy đáp v́ rất sợ oai phong
lẫm liệt, có phần hơi hung hăn của quan tán lí Ông Ích Khiêm –.
- Tử tiết hay bị giặc giết?
- Bẩm, tiểu tốt thấy đại tướng quân tổng thống sau
khi đốt hết giấy tờ sổ sách, lại tiếp tục chiến đấu. Ông bị ngă xuống
trong đêm tối, bọn giặc liền nhào vào chém. Không rơ đại tướng quân tự sát
trước hay bị chúng chém ngă trước.
- Chắc chắn không? Nói sai, đầu ĺa khỏi cổ ngay.
Chắc chắn vậy không?
- Bẩm, cả hai chúng tôi cũng bận so gươm với giặc,
nhưng đều thấy thế.
- C̣n ai sống sót nữa không?
- Thưa, c̣n khoảng năm, bảy người, chia nhau chạy
nhiều ngả.
- Thôi, được, cho ra chỗ khác, hớp vài ngụm rượu cho
ấm người! Quân đâu? Lấy rượu cho hai chiến sĩ. – Tán lí Ông Ích Khiêm lại
khẽ nói với các quan có mặt tại đó với giọng ân hận –. Cũng lỗi tại tôi!
Mặc dù được sự đồng ư và được lệnh của tổng thống quân vụ Đoàn Thọ, tôi
cũng biết việc rút quân đi đánh, “trong thành bỏ trống, đơn người” (81)
là sai lầm lớn, lại chậm kéo quân về ứng cứu, để đến nông nỗi này!
Cuối cùng, cuộc tái chiếm thành Lạng để giải cứu
Đoàn Thọ đành gác lại, v́ Ông Ích Khiêm nhận định thế giặc Tô Tứ c̣n mạnh,
chúng lại ở trong thành cố thủ, đằng nào Đoàn Thọ cũng đă chết, dù tử tiết
hay bị giặc giết. Họ đều rơi nước mắt thương tiếc Đoàn Thọ và những người
lính đă hi sinh, nhưng cũng đành kéo quân trở lại trạm Lạng Quang.
Thế là thành luỹ đại bản doanh đă mất, đại tướng
quân chỉ huy toàn mặt trận, tổng thống ba đạo quân đă hi sinh!
Tin ấy c̣n hơn sét đánh xuống Điện Cần chính. Vua Tự
Đức, Nguyễn Tri Phương, Trần Tiễn Thành và các đường quan, biên thần đều
gần như bốc cháy trong sự rúng động đầy căm giận. Vua Tự Đức rất thương,
bảo rằng: “Không bảo toàn được quan đại thần là lỗi của trẫm, dùng
người không xứng chức cũng là lỗi của trẫm” (81). Nhà vua bèn đoạt hết
chức vụ của Vũ Trọng B́nh, chỉ tạm cho hàm hồng lô tự khanh; giáng Nguyễn
Văn Tường xuống hàm trước tác; giáng Đặng Toán xuống hàm thị độc. Cả ba
viên quan đă bị đoạt chức, giáng hàm đều bị điều động về Bắc Ninh, giao
cho tổng đốc Bùi Tuấn tuỳ liệu phân công. Đồng thời, vua giao cho tán lí
Ông Ích Khiêm chuyên việc quân thứ, án sát Hoàng Tướng Hiệp chuyển làm tán
tương, phó lănh binh Sơn Tây Vũ Đức thăng phó đề đốc để cùng đề đốc Đinh
Hội trợ giúp việc quân.
Dăm ngày sau, Nguyễn Văn Tường lại được vua Tự Đức
chuẩn cho giữ chức vụ quyền sung tán tương quân thứ. Vẫn là chức trách cũ,
nhưng chỉ quyền chứ không phải thực thụ như trước đây, hàm vẫn bị giáng
xuống trước tác! Bởi Nguyễn Văn Tường là người có tài năng lớn, nên ông
vẫn được giữ chức vụ rất quan trọng, nhưng cấp bậc lại rất thấp: Hàn
lâm viện trước tác, chỉ là chánh lục phẩm (81)!
Đến tháng mười một năm Tự Đức thứ hai mươi ba, Canh
ngọ (1870) ấy, đ́nh thần tâu dâng bản án thất thủ thành Lạng Sơn. Vua mở
ra xem, cho là những tội danh đă định so với [ân] t́nh và pháp [luật],
phần nhiều chưa đầy đủ, bèn sửa chữa lại. Dụ rằng: “Quan quân thứ,
quan tỉnh Lạng Sơn ấy [là] bọn Đoàn Thọ, Vũ Trọng B́nh, Đặng Toán, Nguyễn
Văn Tường, hoặc trách nhiệm cầm quân, hoặc chức vụ giữ đất, đều là có
trọng trách ở biên thuỳ, thế mà việc canh pḥng sơ suất, không pḥng bị
việc lo bất ngờ, để bọn c̣n sót lại của giặc được nhân sơ hở đánh úp,
chiếm giữ. Theo nghĩa Kinh Xuân thu, trách cứ ở tướng, các quan quân thứ,
quan tỉnh ấy tránh sao được tội. Ḱa như pháp luật, kỉ cương của Nhà nước
nghiêm minh là để trừng phạt những người bất chính, huống chi việc là việc
quan trọng: bại quân, lầm lỡ việc nước, dù trăm thân sao chuộc được! Các
án về thất thủ Phiên An, Gia Định và Thái Nguyên, Tuyên Quang trước kia,
gương ấy chưa xa. Lần này bọn giặc lan tràn đă lâu, việc pḥng bị đánh dẹp
chính gấp, lại có quan to, quân nhiều đóng ở tỉnh thành. So với việc ở
Phiên An, là xảy ra không ngờ, và Gia Định, Thái Nguyên, là vây bức nhất
thời, [th́] sự thế lại là thế nào, t́nh tội quả là ai nhẹ mà ai nặng? Nếu
không chiểu luật trị tội, sau này bắt chước cái dại, không răn chừa được,
[th́] đối với việc nước, mạng dân ra sao? Nay trong tập tâu [nêu] dẫn được
luật chủ tướng không giữ vững, lại không đem ngay các quan to khép tội cho
minh bạch, chính đáng, chỉ đem các quản, suất xử tội. [Vậy] công luận của
đ́nh thần ở chỗ nào? Nếu muốn v́ Nhà nước [mà] tiếc người, cũng phải tŕnh
bày riêng, đâu được đem việc án ấy nghĩ xử sơ lược như thế. Trẫm thực
không biết bụng nghĩ [đ́nh thần] thế nào, là nghĩa lí ǵ? Há chẳng phải có
chiếu cố, thiên vị mà thế ư? Trước đă giáng chỉ chuẩn y tạm cho Vũ Trọng
B́nh hàm hồng lô, Đặng Toán giáng làm thị giảng, về tỉnh Bắc [Ninh], tuỳ
ṭng sai phái, Nguyễn Văn Tường giáng làm trước tác sung tham tán quân thứ
Lạng Sơn, là v́ t́nh tội chưa định, khoan dung cho một chút để xem làm
việc chuộc tội sau này, [ấy là] cách thể tất cho kẻ bầy tôi, không ǵ hơn
được. Quân luật rất nghiêm, vốn không một mảy may có tư vị được. Vậy Vũ
Trọng B́nh, Đặng Toán, Nguyễn Văn Tường, cho đều tự xét xử, chiểu luật,
đáng phải tội ǵ? Vốn đều phải xử tội trảm giam hậu. Nay [trẫm] tạm chuẩn
cho vẫn theo như mọi lần [đă] chuẩn: cho ở lại làm việc chuộc tội, cho
biết công luận, phép nước không thể tư vị, tha thứ được. Bọn thành thủ uư
Nguyễn Văn Tân, đốc binh Đinh Đắc, hiệp quản Nông Văn Ngôn, Nguyễn Văn
Thức, Lê Văn Chiểu, Trần Văn Tiền ở tỉnh ấy, tuần pḥng canh giữ sơ suất
như thế, lại không biết hợp lực, chống đánh, khiến cho thành tŕ, kho tàng
bỏ mất như không, cố nhiên phải chiểu luật xử chém. Nhưng hiện nay có việc
canh pḥng đánh dẹp, bọn ấy ở hàng ngũ đă lâu, [trẫm] tạm cho [là] đều
[bị] phạt nặng một trăm (100) côn ở trước quân, lập tức [bị] cách chức,
rồi phát giao cho quân thứ ấy làm quân tiền khu để làm việc chuộc tội,
[khi lâm trận] nếu rút lui, chém ngay. Bọn ngươi chưa mất hết lương tri,
lương năng, nên biết cảm động, hổ thẹn, hăng hái, mạnh bạo thế nào để thu
lấy công hiệu lúc tuổi già. Nếu quả là tự bỏ địa vị th́ quân pháp c̣n đó,
quyết không thể dong thứ chút nào. C̣n như nguyên tổng thống Đoàn Thọ,
lănh binh Lê Văn Dă, hoặc bị giặc bắt mà tự tử, hoặc bị chúng giết, chờ sẽ
xét sau”. [Vua Tự Đức] lại sai Hoàng Tá Viêm xét rơ các viên quản suất dự
vào việc này, đều [bị] định tội rơ ràng chính đáng” (85).
Bốn năm sau, vụ
thất thủ thành Lạng Sơn này mới đ́nh thần
nghị xử xong. Vua Tự Đức dụ rằng: “Đoàn Thọ, chính ḿnh làm thủ tướng,
lại lỗi về sơ pḥng, bỗng chốc sinh ra biến cố. Tội ấy cố nhiên khó chối
được, nhưng tên ấy là quan vơ, đương lúc bọn giặc đánh úp ấy, lại biết đem
lănh binh Lê Văn Dă liều chết chống đánh, tiết nghĩa thực đáng khen, chuẩn
cho đổi hàm Trung quân đô thống (nguyên trước là Trung quân Đô thống phủ
chưởng phủ sự), chiểu hàm cấp tuất và cấp thêm cho một ngh́n (1.000) quan
tiền để lập đền thờ ở nhà. Lê Văn Dă, chức đă thấp [th́] hơi khác, chuẩn
cho truy tặng hàm chưởng vệ, chiểu theo hàm tặng cấp tiền tuất” (86).
Với Nguyễn Văn Tường, tháng mười mùa đông năm Tự Đức
thứ hai mươi ba, Canh ngọ (1870) ấy, là cả một nỗi đau quặn thắt, nặng
trĩu. Ông những tưởng tạm yên, mong quan Vũ hiển điện đại học sĩ Nguyễn
Tri Phương ra làm kinh lược đại sứ, thống lĩnh toàn cơi Bắc Ḱ, để giữ
vững miền đất này. Giữ vững được Bắc Ḱ để có thể tính chuyện tái chiếm
Nam Ḱ! Ông đă suy tư, trăn trở, đă lội bùn, dầm máu khắp mặt trận biên
giới bắc để bao quát t́nh h́nh, và ít nhiều hi vọng, nên đă viết tập bản
sớ hồi tháng sáu mà ông rất tâm đắc. Ngờ đâu!
Một buổi sáng, rửa mặt bằng nước trong chiếc thau
đồng, soi tấm gương bằng đồng, chợt nhận ra tóc ḿnh đă chớm bạc, ông tự
bảo, đă bốn mươi bảy tuổi, gần ba năm xa kinh đô Huế và Quảng Trị quê nhà!
10
Cuối tháng mười, sắp bước vào tháng mười nhuận năm
ấy, trước t́nh h́nh mặt trận biên giới bắc như thế, vua Tự Đức và đ́nh
thần bàn việc chọn tướng soái điền vào chỗ Đoàn Thọ bỏ trống. Sau khi tham
khảo ư kiến Nguyễn Tri Phương, quyết nghị chung là chọn tổng đốc An – Tĩnh
Hoàng Tá Viêm sung chức thống đốc quân vụ đại thần, thống lĩnh bốn tỉnh
Lạng – Bằng – Ninh – Thái với một thanh gươm vàng và năm lá cờ lệnh biểu
thị quyền lực (87). Đồng thời, triều đ́nh cử thêm Tôn Thất Thuyết, hàm
biện lí Bộ Hộ, mới sung chức tán tương của một trong các đạo quân Ninh –
Thái hồi tháng sáu, nay được thăng thụ quang lộc tự khanh, đổi làm tán lí,
chuyển hẳn sang quân thứ Thái Nguyên, một trong ba quân thứ ở mặt trận
toàn vùng biên. Với chức trách có giới hạn như thế, nhưng thật ra, từ nay,
hai vị tướng tá này sẽ phải giúp nhau đảm đương mặt trận phía Bắc.
Tôn Thất Thuyết liền đến Bắc Ninh. Ở tỉnh này, Vũ
Trọng B́nh, Nguyễn Văn Tường, Đặng Toán đang “làm việc chuộc tội” dưới sự
điều động của tổng đốc Bùi Tuấn, một viên quan người chính gốc Hà Nội. Tôn
Thất Thuyết liền xin đánh gấp để mở đường tiếp vận lương thực từ tỉnh Bắc
Ninh lên Lạng Sơn, và đến đấy, sẽ chờ Hoàng Tá Viêm từ Nghệ An ra để cùng
qua Thái Nguyên (88). Tán tương Nguyễn Văn Tường lại cầm gươm, mang súng
ra trận với Tôn Thất Thuyết, một vị quan hoàng phái trẻ hơn ông mười lăm
tuổi. Năm ấy, Tôn Thất Thuyết mới độ ba mươi hai (89).
Lên Lạng Sơn, không ngờ tại Kỳ Lừa, nơi bản doanh
quân thứ đang đóng, lại xảy ra sự cố!
Chỉ trong mấy ngày gần đây, Ông Ích Khiêm mang quân
từ bản doanh Kỳ Lừa đến đồn Cốc Trấn, bắn đại pháo vào cửa đông thành, lại
bị giặc Cờ bắn trả, đạn xuyên qua đùi và bắp chân bên trái. Bị thương, Ông
Ích Khiêm được phép đi về tỉnh Đông (Hải Dương – Quảng Yên) để được điều
trị, nhưng ông lại tuỳ tiện mang đến hai trăm (200) quân theo để hộ tống
ḿnh (90). Hộ phủ Hưng Hoá Nguyễn Huy Kỷ được thăng hàm thự tham tri Bộ
Binh để thay thế (90).
Ông Ích Khiêm, h́nh như tổ tiên là người Chăm (91).
Ông là một tướng tài, văn vơ kiêm toàn, đỗ cử nhân năm mới mười lăm tuổi,
rất gan dạ, mưu lược trong trận mạc, nhưng cao ngạo và tuỳ tiện, có khi
rất tự thị, coi thường lệnh của tướng chỉ huy (92). Một lần nữa, như ở
thành Lạng, Ông Ích Khiêm lại bỏ trống đồn Kỳ Lừa, nơi tạm đặt bản doanh
quân thứ sau khi thành Lạng bị tướng giặc Cờ Tô Tứ chiếm. Phó đề đốc Vũ
Đức lo sợ t́nh huống mất thành Lạng Sơn lại xảy ra, và đă xảy ra thật!
Giặc Cờ hàng ngày vây áp đồn để đánh quấy. Tướng vơ họ Vũ rất dũng cảm
chiến đấu, đi trước toán quân tiền phong xung kích để phản công, nhưng
quân số giữ đồn quá ít, đành thua giặc Cờ, và chính Vũ Đức cũng bị thương.
Ông được phép về Hà Nội để lo điều trị (90).
Đọc xong bản tấu của quan quân thứ Nguyễn Huy Kỷ,
vua Tự Đức lập tức giáng Ông Ích Khiêm từ hàm tham tri xuống hàm quang lộc
tự khanh, từ chức tham tán xuống tán lí (90).
Thống đốc Hoàng Tá Viêm, khi mới ra Bắc nhậm chức,
liền kiểm tra thực tế con số quân binh của ba quân thứ, mà ông nắm được ở
Bộ Binh: Lạng Sơn: ba ngan hai trăm chín mươi (3.290); Thái Nguyên: một
ngàn bảy trăm tám mươi (1.780); Bắc Ninh: sáu ngàn năm trăm sáu mươi
(6.560). Tổng cộng chỉ hơn một vạn người lính (93). Đồng thời, ông chú tâm
nghiên cứu t́nh h́nh địch. Sau khi biết rơ t́nh h́nh, ông đề xuất lấy việc
phủ dụ, chiêu hàng địch làm kế hoạch nhất định. Khâm phái Nguyễn Chính đi
thám xét t́nh h́nh cũng tâu về triều là nên phủ dụ, bởi đánh sẽ không bao
giờ xong! Ở kinh đô, ư Nguyễn Tri Phương phúc tâu lên vua, cũng xin tuỳ
t́nh h́nh, sau sẽ tính dần.
Sau khi thống đốc Hoàng Tá Viêm tâu vào kinh, vua Tự
Đức cho rằng, phủ dụ mà giặc kiêu căng, th́ phải đánh ngay cho lừng tiếng
quân ta, cho chúng nhụt khí thế, rồi lại phủ dụ (94).
Do đó, tán tương Nguyễn Văn Tường và thị giảng Đặng
Toán đi đến Lạng Sơn và các quân thứ, các tỉnh để hiểu dụ giặc. Cũng nhiệm
vụ ấy, Phạm Chi Hương đến Thái Nguyên.
Tán tương Nguyễn Văn Tường hiểu rơ sức lực triều
đ́nh và quân dân ta thật không thể không nói là đến mức cạn kiệt. Điều đó,
trong bản tấu tháng sáu mới đây, ông đă tŕnh bày rơ với niềm hi vọng lạc
quan. Nhưng đến nay t́nh h́nh trở nên quá đáng buồn!
Vua lại ban chiếu cầu hiền, mong được tiến cử thêm
người tài giỏi để cứu nước. Không phải một lần, đă nhiều lần, chiếu cầu
hiền của vua lại nhấn mạnh câu “tiến cử được người hiền tài th́ được
thưởng hậu, che giấu người hiền tài th́ sẽ bị giết” (95).
Sau đó ít hôm, vua lại cùng đ́nh thần định lại lệ
“thân nhân của giặc [người Việt] được dự thi và không được dự thi” (96).
Lệ ấy khi ban ra Bắc Ninh, Lạng Sơn và các tỉnh phía bắc, như thể là
một dịp để các quan nhớ đến Mai [Thế] Quư. Mai Quư, người xă Phù Lưu,
huyện Thiên Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông bị tội lây do chú bác làm phỉ, nói
chung là rơi vào trường hợp liên hệ lí lịch tam đại có vấn đề, nên Mai Quư
đă giấu bớt, khai lệch, dự thi, và đă đỗ cử nhân nhưng bị truất, bị án
trượng, đồ, “chung thân bất đắc ứng thí”. Ông đă khiếu kiện, nên
được thi lại. Mai Quư hai lần đỗ cử nhân (Bính ngọ [1847], Nhâm tí
[1852]), và sau đó đỗ tiến sĩ (Quư sửu, 1853) (97). Ông hiện đang là tiễu
phủ sứ Tuyên Quang, chiến đấu tiễu phỉ rất nổi tiếng. Việc định lại lệ
“thân nhân của giặc [người Việt] được dự thi và không được dự thi” ở
thời điểm này tại Đàng Ngoài nói chung và riêng tại Bắc Ḱ, không biết có
dẫn đến một tác dụng hữu ích hay tác hại ǵ không. Có người cho rằng, sẽ
tăng thêm số phỉ người Việt chống triều đ́nh, v́ con cháu, anh em bị liên
lụy, thân phận quá bị bức bách. Có người lại cho rằng, t́nh h́nh phỉ sẽ
giảm bớt! Câu trả lời là ở thực tế! Thực tế hầu như ai cũng thấy là đáng
buồn và đáng sợ!
Trong mấy ngày tiếp theo, thống đốc Hoàng Tá Viêm
tâu vào kinh: T́nh h́nh biên giới càng gay go do quan lại ở đấy không khéo
vỗ về. Ông tŕnh bày, bọn phỉ Việt có khẩu hiệu: “Giết hết quan lại
tham ô” (98). Vị quan họ Hoàng chủ trương vừa đánh, vừa phủ dụ, chứ
không chỉ phủ dụ đơn thuần như hồi mới ra nữa. Ông xin đổi chuyển một số
quan lại, mong rằng trong sự xếp đặt về sau rất cần bổ nhiệm người tài
giỏi, không có người tài giỏi sẽ không xong được… Hoàng Tá Viêm chê trách
các quan đang tại chức như Nguyễn Bính, Nguyễn Văn Thận, Lê Bá Thận, Đặng
Xuân Bảng (cùng họ tộc với Đặng [Kim] Toán), và đề bạt một số quan, xin
hoán chuyển đến các tỉnh mặt trận phía bắc một số quan khác, như Lương Quy
Chính, Nguyễn Phan, Phạm Chi Hương, Mai Quư… Mai Quư được đề bạt làm bố
chính sứ Tuyên Quang (98).
“Giết hết quan lại tham ô”,
phải chăng khẩu
hiệu ấy như một
thứ chiêu bài, đằng sau ẩn giấu một sự bất măn chung rất dai dẳng trên đất
vua Lê chúa Trịnh?
Trong tháng chạp rét mướt, Vũ Phạm Khải cũng vâng
mật dụ đi chiêu phủ, vỗ yên bọn phỉ và dân gian (99).
T́nh h́nh Bắc
Ḱ thật phức tạp, gay go! Vẫn nổi cộm lên mâu thuẫn Đàng Ngoài – Đàng Trong sau hai trăm năm chia cắt thời Trịnh – Nguyễn trong ư hệ
trung quân mà vua Tự Đức gọi là xuẩn động (nổi loạn do không hiểu lẽ biến
dịch), hoặc mượn chiêu bài phù Lê để thừa cơ “giậu đổ b́m leo”, toan tính
khuấy quậy để “đục nước béo c̣”! Vẫn nổi cộm mâu thuẫn lương – giáo! Vẫn
nổi cộm nạn phỉ đủ loại, nhất là phỉ Tàu, giặc Cờ!
11
Khi Hoàng Tá
Viêm ra Bắc Ḱ, ông chủ trương thực thi kế sách chiêu phủ bọn giặc Cờ. Kêu gọi đầu hàng, vỗ yên bọn phỉ trở thành nhiệm
vụ của tán tương Nguyễn Văn Tường và Đặng [Kim] Toán cũng như nhiều quan
chức khác (94).
Tán tương Nguyễn Văn Tường đi đến Lạng Sơn, nơi
Nguyễn Bính đă được bổ nhiệm làm tuần vũ thay Đặng Toán, và Nguyễn Huy Kỷ
được thăng hàm tham tri Bộ Binh sung tham tán quân thứ thay Ông Ích Khiêm.
Ở đó, ông gặp thống đốc Hoàng Tá Viêm vừa ra nhận chức gần một tháng nay.
Cuộc họp bàn liền được tổ chức. Các tướng tá và quan tỉnh đều nhất trí
viết thư dụ hàng gửi cho Tô Tứ, mặc dù họ thừa biết trước đây, Tô Tứ đă
một lần đầu hàng, đă được cấp tiền, sắp xếp cho chỗ ở và cũng đă làm phản,
đánh chiếm thành Lạng Sơn!
- Chiêu phủ tên tướng phỉ này cũng vô ích! Thế nào
hắn cũng làm phản thêm một lần nữa! Năm Tự Đức thứ hai mươi mốt (1868), ta
đă tốn hao cả vạn lạng bạc để chiêu phủ tên Ngô Côn, thế mà hắn vẫn phản!
Tên Tô Tứ này cũng đă hàng, lại đă phản! Xem thế, rơ ràng bọn này thật sự
là phỉ. Cho nên, không thể phí tiền vô ích! – Tán tương Nguyễn Văn Tường
nói –. Xin lưu ư điều đó.
- Biết vậy, nhưng để tái chiếm thành Lạng Sơn, tiền
thuốc súng, lương thực phải chi phí rất lớn, và sẽ tổn thất cái không thể
tính bằng tiền được v́ nó vô giá, ấy là sinh mệnh binh lính. Ta cứ xem như
“mua” hoặc “chuộc” thành Lạng Sơn với giá rẻ (100)! Sau đó, tên Tô Tứ, ta
lại có biện pháp đối phó và luôn cảnh giác… Có thể tiêu diệt luôn! Nhưng
trước mắt, hăy nhử tiền chuộc và dụ hắn trả lại thành cái đă!
- Nếu như vậy, tôi hoàn toàn nhất trí. Thật ra, đây
là kế sách hơi “bá đạo”! – Tán tương Nguyễn Văn Tường nói –. Người cầm
quân chính nhân quân tử sẽ không sử dụng kế này. Liệu ta có bị thiên hạ
chê bai không?
Tán tương Nguyễn Văn Tường vốn nổi tiếng văn hay từ
lúc c̣n học tṛ. Ông c̣n là một nhà thơ. Hơn nữa, Nguyễn Văn Tường mấy năm
nay thường xuyên làm nhiệm vụ thuyết khách. Ông phải luôn bút đàm, viết
thư giao thiệp, thương thảo, bàn kế sách tiễu phỉ với các quan tướng nhà
Thanh như Phùng Tử Tài, Từ Diên Húc… Ông liền được cử làm người trực tiếp
chiêu phủ Tô Tứ.
Tán tương Nguyễn Văn Tường đă nghiền ngẫm “Quân
trung từ mệnh tập” và nhiều tập thơ của Nguyễn Trăi. Rơ ràng có hai
Nguyễn Trăi, một Nguyễn Trăi rất tỉnh táo, mưu trí, với nhiều thủ thuật
tâm công rất xảo diệu, và một Nguyễn Trăi thi sĩ, rất hồn nhiên, sâu sắc,
ân t́nh… Thật ḷng, ông cũng hiểu văn chương của Nguyễn Trăi đôi khi chỉ
thuần là vũ khí tâm công!
Tán tương Nguyễn Văn Tường đă viết thư dụ hàng Tô
Tứ, với một ư tưởng ông từng suy nghĩ nhiều trước đó:
Việc binh đao ở
biên giới Đại Nam – Thanh Quốc (Trung Quốc) vốn không phải do mâu thuẫn
giữa hai nước, hay giữa dân tộc Việt với nhân tộc Hán! Ấy là do mâu thuẫn
trong nội bộ Trung Quốc! Việc tranh chấp bởi mâu thuẫn dân tộc giữa Hán và
Măn Châu vốn có từ mấy ngàn năm. Trong một trăm năm gần đây, dân tộc Măn
đă lập nên nhà Thanh, cai trị cả trăm nhân tộc ở Trung Quốc, trong đó có
nhân tộc đa số là Hán. Nhưng cũng cần nhớ lại lịch sử: Dân tộc Hán vốn
từng xâm lược, bành trướng và cai trị dân tộc Măn cùng hàng trăm dân tộc
khác… Mâu thuẫn Hán – Măn Thanh nổ ra cuộc chiến tranh mười bốn năm (1850
– 1864) là mâu thuẫn trong nội bộ nước Trung Hoa. Xin đừng đem đại hoạ
binh đao trong nước Trung Hoa lan sang nước Đại
Nam.
Cho nên, mong các tàn quân Thái B́nh thiên quốc (Hán tộc) chấp nhận hai
phương án: một là, rút quân về nước, quy hàng nhà Thanh hoặc giải quyết
nội bộ với nhau; hai là, nếu muốn sinh sống tại Đại Nam, th́ hăy buông vũ
khí và cầm cày cuốc khẩn hoang lập ấp, chịu làm thần dân của hoàng đế Đại
Nam, không được quấy nhiễu, cướp bóc, chiếm cứ, xưng hùng, xưng bá! Nhưng
vẫn nói thật ḷng, nước Đại Nam mong các đoàn tàn quân Thái b́nh thiên
quốc nên rút quân về nước theo phương án thứ nhất, v́ hiện nay t́nh h́nh
Đại Nam đang phải đối phó với Pháp rất gay go. Vả lại, đất nước Đại
Nam
vốn đă quá nhỏ hẹp! Hăy v́ t́nh đồng chủng da vàng, t́nh lân bang, đừng
gây khó khăn cho Đại Nam. Nếu không, máu đổ thịt rơi lại phải tiếp tục.
Việc này có ích ǵ đâu cho tàn quân Thái b́nh thiên quốc! Cũng như vậy,
nạn đao binh ấy rất tai hại đối với Đại Nam. Rốt cục chỉ lợi cho Pháp, Anh
và các nước Âu Mỹ khác (101)!
Kết quả là Tô Tứ chịu nghe theo yêu cầu trong thư
tán tương Nguyễn Văn Tường gửi đến. Trong tháng mười hai nguyệt lịch, Tô
Tứ (Tô Quốc Hán) xin hàng, nộp trả thành Lạng Sơn, cùng súng ống, khí
giới. Thống đốc Hoàng Tá Viêm phải cấp cho Tô Tứ đến mười một ngàn
(11.000) lạng bạc để Tô Tứ cấp cho quân của hắn về nước. C̣n lại năm trăm
(500) tên, chúng xin ở lại tại chỗ cũ, nơi trước đây chúng đă được sắp xếp
cho ở. Ấy là Nà Dương, Khôn Quang. Ngoài ra, chúng c̣n được trợ cấp sáu
tháng lương thực để khai khẩn đất làm ăn. Tô Tứ được trú tại Đồng Bộc
(100).
Được tin ta đă lấy lại thành Lạng Sơn, vua Tự Đức
cho thông báo khắp trong kinh ngoài tỉnh. Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Văn Tường,
Nguyễn Bính, Nguyễn Huy Kỷ đều được thưởng, gia thăng cấp, trật. Nguyễn
Văn Tường được gia một trật, được thưởng một đồng “tứ mĩ kim tiền”… Hoàng
Tá Viêm cũng được gia hai cấp, được thưởng một đồng “ngũ phúc kim tiền”
(100)…
Vào thành, tán tương Nguyễn Văn Tường liền t́m đến
nơi bọn phỉ vùi chôn Đoàn Thọ, Lê Văn Dă cùng các binh lính khác. Ông thắp
những nén nhang, trào nước mắt trước nấm mộ chôn chung!
Sau Tết Nguyên đán năm Tự Đức thứ hai mươi tư, Tân
mùi (1871), tên tướng Tàu giặc Cờ Đặng Chí Hùng (Đặng Văn) (102), sau khi
đọc xong bức thư chiêu phủ của Nguyễn Văn Tường gửi Tô Tứ, y cũng xin
hàng. Y xin hàng sau nhiều đêm mùa đông dài dặc trăn trở và suy nghĩ.
Nhưng đối với thành Cao Bằng, vấn đề lại không được
như vậy. Trước đây, thành đă một lần bị phỉ đánh chiếm. Vũ Trọng B́nh,
Nguyễn Hiên, Đinh Hội đă phải tiến công, đánh thắng, chiếm lại. Gần đây,
thành ấy lại mất. Quân thứ Lạng Sơn tâu về kinh: Cần một vạn phương gạo
cung cấp cho biền binh mới có thể đánh chiếm lại được. Xin vận lương đến
gấp (103). Ngay lập tức, quan tỉnh Lạng Sơn, Bắc Ninh khẩn cấp tiếp
tế. Nhưng sự thể không biết có toàn thắng, chiếm lại thành được không.
Trong khi đó, Lưu Vĩnh Phúc, một tướng giặc Cờ đen,
đă được Nguyễn Huy Hỷ chiêu phủ, theo quân ta đi tiễu phỉ, hiện đang so
gươm đọ súng với tướng giặc Cờ vàng Hoàng Sùng Anh (104). Tin Hoàng Sùng
Anh bị tử trận khiến mọi quan quân đều vui mừng. Nhưng tiếc thay, sau đó
ít hôm, tin thám báo của quân ta cho biết, y chỉ bị thương, đang chữa
chạy!
T́nh h́nh vẫn rối nhiễu ở mặt trận biên giới phía
Bắc này! Bọn giặc Cờ Lao Doăn Tài (Lao Nhị) mới hàng đây, lại làm phản!
Tên phỉ họ Lao này vốn là thuộc hạ của Tô Tứ! Các tướng tá ta trách Tô Tứ,
y cũng đành bảo là không ḱm chế nổi bọn thuộc hạ! Liền theo đó, bọn giặc
đă tan vỡ sào huyệt, tan tác bè lũ, thường được gọi là “giặc vỡ”, nay lại
câu kết với nhau, lại quấy nhiễu! Như bọn phỉ Đặng Văn, chẳng hạn! Hoàng
Tá Viêm, Nguyễn Huy Kỷ đều bị giáng cấp (105).
Không cách nào khác, thống đốc Hoàng Tá Viêm viết
tập tâu đệ tŕnh về kinh, xin gửi quốc thư cho nhà Thanh để họ đem quân
sang chi viện, tiễu trừ!
Sự phản trắc của bọn tàn quân Thái b́nh thiên quốc
thật đáng sợ! Bọn Anh, Pháp và các nước Âu Mỹ lợi dụng chúng, hà hơi tiếp
sức cho chúng, viện trợ, bán chác súng đạn cho chúng để quấy nhiễu nước
Thanh (Trung Quốc) và cả nước Đại
Nam ta. Điều đó đă rơ
rồi. Nhưng mặt khác, không thể không suy nghĩ, phải chăng nhà Thanh vẫn
muốn lợi dụng bọn tàn quân Thái b́nh thiên quốc đă biến chất thành phỉ này
để làm sức ép với nước ta (106)?
C̣n bọn “giậu đổ b́m leo” người Việt nữa!
Hết phân đoạn 4
truyện kí thứ sáu
(c̣n tiếp)
Viết đến ḍng chữ
này lúc 16 giờ kém 10 phút,
ngày mùng ba
tháng mười, năm 2002
(27.8, Nh. ngọ,
HB.2),
tại thành phố Hồ
Chí Minh.
TRẦN XUÂN AN
(80)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 272.
(81)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 61 – 62.
(82)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 321 – 322; ĐNLT., tập 3, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 265. Trong tiểu
truyện về Đoàn Thọ, ghi rơ: Vũ Trọng B́nh, Đặng Toán và Nguyễn Văn Tường
vượt thành, vượt sông. Tôi (TXA.) hư cấu thêm chi tiết về đường
hầm.
(83)
ĐNLT., tập 4, Nxb. Thuận Hoá,
1993, tr. 416 – 417.
(84)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974,
tr. 326 – 327; tập 32, sđd., 1975, tr. 46.
(85)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 70 – 72.
(86)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975,
tr. 65 – 66.
(87)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 65.
(88)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 62, 65, 66.
(89)
Có nhiều tư liệu cho rằng Tôn
Thất Thuyết được sinh ra đời vào năm 1835, nhưng đại đa số các tư liệu
đáng tin cậy, kể cả gia tộc phả, đều xác định năm sinh của ông là 1839.
(90)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 66.
(91)
Tạp chí Nghiên cứu lịch sử,
số 4 (323), tháng VII – VIII, 2002: bài của Huỳnh Công Bá, “Hiểu thêm
về khái niệm “Nam tiến” từ trong công cuộc khai khẩn Thuận – Hoá hồi trung
thế kỉ”, tr. 84: “Ông Ích Khiêm vốn là di duệ của một trong những
ḍng họ người Việt gốc Chàm hiện c̣n ở Quảng Nam, Đà Nẵng…”. Theo
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1976, tr. 67, 305 : “Giặc trốn nước Thanh là
bọn c̣n sót lại của Ông Thất…”, “Nói về toán giặc bọn Ông, Đàm nguyên
trước cư ngụ ở nước Nam [… :] đề đốc Phùng đại nhân đem quân thắng trận
trở về, nỡ để cái trách nhiệm chưa làm xong ấy, giao cho nước [Đại Nam]
tôi…”; chứng tỏ họ Ông cũng là một trong những họ gốc Hoa. Ở đây, hẳn
có sự trùng hợp về họ hoặc có sự phiêu tán, di cư, xâm thực nào đó chăng…
V́ thế, và cũng v́ cho đến hiện nay, chúng tôi vẫn chưa có điều kiện để
được t́m đọc gia tộc phả Ông Ích Khiêm, nên chỉ dám viết là “h́nh như”,
“có thể”… Mong được lượng thứ về khía cạnh này.
(92)
ĐNLT., tập 4, Nxb. Thuận Hoá,
1993, tr. 276 – 282.
(93)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 67.
(94)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 70.
(95)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 72 – 74.
(96)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 74.
(97)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975,
tr. 330 – 331.
(98)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 75 – 76.
(99)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975,
tr. 80 – 81.
(100)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 81 – 82.
(101)
Bức thư địch vận, chiêu hàng bọn giặc Cờ Tô Tứ này, chúng tôi dựa vào một
số t́nh tiết và sự kiện trong ĐNTL.CB. để hư cấu lại. Trong đoạn này,
chúng tôi có sử dụng hai từ “nhân tộc” và “dân tộc” với ngữ
nghĩa hơi khác nhau. “Nhân tộc” là tộc người, xét về mặt nhân
chủng và bản sắc văn hóa (lịch sử, ngôn ngữ, phong tục nhất thống…).
“Dân tộc” cũng là một tộc người hoặc nhiều tộc người, xét trong
mối quan hệ với nhà nước, tức là cộng đồng thần dân, hoặc cộng đồng
công dân của một nước. Một nước phải có một lănh thổ (có thể không liền
nhau), một chính quyền nhất thống, và chỉ có một dân tộc (nhưng gồm
nhiều nhân tộc).
(102)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 84.
(103)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 86.
(104)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 89.
(105)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 90 – 92.
(106)
ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1975, tr. 143.
Hết
phân đoạn 4
truyện kí thứ sáu
(c̣n tiếp)
XIN XEM TIẾP TỆP 15
phân đoạn 5
truyện kí thứ sáu
(c̣n tiếp)