TỆP 2
Truyện kí thứ nhất
PHẦN THỨ NHẤT
(1824 – 1853)
TRẦN XUÂN AN
QUỐC TÍNH
VÀ NGƯỜI HỌC TR̉ TỘI ĐỒ
KHÔNG CHỊU ĐỔI TÊN
Truyện kí thứ nhất
1
Người thanh niên bước chậm răi trong ánh nắng chiều
hôm, nghe gió sông thổi mát rượi, khô dần những hạt nước trên gương mặt
trắng trẻo nay đă rám nắng. Vừa đi men vệ cỏ, anh vừa lau lại một lần
nữa mái tóc xoă xuống ngang ngực. Anh mỉm cười, tự nhủ, tắt nắng đến nơi
rồi, ai có nh́n thấy cũng biết ḿnh mới tắm sông xong, tóc chưa kịp chải
và bối lại. Chợt anh muốn bật cười to một ḿnh: Thân tù tội mà, c̣n đâu
nữa thời mặt trắng học tṛ!
Lên đến giữa băi bờ sông rộng, anh đứng lại cạnh
quang gióng, một đầu là cỏ ống xanh, một đầu là bó rơm vàng, buộc vào đó
là chiếc liềm và dăm đốt mía. Anh cúi xuống, kê vai gánh, bước nhanh về
phía trại tượng binh. Anh lại mỉm cười nhớ lại mẩu chuyện tṛ với chú
nhỏ, hầu trai của bạn đồng khoa, lúc anh cắm cúi cắt cỏ cho voi, rồi lan
man ngẫm nghĩ. Anh bạn ấy đi thi, cũng sung sướng thật, có người theo
hầu lo lều chơng cho. Nay vợ cần nắm rơm lót ổ gà, cũng người tớ ấy lặn
lội về quê mang lên. Khi chú nhỏ hầu tớ ấy gánh rơm qua chỗ anh cắt cỏ,
rồi mải ham chuyện, khiến anh muộn mất, sau đó phải san cho anh một đầu
gánh và mấy đốt mía! Rơm lót ổ gà ở phố, cần chi nhiều! Chả là ôm một mớ
th́ xót, gánh quá ít ỏi lại khó coi.
Anh bước nhanh đến chuồng voi, chợt giật ḿnh khi
trông thấy suất đội tượng binh. Ông nghiêm mặt:
- Tường! Sao về muộn rứa? Không cách răng mà không
phạt chú mi được!
- Dạ… Tắm sông, luôn tiện giặt cái áo, vắt trên
nhánh cây, không may bị rớt xuống, phải lặn ṃ… – Tường hơi ấp úng –.
- “Quân luật như sơn”! Luật quân binh vững như núi!
Chú
là tú tài
tân khoa, cho dù bị truất, bị tù, th́ chữ nghĩa vẫn không suy suyển, hao
hụt chi, chú thừa hiểu. Mười trượng!
Nói xong, ông
suất đội bước về trại. Được dăm bước, ông ta quay ngoắt lại, ném lui mấy
tiếng cộc lốc:
- Tối nay, giờ điểm binh!
Tường cúi đầu sau
tiếng dạ.
2
Tường không dám ăn no. Anh lùa vội hai chén
cơm trong nỗi hồi hộp, với cảm giác tủi nhục khô đắng cả miệng.
Trong ánh sáng của bốn ngọn đuốc bập bùng cháy sáng,
viên suất đội đứng nghe quân lính, kể cả mấy tên tù sung quân trong cơ
điểm danh.
Tường đứng sững khi nghe một viên lính gọi đúng tên
anh, lần này không phải kiểm tra quân số nữa:
- Nguyễn Văn Tường, tù sung quân!
- Có mặt!
- Lên nhận
phạt!
Tường lặng lẽ
bước lên, gần nơi viên suất đội đứng.
- Nằm xuống!
Hai viên lính
trói hai cổ tay, hai cổ chân Tường vào bốn chiếc nọc đóng sâu vào đất.
Anh úp mặt xuống những ngọn cỏ úa cuối tháng tám mặt trăng, nghe nồng
mùi nắng. Anh nhắm mắt lại. Cắn chặt hai hàm răng sẵn sàng chịu đựng,
Tường nghe thấy bằng đôi tai tiếng hai viên lính chia ra đứng hai bên
anh, trong tay họ mỗi người một cây trượng dài.
Tiếng viên
suất đội:
- Nguyễn Văn Tường! Phải phạt chú mi để giữ nghiêm
quân luật! Từ nay về sau, không được muộn giờ, trễ giấc! Lệnh đă phát là
mười trượng, nhưng ta lượng t́nh chú mi là tú tài tân khoa, mặc dù bị
truất và bị tội đồ, ta giảm cho bốn trượng, c̣n sáu. Hăy nhớ là nhà vơ
chúng ta đây cũng quư mến bút nghiên bên văn! Thi hành!
Tường oằn người dưới hai chiếc trượng. Cắn chặt răng,
môi anh muốn bật máu. Mười tám tuổi, lần đầu tiên trong đời học tṛ, anh
bị phạt trượng và tủi nhục đến thế.
Bốn sợi dây thừng
được tháo lỏng.
- Đứng dậy!
Tường thấy ḿnh vẫn c̣n đủ sức đứng dậy. Anh hơi lảo
đảo trong ánh đuốc bập bùng, thầm hiểu sáu trượng chưa đến nỗi lịm người.
- Bẩm, thi hành
phạt xong! – Viên lính thưa –.
Tiếng viên suất đội:
- Về vị trí!
- Bẩm, dạ…
Tường liêu xiêu
bước, khuất sau mấy hàng quân (1).
Đêm ấy, Tường thiếp đi trong đau nhức. Vầng trán
sáng láng của anh hằn lên những vết nứt của chiếc gối gỗ thường dùng để
kê đầu phía gáy.
3
Sáng hôm
sau, Nguyễn Văn Tường, người học tṛ bị án tội đồ
một năm ấy, vẫn phải đặt quang gánh lên vai với chiếc liềm cắt cỏ bước
ra bờ sông. Anh phải làm nhiệm vụ người lính chăn voi trong kỉ luật
nghiêm khắc. Anh đau nhức đến ê ẩm cả người. Anh càng thấm thía chút
ngông cuồng tuổi trẻ anh đă trót phạm. Nếu Tường không ngông cuồng, giờ
đây hẳn anh đă được cha mẹ, bà con và thầy bạn chúc mừng học vị tú tài
tân khoa anh đạt được, dẫu tú tài chưa phải là ước nguyện của một chàng
trai biết nuôi cao vọng, hoài băo lớn của kẻ sĩ như anh.
Tường phải ráng sức chịu đựng.
Măi đến hai hôm sau nữa, bạn cùng khoa thi hương của
Tường mới biết chuyện và xin phép viên suất đội cho người hầu trai đến
giúp anh.
Lúc này, Tường nằm trên vạt cỏ, chống tay vào cằm,
nghe chú nhỏ hầu tớ hỏi:
- Bẩm cậu tú, v́ răng tên họ cậu trùng với quốc tính,
cậu lại không chịu đổi, để đến nỗi…
- Cậu tú?!? Cậu tú tài?!? – Tường bật cười ha hả,
nhưng khoé mắt ươn ướt long lanh –.
- Dạ, có ra răng đi nữa, th́ cũng là cậu tú. – Người
tớ trai mới mười lăm tuổi nói với giọng điệu khâm phục –.
- Lẽ ra nhà mi phải gọi ta là cậu nghè, ít ra cũng
cậu cử như cậu chủ nhà mi, nhưng tiếc thay, giờ gọi là cậu tú cũng phạm
phép. Ta bị đức vua sai Bộ Lễ gạch tên trong sổ tú tài rồi, nhà mi thừa
biết, răng cứ gọi sái phép rứa? – Tường cay đắng, buồn buồn bảo, và bật
cười –. Gọi thằng tù th́ đúng hơn!
- Dạ, không dám mô, cậu tú. – Người tớ trai bối rối
–.
Nắng sớm chiếu mặt sông ngời sáng, và ngời sáng
gương mặt khôi ngô, cương nghị của Tường. Người hầu trai tên Lúa bỗng
dưng thấy thương kính cậu tú Tường lạ lùng.
- Nếu đă giúp ḿnh, th́ cắt cỏ đi. Lỡ đến trưa chưa
đầy gánh, ḿnh lại ốm đ̣n. – Tường khẽ bảo –.
- Dạ, bẩm cậu, lo chi. Con cắt chỉ một lúc là xong
thôi. Nhưng… răng cậu không chịu đổi tên họ hở cậu? (2).
- Trùng với quốc tính, sao không chịu đổi à? Ừ,
không chịu đổi là bởi không chịu đổi, miễn là ta không mạo hoàng tộc,
chỉ có rứa thôi. Nếu mạo hoàng tộc, phải là Miên Tường, Hồng Tường, hay
Ưng Tường, Bửu Tường chứ, hoặc ít ra cũng Tôn Thất Tường. Trong mấy năm
Minh Mạng đầu tiên, tiên đế đă có dụ ban về việc này. Năm Minh Mạng thứ
mười ba (1832), mặc cho năm trước tả quân Lê Văn Duyệt, quan lớn Nguyễn
Văn Hưng tỏ ư không muốn đổi quốc tính Nguyễn Phúc thành Tôn Thất, tiên
đế vẫn cứ ban dụ thi hành, buộc phải đổi. Cụ lớn Lê Văn Duyệt nói với
đức vua ra sao, và quan lớn Nguyễn Văn Hưng trách Tôn Thất Dịch thế nào,
nhà mi biết không? – Tường mỉm cười –.
- Dạ… Làm răng con biết !…
- Thật ra ta cũng không biết, nếu không được hầu cờ
tướng cho quan lớn Trương Đăng Quế. Cụ thượng kể: Tả quân Lê Văn Duyệt
thường nói với tiên đế Minh Mạng: “Nguyễn Phúc mà đổi là Tôn Thất,
chẳng biết v́ cớ ǵ?” (3). Quan lớn họ Nguyễn bảo Tôn Thất Dịch,
nhân ngày Tôn giỗ bố, nguyên văn thế này: “Anh là Nguyễn Phúc Dịch,
nay [viết] văn tế lại xưng là Tôn Thất Dịch, e bố anh chẳng biết anh là
ai đâu!”. Ấy là nói mỉa mai đó nghe. Đức Minh Mạng nghe được, giận
lắm, mắng cả tả quân Lê Văn Duyệt lẫn quan lớn Nguyễn Văn Hưng: “Kiến
thức lũ ấy quê mùa, hẹp ḥi, lại thả lời càn bậy, thật đáng chê cười!
[…] Những kẻ nói năng càn bậy không đáng đếm xỉa [đến]!” (4).
Lúa mở to mắt
nghe cậu tú Tường chậm răi thuật chuyện. Lúa cảm thấy đúng, đổi tên do
cha mẹ xin keo âm dương trước bàn thờ gia tiên mà đặt, tội đă quá to,
bằng quả đồi là ít, lại c̣n dám đổi cả tộc tính bao đời của một ḍng họ,
tội không thể nhỏ thua trái núi! Nghĩ vậy, nhưng Lúa nào dám thốt lời
phạm thượng với tiên đế oai linh.
Tường cũng tự
biết ḿnh trót sa đà theo mạch chuyện, không khéo bị tai vách mạch giừng
th́ khốn. Anh im lặng. Một chốc, Tường nh́n Lúa:
- Thôi, nhớ
nghe qua rồi bỏ, chớ học lại với ai, khốn thân chú mi lẫn ta đó. Thôi,
cắt giúp cỏ đi, Lúa!
- Nhưng… Dạ, cậu tú, rứa là cậu không phải… hạt máu
của đức vua Thiệu Trị? Thiên hạ đồn như rứa…
- Bậy! – Tường cười –. Làm chi có chuyện đó! Ḍng họ
ta là dân dă, chuyên cuốc bẫm cày sâu và đèn sách thôi. Tổ tiên ta mười
lăm đời trước, quả thật, họ là Nguyễn Phúc, nhưng đến đời tổ tiên cách
ta sáu đời đă phải đổi là Nguyễn Thế. Sở dĩ có sự thể đổi họ như rứa là
v́ tiên chúa Nguyễn Hoàng Gia Dụ hoàng đế đổi họ Nguyễn Hoằng của ngài
thành Nguyễn Phúc (sau hai đời, đời cụ Nguyễn Kim và đời tiên chúa, phải
bỏ chữ Hoằng) (5), và ngài lại ban dụ cho nhân gian, họ nào vốn
là Nguyễn Phúc hay ai mang họ Nguyễn có lót chữ Phúc đều phải đổi chữ
khác, để chỉ duy nhất họ của ngài là Nguyễn Phúc mà thôi. Rứa đó, biết
chưa Lúa? Trước lúc tiên chúa Gia Dụ thái tổ hoàng đế ban dụ đổi họ
Nguyễn Hoằng thành Nguyễn Phúc, trong nhân gian thiên hạ, có cả mươi họ
Nguyễn Phúc, c̣n người họ Nguyễn có tên lót đệm chữ Phúc như Phúc Nhất,
Phúc Nhị, Phúc Tam th́ nhiều vô số, cho đến Phúc Vạn, Phúc Triệu!
- Dạ, cháu vẫn chưa hiểu v́ răng… – Lúa thật thà ấp
úng –.
- Bởi ta nói dài ḍng cho nhà mi hiểu xa, hiểu rộng
ra cái đă, mà chưa nói gọn, nói rơ! Th́ thế này: Ḍng họ ta vốn là
Nguyễn Phúc dân dă, phần lớn chỉ cày ruộng và chuyên đèn sách, phải tuân
chỉ dụ tiên chúa thái tổ Nguyễn Hoàng, đổi họ Nguyễn Phúc thành Nguyễn
Thế; đến đời ông nội ta, nhân tiên đế Minh Mạng phân biệt trong ḍng họ
Nguyễn Phúc ra làm hoàng phái (ḍng làm vua) và tông thất
(các nhà trong họ, tức là cháu chắt các chúa Nguyễn), lại lược bỏ tộc
tính Nguyễn Phúc, th́ ông nội ta lại muốn phục hồi lại họ Nguyễn Phúc
mười lăm đời phần lớn chỉ cày ruộng và chuyên đèn sách xưa kia. Do đó,
ta là Nguyễn Phúc Tường. – Tường cảm thấy Lúa khó hiểu nổi, anh nói –.
Ta cũng cần giải thích sự thay họ, lược họ, phép đặt tên của đức tiên đế
Minh Mạng cho nhà mi rơ. Thứ nhất, ngài lược hai chữ Nguyễn Phúc, chỉ
đặt tên theo đế hệ thi, “Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh…”, cho chi của
ngài, lại đặt tên theo mười bài phiên hệ thi, “Tịnh Hoài Chiêm Viện
Ái…”, cho mười chi gần thuộc hoàng phái. Thứ nh́, ngài cũng lược bớt
hai chữ tộc tính Nguyễn Phúc, để nguyên hai chữ Tông Thất thay họ cho
chi xa. Mục đích của việc ấy là để phân biệt trong nội bộ hoàng tộc (hoàng
phái với tông thất), và phân biệt hoàng tộc với dân gian (6). – Tường
cười mỉm –. Lúa nhớ nhé, ta là Nguyễn Phúc Tường, chứ đâu phải Tôn Thất
Tường, càng chẳng phải Miên Tường, Hồng Tường, Ưng Tường, Bửu Tường,
Tịnh Tường, Hoài Tường, Chiêm Tường… Khi mọi người trong hoàng tộc đă
đổi họ đặt tên với hai chữ Tôn Thất hoặc với Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh…
Tịnh, Hoài, Chiêm, Viện, Ái… th́ ḍng họ Nguyễn Thế nhà ta phục
hồi lại họ Nguyễn Phúc trước ta mười lăm đời xưa kia, nên ta thành
Nguyễn Phúc Tường, có sao đâu! Ngoài đức vua Thiệu Trị, ai bảo ta mạo họ
nhà vua, mạo hoàng tộc nào! – Tường cười, nhỏ giọng lại –. Nghe rồi bỏ,
chớ bép xép cái mồm với ai mà khốn cả Lúa lẫn ta đó! C̣n đổi Nguyễn Phúc
chi xa thành Tông Thất, đâu phải riêng tả quân Lê Văn Duyệt, quan lớn
Nguyễn Văn Hưng không khỏi thắc mắc, mà nhiều hoàng thân, quan lại khác
đến chừ c̣n ngầm phản đối đó nghe! Sự phản đối c̣n mạnh hơn khi đức
Thiệu Trị lên ngôi. Ngài vốn có tên tự là Miên Tông, nên Bộ Lễ tâu xin
đổi Tông nhân phủ làm Thân đài, Tông Thất thành Kinh Thất.
Đức Thiệu Trị dụ rằng, chỉ đọc Tông thành Tôn, c̣n viết chữ Hán th́ chỉ
lược bớt một nét. Nhưng rồi chẳng hiểu sao những người Tôn Thất dần dần
đổi luôn cả mặt chữ lẫn nghĩa: Tôn nguyên là Tông (lược
nét, có nghĩa là ḍng họ) thành Tôn trong từ đôi tôn quư (khác
chữ, có nghĩa là cao sang). Từ đó, sự bất b́nh trong nhân gian và sự
phản đối trong hoàng tộc, quan lại càng mạnh mẽ hơn, mặc dù ngấm ngầm. –
Tường bật cười –. Chuyện xem ra là tiểu tiết, nhưng thật ra không phải
không đại sự. – Tường trở thế nằm –. Rứa th́ liên quan chi đến nhà ta!
Chẳng qua, trong nhà ta, chỉ một ta tự dám bày tỏ ư tưởng không thích sự
phân biệt, mất đoàn kết, thói hợm và rởm ấy. Trong đó, hệ trọng nhất là
sự cách biệt với nhân dân. Kể ra ta cũng đa đoan, rước hoạ vào
thân! Lẽ ra “phải phớt lờ chuyện nhỏ để đạt được cái lớn lao”!
Nhưng… thật đáng tiếc… Ta cùng các quan muốn nhân chút ngoan cố v́ chữ
hiếu nhà ta, không chịu đổi tên họ trùng với quốc tính của ta để xới
việc, nhằm giúp đức vua đương kim là hoàng đế Thiệu Trị nghĩ lại. Ai
Tôn Thất, ai bần thất, ai Tôn Nữ, ai tiện nữ?
Thật ra, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lư, Trần, Hậu Lê trước đây,
mặc dù có gọi chung hoàng tộc là tôn thất, và cũng chỉ trong sách vở,
chứ chưa triều nào đặt tên đổi họ thành… Hồng Nhất, Ưng Nhị, Tôn Thất
Nhất, Tôn Thất Nhị cả, ví dụ như rứa! Hai chữ Tôn Thất tự xưng do kiêng
huư phải đọc sái đi, nói trại đi, hay rơ ràng tự xưng là cao sang,
nghe xa cách nhân dân, không gần gũi nhân dân tí nào! Lược bỏ họ
lại là đại bất hiếu! Ta là kẻ sĩ, phải giữ đạo trung quân đồng nhất
với đạo ái quốc, nên thầm lo cho sự thể xa dân, hợm danh tính, và bất
hiếu như vậy. Trong đó, sự xa dân là hệ trọng nhất. Mười đời nhà ta, mặc
dù là dân dă, cũng hưởng lộc ruộng nương, tấc đất chúa Nguyễn, ngọn rau
nhà Nguyễn. Lũ học tṛ như ta cũng như các quan từ bố, án, huyện và học
quan tỉnh Quảng Trị, đến các quan Bộ Lễ, đ́nh thần, thảy đều âu lo
cho sự cách biệt giữa hoàng tộc với bách tính nhân gian quá đáng, đến
mức phải nói là, cần phải biết lo sợ mà báo động thế đó!
Cậu tú tài Nguyễn Văn Tường khẽ thở dài, trầm ngâm.
Một lát, cậu giật ḿnh, suưt kêu đau khi nhổm ngồi dậy trên đám cỏ ven
sông. Sáu lằn trượng bầm tím c̣n sưng nhức.
- Cắt cỏ giúp ta đi thôi! Trưa rồi, Lúa!
- Dạ… – Nh́n nắng, Lúa cũng hơi giật ḿnh –. Cũng
trưa rồi, dạ, nhưng cậu đừng lo! Một chốc là đầy gánh thôi mà. Cậu cử
tân khoa nhà con có gửi thuốc cho cậu tú đây.
Tường thật sự đă cảm thấy lo âu, v́ năy giờ, Lúa vẫn
mải hỏi chuyện, chưa cắt được ngọn cỏ nào! Anh cảm động biết ơn người
bạn quư tên Trần Đ́nh Túc, người làng Hà Trung, huyện Địa Linh, Quảng
Trị, ḍng họ mấy đời thượng thư, thi với anh khoa này và đă đỗ cử nhân.
Tường nh́n Lúa lấy từ bị cói ra cho anh một hủ sành hoàng khương ngâm
rượu.
- Bẩm cậu tú, quan Nguyễn Đăng Điều (7) cũng biết
chuyện rồi! – Lúa vừa cắt cỏ vừa thưa –.
- Lúc ta mới bị vào tù, c̣n bị giam trong nhà lao
của Phủ Thừa Thiên, Điều đă tới thăm, xin cho ta về hầu cờ tướng cụ
thượng thư Bộ Binh họ Trương.
- À, dạ, khi
hồi cậu tú đă nói…
4
Hôm ấy, người làng (xă), cũng cùng họ Nguyễn (nhưng
khác nhánh họ?), hiện làm rể của Trương Đăng Quế, v́ nổi tiếng văn hay
tuy mới đỗ tú tài, đến nhà lao xin cho Nguyễn Văn Tường về dinh hầu cờ.
Chả là cụ thượng rất cao cờ, kẻ sĩ, quan lại chốn kinh đô đều bị cụ
chiếu bí, khách thương người Hoa cập bến Bao Vinh cũng bái phục, rút lui.
Cụ lại rất muốn so tài để luyện óc, động năo. Bất chợt, cụ nghe con rể
thưa:
- Bẩm cha, người thanh niên Nguyễn Phúc Tường bị đức
vua bảo các quan gạch tên trong sổ tú tài, v́ tên trùng quốc tính, hôm
nọ, vốn người cùng làng An Cư của con. Tường cao cờ lắm. Con xin cha cho
phép được đến Phủ xin cho Tường ra, về dinh hầu cha vài ván cờ.
- À, ta biết. Hôm đó ta cũng đă hỏi con thân thế của
Tường. Văn chương đă hay, c̣n cao cờ nữa! Đất An Cư, Quảng Trị, làng con
cũng lắm người tài! – Cụ thượng mỉm cười –. Được, xin cho nó về dinh ta
một buổi.
Nguyễn Đăng Điều vội bưng nghiên mực, lọ bút lông và
cuộn giấy hoa tiên đến, đặt trước mặt cha vợ. Anh mài mực, mong cụ cho
vài chữ gửi hai quan phủ doăn và đề đốc kinh thành.
Tường đang bị cấm cố, nằm buồn xo trong ngục, chợt
được ngồi xe tay về dinh cụ thượng, tể tướng triều đ́nh!
Tắm rửa bằng nước sả thơm ngát, thay quần áo mới,
đội khăn mới, mang đôi guốc mộc mới, Tường ngỡ như đi trong chuyện cổ
tích!
Vào đại sảnh với Điều, Tường đan mười ngón tay xá
chào cụ thượng họ Trương. Cụ phẩy tay, cho phép đứng hầu chuyện với cái
mỉm cười! Không đợi Tường thưa, cụ chậm răi nh́n chăm vào anh như ḍ xét,
lại nói:
- Chuyện anh, ta hiểu. Lẽ ra c̣n phải ghi vào bản án
sáu chữ “chung thân bất đắc ứng thí” nữa kia, nhưng đ́nh thần đă
hết lời xin đức vua gác lại, xem như án treo, nghĩa là chú mày c̣n hi
vọng có ngày được xoá án “bất đắc ứng thí” đó. Đừng nản ḷng! Cứ chuyên
cần dồi mài kinh sử!
- Dạ, tạ ơn quan lớn.
- Anh đứng xa cột gỗ kia! – Bỗng dưng cụ thượng ôn
tồn bảo –.
Nguyễn Văn Tường khẽ giật ḿnh, làm theo lời cụ.
- Anh đi tới, đi lui mười bước!
Tường lại tuân lời
trong nỗi ngạc nhiên.
- Được! Ngồi xuống đây, so cờ với ta chứ?
- Bẩm cụ, nếu cụ cho phép, và xin cụ chỉ giáo thêm.
Cụ thượng cười lớn,
tỏ vẻ hài ḷng.
Bàn cờ gỗ mun đen bóng, những con cờ ngà trắng, nét
tiện khắc rất khéo đă được bưng ra. Và một b́nh trà ô long ngan ngát
hương toả khói, sau đó được đặt bên cạnh.
- Mời chú mày đi trước!
- Dạ, xin phép cụ.
Một chốc, cụ thượng
buột miệng:
- Khá lắm!
Lại một chốc:
- Không ngờ! Thật không ngờ chú mày đón được thế cờ
này! – Cụ thượng Trương Đăng Quế nói, nh́n thẳng vào mặt Tường –.
Nh́n như thể săm soi chàng thanh niên đang ngồi
trước mặt, cụ lại bảo:
- Thôi, ván đầu tiên, khỏi cần để phân thắng bại. Ta
đă hiểu tài anh! Nhưng khoan vội tự măn nhé! Này, Nguyễn Văn Tường, cái
tên vừa rồi là do đức vua cải đổi cho anh! Văn Tường, nghĩa chữ là cái
sáng, cái đẹp, cái tốt, hay là cái tốt lành lộ rơ ra bên ngoài cho thiên
hạ biết. Hăy cẩn trọng ẩn nhẫn, hàm dưỡng cho sâu, cho bền, để cái sáng,
cái đẹp, cái tốt tự nhiên nhi nhiên toả ra, giúp nước cứu đời! – Cụ
thượng từ tốn nói –. Khoa Tân sửu (1841) năm ngoái, trường thi hương
Thừa Thiên có một người ở xă Thanh Lương, huyện Hương Trà, đỗ cử nhân
cũng tên là Nguyễn Văn Tường. Đức vua đă gợi ư cho để đổi là Nguyễn Luận
(8).
Cụ cầm xe điếu bằng trúc. Một người hầu hiểu ư vội
vê thuốc, châm đóm. Cụ rít một hơi rơ dài. Nước trong b́nh điếu như sôi
lên. Cụ ngửa mặt, vuốt cḥm râu bạc, từ từ nhả khói.
- Nguyễn Văn Tường, anh nghe đây! Bước đầu tiên trên
đường khoa cử, anh không may, cũng tại cái tính tuổi trẻ hàm dưỡng chưa
sâu lắng, vẫn c̣n bồng bột. Mọi sự các quan và ta đều hiểu, dẫu một loạt
quan chức bị giáng, phạt bởi anh! Anh nhớ nhé, đây là sắc dụ đức vua
ban, ta c̣n nhớ như in: “Từ xưa, thánh nhân đặt lễ: trên dưới có thứ
bậc, ḍng họ có phân biệt, đó là để nêu rơ sang, hèn, thân, sơ. Đức thái
tổ Gia Dụ hoàng đế ta gây dựng nước nhà, lấy Nguyễn Phúc làm họ nhà vua.
Khoảng năm Minh Mệnh có dụ nhắc lại: Phàm người không phải họ vua mà
dưới họ của ḿnh [[chữ Nguyễn]] mạo đặt chữ Phúc th́ cho dùng chữ khác
để thay. Quan, dân, trong, ngoài, ai cũng đều biết kính cẩn kiêng tránh.
Văn Tường đă đi học, đi thi, không thể nói là không biết, sao c̣n mạo
đội họ vua? Quan tỉnh Quảng Trị và học quan ở phủ, huyện sở tại xét hạch,
thu quyển, cứ việc sắp xếp đưa đi; quan Quốc tử giám và quan trường lại
không một người nào kiểm điểm nêu ra! Sao mà đui điếc cả một lũ đến thế!
Bộ Lễ trước đây thu nhận danh sách cũng bỏ qua không biết. Tất cả đều là
sơ sót! Giao cả cho [[Viện Đô sát]] nghị xử”. Xét án xong, ngài lại dụ:
“…Thế mà nay có kẻ không biết ǵ kia, ngu dại lầm phạm, không thể không
dụ bảo lại cho rơ để răn đe người sau…” (9). Thế đấy! Nhưng đấy cũng
là dịp để đức vua, hoàng tộc và đ́nh thần, biên thần suy nghĩ lại. Anh
ghé tai vào đây!
Nguyễn Văn
Tường, kẻ đang lănh án một năm tội đồ, bỗng hơi ngần ngại, sợ có ǵ lỗi
phép với cụ thượng đầu triều.
- Dạ, kính vâng lệnh cụ.
- Này, nghe ta nói thầm nhưng rơ ràng: Để kính mong
ngài xét lại hai chữ Tông Thất đă dần dần thành Tôn Thất cả âm
lẫn chữ, cả chữ lẫn nghĩa, mà chỉ đặt tên theo đế hệ thi, phiên hệ thi,
có thể với chi hệ thi nữa, để giữ hệ thống, và không lược bỏ tộc tính
Nguyễn Phúc, phải đầy đủ cả họ lẫn tên như thiên hạ, chẳng hạn, Nguyễn
Phúc Miên Nhất, Nguyễn Phúc Hồng Nhị, Nguyễn Phúc Bửu Tam, Nguyễn Phúc
Cường Nhất, Nguyễn Phúc Lương Tứ… , nếu đàn bà, con gái th́ thêm chữ
Thị hoặc chữ Nữ, chẳng hạn, Nguyễn Phúc Nữ Hương Giang,
như anh đă hiểu từ lâu (10). Và chuyện xảy ra trước hết là do tính ngông
cuồng tuổi trẻ của anh, mà các quan và ta cũng đồng thuận, cũng chịu
giáng, phạt như anh. – Cụ Trương Đăng Quế nói nhỏ vào tai Tường –. Khá
khen chú mày!
Cụ thượng cùng chàng trai Nguyễn Văn Tường sửa lại
thế ngồi.
- Thế là anh và hai bậc trên anh, ông nội và cha đẻ,
đều phải đổi lại, không lót chữ Phúc là đă đành, cũng chẳng lót
chữ Thế trước kia (11), mà phải lót chữ Văn!
- Dạ, bẩm cụ, con hiểu và tuân dụ từ hôm tuyên án
kia ạ! Chỉ mong rằng đừng ai nghĩ xấu rằng gia đ́nh con mạo nhận quốc
tính (họ vua), cũng dám mong rằng đức vua sẽ nghĩ lại về sự cách biệt
với dân bởi chữ Tôn do kiêng huư thành ra sái âm, dần dần biến đổi
hẳn trong Tôn Thất, Tôn Nữ hiện nay, mà chỉ nên đổi là Phúc Thất
và Phúc Nữ, chẳng hạn, Phúc Nữ Hương Giang thay v́ Tôn
Nữ Hương Giang… – Tường muốn nói thêm nhưng ngập ngừng –. Nhưng… kể
ra cũng đa đoan quá! Nhưng nhân gian, và cả một số hoàng thân, kẻ sĩ,
quan lại có chịu cho đâu!
- Anh cứ nói hẳn, phép đặt tên đôi mà lược họ là đại
bất hiếu, v́ thực sự đó là tên, chứ không phải là hiệu, và h́nh phạt
hoàng thân cải ṭng mẫu tính (đổi theo họ mẹ) là không nên, sẽ dẫn đến
việc nhầm lẫn huyết thống về sau! Điều đó ta cũng tâu xin đức vua nghĩ
lại rồi. Ngài không đến mức cứng rắn như tiên đế Minh Mạng.
- Bẩm, dạ không dám… – Tường biết ḱm lại để giữ
phận. Vả lại, anh thấy cũng đă được thấu đạt ẩn ư rồi –.
- Tốt, vậy là tốt! Nhân vui chuyện, ta chỉ nhắc lại
để anh nhớ! Cũng nhớ là việc này trước đây đă có Lê Văn Duyệt, Nguyễn
Văn Hưng phản hồi và bây giờ có ta với các quan cùng một số hoàng thân
đồng thuận với anh, nên đương kim hoàng thượng cũng nghĩ lại mà giảm cơn
thịnh nộ.
Chiêu một
ngụm nước trà, đặt chén xuống, cụ khẽ ngâm:
Tứ thập niên ngoại
Cư Cơ mật viện
Nhiếp hành đế vị
Tiến thoái lưỡng
nan (12).
Ngâm xong, cụ thượng lặng im, như thể cụ cũng không
ngờ chính cụ lại ngâm bài kệ ấy. Quả thật, chẳng hiểu sao, sau khi xem
tướng Tường, đánh cờ với anh chưa cạn nước cờ, trao đổi với anh dăm lời,
trong đầu cụ bỗng hiện lên bốn câu ấy như một lời tiên đoán!
Người thanh niên Nguyễn Văn Tường và cả chàng con rể
Nguyễn Đăng Điều đều sững sờ. Tường không dám tạ ơn cụ, cũng không dám
hỏi cụ, cụ muốn ngầm tiên đoán cho ai, hay là lời cụ tự vịnh.
Một lát sau, cơm nước xong, Điều tiễn chân Tường về
lại nhà lao. Điều bảo Tường:
- Chẳng sao đâu. Nói phạm thượng một chút, Nguyễn
Phúc hay Nguyễn Hoằng vẫn thế! Nguyễn Phúc Tường hay Nguyễn Văn Tường
cũng vậy, tổ tiên ông bà đều nhận ra lời khấn niệm của con cháu. Ḿnh
đây là Nguyễn Văn Điều, lại thành Nguyễn Đăng Điều, cậu bé Trương Đăng
Đễ (con trai cụ thượng, cha vợ ḿnh), lại thành Trương Văn Đễ, có sao
đâu! Cố lên, người đồng tộc, đồng hương!
Tường gật đầu:
- Thật là khéo đa đoan, chuốc hoạ vào thân!
Đan hai tay trước ngực, anh chào và cảm ơn Điều.
Ngồi trên xe tay của dinh thượng thư đầu triều,
Tường nhớ lại và suy nghĩ những ǵ cụ Trương Đăng Quế, người Quảng Ngăi,
đă bảo ban anh. Vừa ngẫm nghĩ, anh vừa áy náy, không dám nh́n người phu
xe đang khom ḿnh kéo, vội đưa tầm mắt nh́n phố phường kinh đô, ngựa xe
xuôi ngược, kẻ bán người mua. Lúc này, tất cả quang cảnh ấy không khiến
anh thấy có chút ǵ đáng để ư. Anh thầm đọc lại bốn câu của cụ Trương
như thể lời kệ của thiền sư, và tự dịch ra văn Nôm:
Tuổi ngoài bốn
mươi
Ở Viện Cơ mật
Nắm giúp quyền
vua
Tiến, lùi, [hai
đường] đều ngặt!
Đến cửa nhà lao Phủ Thừa Thiên, Tường xuống xe với
bộ quần áo tù như lúc anh mới rời khỏi nơi đây. Anh nói khẽ với người
phu xe:
- Ta đang cảnh tù tội, không biết thưởng cho ông cái
ǵ đây!
- Dạ, bẩm, đây là xe dinh cụ thượng. Không dám nhận
tiền thưởng, sợ bị lỗi…
- Ta biết, nhưng… Thôi, hẹn ông dịp khác.
- Dạ. Kính chào. – Người phu xe trạc ba mươi tuổi
đan tay trước ngực –.
- Chào ông. – Anh đan tay đáp lễ –.
Tường bước vào nhà lao, bẩm báo với viên lính. Y gật
đầu, chỉ vào chỗ viên quan văn ngồi trực. Trời đă nhoà màu hoàng hôn.
Lúc ấy, Nguyễn Đăng Điều cũng chuẩn bị để giảng sách
cho mấy người em vợ. Trụ, Đễ và Đản vẫn như mọi buổi học, đều nghiêm túc
trong áo the dài màu xanh, chít khăn xanh, đang ngồi mài mực. Cụ thượng
Trương Đăng Quế ngồi trước án thư trầm ngâm nh́n ba đứa con trai và
chàng rể tú tài hay chữ. Người cháu gọi cụ bằng chú, Trương Đăng Trinh,
ḱ thi đ́nh vừa rồi, đă đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, nhưng cụ
biết chắc Trinh chẳng đóng góp được ǵ cho đời! (13). Cụ vẫn thích Điều
hơn. Thật ḷng, cụ vẫn thích nhất người có thực tài lại có học vị cao.
Cụ vuốt râu, ngẫm nghĩ về bốn câu vỏn vẹn chỉ mười
sáu chữ, chính cụ đă thốt ra, lúc xem tướng mạo và cung cách, lại thử
tâm tính Nguyễn Văn Tường qua ván cờ, qua vài lời trao đổi với người
thanh niên ấy về sự cố chữ “Phúc” chấn động trường thi hương
tháng bảy năm nay. Thật ḷng, xưa nay, cụ chưa từng gặp một chàng trai
nào khôi ngô, bản lĩnh và trong sáng đến vậy. Nhưng lạ thay, chàng trai
trẻ ấy lại xuất thân trong một gia đ́nh nông dân b́nh thường, không phải
không nghèo khó, cho dẫu yêu thích việc đọc sách thánh hiền và thơ phú.
Ḍng dơi sách đèn ẩn nhẫn thời Đàng Trong – Đàng Ngoài nội chiến, loạn
lạc chăng? Thật ḷng, từ trực giác và tâm cảm, từ kinh nghiệm sống, làm
quan, trải qua trận mạc, trở thành cố mệnh đại thần giữa triều đ́nh, lần
đầu tiên suốt một đời cụ thốt ra bốn câu gồm mười sáu chữ kinh thiên
động địa ấy, về một chàng trai học tṛ lần thứ hai cụ gặp. Cụ mỉm cười,
bâng khuâng, nhẹ vuốt cḥm râu bạc trắng.
Lúc ấy, Nguyễn Văn Tường đang ngồi xếp bằng suy tư
trong ngục. Ngục chập choạng ánh đèn dầu rái. “Chung thân bất đắc ứng
thí”! Trọn đời không được đi thi! Tường cố nén tiếng thở dài. May
thay, đó là án treo, không ghi vào bản án chính thức, lại được bỏ hẳn
hai chữ “chung thân” (trọn đời), nhờ sự tâu xin ân giảm, cải án
nhẹ hơn cho anh của đ́nh thần, để anh c̣n hi vọng vào con đường khoa cử
tương lai. Nguyễn Văn Tường thầm nói như khẳng quyết với chính ḿnh:
Nhưng ta học, đâu phải miệt mài từ chương, nhai văn nhá chữ, học như thứ
mọt sách hay lũ khuyển sĩ tầm thường, cho dù ngoài con đường hoạn lộ,
không c̣n con đường nào khác! Dẫu sao, sáu chữ “chung thân bất đắc
ứng thí” đă như thanh đại đao lơ lửng trên đầu, có thể sẽ được cất
đi, có thể sẽ bổ xuống vầng trán ta vốn ngẩng cao giữa đời này. Ta không
hối tiếc v́ sự cứng đầu trong vẻ nhún nhường của ta (không chịu đổi tên
trùng với quốc tính, với ẩn ư của ta và các quan), dẫu đă thất bại!
Không hối tiếc! Có phải ta c̣n quá trẻ nên bốc đồng, xốc nổi, xem việc
vừa kiến nghị về chữ hiếu của nhà ḿnh, vừa kích động nhà vua nghĩ lại
sự xa dân là ghê gớm chăng! Kinh điển chẳng nói đó sao, “phải biết
quên, biết bỏ cái khôn vặt để đạt được sự minh triết lớn lao, sự thành
công viên măn”? Thánh hiền cũng bảo, “không lo xa, ắt có buồn gần”,
“việc ǵ ta không muốn người khác gây ra cho ḿnh, ḿnh cũng đừng gây ra
cho người khác”?
Anh chua chát trước hậu quả chứ không phải kết quả:
Về phía anh, anh vẫn không khỏi bị đổi tên, không phục hồi lại được họ
Nguyễn Phúc mười mấy đời trước! Về phía hoàng tộc, chưa nói phép đặt tên
đôi lược họ, th́ hai chữ Tôn Thất (ẩn văn và minh văn) vẫn c̣n đó. Anh
và các quan thất bại, có nghĩa là nhà Nguyễn, triều đại mà ḍng họ anh
và anh một ḷng trung thành phụng sự đă măi măi xa dân, vĩnh viễn cách
biệt dân, quên hẳn câu kinh điển “dân vi bản” (dân là gốc) trong
thơ Nguyễn Trăi:
Nước đẩy thuyền
Nhưng nước cũng
lật thuyền
Bởi chính dân là
nước.
Bỗng dưng, trong ánh đèn nhập nhoạng chốn lao tù,
Tường sực nhớ, vụt đứng dậy, gương mặt anh rạng rỡ hẳn lên khi nghĩ đến
Hải thượng lăn ông Lê Hữu Trác và bản sách Thượng kinh kí sự, năm
kia, mười sáu tuổi, anh lặn lội từ Quảng Trị quê nhà vào đất đế đô Huế
này để mượn chép. Trần Đ́nh Túc, người bạn mới đỗ cử nhân khoa này, cậu
chủ con nhà quan của thằng Lúa, bấy giờ đă cùng anh ngồi chép.
Dẫu c̣n hi vọng trước con đường khoa cử, hoạn lộ,
nhưng ta không thể bị động trước cuộc đời. – Tường tự bảo, bước ngược
xuôi trong buồng giam như khung cũi –. Ta vẫn phụng sự cho nhân dân của
triều Nguyễn bằng cách của ta. Không kinh bang tế thế (sửa nước
giúp đời) th́ hành đạo trợ dân (thi hành đạo lí để giúp dân) với
tài trí, y đức của kẻ sĩ lương y, trong khi chờ một vận hội mới, minh đế
sẽ xuất hiện!
Thế mà buổi chiều và tối hôm ấy đă trôi qua hơn một
tháng. Nguyễn Văn Tường cũng đă rời nhà lao để làm kẻ tội đồ sung quân
tṛn một tuần trăng.
5
Qua một cái Tết Nguyên đán rực rỡ hoa đèn chốn kinh
đô đài các, một mùa hạ xanh mướt lá nhăn, xanh mướt tán cây mù u với
tiếng ve sầu lúc trỗi, lúc lặng như sóng, chàng trai trẻ Nguyễn Văn
Tường đă rắn rỏi hơn trong thân phận tội đồ khổ sai, bổ sung làm kẻ lao
dịch phục vụ cơ tượng binh của kinh thành Huế. Vậy là đă gần mười tháng
trời dài đằng đẵng chấp hành án.
Tháng năm theo lịch mặt trăng, năm Thiệu Trị thứ ba
(Quư măo, 1843) này, Tường vẫn ngày ngày cắt cỏ cho mấy ông voi ăn, gánh
nước sông vào để tắm cho mấy ông voi mát, dưới sự chăn giữ, điều khiển
voi của các lính nài thiện nghệ. Và cũng tháng năm này, năm nay, triều
đ́nh chuẩn bị mở chính khoa thi hương, mặc dù đă ba năm liền mở ân khoa
(Canh tí, Tân sửu, Nhâm dần), lại mở ân khoa thi hội, thi đ́nh. Những
người đỗ cử nhân năm ngoái và các năm trước sẽ dự thi, rồi sẽ có một số
người đỗ tiến sĩ, và trong số tiến sĩ sẽ có sĩ tử được vua đích thân ra
đề, chấm bài, chọn thám hoa, bảng nhăn! Nguyễn Văn Tường mỉm cười đau
xót khi nghĩ đến quang cảnh ấy!
Nguyễn Đăng Điều, Trần Đ́nh Túc thỉnh thoảng đến
thăm anh. Kẻ sĩ học tṛ nào lại chẳng nếm mùi vinh nhục trên con đường
khoa cử. Túc mới đỗ cử nhân năm ngoái, đang chuẩn bị thi hội, nhưng đâu
phải chưa nếm mùi học tài thi phận ở các khoa trước! Họ vẫn rất tự tin
vào sức học của ḿnh, thậm chí rất coi thường bọn mọt sách, lũ khuyển sĩ
nhai văn nhá chữ “trúng tủ”, được vinh quy bái tổ! Trong hương khoa Nhâm
dần (1842), họ chỉ thật ḷng cảm mến dăm bảy người về sở học, đó là Phạm
Phú Thứ, Lê Điều (Lê Điều Dương)… Những sĩ tử Quảng Trị đồng hương cùng
tỉnh đi thi với Nguyễn Văn Tường năm ngoái, Nguyễn Thế Nho ở làng An Khê,
huyện Địa Linh, Trần Thế Vinh (Trần Xuân Vinh) ở làng Yên Tự, huyện Đăng
Xương, và Nguyễn Văn Trị (Nguyễn Vĩnh) ở làng Diên Khánh, huyện Hải Lăng,
hẳn cũng đang sắm sanh lều chơng vào dự khoa thi hội này (14)… Thế nào
những bạn học ấy cũng đến thăm họ.
Và những ngày mở hương khoa, hội khoa, rồi đ́nh khoa
cũng gần đến. Kẻ tội đồ Nguyễn Văn Tường chua chát bị bổ sung làm kẻ
chăng đèn kết hoa, sau khi mướt mồ hôi dọn cỏ, sửa sang trường thi hương
ở xă Nguyệt Biều! Đức vua Thiệu Trị cũng đă phê chuẩn, sau ḱ thi tháng
bảy này, vào tháng mười, sẽ khởi công xây dựng trường thi bằng gạch ngói
ở phía cửa Ninh Bắc trong kinh thành. Tường sợ anh sẽ bị giữ lại quá hạn
để làm lao dịch! Chút ngông cuồng tuổi trẻ trong sự cố chữ “Phúc”
năm ngoái, bây giờ Tường đang c̣n phải trả với giá đắng cay thế đó.
Cũng trong tháng ấy, thân sinh của Tường từ Quảng
Trị vào thăm anh. Tường mím môi nghẹn ngào, quyết không để bật ra tiếng
khóc, khi cúi xuống, đan tay xá chào cha đẻ, người đă sinh thành và nuôi
dạy anh.
Ông Nguyễn Văn Dậu, người làng thường hay lấy tên
người con đầu để thay tên thật, gọi là ông Diêu (Diêu là tên người con
gái cả của ông Dậu). Ông Diêu cầm tay con trai, im lặng, nh́n thật lâu
vào gương mặt Tường. Sau một lúc, ông nói:
- Cha đă mấy lần nhận được thư tay của con, và đă
gửi thư tay cho con. Cha đă hiểu tất cả. Con yên tâm. Dẫu răng đi nữa,
cha cũng không trách con. Chuyện đă rồi!
Ông vỗ mạnh vào cánh tay con trai đă cao lớn hơn ông.
Ông dẫn con đến dưới gốc đa cổ thụ.
- Ngồi đây. – Ông Diêu nói –.
Tường nh́n qua cha, thấy cha vào kinh đô, không như
thường ngày, hôm nay trông ông như đang đi lễ hội ở nhà thờ tộc hay ở
đ́nh làng. Trên búi tóc vẫn c̣n như hồi trai tráng là một chiếc khăn
đóng đen đă cũ. Vải áo the thâm của cha cũng đă sờn bạc. Màu quần trắng
đă ngả vàng. Đôi guốc mộc đóng da trâu, may là chưa ṃn vẹt. Duy gương
mặt cha có vẻ gầy đi, bộ râu năm cḥm, cḥm giữa dưới cằm rậm và dài
chấm ngực, đă có nhiều sợi bạc. Cha Tường tuổi ngọ, Mậu ngọ (1798), năm
nay cha đă ở vào tuổi 46 (15). Tường cảm thấy mừng thầm khi trông cha
c̣n rất khoẻ mạnh.
- Thưa cha, con rất tiếc là đă khiến cha mạ lo buồn.
- Thôi, quên đi chuyện cũ. Mười tháng rồi, chưa cũ
hay răng đây, mà c̣n nhắc! Cái chính là lo làm lao dịch cho tốt, để hai
tháng nữa măn hạn mà về. Cha cũng mừng là con ngó chừng chắc chắn, cứng
cát hơn trước.
- Măn hạn tội đồ, con về sẽ học nghề thuốc. Cha thấy
như rứa có răng không, cha? – Tường hơi ngần ngại nói –.
- Học tṛ, kẻ sĩ, hoạn lộ bế tắc, cũng c̣n đường làm
thầy đồ, không th́ làm thầy thuốc. Tuỳ con. Cha tin vào sự chọn lựa của
con. Hăy nhớ là chữ nghĩa khi mô cũng hơn, đừng khi mô buông lơi chữ
nghĩa! Gia đ́nh ḿnh, trừ cha mạ và hai d́ ra, trong mười hai người con
của cha, con được cả nhà lo cho ăn học đến nơi, đến bao giờ thoả chí con
th́ thôi. – Ông hơi buồn –. C̣n các đứa con khác của cha, học đủ để đọc
sách, cha cũng mừng rồi. Tất cả hi sinh cho con đó.
- Dạ, thưa cha, tội con thật nặng. – Tường hơi nghẹn
ngào –.
- Ngày con mới sinh ra ở An Cư được vài năm, – Ông
Diêu hồi tưởng –, bấy chừ gia đ́nh ta phải sinh sống ở Cam Lộ, chốn sơn
lam chướng khí, có một khách thương người Tàu và một số hoàng thân, quư
tộc, quan chức bị lỗi, phải đày ra ở đó, tất cả mọi người đều một lời
bảo con có quư tướng, về sau lớn lên sẽ làm vinh hiển nhân dân, họ tộc,
non sông xă tắc, cho dù nhân dân, trong đó có họ tộc ta, và non sông xă
tắc có lâm vào vận bỉ. Rứa mà chừ đây…
Nguyễn Văn Tường hơi khẽ giật ḿnh. Lại tướng số!
Anh thầm nghĩ. Cha anh lại nói:
- Thôi, đừng nhắc nữa! Cha đă bảo con đừng nhắc
chuyện cũ, rứa mà…
- Năm ngoái quan tể tướng triều đ́nh họ Trương cũng
có tiên đoán số phận con qua mười sáu chữ!
- Ông quan đầu triều thật khéo động viên, khích lệ
con! Cha đă biết. – Ông Diêu cười ha hả –. Thôi, cha ông ḿnh có câu:
“có chí th́ nên”, không tướng mạo, số phận nào hơn được sự miệt mài
rèn luyện, học hành!
Tường mỉm cười đồng ư với cha. Một vạn lời bói toán,
xem tướng mạo, may ra chỉ trúng được một! Nhưng anh thấy không nên bàn
sâu vào đó.
Anh nh́n ra ḍng sông đang ngập nắng xế trưa. Tường
muốn thưa với cha, trong mười tháng tội đồ vừa qua, anh đă viết được mấy
chục bài thơ, Điều và Túc rất khen. Nhưng anh cũng thấy cần cẩn trọng
hơn trước khi đưa cha đọc.
Ông Diêu bỗng nghiêm nét mặt:
- Con ở kinh đô, có nghe tin ǵ từ khách thương cập
bến không? Ở bên Tàu, có biến đó! Bọn Tây dương lộng hành ở Hạ Châu (Mă
Lai), Xiêm, rồi ở Tàu…
- Dạ, con có biết. Nhà Thanh đă phải kí nhượng
ước
Nam Kinh
năm ngoái, sau cuộc chiến tranh thuốc phiện. – Tường trầm ngâm thưa –.
Năm kia, Tây dương đă khiêu khích triều đ́nh nước ta! – Anh nghiến chặt
hàm răng –. Bọn Tây dương bạch tạng quỷ quyệt thật! (16).
- Thôi, không nên động thời sự! Cha chỉ phối kiểm
lại tin tức từ khách thương… Con phải bảo trọng.
Sau lần cha vào thăm đó, Tường hết sức cố gắng giữ
ḿnh, làm lao dịch rất cẩn thận, để được phóng thích đúng hạn.
Cuối tháng bảy năm Thiệu Trị thứ ba (1843) ấy, Tường
về quê sau khi đến chào những nơi ân nghĩa ở Huế.
Anh khoác chiếc đăy đựng sách và giấy bút lên vai,
đầu đội vành nón lá, bước theo đám bộ hành trên đường thiên lí. Trong
túi anh, chỉ c̣n mấy đồng, đủ để trả tiền đ̣ qua sông, cơm nước dọc
đường.
Cũng con đường thiên lí Bắc –
Nam này đây, tháng
sáu năm ngoái anh lều chơng vào kinh đô thi hương!
Khởi viết lúc 16
giờ 20, 12.08.2002
(04.7 Nhâm ngọ,
năm thứ 2 công nguyên Hoà B́nh [HB.2]).
TRẦN XUÂN AN
(1)
Theo lời thuật lại của ông
Nguyễn Văn Quế (Nguyễn Xuân Quế), hậu duệ của cụ Nguyễn Văn Tường (1824
– 1886): Về sau, khi đă trở thành phụ chính đại thần, cụ Nguyễn Văn
Tường đă gọi viên suất đội này lên dinh. Ông ta sợ hăi xin tha tội chết,
khi nhớ lại chuyện cũ. Quan phụ chính ôn tồn bảo rằng: “Lẽ ra chính
ta phải tạ ơn nhà ngươi. Nhờ bị ngươi phạt 6 trượng, tha 4 trượng, ta
mới thêm ư chí học hành, rèn luyện. Nay để trả ơn, ta xin tặng ngươi 4
lạng bạc và 6 lạng vàng, mỗi trượng một lạng”. Hoá ra, 4 trượng tha
lại không giá trị bằng 6 trượng đánh: Giá trị của lời phê b́nh cao hơn
lời xuê xoa! [xem thêm chú thích (12)].
(2)
Quốc sử quán triều Nguyễn và
Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục (QTHKL.), bản dịch:
Nguyễn Thuư Nga, Nguyễn Thị Lâm, hiệu đính: Cao Tự Thanh, Nxb. Tp. HCM.,
1993, tr. 297 (Nguyễn Văn Tường đỗ cử nhân, khoa Canh tuất, Tự Đức năm
thứ ba [1850]): “v́ tên trùng với quốc tính không chịu đổi, bị đi
đày [tội đồ – TXA.], hết hạn được phục hàm cử nhân”…
Phải chăng đây là lần thứ hai [1850] ông bị răn đe do lỗi cũ phạm phải ở
lần thứ nhất [1842], để nhắc nhở, trước khi bổ đi làm huấn đạo ở Mộ Đức,
Quảng Ngăi? Xin nhớ rằng, dưới chế độ phong kiến, h́nh phạt tội đồ ở mức
ấy là rất nhẹ (chỉ có tính chất nhắc nhở). Xem thêm: Cao Xuân Dục (biên
tập viên), Quốc triều đăng khoa lục (QTĐKL.), bản dịch: Trúc viên
Lê Mạnh Liêu, TTHL. Bộ VHGD. & TN. xb., Sài G̣n, 1961, bản in 1971, tr.
183, 189, 198: Về sau, Nguyễn Văn Tường có 3 lần làm giám khảo thi đ́nh,
Ất hợi (1875), Đinh sửu (1877), Canh th́n (1880).
(3)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.), tập 11, bản dịch Viện Sử
học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1964, tr. 222.
(4)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại
Nam thực lục, chính biên
(ĐNTL.CB.), tập 11, sđd., tr. 222 [cùng chú thích (3)].
(5)
Trần Trọng Kim, Việt Nam sử
lược (VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 275, tr. 287 và tr. 263 –
264: Theo Việt Nam khai quốc chí truyện, Nguyễn Kim tức là Nguyễn
Hoằng Kim, con trai Nguyễn Hoằng Dụ, cháu nội Nguyễn VĂN Lang; Nguyễn
Hoàng là con trai thứ của Nguyễn Kim. Có lẽ v́ phạm huư (Lê Kính Tông
lấy niên hiệu Thận Đức: 1600; niên hiệu Hoằng Định: 1601 – 1619), Nguyễn
Hoàng bỏ chữ Hoằng.
(6)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.), tập 23, bản dịch Viện Sử
học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1970, tr. 117 – 122: Năm 1841 (tháng hai, Tân
sửu), Bộ Lễ đă từng tâu xin đổi Tôn [Tông?] nhân phủ làm Thân đài, Tôn [Tông?]
Thất làm Kinh Thất, với lí do phạm huư ở trường hợp đồng âm (Miên Tông;
Tông [ḍng họ] = Tôn [tôn quư]). Cuối cùng, Tông Thất [nhà cùng ḍng dơi]
được viết, đọc, và hiểu là Tôn Thất [nhà cao sang]? Xem thêm: Đào Duy
Anh, Từ điển Hán – Việt (TĐHV.); Trần Trọng Kim, VNSL., sđd., các
chữ Hán chua thêm; Trần Thanh Tâm, Quan chức nhà Nguyễn (QCNN.),
Nxb. Thuận Hoá, 2000. Ba tác giả, hai cách hiểu và viết chữ Hán khác
nhau! Nguyên văn đế hệ thi như sau: “Miên hồng ưng bửu vĩnh, Bảo quư
định long trường, Hiền năng kham kế thuật, Thế thụy quốc gia xương”
(dài lớn giữ ngôi báu được lâu, hưởng ngôi tôn quư lâu dài thịnh vượng,
bậc hiền năng đều nối chí noi việc, đời đời có điềm hay, nước thịnh tốt).
Và ở nhiều tư liệu khác, nguyên văn bài phiên hệ thi cho ḍng Định Viễn
quận vương (con thứ 6 của Gia Long): “Tịnh hoài chiêm viện ái , Cảnh
ngưỡng mẫu thanh kha, Nghiễm khác do trung đạt, Liên trung tập cát đa”…
(7)
Quốc sử quán triều Nguyễn và
Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục (QTHKL.), sđd., tr. 261:
Nguyễn Văn Điều đỗ cử nhân khoa Đinh mùi, Thiệu Trị năm thứ bảy [1847].
(8)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.), tập 30, bản dịch Viện Sử
học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1974, tr. 139 – 140: Nguyễn Luận, vốn có tên
là Nguyễn Văn Tường, đỗ cử nhân khoa Tân sửu, năm Thiệu Trị thứ nhất
(1841), về sau làm quan đến hữu tham tri Bộ Binh, hiệp lí thuỷ sư. Năm
1864, vào tháng 10 âm lịch, v́ trước đó mắc tội nhũng nhiễu binh đinh,
đ̣i tiền đút lót, bị Đặng Huy Trước (âm đọc khác là Trứ, Đặng Huy Trứ)
người “cùng quê” tâu hặc, nên từ đấy, bị cách chức, cho làm lính đi hiệu
lực (làm việc chuộc tội) ở quân thứ Tuyên Quang (theo QTHKL., sđd., tr.
210), rồi về làm dân. Mối tư thù giữa hai gia tộc nảy sinh có lẽ là từ
sự kiện này. Đó là nguyên nhân ảnh hưởng đến vụ Đặng Huy Cát, Đặng Hữu
Phổ, sau 05.7.1885. Không kể việc mấu chốt là Đặng Huy Xán, chú ruột,
lừa bắt nộp Đặng Hữu Phổ cho giặc Pháp theo quan điểm bảo hoàng ngu
trung, tôn phù ngụy triều Đồng Khánh (chuẩn bị lên ngôi), mà ở đây, cần
thấy rơ thêm khía cạnh khác: chính v́ mối tư thù cũ với Đặng Huy Trứ,
Nguyễn Luận đă đốt nhà, đốt tàng thư gia đ́nh họ Đặng này. Xin chú thích
rơ hơn: Quê quán của Đặng Huy Trứ là làng Bác Vọng, Quảng Điền, Thừa
Thiên, gần với quê quán của Nguyễn Luận là làng Thanh Lương, Hương Trà,
Thừa Thiên. Nhưng Đại Nam liệt truyện (Quốc sử quán triều Nguyễn,
ĐNLT., bản dịch Viện Sử học, tập 3, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 370) chép
rằng, Nguyễn Luận là “là người cùng quê với Chước [Trước = Trứ]”.
“Cùng quê” là cùng tỉnh chăng? Tác giả kính mong được cung cấp thêm tư
liệu về nhân vật Nguyễn Luận trong vụ việc ấy. Kính đa tạ trước.
(9)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.), tập 24, bản dịch Viện Sử
học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1971, tr. 164 – 165. Xin lưu ư: chữ trong dấu
móc vuông kép, do Viện Sử học chua thêm; chữ tôi chua thêm, được đặt
trong dấu móc vuông đơn.
(10)
Về khía cạnh này, theo quan
điểm lịch sử – cụ thể (không chấp nhận các chi tiết phi lịch sử), chúng
tôi không thể xây dựng hai nhân vật Nguyễn Văn Tường, Trương Đăng Quế có
tư tưởng dân chủ xă hội chủ nghĩa như chúng ta (phê phán triệt để thói
lệ “cha truyền con nối” trong việc nắm chủ quyền Đất nước, xem Tổ quốc
là sản nghiệp cá nhân, ḍng họ, và nhân dân chỉ là tôi tớ). Trong thời
điểm 1842 này, họ chỉ là h́nh tượng điển h́nh (tiêu biểu) cho một số sĩ
phu, quan chức hấp thụ Nho giáo Việt hoá tiến bộ, thân dân (dân vi bản),
trung thành với triều Nguyễn, trong ư hướng cải tiến cho triều Nguyễn
được trường cửu. (Đó cũng là nét tính cách chủ yếu, nhất quán ở họ, tuy
biểu hiện khác nhau, trong những điều kiện, bối cảnh, thời đoạn lịch sử
khác nhau…). Xin xem lại chú thích (6).
(11)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.), tập 31, bản dịch Viện Sử
học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1974, tr. 42 – 43: Lót chữ “Thế” cũng
phạm huư.
(12)
Lê Quang Thái, sưu tầm,
“Xem tướng Nguyễn Văn Tường”, tạp chí Cửa Việt, số 11, 1991, tr. 49.
Xem thêm: a) Hai bài nghiên cứu của Thái Vũ và Lê Quang Thái, Tạp chí
Cửa Việt, số 13, 1992, tr. 75 – 84; chú trọng ở cuối bài của Lê Quang
Thái, tr. 84: “Quảng Trị sơn xuyên hà dị, sinh Nguyễn Văn Tường thậm
tú” (Núi sông Quảng Trị ḱ lạ, sinh ra Nguyễn Văn Tường rất sắc sảo
và tài giỏi); b) Theo gia phả ông Nguyễn Thanh Đàn (179, Chi Lăng, Huế)
thủ giữ: “công sinh nhi phong tư tú dị” (công được sinh ra, dáng
nết đẹp tốt lạ lùng). Tham khảo thêm: Tập tài liệu Các báo cáo khoa
học (CBCKH.), gồm 15 bài nghiên cứu, trong Hội thảo khoa học về nhân
vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) tại Huế, ngày 02.7.2002. Hai
bài viết của nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc (nguyên giảng viên ĐHSP. Tp.
HCM.)., của TS. Đỗ Bang (giám đốc Trung tâm Khoa học xă hội và nhân văn
thuộc Đại học Huế) trong tập có đề cập đến gia phả phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường.
(13)
Cao Xuân Dục (biên tập viên),
Quốc triều đăng khoa lục (QTĐKL.), bản dịch: Trúc viên Lê Mạnh
Liêu, TTHL. Bộ VHGD. & TN. xb., Sài G̣n, 1961, bản in 1971, tr. 75.
(14)
Quốc sử quán triều Nguyễn và
Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục (QTHKL.), sđd., tr. 219 –
232 (khoá 1842, 1843).
(15)
Chi tộc phả chi phái Nguyễn Văn, làng (xă) An Cư, tổng An Cư, huyện
Đăng Xương (Triệu Phong), Quảng Trị, do luật sư Nguyễn Văn Toàn (Tp. HCM.)
cung cấp; và một vài chi tiết khác bổ sung từ các nguồn tư liệu khác.
(16)
Trần Xuân An, Nguyễn Văn
Tường, “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được” (NVT.,
NNTNTX., TKHĐ.), khảo luận và phê b́nh sử học, sắp xuất bản (2002).
Hết truyện kí thứ nhất
XIN XEM
TIẾP TỆP 3
Truyện
kí thứ hai