TỆP 4
Truyện kí thứ ba
(phân đoạn 1, c̣n tiếp)
(từ tr. 68 đến tr. 84)
PHẦN THỨ HAI
(1853 – 1866)
TRẦN XUÂN AN
CHÍN NĂM, MỘT HUYỆN MIỀN NÚI
Truyện kí thứ ba
(phân đoạn 1)
1
Quan tri huyện Nguyễn Văn Tường cho chú ngựa xích thố đi nước kiệu.
Song song với ông là viên phó quản cơ Định biên. Phía sau, viên thông
lại tuỳ tùng. Cả hai cũng lỏng tay cương. Hai con ngựa thong thả soải vó
cùng xích thố, một sắc lông nâu sẫm, và một kia, màu đen hơi ửng nâu. Họ
đang quan sát cảnh núi rừng trùng trùng, điệp điệp, xanh ngắt và bảng
lảng mây sương.
Quan huyện gh́m cương, chỉ tay về hướng đông, nơi có thể phác hoạ
ra con đường ṃn vắt qua các lưng núi:
- Có lẽ phải chọn nơi đó thôi. Nếu mở được con đường thứ hai,
thành huyện ở Động Ngang sẽ thoát khỏi thế cô lập. Phải làm hết sức để
tránh bị chặn bít lối độc đạo.
- Dạ, bẩm, như rứa th́ bao giờ khởi công ạ? – Phó quản cơ Định
biên Nguyễn Bằng hỏi –.
- Cho ta xem lại bản sơ đồ! – Nguyễn Văn Tường xuống ngựa, buộc
cương vào một thân cây ven lối đi –. Nhưng… Cũng phải nói với nhau thêm
một lần nữa thế này, quan phó quản cơ làm ta áy náy quá. Mặc dù quan phó
quản cơ trẻ hơn ta hai tuổi, phẩm hàm c̣n thấp, chỉ lục phẩm, nhưng có
tài năng, lại được tạm chức khá cao. Rứa mà cứ một
bẩm, hai
thưa,
ba
dạ,
khiến ta thật khó xử! Cứ việc ứng xử
với nhau theo chức vụ, có được
không? Chức phó quản cơ, b́nh thường phải là ṭng tứ phẩm vơ giai! Cũng
to lắm, không đùa đâu. Ta chỉ mới tri huyện, chánh ngũ phẩm văn giai.
- Vâng… Bản triều vốn đặt chức vụ với phẩm hàm trong sự tương xứng,
nhưng vẫn có trường hợp đặc cách, cho mượn hàm, tạm chức. Hơn nữa, vài
năm nay, hơi yên, nên triều đ́nh rút bớt quân phiên chế của cơ Định biên.
Do đó, tôi mới được lạm dự vào chức vụ này. Thật ra, lục phẩm cũng đă là
được ơn, quá lạm rồi. Dám đâu ngông nghênh với quan huyện… – Nguyễn Bằng
khiêm tốn và chân thành đáp –.
Viên thông lại Nguyễn Công Đạo cũng đă lập tức xuống ngựa, lấy
trong đăy vải sau lưng ra một ống tre sơn đỏ, rút ra một cuộn giấy trong
ống tre ấy, trao cho tri huyện với lời bẩm đúng phép. Khi quan huyện
Nguyễn Văn Tường mở tấm bản đồ ra, đặt trên phiến đá nóng bỏng nắng,
Nguyễn Bằng và Nguyễn Công Đạo cũng đứng bên cạnh, tay giữ góc tấm giấy.
Cả ba vừa nh́n thực địa, vừa nh́n lại bản sơ đồ họ đă vẽ.
Nắng buổi sáng đă lên khá cao, mồ hôi đă ŕn rịn trên lưng ngựa,
nhưng sương vẫn c̣n vấn vít quanh những quả đồi, trái núi trước tầm mắt
họ. Bàn bạc một lúc, quan huyện cho cuốn bản đồ lại, ông nói:
- Phải ra sức thôi. Bản đồ này ta đă đệ tŕnh lên đức vua kèm với
tập tâu. Cụ thượng thư Bộ Binh Trương Đăng Quế đang nghiên cứu.
- Bẩm, đúng là phải phá thế cô lập và độc đạo. – Nguyễn Bằng, với
con mắt, cách suy nghĩ của vơ quan, hết sức tán thành –. T́nh h́nh ngày
càng căng thẳng, không thể không lo pḥng thủ địa bàn xung yếu này, như
quan huyện thường lo nghĩ.
- Ta đă bảo, Cam Lộ, Hướng Hoá này chính là cái gáy của kinh đô.
Nhưng ta chưa hỏi quan phó quản cơ, phía gáy có huyệt nào làm bế tắc hết
toàn bộ kinh mạch của cơ thể? – Quan huyện Tường nói với giọng suy tư –.
Đức vua và đ́nh thần rất tin cậy ở chúng ta, giao cho chúng ta quản
nhiệm huyện Thành Hoá này, nên làm sao không lo nghĩ đến
sinh điểm, cũng gọi là
tử điểm hay
tử huyệt (huyệt đạo có thể gây tử vong) đó! Đúng như quan phó
quản nói, t́nh h́nh rất căng thẳng! Đối phó với nội phản “tả đạo”, quan
lớn Vương Hữu Quang phải tâu xin sáu điều xử trị đạo Gia Tô (1). Vụ biến
loạn Hồng Bảo ở kinh đô, cũng có tay bọn
Tây
dương, “tả đạo”, chưa kể c̣n có thêm bọn phỉ ở Cao Miên giúp sức nữa
(2)! Do đó, tháng bảy nhuận năm Giáp dần (1854), triều đ́nh lại thông tư
khắp các tỉnh huyện thêm một bản dụ cấm đạo Chúa (3)! Lại thêm ở Bắc Ḱ,
Cao Bá Quát khởi nghịch, tôn phù hậu duệ nhà Lê (4)! Bắc Ḱ, ở ngoài đó,
“tả đạo” như ong! Không có nơi nào “tả đạo” đông đúc và làm loạn dữ dội
như ở Đàng Ngoài, nhất là Bắc Ḱ! Cụ thượng Phan Thanh Giản cũng thường
hay nói thế (5)! Cho nên, hơn bao giờ hết, cửa biển Thuận An, cửa rừng
Thành Hoá được tăng cường pḥng thủ đến tối đa. Cái trán và cái gáy của
bộ năo trung ương! – Quan huyện Nguyễn Văn Tường nh́n xa xăm, tâm trí
ch́m vào suy nghĩ –.
Thật ḷng, quan huyện rất băn khoăn, thao thức về những vụ khởi
loạn ở Bắc Ḱ. Ai cũng biết, ngoài đó là đất của vua Lê, kinh thành
Thăng Long đă từ lâu trở thành niềm hoài niệm, tiếc nuối của một phân số
không nhỏ sĩ dân Bắc Hà. Nhưng hầu như dư âm, vang bóng nhà Lê chỉ là
cái cớ. Nhà Lê, một triều đại ngót hai trăm rưỡi năm (1556 – 1789) trung
hưng chỉ là bù nh́n trong tay
ngụy chúa họ Trịnh!
Nếu thật tâm
hoài Lê, sao sĩ dân Bắc Ḱ
không nổi dậy đánh đổ họ Trịnh, để phục hồi quyền lực thực sự cho vương
triều do Lê Thái Tổ sáng nghiệp trong sự nghiệp vĩ đại đánh đuổi giặc
Minh phương Bắc, giành độc lập cho Tổ quốc? Không, sĩ dân Bắc Ḱ thật
tâm không
hoài Lê!
Mặc dù họ thừa biết chúa Trịnh chỉ mượn danh phù Lê để thâu tóm hết quyền hành vào phủ
chúa, họ vẫn dửng dưng! Có lẽ sĩ dân Bắc Ḱ thây mặc các triều vua,
triều chúa, họ chỉ muốn kinh đô măi măi là Thăng Long chứ không phải
tỉnh Hà Nội, và sĩ dân Bắc Hà măi măi được trọng dụng, không bị phân
biệt đối xử! Quan huyện Nguyễn Văn Tường c̣n thừa hiểu sự xung đột ngấm
ngầm giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài sau hai trăm năm chia cắt. Ông lặng
lẽ suy nghĩ, không muốn chia sẻ với ai điều này. Ông chua chát mỉm cười,
tự bảo:
“Tả
đạo”, hoài Lê không phải là nỗi niềm tôn giáo, trung
quân chân chính, đích thực, cũng không phải là hậu quả do sự áp bức của
triều Nguyễn, đặt cán cân sưu cao thuế nặng dồn hẳn về phía Bắc Ḱ!
Có phải như vậy không? Quan huyện Nguyễn Văn Tường nhớ măi câu nói của
tiên đế Gia Long khi ban lời cho nhà thơ Nguyễn Du:
“Nhà nước dùng người, chỉ cần người hiền, vốn không phân biệt Nam, Bắc; ngươi cùng với
Ngô Vỵ đă được đối đăi hậu, làm quan đến á khanh, nên [điều] biết th́
phải nói, để hết chức phận, há nên do dự rụt rè, chỉ cốt dạ vâng làm ǵ”(6).
Nhưng Nguyễn Du vốn mặc cảm bất
trung với nhà Lê, lại kiêu ngạo, tự phụ về tài thơ mặc dù mới đỗ tam
trường (tú tài). Phải chăng bên trong thâm tâm là vậy, tuy bề ngoài tỏ
vẻ kính cẩn, sợ hăi không nói được nên lời? Thi hào ấy luôn luôn u uất,
bất đắc chí, cho dù được phong đến Cần Chánh điện đại học sĩ! Ồ,… Tể
tướng (tham tụng) Nguyễn Khản (7), anh ruột Nguyễn Du, thờ vua Lê hay
thờ chúa Trịnh? Nguyễn Du hoài Lê hay hoài Trịnh?… Có phải như vậy không?
Và cử nhân Phan Huy Vịnh, mới đây, làm quan triều Nguyễn đến chức gần
tột bậc, tham tri! Phan Huy Chú không đỗ đạt ǵ, vẫn được gọi bổ nhiệm
(8). Như thế là thế nào? Sao cử nhân Cao Bá Quát lại thế? Có phải như
vậy không? Cao Bá Quát đă phạm tội dùng muội đèn chữa bài cho sĩ tử,
phải án chém, lại được xét tha. Sao lại khởi nghịch? Bất măn v́ tài cao
phận thấp (9)? Nguyễn Văn Tường hiểu rằng có những cuộc nổi dậy được sử
gia ca ngợi, nhưng cũng có cuộc khởi binh bị các nhà sử luận lên án.
Liệu giai đoạn lịch sử này có yêu cầu phải nổi dậy như thế với chiêu bài
hoài Lê, phù Lê? Hai câu
“B́nh Dương, Bồ Bản vô Nghiêu,
Thuấn
Mục Dă, Minh Điều hữu Vũ, Thang”
B́nh Dương, Bồ
Bản không Nghiêu, Thuấn
Mục Dă, Minh
Điều, có Vơ, Thang
trên ngọn cờ
phù Lê của Cao Bá Quát, liệu
có tự mỉa mai không? Tại sao không đánh đổ chúa Trịnh ức hiếp vua Lê đến
ngót hai trăm rưỡi năm, bè lũ đă biến vua Lê thành con sâu xanh trong tổ
ṭ ṿ? Cao Bá Quát sinh ra đời muộn đến năm, bảy mươi năm ư?
- H́nh như có tiếng vó ngựa!
Viên thông lại Nguyễn Công Đạo hốt nhiên nói, tay nắm vào chuôi
gươm, khiến chuỗi suy tưởng của quan tri huyện trong cái nh́n xa xăm
phải bất giác ngừng lại.
- Ta thuộc tiếng vó của từng con ngựa! Yên tâm. Không phải ngựa
của bọn phỉ Lào và phỉ Xiêm đâu, cũng không phải ngựa của bọn Hồng Mao (Anh-cát-lợi)
Tây dương! Tiếng vó ngựa nhà đấy! – Phó quản cơ Nguyễn Bằng ung dung mỉm
cười –.
Quả thật, từ phía tây, nơi thành luỹ của huyện, trên con đường ṃn
độc đạo, một bóng ngựa đang phi nước đại về hướng ba người. Khi nhận rơ,
đó là một người lính định biên thuộc huyện, quan huyện cười sảng khoái.
Ông nói lớn:
- Quan phó quản đúng là nhà vơ ṇi! Ta thật ḷng cảm phục! Nghe
tiếng đàn, tiếng thơ đến mức vi diệu là hiếm, c̣n quan phó quản nghe
tiếng vó ngựa đến mức tinh tường siêu việt như vậy quả là độc nhất vô
nhị!
- Quan huyện quá khen! Xin đa tạ. – Phó quản Nguyễn Bằng đan tay
xá –.
Viên lính định biên vội nhảy xuống ngựa, thi lễ và bẩm báo:
- Thưa, quan huyện có khách. H́nh như người trong kinh đô Huế…
- Ai đến t́m ta ở chốn sơn lam chướng khí này?
- Bẩm, tiểu tốt không được cho biết danh tính…
- Lần sau, nhớ gặn hỏi cho ra danh tính, mới bẩm báo nghe!
Bốn người lên ngựa, phi về thành huyện, trong cái nắng tháng chín
chói rực, lúc gần giờ ngọ. Dọc đường, bầy khỉ chạy ra khọt khẹt chơi đùa,
nhác thấy bóng ngựa, chúng vụt biến vào rừng rậm.
Thành huyện Thành Hoá đóng ở xứ Động Ngang. Thành bằng đất, đắp
cao đến sáu thước năm tấc ta, dày một trượng, chu vi một trăm ba mươi
tám (138) trượng lẻ. Hào bốn xung quanh rộng một trượng, sâu năm thước
ta. Thành có ba cửa, mở ra ba phía (10). Phi ngựa từ đằng xa, nom thấy
thành luỹ cũng đầy vẻ uy nghiêm. Bốn người đang cho ngựa chạy nước đại,
theo con đường dẫn về Động Ngang.
Họ về đến thành huyện, cho ngựa phi lên cầu dài hơn một trượng bắc qua
hào, vào cửa tiền. Hai viên lính đứng hai bên, cầm giáo sáng quắc, lưng
gần sát với cửa thành được xây bằng gạch đá, thoắt ở trong tư thế nghiêm
chào.
Trao dây cương ngựa cho người lính phụ trách, quan tri huyện
Nguyễn Văn Tường bước lên tam cấp, vào tiền sảnh của công đường. Lát sau,
người khách được đưa vào gặp ông. Hoá ra, thật không ngờ, “người từ kinh
đô ra” lại là Trần Đ́nh Túc.
- Hết sức ngạc nhiên, cũng rất ư chi là vui mừng! Xin chào quan
quản đạo Phú Yên! – Quan huyện Tường cười rất tươi –.
- Xin chào! Thôi, đừng bày ra sự khách khí nữa! Chúng ta vẫn như
ngày nào, thuở c̣n học hành thi cử. – Sau khi đan tay chào, quan nguyên
quản đạo Trần Đ́nh Túc mỉm cười nói –.
Ông ngồi xuống trường kỉ, đặt ngay giữa tiền sảnh, ở phía trước án
thư và cách án thư một khoảng rộng.
Nguyễn Văn Tường ngồi đối diện với bạn. Ông thấy người bạn lớn hơn
ông đến mười sáu tuổi vẫn như cách đây mười ba năm, tuy có già dặn hơn
xưa, tóc đă chớm bạc. Tính từ ḱ thi hương năm ông mười tám tuổi, bị tội
đồ v́ tên trùng với quốc tính không chịu đổi, cũng là ḱ hương khoa Túc
đỗ hương tiến (cử nhân), đến nay cũng ngót ngét mười ba năm rồi c̣n ǵ!
Trần Đ́nh Túc đă trải qua tri huyện Bất Bạt, tận ngoài Sơn Tây, lại
thăng chủ sự Bộ Hộ, rồi được bổ tri phủ Vĩnh Tường cũng ngoài Bắc, tiếp
đến về kinh làm viên ngoại lang Bộ Binh, trước khi đảm nhiệm chức thự
quản đạo Phú Yên (11)! Trần Đ́nh Túc cũng đă bốn mươi bảy tuổi!
- Nghe tin ông anh xin về quê một thời gian để phụng dưỡng cha mẹ
già yếu, cho trọn chữ hiếu, nhưng ḿnh không biết cách nào để rời khỏi
chốn này mà khỏi bị trách cứ. Cách đây bốn, năm tháng, khi đưa một số
dân dinh về giúp cho huyện Triệu Phong đào sông từ làng Vệ Nghĩa đến
làng Đại Hào (12), ḿnh định quay ra Hà Trung, Do Linh thăm hai cụ và
ông anh, nhưng rồi vẫn không đi được. Thật đáng trách! Nay đang t́m dịp,
thế nào cũng phải ra Hà Trung, lại may mắn được ông anh trèo núi vượt
non lên thăm!
- Đường sá không đến nỗi chi, cũng không mệt nhọc ǵ! Lại may là
nhà có ngựa, cũng rủ vài đứa gia nhân cùng đi. Trước là đi thăm, sau nữa
cũng đi cho biết.
Hai người bạn ngồi chuyện tṛ, nhắc lại chuyện cũ học tṛ, và
không thể không bày tỏ những suy tư về thời cuộc.
- Bây chừ, phủ doăn Thừa Thiên kiêm Quảng Trị ḿnh là Nguyễn Văn
Phong, c̣n Vũ Trọng B́nh đă ra Bắc, lănh tuần phủ Hưng Yên (13)! Ông anh
có biết tin ǵ ở Hưng Yên không?
- Vũ Trọng B́nh mới được thưởng v́ dẹp được tàn quân Lê Duy Cự.
Hậu duệ nhà Lê này bị án chém từ tháng tư năm Ất măo (1855) năm ngoái
(14). Cao Bá Quát khởi nghịch vào tháng tám, sau bốn tháng, cũng đă chết
từ cuối mùa đông Giáp dần (1854) năm kia (15)!
- Tin đó triều đ́nh cho thông tư khắp nước! – Quan huyện Tường vừa
căm giận vừa luyến tiếc –. Thật uổng cho một nhà thơ có tài, nhưng hành
xử kiêu căng và chỉ gây rối việc thêm cho Đất nước! Đất nước đang đương
đầu với “tả đạo” Tây dương, nội phản, lại chuẩn bị đối phó với thực dân
Phú Lăng Sa (France), Y Pha Nho (Espagnol), Hồng Mao (Anh Cát Lợi,
England), Mỹ Lợi Kiên (US.
America)…
Những kẻ như Cao Bá Quát chỉ gián tiếp làm lợi cho bọn Tây dương xâm
lược!
- Ồ, c̣n bọn thổ phỉ Tàu, hải tặc Tàu! Bọn
giặc khách ấy ghê gớm lắm! Chú
chưa ra Bắc, nên chưa rơ đó thôi! Bọn “tả đạo” cũng như ong, như rươi!
“Tả đạo” ở Quảng Trị ḿnh ăn thua chi! Ngó rứa nhưng các xứ theo “tả đạo”
Quảng Trị chưa hề khởi nghịch bằng vũ trang! Ở Bắc, đă bắt được mấy tên
quân sư của bọn chúng là người Tây… Hóa ra, bọn Tây nhúng tay vào cả vụ
Đinh Bảo (Hồng Bảo)! Lần gần đây nhất, chính quan kinh lược đại sứ
Nguyễn Tri Phương khám phá, bắt được thuộc hạ Đinh Bảo. Đinh Bảo tự xé
vải mùng thắt cổ nơi trại giam, Đào Trí Phú bị lăng tŕ xử tử!
- Hồi sáng nay, cùng với viên phó quản cơ Định biên và thông lại,
tôi cũng có bàn luận với nhau chuyện này! Thật là thời cuộc quá căng
thẳng! Ông anh làm quan ngoài Bắc, trong
Nam, lại có thời
gian ở kinh đô, nên rơ ràng những ǵ ta nói với nhau đây không phải tin
tức đồn đăi vô căn cứ, gây nhiễu. Tôi thấy vận nước quả là đáng âu lo!
Súng thép, tàu đồng, mưu ma, đạo quỷ… Người Việt tàn hại lẫn nhau chỉ
thêm suy yếu nội lực Đất nước…
- Tháng trước, Phú Lăng Sa lại sinh sự ở cửa biển Đà Nẵng, ném một
phong thư gọi là “xin thông thương” lên băi cát, nhưng nội dung lại de
doạ gây chiến (16). Cũng tháng chín Bính th́n (1856), Tự Đức năm thứ
chín này, Phú Lăng Sa lại đưa thư yêu sách, khiêu khích ở cửa biển Thuận
An (17)! Thật quá quắt!
- Đúng là bọn Tây dương thật quá quắt! Phong trào Thái B́nh thiên
quốc của Hồng Tú Toàn bên Tàu cũng do bọn Tây giúp súng đạn, phải rứa
không (18)? Tháng chín, cũng năm nay, sứ bộ ta đáo lệ lại sang, nhưng
tắc đường, phải hoăn. Ba, bốn năm trước, sứ bộ Phan Huy Vịnh cũng phải
kẹt đến ba năm mới về nước được. – Nguyễn Văn Tường chợt ngừng lại –.
Anh có hay tin ất phó sứ Nguyễn Hữu Huyến, con trai thứ của cụ thượng
thư, nhà lịch pháp, toán học Nguyễn Hữu Thận (người Hải Lăng), đi sứ năm
Tự Đức thứ năm (1852), khi về, đă chết v́ nghẽn đường do Thái B́nh thiên
quốc chưa (19)?
- Chú ở nơi đồn ải heo hút này lại thạo tin tức hơn cả tôi!
- Khách thương
Nam – Bắc, miền
xuôi miền ngược đâu vắng bóng ở xứ này! Cũng may là c̣n có những vị
khách kinh lịch như ông anh. Vả lại, tôi vẫn thỉnh thoảng về dinh quản
đạo, vào làm việc với phủ thần kinh sư… – Quan huyện Nguyễn Văn Tường
mỉm cười, gương mặt vẫn c̣n nét băn khoăn –. Uống trà đi ông anh, để c̣n
dùng cơm canh quê kiểng nữa chứ…
Hai người bạn bỗng lặng im nghĩ ngợi, trong khi mâm cơm đă được
hầu cận xin phép để được bưng lên. Họ chợt thấy chuyện quốc sự trong
thời điểm này không thể nào rời khỏi tâm trí.
Dẫu vậy, trong những ngày Trần Đ́nh Túc ở lại Thành Hoá này chơi,
họ đă trao cho nhau đọc những tập thơ của ḿnh, và cùng nhau ngâm vịnh.
Nguyễn Văn Tường có đến ba thi tập, sáng tác từ năm mười bảy tuổi đến
nay.
2
Trong năm Tự Đức thứ chín, Ất măo (1856), trước dịp Trần Đ́nh Túc
lên huyện Thành Hoá thăm, Nguyễn Văn Tường đă có hai lần cùng với đồng
sự được triều đ́nh khen thưởng. Lần tháng ba theo lịch mặt trăng, ông
được thưởng một thứ kỉ lục (20). Lần tháng tám, lại một thứ kỉ lục sau
khi ông đă được thăng thực thụ tri huyện (21). Nhưng niềm vui lớn nhất,
đó chính là đă cứu giúp được những con người ông thương mến.
Hôm ấy, ở công đường của huyện, một người đàn bà khóc rưng rức v́
không dám khóc lớn. Bên cạnh bà là người chồng phờ phạc và buồn khổ. Họ
đă đi t́m đứa con mới ba tuổi bị bắt cóc khắp những nơi có thể đi. Cùng
đường, họ lần ṃ lên đây, xin các quan thuộc huyện giúp đỡ. Lập tức quan
tri huyện Nguyễn Văn Tường gọi lính định biên và các thuộc cấp vào bàn
bạc.
Ở huyện Thành Hoá, có chín châu người nhân tộc thiểu số: Mường
Vang, Na Bôn (Sê Bôn), Thượng Kế, Tầm Bồn, Mường Bổng, Ba Lan, Tá Bang,
Xương Thịnh, Làng Th́n. Đó là chín châu ki mi được triều đ́nh chủ trương
cho hưởng chế độ cởi mở,
không ràng buộc chặt chẽ như người Kinh (22). Có một
khó khăn chung nhưng khó khăn ấy trở nên thậm tệ đối với các châu ấy, đó
là thiên tai dịch bệnh. Mất mùa, đói kém, dân các sách, các chiềng phải
xiêu tán, có khi phải
chạy đói, trốn con ma đói,
qua tận xứ Lào. Dịch thổ tả và các dịch bệnh khác
lây lan, họ cũng phải xiêu tán,
chạy bệnh, trốn con quỷ bệnh,
qua tận xứ Xiêm. Nhân
số cứ hao ṃn, thất lạc dần. Hai châu Mường Vang, Na Bôn đông dân nhất,
mỗi châu khoảng hai ngàn người, nhưng bị hao ṃn, xiêu tán, có thời điểm
chỉ c̣n vài chục, vài trăm! Sinh nhiều, trẻ nuôi được lại ít. Sinh suất
nhiều, tử suất ở lứa tuổi già lại cao hơn! Do đó, đồng bào nhân tộc rất
thích nuôi trẻ đă hai, ba tuổi. Có người cho trẻ, bán trẻ, họ mừng rỡ,
lập tức xin ngay hoặc mua, hoặc đổi chác liền tay bằng hiện vật.
Quan huyện Nguyễn Văn Tường cho lính và thuộc cấp xuống các châu,
không quên dặn ḍ phải t́m gặp các thổ tri châu, các già làng trước, và
vạch phương án đối phó với nạn giấu trẻ vào rừng. Chính quan huyện cũng
lên ngựa đến vài châu có khả năng mua trẻ nhất.
Sau vài ngày, quan huyện nắm rơ: Nguyễn Quyền, tên côn đồ người
Kinh đă bị bắt nhiều lần ở các huyện khác, cũng nhiều lần lọt lưới, lần
này lại tiếp tục bắt cóc trẻ con bán cho đồng bào Thượng. Y đă bị lính
định biên bắt được, đang giải về. Đứa con của hai vợ chồng người Kinh
dưới xuôi đă được t́m ra. Cả hai mừng trào nước mắt, tạ ơn các quan
huyện đến nghẹn lời.
Quan tri huyện Nguyễn Văn Tường biết ḿnh gặp phải một nỗi đau
chung. Một trận dịch quét qua, cả làng, cả huyện ở các xứ người Kinh
trắng màu vôi bột sát trùng, cũng trắng màu tang chế chết chóc. Triều
đ́nh chẳng phải đă nhiều lần ban dụ khuyến khích sinh đẻ đó sao? Chẳng
phải nơi nào sinh sôi, cư dân ngày một đông vui, quan sở tại sẽ được
trọng thưởng đó sao?
Một lần vào dịp tháng tám nguyệt lịch, phủ thần Thừa Thiên Nguyễn
Văn Phong vui mừng tâu lên đức vua Tự Đức: Huyện Thành Hoá của Nguyễn
Văn Tường, Nguyễn Bằng, Nguyễn Công Đạo đă chiêu phủ đồng bào thiểu số
xiêu tán trở về thành công. Họ phải qua tận Lào thuyết phục dân, phải tổ
chức nơi sinh sống để đón dân chạy con ma đói, trốn con quỷ bệnh trở về.
Lần này, công lao khó nhọc của thông lại Nguyễn Công Đạo là lớn nhất.
Ông được thăng thưởng thực thụ lại mục.
Và mùa xuân, tháng giêng Đinh tị (1857), năm Tự Đức thứ mười,
trong những ngày c̣n vương vấn tiết trời lành lạnh và không khí nồng ấm
của Tết Nguyên đán nơi huyện miền núi bạt ngàn hoa cỏ này, quan tri
huyện Nguyễn Văn Tường đă lặn lội cùng chàng trai người nhân tộc Lâm Ngô,
con của thổ tri châu Lâm Kiềm, thuyết phục được hai trăm bảy mươi (270)
người thiểu số Vân Kiều đói rét, xiêu tán trở về để hưởng cái Tết muộn.
Quan huyện đă chuẩn bị thịt tươi, dưa món, bánh tét, bánh chưng và dĩ
nhiên, cái không thể thiếu được, là những ché rượu cần để hâm nóng câu
chuyện, những thanh củi khô nỏ để dành cho các bếp lửa. Ông cũng đă viết
tập đệ tŕnh lên phủ doăn kinh đô Đỗ Quang theo ư nguyện của thổ tri
châu Lâm Kiềm: Lâm Kiềm đă già yếu, xin trao lại chức cho con trai là
Lâm Ngô. Phủ doăn họ Đỗ, người làng Phương Điếm, huyện Gia Lộc, ngoài
Bắc, đă thay phủ doăn trước là Nguyễn Văn Phong, cũng vui mừng thông tư:
Vua Tự Đức đă chuẩn y cho.
Trong những ngày tháng giêng vất vả, rét mướt và nồng ấm đó, viên
phó quản cơ Định biên Nguyễn Bằng, một người có giác quan quân sự bén
nhạy, luôn luôn song hành, góp sức đắc lực cho quan tri huyện. Họ được
vua Tự Đức thưởng mỗi người ba tháng lương để cùng dân hồi hương hưởng
Tết muộn (23).
Ngoài chín châu mường
ki mi, ở Thành Hoá c̣n có một số buôn làng không phải là
châu thuế dân, mà thuộc loại
châu hoặc sách cống dân.
Các châu làm nghĩa vụ thần dân là nộp thuế,
gặp khi đói rét, dịch lệ sẽ được chẩn cấp. Đó là các
châu mường.
Các
châu bạn (sách bạn)
không phải là cộng đồng thần dân, họ chỉ chịu cống lễ theo hạn định, không có nghĩa vụ ǵ,
cũng chẳng có quyền lợi ǵ. Họ được xem ở ngoài
cơi giáo hoá của triều đ́nh!
Ba tháng sau, tri huyện Nguyễn Văn Tường và phó quản cơ Nguyễn
Bằng phái thí sai tri bạ Trần Hựu đến châu bạn Ba Ngạn giáp giới đất Lào
để gặp Âm Bôn, trưởng châu, bàn bạc. Âm Bôn đồng ư thần phục triều đ́nh
và hiến một con voi dạy đă thuần, c̣n hứa sẽ tiến cống hàng năm. Ba trăm
lẻ bốn (304) người thiểu số châu Ba Ngạn đều trở thành thần dân ki mi.
Vua Tự Đức nghe tin, rất vui mừng và thưởng Âm Bôn cùng các dịch mục hàm
chức, áo quần, tiền bạc, lại chỉ thị cho quan quản đạo mời yến ẩm, đồng
thời cho giảm lệ cống, từ hằng năm xuống ba năm một lần. Kỉ niệm ấy đối
với Trần Hựu c̣n là dịp được thăng thực thụ, đối với Nguyễn Văn Tường và
Nguyễn Bằng là mỗi người hai thứ kỉ lục (24).
Hai tháng sau, vào tháng năm nguyệt lịch, chàng trai thổ tri châu
Lâm Ngô và cha lại cung tiến một thớt voi (25)!
Nguyễn Văn Tường và các đồng sự cảm thấy t́nh cảm gắn bó giữa
người Kinh, người thượng du
Vân Kiều,
Pa Kô, Tà Ôi… ngày càng
thắm thiết. Đối với tri huyện Nguyễn Văn Tường, những cánh rừng, quả núi
thâm u, ḱ bí ở Thành Hoá (Cam Lộ, Hướng Hoá, Đắc Krông…) đă thực sự
không chỉ là vùng đất của kỉ niệm thời thơ ấu, mà đích thực là quê hương
thứ hai của ông.
“Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu
Hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”
Lo toan trước
cái lo toan của nhân dân
Vui mừng sau
cái vui mừng của nhân dân (26)
Kẻ sĩ, nhà nho nhập thế, dấn thân tham dự vào chức trách chính
quyền, kinh điển Nho giáo chẳng từng khuyên dặn như thế đó sao? Nguyễn
Văn Tường tiếp thụ kinh điển theo cái t́nh, cái tâm riêng của ông.
3
Một ngày cuối tháng mười một, ở vùng rừng núi này, mưa cứ lâm thâm
kéo dài, gió lạnh cóng cả cây cỏ. Quan tri huyện Nguyễn Văn Tường ngồi
sau án thư, nh́n ra khoảnh sân trước công đường, trông những làn mưa bay
trên cội mai già đă trụi lá, trên những chậu cúc xanh mượt đang chờ nắng
để trổ nụ, bừng hoa.
Thỉnh thoảng, ông cúi xuống, đưa đầu bút lông vào nghiên mực nho
đặc sánh, vê nhẹ. Ngón giữa và ngón cái cặp vào thân bút, ngón trỏ t́
nhẹ vào chỗ gần cán bút, ông viết những ḍng thơ.
Đang ngập ngừng t́m một chữ cho thật đắt, thật đắc địa, ông trông
thấy hai người lính choàng áo tơi, cầm giáo, dẫn hai người khác, thoắt
trông thấy là đoán được ngay: phạm nhân tội đồ.
Một người lính định biên của huyện, sau khi cởi áo tơi, cất nón,
bước vào, hai tay cầm ống tre sơn đỏ đựng công văn. Anh ta thi lễ, tŕnh
báo:
- Bẩm quan huyện, tỉnh Quảng B́nh, phủ Thừa Thiên và đạo Quảng Trị
đă thừa lệnh thi hành án. Lính kinh phủ và lính dinh quản đạo mới giải
giao hai tên phạm đă chịu phạt trượng lên đây kèm theo công văn của Ty
Tam pháp ở kinh. Viên lính thuộc đạo Quảng Trị làm nhiệm vụ giải giao
đang chờ lệnh.
- Đưa ta xem.
Quan huyện Tường mở dấu khằng, lấy tờ giấy có ấn triện, đọc và
thoáng nghĩ ngợi.
- Bảo chúng vào đây.
Trong khi chờ họ thi lễ, tŕnh báo, quan tri huyện nhận thấy hai
kẻ phạm pháp này đúng là mặt trắng học tṛ. Theo công văn, họ không phải
mắc các tội thường phạm.
- Các ngươi quê quán ở đâu, tại sao phạm pháp? – Thừa biết, nhưng
quan huyện cứ hỏi để nghe cung cách trả lời của họ và xem xét thêm một
vài khía cạnh khác –.
- Dạ, bẩm quan, chúng tôi người chính gốc làng Tiên Lễ, làng Lệ
Sơn, đều thuộc huyện Minh Chính, tỉnh Quảng B́nh ạ (27). – Giọng nói yếu
ớt –.
- Làm ǵ mà lại can phạm? – Quan huyện từ tốn hỏi –. Một án lại
đến một trăm trượng, đồ ba năm! Một án lại chín chục trượng, đồ hai năm
rưỡi! Tại sao?
Người phạm năy giờ im lặng bỗng lên tiếng:
- Bẩm, dạ thưa quan huyện, chẳng qua là cũng muốn góp lời, góp tâm
huyết, kính mong được hoàng thượng cải đổi chính sách ruộng đất để yên
dân, để chống Tây, chống “tả đạo” thôi… Dạ, nào ngờ… – Giọng anh ta run
run, có lẽ do một trăm trượng đă lănh, vết sưng nhức chưa khỏi –.
- Hai ngươi là học tṛ? Tâu lên hoàng thượng những ǵ?
- Dạ, bẩm quan, lũ học tṛ chúng tôi chỉ dám
viết đơn phong kín tố cáo người trong hạt ngầm theo bọn ngoại quốc, mưu
làm việc phi pháp. Kính xin nói rơ hơn, nội dung thế này: Xét thấy người
giàu, kẻ nghèo mức sống, tài sản không đều nhau. Do thực trạng đó nên
các đạo trưởng Gia Tô đă đem chuyện hoạ phúc trên trời, dưới đất, c̣n
gọi là thiên đường, địa ngục, để lừa bịp người giàu, lấy tiền bạc gạo
cơm của họ, rồi đồng thời, lại lấy tiền gạo dụ dỗ ấy mà mua được, dùng
được công sức kẻ nghèo. Từ nhận thức về sự thực đó, chúng tôi xin đức
vua lập ra phép chia ruộng b́nh quân. Nếu thi hành phép chia ruộng b́nh
quân th́ người giàu, kẻ nghèo đều nhau về tài sản, về mức sống. Và nhờ
vậy, người nước ngoài không thể dẫn dụ dân ta được (27).
Dạ, bẩm quan, chỉ có như rứa thôi ạ. – Anh ta thưa, có nhiều lúc như đứt
hơi v́ mệt –.
Quan huyện Nguyễn Văn Tường hơi giật ḿnh, nghe như có một luồng
điện chạy dọc sống lưng. Ông nhận ra ngay, đó không phải là kiến nghị
tầm thường, tuy đâu dễ ǵ thực hiện! Ông cũng kinh ngạc khi nghe thấy và
chính mắt đọc các ḍng chữ bên cạnh bản án của họ:
“đem lời góp nhặt để cầu tiến là tội nhẹ, lừa dối [về thực trạng giàu, nghèo…]
là tội nặng, không thể không trừng trị được” (27).
Đó lại là lời châu phê của nhà vua
trên cơ sở bản xét nghĩ của Ty Tam pháp! Dẫu sao, cũng đúng như hai
người học tṛ kia nói, họ chỉ
góp lời, góp tâm huyết.
- Thế giới đại đồng trong thiên
Lễ kư của kinh điển Nho giáo ư?… Lí thuyết đại đồng xă hội
viễn tưởng
(chủ nghĩa xă hội
không tưởng)
bên Tây Âu ư? Lễ kư
th́ các người đều học. Có phải các ngươi nghe các khách
thương nói về đạo Cơ Đốc
(Christ, Tin Lành)
biến tướng, pha trộn với lí thuyết đại đồng xă
hội viễn tưởng (chủ nghĩa xă hội không tưởng) ở Hồng Tú Toàn và Thái
B́nh thiên quốc bên nước Thanh? Hay chỉ nghe nói về lí thuyết đại đồng
xă hội viễn tưởng (chủ nghĩa xă hội không
tưởng) bên Tây Âu? Các ngươi chắc đă biết, phe phái vương tướng Hồng Tú
Toàn, khởi đầu được Phú, Hồng Mao viện trợ, nhưng nửa chừng chúng lại bỏ
rơi, xoay qua giúp nhà Thanh? Bây giờ nội bộ triều đ́nh Thái B́nh thiên
quốc cũng đă chia rẽ, sát hại lẫn nhau, đang dần dần biến chất thành phỉ…
- Dạ, bẩm quan huyện, lũ học tṛ chúng tôi chỉ nh́n thấy thực
trạng và suy nghĩ, mạo muội kính tâu kiến nghị thôi, chứ ở quê kiểng có
sách nhiều mô mà đọc, khách thương cũng ít người lai văng…
- Tại sao bản sao trích lục giải giao cải huấn lại ghi rơ là
“góp
nhặt”? –
Quan huyện Tường ch́a mấy tờ giấy –. Thôi… Được rồi, ta đă hiểu tội
trạng… Các ngươi cứ yên tâm. Bây giờ cho ta biết: Ai là Lương Trợ Lư? Ai
là Hoàng Hữu Phu (27)?
Người tŕnh bày khá cặn kẽ về nội dung tập đơn phong kín kia
chính là Lương Trợ Lư. Trong hai người, Lương Trợ Lư là kẻ bị phạt với
mức án cao nhất.
Nh́n kĩ gương mặt trẻ trung học tṛ của họ một lần nữa, quan huyện
Nguyễn Văn Tường ôn tồn bảo:
- Các ngươi nhớ chấp hành án tốt, có thể sẽ được tâu xin giảm án.
Nhớ chấp hành thật tốt đấy! Thôi, theo người lính kia về trại giam. Ngày
mai ta sẽ xét… Lát nữa, sẽ có người mang thuốc đến để tẩm, bóp vào chỗ
sưng nhức!
- Xin đa tạ quan huyện ạ… – Giọng nói của họ có chút vui mừng, hơi
nghèn nghẹn –.
Tại sao? Tại sao lại trừng phạt hai viên học tṛ đầy tâm huyết kia,
cho dù biện pháp b́nh quân ruộng đất là rất khó khăn?
Sau khi bảo viên thư lại làm tờ biên giải giao và tiếp nhận với tên
thuộc lại đạo Quảng Trị, quan huyện Nguyễn Văn Tường ngồi lặng lẽ đọc
lại những gịng chữ bản sao trích lục án trong tập lưu cải huấn phạm
nhân, ông thừ người suy nghĩ. Ông đứng dậy, bước tới khung cửa, nh́n ra
ngoài sân. Mưa đang lất phất bay, lạnh buốt.
Không, ông tự nhủ, bây giờ cái chính là suy nghĩ cách đối phó với
bọn thực dân Phú Lăng Sa, bọn “tả đạo” giả mạo tôn giáo! Ông cũng mới
vừa nghe tin, ở Hưng Yên, Nam Định, cuối tháng mười một năm Tự Đức thứ
mười (1857) này đây, bọn giặc theo đạo Gia Tô đang quấy nhiễu (28)!
Truyện kí thứ ba (c̣n tiếp)
Viết đến ḍng chữ này lúc 11 giờ kém 13 phút,
ngày 27. 08. 2002
(mười
chín tháng bảy Nhâm ngọ,
năm thứ hai công nguyên Hoà B́nh).
(1)
Quốc sử quán
triều Nguyễn,
Đại Nam thực lục, chính biên
(ĐNTL.CB.), tập 27, sđd., tr. 423; Yoshiharu Tsuboi,
Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa
(NĐNĐDVP. & TH.), sđd.,
tr. 170 – 178.
(2)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 9 – 10.
(3)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 60 – 61.
(4)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 62 – 82.
(5)
Xem chú
thích (34).
(6)
Quốc sử quán
triều Nguyễn,
Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.), tập 2, sđd., tr. 336.
(7)
Viện Văn học,
Từ điển văn học (TĐVH.), tập 1, sđd., tr. 129.
(8)
ĐNLT., tập
3, sđd., tr. 344 – 345.
(9)
ĐNLT., tập
4, sđd., tr. 510 – 512.
(10)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC.), tập 1, sđd., tr. 118.
(11)
ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 235 – 238.
(12)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 253.
(13)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 202.
(14)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 112.
(15)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 84 – 85.
(16)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 275 – 277.
(17)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 282 – 283.
(18)
Phan Khoang,
Trung quốc sử lược (TQSL.), ấn quán Hồng Phát, Chợ Lớn, 1958, tr. 353 –
368, tr. 376.
(19)
ĐNLT., tập 2, sđd., tr. 447 – 450
(20)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 217.
(21)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 271.
(22)
ĐNNTC., tập 1, sđd., tr. 103 – 109.
(23)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 314 – 315.
(24)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 324.
(25)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 335.
(26)
Vũ Đức Sao Biển, bài
“Đọc thơ Nguyễn Văn Tường”, trong
Nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế và Nguyễn Văn Tường
(NCCTĐH. & NVT.), kỉ yếu Hội
nghị Khoa học lịch sử, ĐHSP. TP. HCM., 20.6.1996, tr. 72. Xin xem thêm:
Trần Xuân An (biên soạn),
Ḱ Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ, vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (PCĐT.
NVT., VNVCN., TH. & TT.),
bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản). Thơ Nguyễn Văn Tường,
do hậu duệ sưu tập, chỉ c̣n lại 65 bài.
(27)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 381 – 382.
(28)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 384, 38, 392…
hết phân đoạn 1
truyện kí thứ ba
(c̣n tiếp)
XIN XEM
TIẾP TỆP 5
phân đoạn 2
trọn
truyện kí thứ ba