TỆP 3
Truyện
kí thứ hai
TRẦN XUÂN AN
NGƯỜI THẦY THUỐC
– THẦY GIÁO TRẺ TUỔI
Truyện kí thứ hai
1
Người đàn
ông khoảng năm mươi tuổi, dáng vẻ tiều tụy, gương
mặt tái xanh đầy vẻ bệnh hoạn, dè dặt ngồi xuống chiếc ghế trường kỉ bằng
gỗ cũ đă lên nước nhưng không một đường nét chạm trổ, sau khi đan tay xá
chào vị thầy thuốc trẻ tuổi.
- Bác cứ tự nhiên. – Thầy Tường nh́n người bệnh, ân
cần nói –.
Thầy Tường giấu cái giật ḿnh, khi trông thấy một
bên má, chỗ gần vành tai, hai chữ “tả đạo” bị khắc xăm rơ nét. Anh
cố giữ cái nh́n đừng có vẻ soi mói để người “dữu dân” ấy khỏi chạnh ḷng.
- Bác thấy trong người ra răng?
- Dạ, bẩm thầy, không ngủ được, cũng không ăn được
nhiều.
Thầy Tường nh́n vào đôi mắt ông ta, trông hơi lờ đờ.
Anh lại hỏi các triệu chứng bệnh.
- Bác cho tôi xem mạch.
Vén cổ tay áo, người bệnh duỗi ngửa cánh tay trên
mặt bàn. Ngón trỏ và hai ngón kế đặt vào mạch, ngón thứ tư là ngón cái kềm
phía dưới cườm, thầy Tường lắng nghe, tất cả tinh thần đều tập trung vào
cảm giác ở đầu ba ngón tay. Anh khẽ nhíu mày suy nghĩ.
- Bác bị bệnh đă khá lâu, sao không sớm chữa chạy!
- Dạ, bẩm thầy, tôi bị phân tháp. Bệnh, yếu quá, may
mới được phóng thích.
Thầy Tường ái ngại, không biết nói ǵ. Sau khi đă
nh́n sắc diện, hỏi triệu chứng, bắt mạch, người thầy thuốc trẻ nhưng rất
có uy tín ở huyện lị Đăng Xương này cầm ngọn bút lông kê đơn.
- Bác qua quầy kia lấy thuốc. – Thầy Tường đưa phái
thuốc cho người bệnh –. Uống thuốc và nhớ thắp hương cho ông bà tổ tiên.
Người đàn ông hơi chạnh ḷng, đứng dậy, đan tay chào,
không nói ǵ.
- Bác nhớ đó, phải vừa uống thuốc, vừa thắp hương
cho ông bà tổ tiên. Quên uống thuốc hoặc quên ông bà tổ tiên th́ không
lành bệnh được đâu! Xin thành khẩn với bác như thế. – Với tấm ḷng của một
nhà nho trẻ lỡ vận trên đường khoa cử, thầy Tường khẽ nói –.
Người đàn ông bị gọi là “tả đạo”, “dữu dân”
đă hiểu ư. Ông ta lặng thinh làm dấu thánh, trong khi quay bước, chầm chậm
tiến tới chỗ quầy thuốc bắc, thuốc nam. Phía sau quầy, trước một dăy kệ để
đầy các thùng thiếc, hộp gỗ, hũ sành, thẩu thuỷ tinh có dán những mảnh
vuông giấy điều, trên đó viết chữ Hán, chữ Nôm bằng mực xạ đen, là một cụ
già quắc thước, mái tóc đă thưa với búi tó đă nhỏ lại, bạc trắng.
Thầy Tường ái
ngại nh́n theo người bệnh ấy. Rồi anh lại tiếp tục bắt mạch, kê đơn cho
người bệnh tiếp theo.
Sau bốn năm
trời miệt mài, say mê học y lí về người và bệnh,
học dược tính các loại thuốc, đồng thời học kinh nghiệm điều trị qua thực
tiễn hằng ngày với những thầy thuốc già ở Huế, Tường đă trở thành một
lương y trẻ nổi tiếng ở quê nhà. Sáu tháng nay, anh ở hẳn trong tiệm thuốc
bắc này và cùng cụ chủ tiệm già đang bốc thuốc, cân đếm, gảy bàn tính kia
phối hợp trong nghề y dược. Bốn năm trời học nghề thuốc ấy, Tường cũng
không hề xao lăng thi thư kinh sử. Hơn nữa, ở Huế, Tường càng có dịp t́m
đọc các cuốn sách quư trong các tủ sách gia đ́nh và t́m mua được ở hiệu
sách lớn của kinh đô. Bốn năm trời, Tường đă chín chắn, trầm tĩnh, uyên
bác hơn xưa đến mức anh cũng không ngờ. Lúc này, với chiếc khăn đóng trên
mái tóc bối tó, trong chiếc áo the đen, ngồi bắt mạch, kê đơn cho bệnh
nhân từ các làng thôn ra Ái Tử, lị sở của huyện, ở gương mặt trắng trẻo,
đẹp một cách cương nghị, toát ra vẻ trang nghiêm. Đó là vẻ trang nghiêm
thân ái, ân cần, khiến người đối diện vừa kính nể, vừa cảm thấy dễ gần gũi.
Khi viết phái thuốc cho người bệnh là một người đàn
bà có lẽ ở tuổi bốn mươi xong, thầy chợt nghe chú nhỏ đi theo mẹ h́nh như
không thể ḱm chế được nữa, buột miệng nói:
- Mạ, khi hồi có ông “tả đạo” vô đây!
Bà mẹ nhăn mặt:
- Kệ người ta! Có quan, có lính, việc chi con! Họ
nghe được, sinh chuyện thêm phiền. – Bà mẹ đang bệnh vẫn mắng khẽ con trai,
áy náy muốn xin thầy thuốc thứ lỗi –. Dạ, cháu nó c̣n con nít, ṭ ṃ, nói
bậy… Dạ, xin thầy cảm phiền…
Bà mẹ bối rối bước về phía quầy thuốc, sau khi thầy
Tường lắc bàn tay mở ra, đưa lên, với nụ cười tỏ ư không có ǵ đáng trách
trẻ con cả.
Người bệnh kế tiếp là một cụ ông trông không đến nỗi
trầm kha lắm, cũng buột miệna!
- Bẩm thầy, tháng ba vừa rồi, Tây gây sự ở Đà Nẵng,
cũng v́ bọn “tả đạo” nớ đó!
Thầy Tường gật đầu nhưng lại nói:
- Tất cả là do bọn Tây dương! Nổ súng, truyền “tả
đạo” cũng đều do Tây cả. Ḿnh là người Việt với nhau, thương cho người
ḿnh nhẹ dạ, cũng trách là người ḿnh trót nhẹ dạ, thậm chí mê muội mất
rồi. Triều đ́nh đă hết thuốc chữa! – Quên vẻ trầm tĩnh, thầy thuốc trẻ hơi
đanh giọng, và chợt biết phải ngừng lại –. Nhưng, thôi… Người Việt ḿnh
c̣n bệnh, bệnh thiếu ăn, thiếu mặc, bệnh thiếu súng thép, tàu đồng… Ồ,
thôi… Cụ cho tôi hỏi bệnh đă. Rứa cụ cảm thấy bệnh trong người ra sao?
Nh́n sắc diện, hỏi han, lắng nghe, thăm mạch, kê
đơn, vị lương y trẻ ân cần trong công việc của ḿnh. Thầy Tường cũng lắm
khi gặp những nỗi đời, niềm thời sự, những dự cảm, báo động về vận nước.
Đó là một buổi sáng trong một ngày đầu mùa hè năm
Thiệu Trị thứ bảy (1847), năm đă xảy ra vụ thứ hai thực dân Phú Lăng Sa
(France) khiêu khích triều đ́nh, sau vụ đầu tiên cách đây đă bảy năm, hồi
nhà vua đương kim mới lên nối ngôi! Lần này, chúng bắn ch́m đến năm chiếc
thuyền binh của nước ta cũng tại Đà Nẵng, rồi bỏ chạy ra khơi xa (1)!
Không thể không thao thức, suy tư, thầy thuốc đông y Nguyễn Văn Tường c̣n
nghe dậy lên trong ḷng khát vọng dấn thân, nhập thế bằng hành động mạnh
mẽ hoặc tích cực hơn của nhà nho. Có điều, kẻ sĩ Nguyễn Văn Tường vẫn chưa
được ban sắc chỉ xoá án “bất đắc ứng thí”! Thầy vẫn ân cần, ẩn nhẫn,
lặng lẽ trong công việc y dược của ḿnh. Sinh ra đời bảy ngày sau Tết
Trung thu tháng tám nguyệt lịch năm Giáp thân, Minh Mạng năm thứ năm
(1824), đến nay, Nguyễn Văn Tường đă hai mươi bốn tuổi, kể cả một tuổi
trong ḷng mẹ. Trải qua đằng đẵng mười tám năm đèn sách, đă một lần đỗ tam
trường (tú tài) nhưng bị truất, đến giờ, thầy thuốc trẻ này vẫn trắng tay
khoa cử, không một mảnh bằng cấp, học vị của triều đ́nh!
2
Ngày quư măo, hai mươi bảy, cuối tháng chín lịch mặt
trăng Đinh mùi (1847) năm ấy, vua Thiệu Trị băng hà!
Tiệm thuốc cũng là pḥng thăm mạch đông y của cụ già
và của kẻ sĩ lỡ vận Nguyễn Văn Tường khép cửa trong những ngày quốc tang.
Tin tức kinh đô qua những kẻ bộ hành trên đường thiên lí Bắc – Nam, ghé
lại quán cơm, quán nước ở huyện lị Ái Tử này, thầm th́ rỉ tai, đă lan
truyền khắp làng thôn trong huyện Đăng Xương. Người ta ngạc nhiên khi
người lên nối ngôi vua cha mới mất không phải là thái tử Hồng Bảo. Người
con thứ, Hồng Nhậm, nổi tiếng về văn chương thơ phú nhưng hơi ốm yếu của
đại hành hoàng đế Thiệu Trị đă lên ngôi theo di chiếu, được sự phù giúp
của bốn cố mệnh đại thần: Trương Đăng Quế, Nguyễn Tri Phương, Vũ Văn Giải
và Lâm Duy Thiếp (2).
Trong những ngày quốc tang, thầy Tường không bước
sang tiệm thuốc bắc và pḥng mạch. Ngôi nhà tranh vợ chồng thầy thuê ở Ái
Tử này cũng không xa tiệm thuốc của cụ già bao đỗi, chỉ cần bước vội chân
một chút, là đến ngay nếu có việc cần kíp. Sáng nay, ngồi trước cuốn sách
mở, nhưng tâm trí thầy Tường không thể không nghĩ ngợi, bâng quơ nh́n ra
ngoài vuông cửa sổ trổ ngay căn giữa, thấy Đích, vợ của thầy, đang sắp
những lát thuốc
Nam trên mấy chiếc
nong, dưới ánh nắng cuối thu vẫn c̣n rực rỡ. Thật ḷng, thầy không ngờ đời
vua Thiệu Trị lại ngắn ngủi đến thế. Mấy năm rồi, chờ sắc chỉ ân xá măi
đến mức thầy cũng đôi khi an phận. Và mới năm kia đây, khi đang c̣n học
đông y ở Huế, trong một lần về thăm nhà, anh được biết cụ khoá Dương Văn
Thu, thân sinh của Đích, đă đồng ư nhận lời cầu hôn cho con trai của cha
anh. Sau lễ thăm, lễ hỏi và lễ cưới, Đích về làng An Cư làm dâu nhà anh,
trong khi chờ anh học xong nghề thuốc. Vợ chồng son chưa sống với nhau
nhiều nhưng đủ mặn nồng, nên đến bây giờ đă có chung với nhau một đứa con
trai đầu ḷng. Dương Thị Đích, người mẹ trẻ mười chín tuổi của thằng bé
Thiều, chính là người con gái út của cụ khoá Thu, chủ tiệm thuốc đông y
cũng là pḥng thăm mạch của anh. Thầy Tường hạnh phúc và cũng không hiểu
rơ ḿnh có an phận hay không. Có điều, với thầy, an phận hay không, cũng
mê say, miệt mài đèn sách. Nói đâu xa, ngay ở nước ḿnh, dưới thời Lê, vẫn
có những cụ già bảy mươi tuổi lều chơng đi thi hương, thi hội kia mà. Chí
học hành của kẻ sĩ đâu kể ǵ tóc xanh hay bạc tóc!
O Đích, bây giờ láng giềng đă quen gọi là o Thầy. Đó
là cách gọi người vợ theo công việc của chồng. O Thầy đă vào nhà, đang
ngồi trên chiếc đ̣n gỗ, bên nôi của thằng cu Thiều, và một bên thuyền tán.
O đang nắm hai tay cầm của dao cầu (một bánh nghiền bằng sắt, khá nặng),
lăn tới lăn lui cho thật mịn những thứ thuốc mà cụ khoá Thu giao cho.
Hương thuốc đông y thơm lạ lùng.
Nghe tiếng bước chân của thầy Tường bước ra cửa, o
Thầy ngước mắt lên.
- Ta đi ra bờ sông một lát. Ḿnh ở nhà.
- Có việc chi mà ra bờ sông? Anh Thầy nhớ về sớm
nghe.
Thầy Tường gật đầu, bước ra ngơ. Anh vừa đi vừa nghĩ
ngợi. Thế mà đă bảy ngày trôi qua, từ khi vua Thiệu Trị băng hà. Không rơ
ḷng ḿnh, anh chỉ thấy bâng khuâng. Ngồi xuống một phiến đá lớn dưới gốc
cây sầu đâu rợp bóng bên bến sông vắng, cuốn sách cầm ở tay, nhưng thầy
Tường nghĩ ngợi đâu đâu.
Ḍng sông Ái Tử ngập nắng, chầm chậm trôi lững lờ
trước mặt. Cơ hồ cái chết của đại hành hoàng đế đang đẩy đưa tâm thức thầy
Tường về khởi nguyên của triều đại. Chính ḍng sông Ái Tử này đây, nơi vua
Trần Quang Đế nhà hậu Trần bị tên tướng Tàu nhà Minh đánh bại, cũng là nơi
Mạc Lập Bạo nhà Mạc bị tiên chúa thái tổ Nguyễn Hoàng tiêu diệt, do được
Qua Qua phu nhân linh thánh hiện ra hiến kế mĩ nhân trong giấc mộng
mị của ngài (3)! Tiếng trẻ con khóc “oa oa” trên sóng nước hẳn cũng chỉ
nảy sinh từ hai chữ “Ái Tử”, thương con. Dân gian chẳng hát “mẹ
thương con ngồi cầu Ái Tử” đó sao! Thương con mà hiến độc kế giết
tướng Mạc, con cháu Mạc Đăng Dung, gă đô lực sĩ cướp ngôi nhà Lê, hẳn chỉ
là mộng mị của thái uư Đoan quận công Nguyễn Hoàng, hay thương con như thế
mới là t́nh thương mănh liệt, tích cực của dân gian? Từ tiên chúa Nguyễn
Hoàng, trải qua mấy đời chúa, đến tiên đế Gia Long, ngót hai trăm bốn mươi
bốn năm (1558 – 1802). Từ ngày tiên đế Gia Long lên ngôi hoàng đế, lập ra
nhà Nguyễn với nước Việt Nam nhất thống, địa dư rộng lớn nhất lịch sử mấy
ngàn năm, đến nay, cũng tṛn bốn mươi lăm năm (1802 – 1847).
Thời gian! Lịch sử! Bao nhiêu dâu bể thăng trầm, in
dấu ngay ở từng cây đa, giếng nước làng quê với những sự tích!
Thầy Tường bâng khuâng với một câu thơ thiền thời Lí
– Trần: “Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”. Quả thật, ở vùng đất trận
mạc tranh chấp này, có đó rồi mất đó, thoắt xanh tươi cây trái, thoắt
vườn không nhà trống, mong manh như hạt sương treo đầu ngọn cỏ. Nhưng
lạ lùng thay, sức sống Quảng Trị bền bỉ đến phi thường!
Ḍng sông ngập nắng đưa đẩy ư nghĩ thầy Tường đi về
làng quê của ḿnh. Làng An Cư là ngôi làng đầu tiên của tổng An Cư trên
đất châu Ô này, được phát hoang, gầy dựng bởi những cư dân châu Diễn, châu
Hoan, châu Ái từ thuở Huyền Trân công chúa theo vua Chế Mân về Chiêm Thành.
Ḍng họ Nguyễn của thầy Tường vào đây cũng già năm trăm năm! Sau hai trăm
năm, châu Thuận thân yêu này, vốn là Ô châu, vẫn là mảnh đất tranh chấp,
là trận mạc. Ba trăm năm gần đây, dẫu chiến trường của cuộc nội chiến hai
thế kỉ giữa Đàng Trong – Đàng Ngoài thuộc vùng đất xa hơn, phía châu Lí (Bố
Chính, Ma Linh, Địa Lí – Quảng B́nh), quê hương Quảng Trị không phải không
đao binh. Ba trăm năm ấy, ḍng họ anh sinh sống dưới ơn mưa móc của các
đời chúa, đời vua nhà Nguyễn, triều đại hiện thời, triều đại mà một kẻ sĩ
như anh phải tận ḷng phụng sự, nhất là trong thời điểm này.
Bây giờ, đă bảy ngày, sau cuộc băng hà của đại hành
hoàng đế Thiệu Trị, cũng chẳng hiểu sao thầy Tường lại ra ngồi đây nghĩ
ngợi vẩn vơ, thoáng có chút ǵ u hoài nữa!
- Anh Thầy ơi, có nghe mơ làng rao không? Vua ban ân
chiếu! – Rơ là giọng của o Đích –.
Thầy Tường vụt đứng dậy, quay lại, nh́n vợ đang vội
bước với niềm vui mừng rạng rỡ.
- Mơ rao ân chiếu? – Thầy Tường hỏi lại –. Ḿnh nghe
răng chừ?
- Chú mơ làng mới vừa đi rao ngang ngơ nhà ḿnh!
Hai vợ chồng bước về
nhà.
- Ḿnh để thằng cu Thiều ở nhà một ḿnh sao?
- Em đă bồng qua gửi bên mệ ngoại.
Thầy Tường bảo vợ về nhà, một ḿnh anh bước về phía
dinh huyện lị.
Ngày kỉ dậu hôm nay, mùng ba, đầu tháng mười, kỉ
nguyên Tự Đức đă bắt đầu mở ra với ân chiếu gồm 25 điều ban khắp thiên hạ.
Vị lương y trẻ tuổi Nguyễn Văn Tường run lên khi đứng đọc những ḍng chữ
trên bảng bố cáo:
“Các địa phương
có nhân sĩ nào tài đức giỏi giang mà ẩn dật nơi rừng núi, chuẩn cho quan
thượng ti ở nơi ấy xét thực tâu lên, lượng cho bổ dụng”.
“Từ tờ mờ sáng ngày mồng 3 tháng 10 năm Thiệu Trị thứ 7 trở về trước,
phàm các tội phạm phải sung quân hay phát lưu trở xuống, không cứ là đă
kết án hay chưa kết án, đều cho khoan miễn tha ra” (4).
Thầy thuốc đông y Nguyễn Văn Tường cố giữ vẻ trầm tĩnh thường ngày,
bước thong thả về nhà, với niềm vui rộn ră trong ḷng. Ân chiếu!
Anh về đến nhà, Đích bỏ dao cầu thuyền tán, đứng đậy bồng con ríu
rít hỏi chuyện. Thầy Tường cầm bàn tay mũm mĩm của chú bé Thiều, đứa con
trai đầu ḷng của vợ chồng anh, nh́n vào đôi mắt đen láy đă ràn rụa nước
mắt xúc động của Đích, nói với giọng trầm tĩnh đến lạ lùng:
- Ta sẽ được xoá án! Ḿnh vui đi!
Sau đó, tháng mười một, lại có một chiếu ban ơn gồm 19 điều nữa,
cũng được rao truyền, niêm yết khắp thiên hạ.
Ở Quảng Trị, vào đầu năm Mậu thân (1848), Tự Đức nguyên niên, tuần
vũ Lê Trường Danh (5) và án sát Lê Văn Vĩ (Lê Hồng Miên) (6) đă chiểu
theo ân chiếu, lập thủ tục đệ tŕnh lên Bộ H́nh, xin xoá án cho Nguyễn Văn
Tường, tú tài bị truất, bị kết án tội đồ đă chấp hành án, sáu năm về trước,
v́ không chịu đổi tên trùng với quốc tính.
Sáu năm về trước, Văn Tường chẳng buồn bă trông chờ một kỉ nguyên
mới với sự xuất hiện minh đế của triều Nguyễn đó sao! Anh những tưởng phải
hai mươi năm, ba mươi năm hoặc có khi phải lâu hơn nữa mới có ngày nay!
3
Sau một tháng được xoá án
“bất đắc ứng thí”, tỉnh Quảng Trị của người thầy thuốc
trẻ lại phải đối phó với nạn thổ phỉ Lào. Phủ Cam Lộ, nơi đă có một thời
gian dăm năm, gia đ́nh cha mẹ anh phải lên đó t́m đất mưu sinh bởi nạn
cường hào ác bá ở quê nhà An Cư. Trên vùng đất đó, bọn thổ phỉ nước láng
giềng đang tràn sang cướp phá. Hai châu Ba Lan, Mường Bổng gồm những người
nhân tộc thiểu số đồng bào lại một phen điêu đứng, tang tóc. Cam Lộ, đó là
cửa ngơ phía tây của Đất nước, của kinh đô, Xiêm rồi Lào đă chín lần quấy
phá dưới hai triều Minh Mạng, Thiệu Trị. Đây là lần thứ nhất dưới triều Tự
Đức!
May sao tri phủ Lê Văn Dự và quản vệ Nguyễn Nhuận của Cam Lộ đă kịp
thời đánh tan, vỗ yên được bọn phỉ Lào trong một thời gian ngắn (7).
Qua vui mừng trước ân chiếu, qua xôn xao, kinh động bởi thổ phỉ,
Quảng Trị và Nguyễn Văn Tường lại thầm lặng với ruộng nương, sách đèn, bắt
mạch, kê đơn thuốc, theo nhịp sống b́nh thường. Thật ra, trong những ngày
tháng này, thầy Tường lại sôi kinh nấu sử hơn bao giờ hết. Những cuốn sách
triết học, sử luận thuộc kinh điển tam giáo, đặc biệt là của Nho giáo với
tứ thư, ngũ kinh như
Đại học, Trung dung, Luận ngữ,
Mạnh Tử, Kinh dịch, Kinh Xuân thu…
cho đến
Bắc sử
và các pho quốc sử từ
Việt sử lược, Việt điện u linh, Đại Việt sử kí toàn
thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục
tiền biên,
và cả Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỉ…
được viết bằng chữ Hán, hầu như đă trở thành máu thịt trong anh. Ngoài ra, cũng như các sĩ tử
khác, anh vận dụng nhuần nhuyễn các thể văn cử nghiệp, quan trường và
trước tác (8). Đúng là sôi kinh nấu sử để những hạt ngọc chữ nghĩa trở
thành cơm ăn nước uống hằng ngày của kẻ sĩ!
Lắng đi vài tháng, lại tàu Pháp ghé vào ḍm ngó, đ̣i xin được lấy
củi, lấy nước ngọt để chạy tàu thuỷ với máy hơi nước! Triều đ́nh chấp
thuận như thế (9). Nhưng đâu chỉ thế, trong thâm ư, với kế hoạch tằm ăn lá
dâu lâu dài, chúng đang ra sức tuyên truyền, đào tạo lực lượng hậu thuẫn
bên trong nước ta, lại đo đạc mực nước các cửa biển, cửa sông, ḥng chiếm
một vùng đất của ta làm trạm dừng chân, cung ứng vật hạng, nhân lực, làm
bàn đạp ban đầu.
Rồi lại bùng lên vụ thổ phỉ Lào với tên tay sai Phù Xu Ph́ ở châu
Mường Bổng trên Cam Lộ! Phù Xu Ph́ phản quốc, phản buôn làng chỉ v́ một
chức ma tà vằn của giặc (10)!
Và tháng sáu nguyệt lịch (1848), điều cấm đạo Gia Tô (Catholicisme)
lại phải ban bố (11)! Cây thập tự được đặt trên đất để thử thách “dữu dân”
có chịu bước qua hay không! Có người thức ngộ thú nhận đă bị thực dân lợi
dụng, bước qua cây
thập giá một thời tôn thờ, người ấy được tẩy hai chữ “tả đạo” khắc xăm trên mặt. Có người cam chịu tử đạo như Chúa
Giê Su (Jésus) trên hai thanh gỗ thập tự tử h́nh! Các đạo trưởng (giám mục,
linh mục) người Tây dương lén lút đổ bộ vào bờ biển, sống dưới hầm, lẩn
trong nhà “dữu dân”, một số bị bắt được và bị hành h́nh về tội xúi giục
dân trong nước làm giặc! Ở nước ta, bờ biển dài suốt mấy ngàn dặm, thật
khó ḷng kiểm soát. Cấm đạo, triều đ́nh đành phải bức hại dân ḿnh, bi
kịch ấy đâu chỉ của nước ta, mà khắp châu Phi, châu Á, nhất là ở các nước:
Thanh (Trung Hoa), Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ, Xiêm, Miến…
Có một buổi sáng lương y Nguyễn Văn Tường không bao giờ quên được.
Quanh băi cát ở phía tây cột cờ Dinh Cát ngày xa xưa, thầy Tường có mặt
trong dăy ghế phía sau các quan chức tỉnh huyện. Là sĩ phu của huyện, thầy
đang ngồi cạnh các quan viên về hưu, các cử nhân, tú tài chưa được bổ
nhiệm, nh́n ra vuông cát rộng. Một cây thập tự bằng gỗ đặt nằm ở giữa.
Phía trên thập tự, những người đă cải đạo, “chối đạo” đứng một bên, những
người cam chịu tử v́ đạo đứng bên kia. Một không khí nặng nề bao trùm.
Trong cái nặng nề ấy, thực ra, hầu hết những người dân lương, quan chức,
sĩ phu, thảy đều kinh ngạc và căm giận đám “tả đạo” đang đứng giữa sân. Họ
chẳng hiểu sao niềm tin vào một tôn giáo xa lạ, chối bỏ cả việc đặt bàn
thờ gia tiên trong nhà, chối bỏ mọi phong tục thờ cúng của dân tộc, thậm
chí chống lại cả nền độc lập của dân tộc ḿnh, không đoái hoài đến sự mất
c̣n của Tổ quốc ḿnh, lại được tin tưởng đến mức cuồng tín đến thế. Ngỡ sẽ
sớm chấm dứt cảnh huống đang diễn ra trước mắt ấy, bởi những người theo
“tả đạo” đă có thời gian suy nghĩ, bỗng nhiên, một người đến lượt được dẫn
đến dưới chân cây Thánh Giá của họ, không phải như những người “tả đạo”
khác, mà bị trói chặt khuỷu tay. Khoảng bốn mươi tuổi, ông ta tiều tụy
bước, và đứng lại đúng chỗ.
- Bỏ tà đạo th́ bước qua, đứng phía phải! Không bỏ, qua bên trái! –
Viên lính dơng dạc bảo –.
- Xin quan cho tôi nói một lời.
- Không nói ǵ hết!
- Tôi cứ nói! Xin hỏi: Ai giúp tiên đế Nguyễn Ánh đánh bại bọn
ngụy
Tây Sơn, lập nên nhà Nguyễn? Có phải Đức Cha cả Bá Đa Lộc – Pi-nhô đờ Bê-hen
(Pigneau de Béhaine) (12)? Có phải là cha ông chúng tôi theo đạo Gia Tô,
thời đó, đă phù giúp? Sao các người phủi ơn nhanh rứa?
- Câm miệng! Đúng là phạm thượng, giọng lưỡi “tả đạo”, lại xổ tiếng
Tây tiếng Âu nữa! – Giọng viên lính cố nói to để át sự bối rối –.
Viên lính chạy ngay đến trước khán đài, đan hai tay đặt trước trán,
một đầu gối quỳ xuống chạm đất cát:
- Bẩm các quan lớn, thằng “tả đạo” này cứng đầu, phạm thượng!
Các quan, sĩ phu và tất thảy dân lương tham dự đều nghe rơ lời gă
“tả đạo” to gan. Dám phạm huư, kêu ngay tên tự của tiên đế là đủ tội chết,
nữa là!
- Thật láo xược! – Quan tuần vũ giận dữ quát –. Quân đâu! Gông cổ
nó lại. Như thế là rơ ràng nó muốn chịu án trảm quyết bêu đầu! – Quan đầu
tỉnh Lê Trường Danh lại cố trấn tĩnh, vẫn với giọng Đàng Ngoài quê ông –.
Lẽ ra, không cần nghị xử ǵ nữa, mà phải chém ngay thị chúng! Nhưng ta
cũng bảo cho tất cả quan dân ở đây rơ, bọn cố đạo Tây dương ngày càng lộ
bộ mặt thật. Chúng đă giúp ngụy Khôi ở Gia Định, kích động bao nhiêu vụ
làm loạn ở Bắc Ḱ, kể cả bọn ngụy Nông Văn Vân, toan lật đổ bản triều
(13). Ngay tiên đế Gia Long về sau cũng đă hạn chế bọn “tả đạo” Tây dương,
và cả tiên đế Minh Mạng cũng đă nhiều lần ban dụ cấm đạo v́ bản chất bọn
“tả
đạo” ngày càng lộ rơ (14)! Thế mà “dữu dân”, “tả đạo” các
ngươi vẫn ngu mê! Thôi, khỏi lắm lời! Gông cổ tên kia lại! Tiếp tục!
Sau khi rời khỏi băi cát cải đạo, thầy Tường bước về nhà, đi cạnh Lê
Đ́nh Dao (15), một bạn đồng liêu cùng lứa tuổi vừa đỗ cử nhân khoa thi Mậu
thân (1848) năm nay. Tính Dao vốn khẳng khái nhưng điềm đạm, lúc này cũng
không thể không bức xúc nói:
- Trong phường Lá Vằng, mấy cố đạo Tây hay gọi là La Vang, bây chừ
“tả đạo” tụ tập cầu nguyện Đức Mẹ Đồng Trinh suốt cả đêm ngày, xem chừng
sốt sắng lắm! – Lê Đ́nh Dao buồn buồn nói –. Thật khó hiểu quá chừng quá
đỗi! Nghe đâu thời
ngụy tướng Phạm Ngô Cầu của ngụy chúa Trịnh (1779), thời
vua Cảnh Thịnh ngụy triều Tây Sơn (1798), chỗ nớ cũng đă là nơi trốn chạy
các cuộc “sát tả”, máu chảy thành khe, thành ng̣i (16)! Lúc bấy chừ, họ
đồn có Đức Mẹ, người Do Thái, dân gian bảo là “ngó như mấy bà đầm”, hiện
ra an ủi! Không hiểu v́ răng dân ḿnh lại có những kẻ theo cái đạo lạ ḱ
như rứa!
- “Kính nhi viễn chi”!
Đối với quỷ thần phải vậy, cứ
“kính cẩn nhưng nên xa lánh”,
như thầy Khổng dạy là tốt nhất, miễn là dân “tả đạo” người Việt ḿnh đừng theo Tây, nghe lời
bọn cố đạo Tây dương là được. – Nguyễn Văn Tường nói với Lê Đ́nh Dao, khẽ
giọng –. Nhưng, thật ḷng… ḿnh cũng không hiểu nổi v́ răng một bộ phận
dân ḿnh lại như rứa, như Dao nói. Họ cứ nghe, cứ tin mấy cố đạo Tây tà. Ở
kinh đô, khách thương người Tàu, Nhật, Mă Lai… cập bến tường thuật rất rơ
là bọn Tây bạch tạng lợi dụng tôn giáo! Xưa nay tam giáo cửu lưu, có ai
trấn áp chi đâu! Tu hành quái quỷ chi bọn đội lốt cố đạo nớ! Đi ăn cướp
nước người ta mà c̣n khoác áo tu sĩ! Hết nước nói!
Hai người bạn, một vốn dân gốc làng Bồ Bản, một gốc An Cư, hai làng
gần nhau, đi bên nhau, lặng lẽ suy tư. Họ cũng hiểu rằng, không phải chỉ
riêng họ, mà hầu hết lương dân, sĩ phu,
quan lại cho đến hoàng thân, hoàng đế đều cảm nghĩ như thế.
Thực dân! Thổ phỉ! “Tả đạo”! Đó là ba nguy cơ, hiểm hoạ và nỗi đau
cả nước từ Bắc chí
Nam và ở Quảng Trị
quê nhà! Và nguy hoạ thứ tư: thiên tai dịch lệ! Như một trận băo oan
nghiệt, bệnh dịch lại quét qua xát lại miền Trung, miền Bắc (17)! Bệnh
dịch tả, căn bệnh hung ác, giết người hàng xă, hàng huyện, thầy Tường biết
rơ cả đông y lẫn tây y đều bó tay chịu trận hoặc chỉ cầm cự!
Lại một mùa hạ thứ hai của kỉ nguyên mới!
Tháng năm nguyệt lịch, Tuần phủ Trị – B́nh mới nhậm chức là Trần
Quang Chung, người Tuy Phước, B́nh Định, thay Lê Trường Danh, chuẩn bị
cung trạm nghinh tiếp tại tỉnh nhà để đón sứ bộ nước Thanh (Trung Hoa) qua
trao sắc chiếu phong vương cho vua Tự Đức. Lễ phong vương sẽ được tiến
hành vào tháng bảy, năm Kỉ dậu (1849). Sứ bộ sẽ sang ngay kinh đô Huế, chứ
không phải vua nối ngôi phải ra tại Hà Nội (Thăng Long) như các vị vua
trước. Đó là một thắng lợi ngoại giao đầu triều Tự Đức (18). Và v́ vậy,
cộng với bệnh dịch đang lan tràn vừa tắt, ḱ thi hương chính khoa tháng
bảy mùa thu năm nay bị triển hoăn, chỉ mỗi một trường thi Gia Định vẫn
được thi theo lệ định!
Từ tháng mười Đinh mùi (1847) đến nay, đă hai mươi mốt tháng trôi
qua với bao biến động, lễ lạc. Thầy thuốc đông y Nguyễn Văn Tường cũng đă
lỡ mất một ḱ ân khoa năm ngoái, Mậu thân (1848), v́ đang làm thủ tục xin
xoá án
“bất đắc ứng thí”!
Ḱ này được xét hạch để dự thi, lại bị hoăn! Phải chờ đến tháng ba mùa
xuân Canh tuất (1850) năm tới!
Hơn bao giờ hết, lúc Đất nước đang trong thời điểm báo động lâm
nguy, kẻ sĩ càng nao nức nhập thế cuộc. “Nhập
thế cuộc”,
dấn thân vào đời kinh bang tế thế, sửa nước giúp đời, “bất khả vô văn tự”,
không thể không chữ nghĩa, không thể không
thông qua con đường khoa cử!
Bạn bè tuổi tác có chênh lệch nhau, nhưng đều cùng một lứa, cùng
được tập trung về trường tỉnh để được học quan giảng tập, khảo khóa, xét
hạch trước khi dự thi, từ khoa Nhâm dần (1842) đến nay, nhiều người đă đỗ
đạt, cũng nhiều người bỏ cuộc. Trần Đ́nh Túc (làng Hà Trung), Nguyễn Đăng
Điều (làng An Cư), Hoàng Văn Giảng (làng Diên Sanh), Nguyễn Tăng Doăn
(làng Câu Nhi), Lê Đ́nh Dao (làng Bồ Bản), Vũ Tử Văn (Vơ Văn Thọ, làng Nại
Cửu), Nguyễn Hữu Điềm (làng Thái Hoà), và đặc biệt là Trần Xuân Hoà (làng
Thâm Khê, huyện Hải Lăng; về sau trở thành người trung nghĩa, anh hùng
chống Pháp của triều Nguyễn, được vua Tự Đức ban dụ dựng đền thờ)… đă lần
lượt được đăng khoa (19)!
Người vượt lên tất cả bạn bè, sẽ đứng đầu Đất nước, giờ này vẫn hăy
c̣n lận đận! Nhưng cơ may đang được mở ra sau khi kỉ nguyên Tự Đức đă ban
ân chiếu, Nguyễn Văn Tường đă được mở khỏi cái ách
“bất đắc ứng thí”!
Thầy Tường đă hai mươi sáu tuổi, anh trầm tĩnh chờ mùa xuân năm sau.
Và tháng ba, Canh tuất, năm Tự Đức thứ ba (1850), ḱ thi hương chính
khoa vốn phải triển hoăn cũng đến. Nguyễn Văn Tường đă đỗ cử nhân (20).
Nhưng đau xót thay, anh lại bị “nhắc nhở” về cái án
“tên trùng với quốc tính không chịu đổi, nên
bị đi đày”
một lần nữa! Phải bị tội đồ một lần nữa, trước khi
chính thức được công nhận học vị cử nhân. Đó là một cách khẳng định trước
toàn dân thiên hạ và trước tất thảy quan chức, sĩ phu: Nguyễn Văn Tường
không phải thuộc huyết thống hoàng tộc (không phải là hạt máu rơi của
Trường Khánh công Miên Tông – hoàng đế Thiệu Trị – bao giờ!). Tuy nhiên,
lần bị đày (tội đồ) thứ hai này cũng chỉ là “thủ tục xoá án có nhắc
nhở” để anh được tiến thân trên con đường khoa cử, hoạn lộ,
đúng như những người xuất thân từ giai tầng dân đen dân dă khác. Chỉ làm
các công việc nhẹ nhàng, anh không bị lao dịch khổ sai như lần trước.
Nguyễn Văn Tường b́nh tâm, thanh thản trong sự thấm thía
thuyết chính danh định phận. Vâng, có phàn nàn ǵ đâu, cho dù bị
oan trái! – Ông cử tân khoa c̣n bị treo bằng cấp tự nhủ –. Anh không hề
mạo nhận quốc tính. Xưa nay, anh đă sống đúng với phận ḿnh như tuân theo
thiên mệnh!
Lần bị tội đồ này, có tính chất khẳng định, nhắc nhở lại án cũ, chứ
không phải Nguyễn Văn Tường tái phạm, và chỉ trong mức sáu tháng, từ tháng
tư đầu mùa hạ đến tháng mười đầu mùa đông. Lần này, suốt sáu tháng trời,
cống sĩ tân khoa bị tạm thời treo bằng cấp, học vị lại phải lên tuốt tận
đỉnh núi trong rặng Bạch Mă, nơi có con đường đèo Hải Vân, con đường dành
cho khách bộ hành và binh lính hành quân, nhỏ như sợi chỉ ngoằn ngoèo vắt
qua. Trong rặng núi Bạch Mă ấy, Viện Thái y mới thử nghiệm gầy dựng một
vườn thuốc
Nam. Ngày ngày,
cùng với toán lính thú, dưới sự hướng dẫn của vài ngự y, kẻ cựu phạm nhân
tội đồ bị cảnh cáo lại chăm lo bắt sâu tỉa lá, tưới nước, bón tro. Cũng là
thầy thuốc, nhưng anh không khăn đóng áo the, phải ăn ngủ chung với lính
thú, và cố nhiên không được hưởng đồng lương bổng nào. Các quan ngự y ăn
riêng, ngủ riêng, được phục dịch hầu hạ, và lương bổng gấp đôi, gấp ba so
với lúc làm việc ở kinh đô!
Tháng mười, Nguyễn Văn Tường được về quê, trước khi lại vào kinh đô dự ḱ
thi hội. Trên đường ra Quảng Trị, qua chuyện tṛ với những người cùng đi,
anh mới biết, từ tháng tám năm Tân Hợi (1851) sang năm, làng Diên Sanh sẽ
được chọn để dời đặt lị sở cho huyện Hải Lăng (21).
Hôm ấy, qua Diên Sanh, mặc dù khá nóng ḷng về thăm nhà, nhưng cũng
rất mệt mỏi, cống sĩ Nguyễn Văn Tường tách khỏi đám bộ hành, ghé lại nhà
Hoàng Văn Giảng (22), được dân làng gọi là ông cống, cống sĩ tân khoa từ
khoá Đinh mùi (1847). Ở đấy, không những gặp Giảng, anh c̣n gặp cả Trần
Xuân Hoà (23). Cả hai đang chuẩn bị đi nhận nhiệm sở. Hoà vào
Nam, sẽ lănh ngay
chức tri phủ Định Tường, kiêm lí vài huyện. Giảng ra Bắc, lănh tri huyện
Tiến Lữ ở tỉnh Lạng Sơn.
Trần Xuân Hoà là con trai của cố bố chính sứ Trần Tuyên ở tận tỉnh
Vĩnh Long, bị giặc mai phục, chết trận, rất được vua Thiệu Trị khen ngợi.
Hoà được bổ ngay tri phủ cũng nhờ công lao của cha. Hoà vẫn nói giọng Nam
Bộ đặc sệt, chụp lấy tay Tường:
- Tù đày sao
mậy? Tưởng tiều tụy, nhưng hoá ra trông c̣n bảnh chán! Ta
đi từ làng lên đây, ngang qua làng Kim Long (Kim Lung) ở Hải Quế, mua được
ṿ rượu đầu ṿi, say đằm mà bốc, ngon nhất nước! – Anh cười ha hả –. Gặp
Tường ở đây, không nhậu làm sao được, phải
hông
Giảng? Giảng, kiếm con gà con qué ǵ nhậu chơi
mậy!
Mừng thằng Tường ở tù ở đày đă được
dề!
Tường cảm động cầm tay bạn, nh́n gương mặt với những nét vừa gân
guốc vừa thông minh của Hoà:
- B́nh thường! So với cày cuốc ở nhà, xem ra bị đày cũng không cực
lắm! Tội đồ sơ sơ, vừa chiếu lệ, lại vừa không phải lệ, rứa thôi! Thật ra,
cũng oan cho ḿnh, nhưng cái tính bướng thành ra đành phải “bụng làm dạ
chịu”! – Tường cười –. Thôi, hết nợ oan gia rồi! Đừng nhắc nữa! – Tường
hỏi Hoà –. Sắp vào
Nam nhận chức?
Răng chừ lên đường?
- Cụ thượng, cụ tổng Nguyễn Đức Hoạt (24) nghe đâu mới mất! – Giảng
nói –. Thi hài mới từ Định Tường, Biên Hoà, chở thuyền ra! Cũng tiếc cho
làng An Thơ, huyện Hải Lăng ḿnh! Nếu cụ c̣n sống, Hoà sẽ nhậm chức dưới
trướng của cụ. – Hoàng Văn Giảng vẫn giữ cốt cách nhà nho, vận khăn đóng
áo the dài tiếp bạn, nh́n Tường và Hoà, giọng từ tốn –. Ở quê ḿnh có món
ḷng sả, đặc sản. Uống chút rượu, nhấm gà bóp, rồi chén ḷng sả sau. Đồng
ư?
Lát sau, khi ba người bạn mắc áo dài khăn đóng lên hai chiếc gạc nai
với nguyên đầu nai c̣n lông đă khô, được gắn lên vách gỗ, mỗi người chỉ
c̣n vận bộ áo quần trắng, vạt áo cài khuy nút thắt một bên, ngồi trên hai
chiếc trường kỉ chạm trổ tinh vi đặt ở căn giữa, trước gian đặt bàn thờ
buông sáo trúc. Đứa cháu gái bưng lên một khay chén trà ngan ngát hương
lài.
Lát sau, cháu gái lại bưng rượu thịt lên.
Tiệc rượu đă nồng. Câu chuyện đẩy đưa thế nào, lại nhắc đến Lê Đ́nh
Dao, Vũ Tử Văn, tháng ba Tân hợi (1851) sang năm sẽ cùng họ dự ḱ thi hội.
- Ḿnh và Vơ Văn Thọ, tức là Vũ Tử Văn đó, sau khi học chữ ở nhà với
cha ḿnh, lại học với cha Dao. Bọn ḿnh vốn là học tṛ cụ thân sinh của Lê
Đ́nh Dao. Cụ thầy Lê Đ́nh Khuê ấy đúng là túc nho, không hiểu có bị trù
dập ǵ không, thi cử cứ bị đánh hỏng măi, không đỗ được cái tú tài! –
Nguyễn Văn Tường nói –.
- Ḿnh biết cụ Lê! Chả là có một lần thời trai trẻ, cụ cho
Tây
Sơn có công thống nhất Đàng Trong, Đàng Ngoài.
Cụ biện luận: Nếu không có Tây Sơn, Đất nước cứ hai
Đàng măi, chinh chiến măi. Phải có Tây Sơn như thế, Đất nước mới yên, mới
nhất thống một mối. – Hoàng Văn Giảng đặt chén rượu gạo Kim Long xuống –.
Do đó, cụ cho là theo lẽ biến dịch, nên không gọi Tây Sơn là
ngụy, c̣n bọn nào xuyên tạc Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn
Huệ (25) vốn là đạo ḍng,
“dữu dân”, tức là cỏ trong lúa, th́ đúng là láo toét (26). Chỉ chừng đó mà khốn một
đời.
- Nhưng cụ thanh thản lắm! Đúng như triết lí
tam vô,
vô công, vô danh, vô vi, của
Đạo đức kinh
– Nguyễn Văn Tường gật đầu –. Thật ra,
nhập thế
mới là
đại đạo…
- “Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hăn thanh”!
Trần Xuân Hoà mỉm cười, sau khi ngâm lớn hai câu thơ của Văn Thiên
Tường (27). Anh lại dịch ra chữ Nôm:
- Người đời sau trước ai không chết
Lưu lại ḷng son sáng sử xanh!
Hoà lại nói:
- Ḿnh hoàn toàn đồng ư với Tường! Phải
nhập thế mới đúng
đạo
làm người,
đó là cái lẽ đạo lớn nhất!
- Khi hồi ḿnh nói chưa hết ư. Ḿnh có bàn về tam vô của Lăo Tử!…
Nhưng dạy học như cụ Lê Đ́nh Khuê, theo ḿnh, cũng tích cực lắm. Đào tạo
bao nhiêu là môn sinh! Học tṛ đỗ đạt có cả hàng trăm. – Nguyễn Văn Tường
lại nói –. Cụ thầy trước sau vẫn là nhà nho thôi!… Tất nhiên, có nhiều
cách nhập thế, cách nào là tích cực nhất, vậy thôi. Lập đức? Lập công? Lập
ngôn? Và nhiều h́nh thức, dạng thể trong một cách! Với bọn sĩ phu chúng
ḿnh, đại đạo đúng là như vậy, như Hoà vừa ngâm nga.
Trần Xuân Hoà đắc ư, lại một lần nữa ngâm sang sảng:
- “Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hăn thanh”!
Ba người bạn hào hứng, vẫn nhẹ nhàng, từ tốn, quanh mâm rượu cho đến
khuya.
Ánh trăng tháng mười ở làng Diên Sanh này đang ngời sáng trước sân
nhà Giảng.
Tháng ba năm sau, năm Tự Đức thứ tư (1851), Nguyễn Văn Tường dự ḱ
thi hội trong hoàn cảnh bị tội đồ “nhắc nhở lại” vừa mới măn hạn như thế,
với tâm trạng không buồn rầu, nhưng không thể không ê ẩm, mỏi mệt. Khoa
ấy, Lê Đ́nh Dao và Vũ Tử Văn đều đỗ phó bảng. Dao lại đứng đầu bảng phụ ấy
(28). Nguyễn Văn Tường, bạn bè anh đều hiểu rằng, tư tưởng của anh ít
nhiều vượt lên những hạn chế của lối ṃn “quan
phương, chính thống”,
nên quan trường khó ḷng để đỗ cao, nhưng cũng khó bề đánh rớt. Dẫu sao, họ
vẫn phải để Nguyễn Văn Tường ở mức đủ phân số điểm để được bổ nhiệm làm
huấn đạo (29).
Nguyễn Văn Tường nhận chức học quan ở huyện Mộ Đức, Quảng Ngăi, coi
sóc việc học hành cho sĩ tử trong một huyện. Huyện Mộ Đức mới vừa giảm
biên chế tri huyện, huyện phải thống thuộc vào phủ Tư Nghĩa. Thầy giáo
Nguyễn Văn Tường ở hẳn trong trường học của huyện, tại xă Vạn Phúc (30).
Làm thầy giáo, nhưng Nguyễn Văn Tường vẫn thăm mạch, viết phái thuốc cho
bà con láng giềng quanh đó.
Lại năm sau nữa, Tự Đức năm thứ năm, Nhâm tí (1852), trường B́nh
Định bắt đầu được thành lập và mở khoa thi, với sĩ tử tỉnh nhà cùng hai
tỉnh Quảng Ngăi, Phú Yên (31). Học tṛ huyện Mộ Đức của huấn đạo Nguyễn
Văn Tường có một người thi đỗ tứ trường hương khoa: Phan Văn Điển, người
xă An Thổ, Mộ Đức (32). Khoa sau, Ất măo (1855), Tự Đức năm thứ tám, lúc
huấn đạo Tường đă về lại Quảng Trị, một học tṛ khác của thầy là Nguyễn
Hữu Tạo (làng An Đại), đỗ cử nhân (33).
Năm Nhâm tí (1852) đó, triều đ́nh lại định lệ xét bổ cho học quan
tham dự chính quyền. Học quan như thầy huấn đạo Tường sau ba năm giảng tập
cho học tṛ, sẽ được quan đốc học xét hạch, để đủ điều kiện được Bộ Lại bổ
nhiệm làm tri châu, tri huyện (34).
Cũng năm Nhâm tí (1852) ấy, giặc Tam Đường, một loại giặc Tàu
“khách”,
thứ khách không mời, ở biên giới phía bắc mới được đánh tan, vỗ yên, phải
chia ghép chỗ ở cho chúng (35). Đất nước không yên!
Năm Tự Đức thứ sáu, Quư sửu (1853), triều đ́nh đổi
tỉnh Quảng Trị thành
đạo Quảng Trị, trực thuộc vào Phủ Thừa Thiên, trở thành
một phần đất của kinh sư (kinh đô). Phủ doăn kinh sư Vũ Trọng B́nh kiêm
lănh. Tuần phủ của hai tỉnh ghép Trị – B́nh nguyên là Phạm Khôi, ông quan
họ Phạm này vào kinh làm hữu tham tri Bộ Lễ (36). Cũng dịp đó, triều đ́nh
đồng thời cho giải thể phủ Cam Lộ, vốn kiêm nhiếp cả huyện Thành Hoá thưa
thớt, ít ỏi dân cư. Huyện Hướng Hoá cách đây ba năm đă thành huyện Thành
Hoá, rồi lại được sáp nhập thêm một số châu, xă của các huyện lân cận khác
để mở rộng địa bàn. Nay Thành Hoá đă là một huyện ngang tầm với các huyện
khác trong địa hạt kinh đô. Tháng sáu năm Quư sửu ấy, thầy thuốc, thầy
giáo Nguyễn Văn Tường nhận sắc chỉ do Bộ Lại sao lục gửi vào, chuẩn bị về
lại Quảng Trị quê nhà, giữ chức tri huyện ở vùng đất xung yếu ấy, vùng đất
mà không một ân chiếu nào không nhắc đến, với một sự ban ơn đặc biệt của
triều đ́nh cho nhân dân ở đấy, nhất là đồng bào thiểu số. Nguyễn Văn Tường
hiểu rằng
anh được nhà vua tin cậy, tin vào sức bền chịu đựng, vượt lên gian khổ, thử thách nơi anh. Hướng Hoá – Cam Lộ, nơi thuở ấu
thơ cùng gia đ́nh cha mẹ có dăm năm gắn bó, mưu sinh, nên cũng có thể nói
anh là
người thổ trước (người địa phương)
ở đấy, hoặc ít ra, cũng là người đă có kỉ niệm thân thương
bám chặt (trước) với vùng
đất
(thổ)
đó (37). Nay Nguyễn Văn Tường với chức trách quan tri huyện đầu tiên của Thành Hoá,
tuổi tṛn ba mươi, lại trở về chốn cũ, vào một ngày tháng chín nguyệt
lịch, một ngày cuối thu.
Ở Thành Hoá, một vùng núi non hùng vĩ, hiểm trở, có nhiều buôn làng
nhân tộc đồng bào ít người, ngoài việc chu tất với nỗ lực trong nhiệm vụ
của một huyện lệnh, nhiều lần được vua Tự Đức khen thưởng, thăng cấp, anh
vẫn là một lương y, một thầy thuốc tốt. Như một niềm đam mê, y học với tri
huyện Nguyễn Văn Tường, từ năm mười chín tuổi, đến lúc này, vẫn là tâm
nguyện
“hành đạo trợ dân”.
Ấy vốn là ư thức nhập môn của nho sĩ, nhưng ở Nguyễn Văn Tường, đó c̣n là
một thôi thúc nội tâm.
Viết
đến ḍng chữ này lúc 16 giờ kém 03 phút,
ngày
22.08.2002
(14.07 Nhâm ngọ, năm thứ 2 công nguyên Hoà B́nh [HB.2]).
TRẦN XUÂN AN
(1)
Quốc sử quán
triều Nguyễn,
Đại Nam thực lục, chính biên
(ĐNTL.CB.), bản dịch Viện Sử học,
tập 26, Nxb. KHXH., 1972, tr. 253 – 258. Xem thêm: Trần Trọng kim,
Việt nam sử lược
(VNSL.), bản 1964, Nxb. Tân Việt, tr. 468 – 469; Yoshiharu Tsuboi,
Nước
Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (NĐNĐDVP. & TH.), UB.KHXH. TU.
Tp. HCM. xb., 1993, tr. 93 – 99.
(2)
ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 32 – 33.
(3)
Quốc sử quán
triều Nguyễn,
Đại Nam nhất thống chí
(ĐNNTC.), bản dịch Phạm Trọng Điềm, hiệu đính: Đào Duy Anh, tập 1, Nxb.
Thuận Hoá, 1992, tr. 149.
(4)
ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 39 – 40.
(5)
ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 117.
(6)
ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 69; Quốc sử quán triều Nguyễn và Cao Xuân Dục,
Quốc triều hương khoa lục (QTHKL.), bản dịch:
Nguyễn Thuư Nga, Nguyễn Thị Lâm, hiệu đính: Cao Tự Thanh, Nxb. Tp. HCM.,
1993, tr. 155.
(7)
ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 70 – 71.
(8)
QTHKL.,
sdđ., tr. 294.
(9)
ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 88.
(10)
ĐNTL.CB., tập 27, sđd., 1973, tr. 91.
(11)
ĐNTL.CB., tập 27, sđd., 1973, tr. 111 – 112, tr.
423.
(12)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học,
tập 2, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 476 – 477; NĐNĐDVP. & TT., sđd., tr. 58 –
61. Nhân đây, xin tŕnh bày cách phiên âm tiếng các nước Âu Mỹ: Nếu Quốc
sử quán triều Nguyễn đă phiên âm và chúng ta quen dùng, tôi vẫn giữ nguyên
để
tiện việc tra cứu, đối chiếu với ĐNTL.CB. và ĐNLT., nhưng có chua thêm tiếng Pháp
hoặc tiếng Anh, chẳng hạn như Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine), Gia Tô
(Catholisme), Mỹ Lợi Kiên (US. America)… ; nếu gặp trường hợp phiên âm
theo một trong các cách hiện nay và cũng đă quen dùng, mà cách được đa số
chấp nhận là có dấu ngang nối tách âm, tôi cũng theo cách như thế, ví dụ
như Na-za-rét (hoặc Na-gia-rét, theo Kinh thánh), Lê-nin (Lénine),
Ăng-ghen (Engels), I-rắc (Iraq); có khi lại để nguyên tiếng Âu Mỹ, đơn cử
như Pierre Tạ Văn Phụng thay v́ Phê Rô Tạ Văn Phụng… Tuy nhiên, cũng tuỳ
văn cảnh, nhất là tuỳ ngôn ngữ nhân vật thế kỉ XIX, tôi linh hoạt về cách
phiên âm; hoặc tên các nhân vật chưa hề được nhắc đến dưới dạng phiên âm
(chỉ thấy trong sách nước ngoài hoặc sách xuất bản tại nước ta ở Miền Nam
trước 1975 hay từ sau
Đổi mới),
tôi để nguyên tiếng nước ngoài, chẳng hạn: Charles Duval… Ngoài ra, đối
với trường hợp người Pháp có thêm tên tiếng Việt, tôi chua thêm tên tiếng
bản ngữ của họ, như cố đạo Trường (Legrand de la
Liraye)… Nói chung, cho dù cách nào đi nữa, cũng cố gắng chua thêm
để tiện tra cứu.
(13)
NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 52.
(14)
ĐNTL.CB., tập 1, bộ sđd., tr. 154; tập 17, tr. 243;
tập 26, tr. 276, 385.
(15)
ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 312 – 313.
(16)
Trần Quang Chu,
Hành hương La Vang (HHLV.), tập 1, tác giả tự in vi tính, 1999, tr. 5 –
122.
(17)
ĐNTL.CB., tập 27, sđd., 1973, tr. 185.
(18)
ĐNTL.CB., tập 27, sđd., 1973, tr. 186 – 187.
(19)
QTHKL., sđd., tr. 219 – 310.
(20)
QTHKL., sđd., tr. 297.
(21)
ĐNTL.CB., tập 27, sđd., 1973, tr. 300.
(22)
ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 416.
(23)
ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 399.
(24)
ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 26 – 27.
(25)
ĐNLT., tập 2, sđd., tr. 491 – 540.
(26)
HHLV., tập 1, sđd., tr. 35.
(27)
Viện Văn học,
Từ điển văn học (TĐVH.), tập 2, Nxb. KHXH., 1984, tr. 530: Văn Thiên Tường
(1236 – 1282).
(28)
Cao Xuân Dục (biên tập viên),
Quốc triều đăng khoa lục (QTĐKL.), bản dịch:
Trúc viên Lê Mạnh Liêu, TTHL. Bộ VHGD. & TN. xb., Sài G̣n, 1961, bản in
1971, tr. 118.
(29)
ĐNTL.CB., tập 29, sđd., 1974, tr. 327.
(30)
ĐNNTC., tập 2, sđd., tr. 403 – 404, tr. 409.
(31)
QTHKL., sđd., tr. 311.
(32)
ĐNTL.CB., tập 24, sđd., 1971, tr. 48; QTHKL., sđd.,
tr. 320.
(33)
ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 239; QTHKL.,
sđd., tr. 334.
(34)
ĐNTL.CB., tập 27, sđd., 1973, tr. 333 – 362.
(35)
ĐNTL.CB., tập 27, sđd., 1973, tr. 364, tr. 389 –
390.
(36)
ĐNTL.CB., tập 27, sđd., 1973, tr. 396, tr. 398.
(37)
Nguyên quán lâu đời của ḍng họ Nguyễn Văn Tường là
Nghệ – Tĩnh, Thanh Hóa.
Hết
truyện kí thứ hai
XIN XEM TIẾP TỆP 4
Truyện kí thứ ba