TỆP 5
Phân đoạn 2
truyện kí thứ ba
TRẦN XUÂN AN
CHÍN NĂM, MỘT HUYỆN MIỀN NÚI
Truyện kí thứ ba
(phân đoạn 2)
4
Tri huyện Thành Hoá Nguyễn Văn Tường ngay tức khắc nghe được tin
thực dân Phú Lăng Sa tấn công vào Đà Nẵng khi sự biến xảy ra (29). Đó là
một luồng tin tức chạy nhanh như làn chớp khắp kinh sư, các tỉnh tả hữu
trực ḱ và khắp cả nước!
Báo động! Báo động!
Ngày hai mươi bốn tháng bảy, Mậu ngọ (01.09.1858), năm Tự Đức thứ
mười một, mười hai chiếc thuyền binh Phú Lăng Sa và Y Pha Nho vào cửa
biển Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam, bắn phá hai thành Điện Hải, An Hải, mở đầu
cuộc xâm lược thực sự bằng súng đạn vào nước ta, nếu không kể vụ bắn
ch́m năm chiếc thuyền chiến cũng tại nơi đó vào năm Thiệu Trị thứ bảy
(1847)! Thời điểm này, ông biết, tuần vũ Nam – Ngăi là Trần Hoằng, bố
chính sứ Quảng Nam là Thân Văn Nhiếp, và không ai khác, Lê Văn Phổ đang
lănh nhiệm án sát. Văn Nhiếp, Văn Phổ đă bị giáng bốn cấp, lưu nhiệm!
Nguyễn Văn Tường thừa hiểu, để dập tắt những cuộc dấy loạn của “tả
đạo” bên trong, tất nhiên các vụ trấn áp của quan quân triều đ́nh phải
diễn ra, kèm với các đạo dụ cấm đạo liên tiếp được ban hành. “Tả đạo” đă
tạo cớ cho thực dân “can thiệp” nhằm mưu toan xâm lược toàn diện nước ta,
chủ yếu là cướp bóc của cải và sức người! Hăy nh́n quanh các nước Ấn,
Miến, Hạ Châu, Cao Ly, Thanh… Hăy đọc những cái được gọi một cách mỉa
mai là
“hoà ước” bọn Tây dương ép buộc các nước ấy phải
kí!
Thành Hoá đă được khởi động việc tăng cường pḥng thủ. Hơn bao giờ
hết, tri huyện Nguyễn Văn Tường nhắc nhở các đội quân thuộc huyện, đặc
biệt là tham mưu cho đội quân Định biên, phải lo đắp sửa đồn bảo, nhất
là bảo Ải Lao. Nỗi lo toan trực tiếp và lớn nhất của triều đ́nh là bị
tấn công phía các cửa biển. Kế đó, là nỗi âu lo về khả năng thứ hai, bọn
Hồng Mao và Phú-lăng-sa từ đất Miến, Xiêm có thể vượt đất Lào, sông
Khung (Cửu Long), đánh tập hậu kinh đô đồng thời với việc uy hiếp hai
cửa biển Thuận An, Tư Hiền ở Thừa Thiên, cùng hai hải khẩu khác, Tùng
Luật, Việt Yên ở Quảng Trị. Tuy nhiên, cũng như đồn bảo sơn pḥng Ải Lao
là quan trọng nhất so với các đồn sơn pḥng khác, cửa biển hải pḥng
Thuận An vẫn trọng yếu nhất trong bốn cửa biển kinh sư. Ở đây đă có
Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Bằng, dưới kia đă có Trần Tiễn Thành, Nguyễn
Như Thăng. Cơ Định biên của Nguyễn Bằng đă được tăng cường quân số.
Trong khi lo tiến hành pḥng thủ sinh điểm của kinh đô, Nguyễn Văn
Tường ngày ngày t́m cách lắng nghe tin tức từ Đà Nẵng, nghiên cứu các
thông tư mật của triều đ́nh. Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương, sung làm
tổng thống quân thứ Quảng Nam (30), đă ra trận, dùng chiến thuật đào hào
đánh lấn, có những trận thắng rất oanh liệt. Ông nhận định:
“Giặc lấy chiến làm lợi [thế], ta lấy thủ làm lợi [thế]”,
và kính kiến nghị: “Xin lấy thủ làm chiến, đắp thêm
đồn luỹ, để dần dần tiến đến gần giặc” (31).
Bọn giặc Phú Lăng Sa và Y Pha Nho đành cầm cự,
không tiến được, v́ thế. Vả lại, chúng bị mắc kẹt quân ở Tàu (32). Hơn
nữa, khác với lời hứa hẹn của các cố đạo, sẽ có hằng vạn tín đồ hiệp lực,
chúng không ngờ, sự thật, “tả đạo” người Việt ở Đà Nẵng ra mặt ủng hộ
chúng chỉ vài chục người với độc nhất một đạo trưởng (linh mục) (33)!
“Tả đạo” Đàng Trong không “nhẹ dạ” như “tả đạo” Đàng Ngoài ư? Đó là băn
khoăn, thắc mắc của vua Tự Đức. Và chính Phan Thanh Giản, sau đó, đă
thưa rơ nguyên nhân: Đàng ngoài theo “tả đạo” nhiều hơn (34)!
Ở Bắc Ḱ, tại Hải Dương, hai tên đầu sỏ giặc theo đạo Gia Tô,
Nguyễn Đ́nh Đường, Hoàng Văn Điển, đều là tay chân của tú Yêm, của cố
đạo Tây lấy tên Việt – cụ Xuyên (35). Chúng đă chịu tội chết. Tại
Nam Định, quan
quân bắt được đầu sỏ giặc là đạo trưởng Hoàng Kim Duyệt, lập tức chém
bêu đầu (36).
Quấy nhiễu Bắc Ḱ, đánh Trung Ḱ, thế là rơ thủ đoạn của giặc!
Chúng muốn đánh lạc hướng, chia nhỏ lực lượng pḥng thủ của ta!
Tháng chín nguyệt lịch, tri huyện Nguyễn Văn Tường được thăng tán
lí Bộ Binh (37), vẫn giữ chức vụ cũ. Với quân hàm mới này, ông đă trở
thành một quan văn kiêm làm nhiệm vụ quân đội.
Lại nghe tin ở Bắc Ḱ, tàu chiến Tây dương vào đỗ ở Dậu Sơn, tỉnh
Hải Dương, bọn cố đạo Đỗ Thế Hùng (cụ Thái) họp quân ở Đông Triều, cũng
thuộc tỉnh ấy! Quỷ quái hơn, chúng c̣n cho một kẻ ngụy xưng là hậu duệ
vua Lê, với cái tên Lê Duy Minh, có các tên giặc khác như Trần Văn Tùng,
Trần Đức Thịnh phù giúp! Ở
Nam Định, tại xă
Vĩnh Trị, đạo trưởng Thế chứa thóc gạo, ván gỗ, luyện quân! Và những Lư
Thạch, Lê Khảm, Trần Văn Bích, Trần Văn Bách, tú Hựu, Khoan, Dương Văn
Tiến, Vũ Văn Tung, Vũ Sỹ, Vũ Văn Kịch dấy loạn với nỗi thèm khát lập
được một nước do bọn “tả đạo” Tây dương và quan binh Phú – Y “bảo hộ”
(38)… Trong khi đó, ngược lại, có những người Bắc ḱ yêu nước như tiến
sĩ Phạm Văn Nghị (39), cử nhân Nguyễn Đức Ư (40)… Họ ra sức chiêu mộ
quân, xin vào Đà Nẵng đánh Tây, ra sức lập kho xă thương, đem tiền gạo,
của riêng, giúp kẻ nghèo túng, nuôi quân binh triều đ́nh, hiến ruộng đất
tư làm ruộng đất công.
Những tưởng với quân hàm mới, tán lí Bộ Binh, ông sẽ được ra trận,
vào tận mặt trận nóng bỏng nhất là Đà Nẵng, nhưng Nguyễn Văn Tường cũng
tự biết, không ai có thể thay ông ở vị trí pḥng thủ xung yếu này, một
địa bàn ông đă thuộc như ḷng bàn tay. Ông chỉ c̣n biết ngoài việc tăng
cường pḥng thủ, c̣n phải kịp thời và ra sức vận động dân sơn nguồn t́m
bắt, t́m mua voi đánh trận theo kiến nghị của Bộ Binh đă được vua chuẩn
y (41).
Đầu năm Tự Đức thứ mười hai (1859), tháng giêng, sau Tết Nguyên
đán, khi Nguyễn Văn Tường bước vào tuổi ba mươi sáu, giặc Phú và Y lại
chuyển hướng, tấn công vào Phúc Thắng thuộc Biên Hoà và các đồn bảo ở
Gia Định (42)!
Vũ Văn Kịch ở Hải Dương lại quấy phá mạnh (43)!
Và giặc Tây đánh chiếm thành Gia Định! Gia Định đă thất thủ
(17.02.1959) (44)!
Dẫu đă trực cảm mưu kế dương đông kích tây của giặc, Nguyễn Văn
Tường không khỏi sửng sốt. Thế là rơ!
Ở Bắc Ḱ, cố đạo Tây dương, làm cố vấn quân binh, cùng “tả
đạo” Việt khởi loạn là chính. Quân Phú và Y không dám xâm chiếm Bắc Ḱ
bởi chúng sợ đụng đầu với quân Thanh. Vả lại, cần chiếm Nam Ḱ để làm
bàn đạp đánh chiếm Cao Mên và Lào. Mên, Lào dẫu sao cũng dễ nuốt hơn Vân
Nam, Lưỡng Quảng.
Nam Ḱ lại màu mỡ, giàu có hơn Bắc Ḱ. Chiếm được vựa thóc Nam Ḱ sẽ
giam đói được Trung Ḱ và Bắc Ḱ. Âm mưu của chúng là thế đấy!
Suốt ngày đêm, Nguyễn Văn Tường suy nghĩ về mưu kế của bọn xâm
lược da trắng. Có những điều trước đó chỉ mới là trực cảm trong nhận
thức ông.
Nhưng rồi phải trút hết tâm lực của ḿnh theo lệnh vua: pḥng thủ
kinh đô!
Vũ Văn Thục được tăng cường về làm tuyên phủ sứ, Nguyễn Tán làm
lănh binh đạo Quảng Trị. Hai cửa biển Việt Yên, Tùng Luật được tăng
cường lính hải pḥng (45). Nguyễn Văn Tường tập hợp các tổng lí, tri
châu, già làng để thông báo: Triều đ́nh cho bảy ngh́n bảy trăm sáu mươi
(7.760) nhân khẩu đồng bào Thượng thuộc chín châu tại huyện nhà được
hoăn thuế năm (5) năm nữa (46). Ông nói rơ với đồng bào, thời điểm chiến
tranh này, các nơi đều phải tăng các khoản nộp ngoài thuế nhằm phục vụ
quân nhu, riêng đồng bào thiểu số huyện nhà chúng ta lại được ưu đăi đó.
Sau cuộc họp dân, tin chiến sự lại ập đến: Bọn Phú và Y lại đánh
phá Thạch Than, tại Đà Nẵng (47)! Chúng mở ra ba mặt trận: Trung, Bắc và
Nam! Vẫn mưu kế ấy!
Triều đ́nh lại buộc phải trấn áp bọn “tả đạo” ở Gia Định, và lần này
trấn áp mạnh, bởi chúng ra mặt cậy thế giặc Phú, Y để lên mặt với quan
lại và dân lương, một khi thành luỹ kiên cố vào hạng nhất của nước ta là
Gia Định đă thất thủ (48).
Thành Gia Định thất thủ gây chấn động cả nước. Triều đ́nh mở rộng
các cuộc đ́nh nghị với các tập tâu của các đ́nh thần, các thần, nha thần:
Chiến? Hoà? Thủ?
Chiến? Hoà? Thủ? Có ba loại ư kiến dâng tâu. Nguyễn Văn Tường sung
sướng khi nghe tin bạn ông, Nguyễn Đăng Điều, con rể của cụ thượng thư
Bộ Binh Trương Đăng Quế, kiên quyết giữ ư kiến chiến và thủ, trong khi
đó nhiều quan lại lừng chừng, hoà và thủ. Vua Tự Đức phải nói:
“Các ngươi biết việc đánh, việc giữ là khó, mà không biết việc hoà lại
càng khó hơn”,
bởi hoà, thực chất là phải nhân nhượng một số điều khoản có lợi cho giặc,
như mở cửa biển cho chúng buôn bán thu lợi, lại cho chúng tâm công vào
dân ta bằng cách truyền bá “tả
đạo”… Nhà vua cũng không dứt khoát điều ǵ, đến nỗi Bùi Quỹ mới từ Bắc
công cán về, thấy như thể kẻ cầm dầm, người cầm chèo, trái khoáy, ngược
chiều nhau trước vận nước, phải tâu lên:
Xin nhà vua quyết đoán (49).
Trong lúc Quảng Trị đang lo mua đá núi, gỗ cây cho việc đào sông,
pḥng thủ (50) dưới sự chỉ đạo của quan quản đạo và của phủ doăn Phan
Đ́nh Tuyển, trong lúc nhân dân Quảng Trị lập kho nghĩa thương chẩn cấp
hộ điêu háo, lo lạc quyên gạo, chở vào mặt trận Quảng Nam phục vụ chiến
sĩ (51), trong lúc tri huyện Thành Hoá Nguyễn Văn Tường khéo léo thuyết
phục trưởng bang châu Tá Bang Lĩnh Tuấn tiến dâng một thớt voi trận và
chiêu tập đồng bào thiểu số tốt (52), thuyền chiến Tây dương lại đốt năm
chiếc thuyền vận tải của triều đ́nh và ba chiếc thuyền buôn của dân ta
ngoài biển Quảng Trị, Quảng B́nh (53)!
Quan tri huyện Nguyễn Văn Tường rất xúc động khi nghe tin Trần Đ́nh Túc
đă từ Phú Yên ra mặt trận Quảng Nam với quân hàm, trong tháng chín Kỉ
mùi (1859) này (54). Vậy là ở mặt trận Nam Ḱ, có tri phủ Định Tường
Trần Xuân Hoà (55), có cả tuần vũ Biên Hoà Nguyễn Đức Hoan (56). Đó là
ba người đồng hương Quảng Trị đang đứng trên các vị trí chiến đấu. Nếu
nghĩ rằng sự luận bàn phương lược ở triều đ́nh vừa rồi cũng là một cuộc
chiến đấu trên lĩnh vực lí luận chỉ đạo, th́ Quảng Trị của Nguyễn Văn
Tường có một Nguyễn Đăng Điều (57). Tri huyện tán lí Bộ Binh Nguyễn Văn
Tường những mong ba người bạn của anh và tiến sĩ Nguyễn Đức Hoan sẽ đóng
góp sức ḿnh cho Tổ quốc một cách thật trí tuệ, hào tráng. Và Hoàng Hữu
Xứng nữa, người đồng hương đỗ cử nhân sau ông một khoa, nghe đâu cũng
đang là một huấn đạo được vua Tự Đức cho quyền nhiếp tri huyện, điều
động binh thứ, mặc dù được bổ nhiệm làm nhà giáo chỉ mới bốn tháng (58)…
5
Tháng giêng ở huyện miền núi Thành Hoá vẫn c̣n mưa bay, lạnh buốt.
Sang tháng hai, cây cỏ mới thực sự phơi phới trong nắng xuân. Đất trời
có t́nh hay vô t́nh, không rơ lắm, nhưng cái nắng tươi tắn, non tơ giúp
cho Thành Hoá tỉnh táo lại sau những ngày tháng căng thẳng v́ đao binh
trên Đất nước.
Tri huyện Nguyễn Văn Tường, cùng với hai vị quan từ kinh đô ra xứ
này công cán, bước trên lối nhỏ chạy men theo phía trong thành luỹ. Một
người là bạn cùng làng, Nguyễn Đăng Điều, hiện đảm nhiệm một nha, trực
thuộc một bộ trong lục bộ, sung làm chức năng khâm phái. Một người khác,
Nguyễn Túc Trưng (59), hồi c̣n là giám sát ngự sử tả ḱ, đă khiến tham
tri Phạm Khôi, nguyên tuần vũ Trị – B́nh, cũng phải một phen bị ông tâu
hặc, phải chịu phạt bổng đến sáu tháng do vợ b́u con ríu trong lúc cùng
ông ra hữu ḱ phía Bắc thăm xét t́nh cảnh dân bị lũ. Người nổi tiếng là
ngôn quan dám nói thẳng ấy cũng đă từng viết sớ can vua Tự Đức không nên
sửa chữa hành cung lúc nhân dân khốn khó, tai biến xảy ra luôn, lại
khuyên vua cần đổi mới nếp đế vương, nên kiệm ước trong mọi sinh hoạt,
và đă được vua khen. Đó là một người Nam Ḱ, quê ở Hắc Lăng, huyện Phước
Yên, đỗ cử nhân thời Thiệu Trị, năm thứ ba, tại trường thi Gia Định. Bây
giờ ông đă sắp chuyển qua làm thự phủ thừa kinh sư.
Không biết đang liên tưởng điều ǵ, Nguyễn Túc Trưng mỉm cười:
- Quan huyện có biết v́ sao ḿnh đổi tên từ Nguyễn Văn Hưng thành
Nguyễn Túc Trưng không?
- Có lẽ trùng tên với quan lớn Nguyễn Văn Hưng thời tiên đế Thiệu
Trị? – Nguyễn Văn Tường cũng mỉm cười, nhớ lại chuyện cũ năm mười tám
tuổi –.
- Vậy là ông nhớ rơ rồi! Thời gian cũng nhanh thật!… À, vậy là
quan huyện cũng đă bảy, tám năm nhậm chức ở đây?
- Vâng, đúng vậy.
- Tuyên phủ sứ Vũ Văn Thục làm việc tốt chứ? – Khâm phái Nguyễn
Đăng Điều khẽ hỏi –. Trước đây, ông ta có tâu xin rút quân Định biên
Quảng Trị vốn đă được điều động vào đóng tại kinh đô ra lại, để trấn giữ
Bảo Đài (giáp Quảng B́nh). Mặc dù đồn ấy không quan yếu, nhưng vua cũng
chuẩn cho (60). Quan yếu bậc nhất vẫn là đồn bảo Ải Lao… Phải ra sức chú
ư tăng cường ở Ải Lao…
- Vũ Văn Thục cần mẫn… Quan yếu nhất vẫn là ḷng dân.
“Việc nước cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. –
Quan tri huyện Nguyễn Văn Tường đáp –. Cụ Nguyễn Trăi bảo thật chí lí.
Việc nước, cốt yếu là phải lấy dân làm gốc,
dân vi
bản.
Việc quân, cũng thế, đồng thời, trước hết phải trừ tham quan ô lại bạo ngược… Đó là cách pḥng thủ tốt nhất. Lâu
nay, tôi vẫn xem đó là tôn chỉ của huyện.
- Vừa đi, ta vừa đàm luận với nhau về “tả đạo” ở huyện nhà nhé! –
Khâm phái Nguyễn Túc Trưng nói –. Tháng chạp năm kia, Kỉ mùi (1859), sau
khi ban bố đạo dụ cấm quan lại theo đạo Gia Tô (61), Quảng Trị ta là nơi
không có vấn đề ǵ trong quan chức… Nhưng, khi ban hành các sắc dụ cấm
dân theo
“tả đạo”, dân t́nh ở huyện nhà th́ thế nào?
Chậm răi bước như ba người đang bách bộ ngắm cảnh, họ cùng đang
nghĩ ngợi. Quan huyện Nguyễn Văn Tường cười:
- Quan khâm phái hỏi ở dân, chắc họ cũng trả lời như tôi: Huyện
tôi cũng có vài chục hộ như ở xă Ngọc Đường, tỉnh Hưng Yên ngoài Bắc, đă
tự nguyện tu sửa lại đ́nh làng, nhà thờ tộc, thắp hương khấn niệm trời
đất, ông bà tổ tiên, không lặn lội đi nhà thờ Chúa nữa (62)… – Quan
huyện lại hỏi –. H́nh như các khoa đạo có phát hiện ra quan lại lén lút
theo “tả
đạo”?
- Có đấy! – Khâm phái Nguyễn Đăng Điều gật đầu trả lời –. Tất
nhiên, những kẻ ấy đă bị trị tội. Đây là đợt thanh lọc hàng ngũ quan
chức. T́nh h́nh Đất nước rất căng thẳng. Bọn Phú và Y liên minh với nhau,
quyết đánh ta phen này. Không ngờ thành Gia Định binh lực hùng hậu đến
thế cũng thất thủ rất nhanh! Ông Nguyễn Văn Tường chắc đă nghe tin, kinh
lược sứ sung tổng thống quân thứ Nguyễn Tri Phương bị trọng thương, ngay
trong trận đại đồn Chí Hoà tỉnh Gia Định (25.02.1861) (63)? Thật là tin
sét đánh ngang tai! Đức vua sửng sốt, gầy rạc người.
Quan huyện Nguyễn Văn Tường lặng người, không biết nên nói ǵ. Một
lúc lâu, ông khẽ nói:
- Xưa nay, ai cũng tin cậy vào quan kinh lược họ Nguyễn. Đó là một
danh tướng lừng lẫy chiến trường ở nước Miên. Nhưng với bọn bạch tạng
Phú, Y này… Đối phó với súng thép, tàu đồng của chúng, quả thật, ta
không dụng kế là không đánh nổi.
- Thật đúng ư ḿnh! Đồn luỹ kiên cố cũng bó tay! – Khâm phái
Nguyễn Đăng Điều chỉ vào thành đất cao hơn sáu trượng, dày hơn một
trượng bên cạnh lối đi –. Thành này làm sao sánh với thành Gia Định, đại
đồn Chí Hoà. Một phần mười, một phần hai mươi! Muốn đánh chúng, phải dụ
chúng vào sâu trong sông, trong đất liền rồi mới cận chiến. Phục kích,
cận chiến, là cách loại bỏ súng trường, súng liên thanh, súng đại bác có
sức công phá mạnh của chúng. Phải giáp lá cà, súng ngắn của chúng không
kịp trở tay. Phải thanh
dă kế, vườn không nhà trống.
Thế mà có nhiều người vẫn bàn hoà! – Nguyễn Đăng Điều cười
khẩy –. Ḥa trong thế bại là hàng, ít ra cũng nhân nhượng đến mức không
chịu nổi.
- Phục kích, cận chiến, ta không thể thua chúng, đồng ư. Cũng đồng
ư không cậy đồn luỹ, phải thực hiện
kế thanh dă, vườn không nhà trống.
Tuy nhiên, về lâu về dài, ta cũng phải súng
thép, tàu đồng như chúng. – Quan huyện Nguyễn Văn Tường nói –. Đoản binh,
trường trận đều phải tính đủ!
Khâm phái Nguyễn Túc Trưng gật gù, một thoáng lại cau mày:
- Quan huyện chắc chưa rơ, bọn Phú và Y đă đỗ thuyền chiến ở Ngao
Châu, có lẽ chúng sắp đánh Vĩnh Long! Thế mà tháng giêng ta năm ngoái,
thống soái Va Du (Page) đưa “hoà” ước mười một điều đến quân thứ Gia
Định (64)! Bọn giặc bạch tạng này muốn đánh nữa để bức ép triều đ́nh
phải kí! – Ngừng lại, ngẫm nghĩ, ông cảm khái –. Ḿnh là người Nam Ḱ,
không thể ngồi yên ở kinh đô được! Ḿnh đă làm sớ t́nh nguyện xin đức
vua cho ḿnh vào quân thứ Nam Ḱ sống mái với chúng một phen. Tiến sĩ,
hồng lô tự khanh, biện lí Bộ Binh Đỗ Thúc Tĩnh, người Hoà Vang, Quảng
Nam, cũng t́nh nguyện như ḿnh… Nhưng các ông không đi được đâu. Không
ai thay các ông được! Ḿnh rành từng mô đất, ḷng sông quê ḿnh, cũng
như các ông rành rơi từng ngọn núi, bờ nương xứ kinh sư này. – Ông ngừng
lại, nén tiếng thở dài, bức bối –. Ồ, bọn giặc Hồi cờ trắng tràn qua
cướp phá Bảo Thắng, Thuỷ Vĩ ngoài Hưng Hoá (65), bọn Cao Mên phản loạn
qua đóng đồn ở Chu Ức, Trà Bông trong Gia Định (66)! Đủ thứ giặc! T́nh
h́nh gay go lắm, kể cả lương thực.
Ba người vẫn bước theo con đường men theo thành luỹ. Vừa bàn luận,
chuyện tṛ, hai khâm phái triều đ́nh vừa quan sát hệ thống pḥng thủ của
Thành Hoá. Nắng đă lên khá cao trong không khí dịu mát miền núi.
Lát sau, họ về đến công đường huyện.
6
Cũng thật không ngờ, tiếp sau đó một tuần trăng, tri huyện Nguyễn
Văn Tường đau xót trong niềm bi tráng khi hay tin tri phủ kiêm binh bị
Định Tường Trần Xuân Hoà bị giặc Phú bắt được, tra khảo. Chúng tra tấn
phục thù người đă có sáu lần đánh tan tác bọn chúng và ma tà. Ông không
chịu nhục, đă cắn lưỡi tự sát. Trần Xuân Hoà tử tiết, thành Định Tường
cũng thất thủ (12.04.1861) (67)!
Nguyễn Bá Nghi thay Nguyễn Tri Phương lại chỉ chuyên bàn
“hoà”: “Sự thế
Nam Ḱ, duy việc giảng hoà là có thể làm được. Nếu không thế sẽ có việc
lo ngại khác”; “Thực ra, tôi thấy sự thể, đánh và giữ đều không làm được.
Không hoà th́ không định được cục diện […]. Trừ một cách ấy [cách hoà]
ra, tôi đành chịu tội” (68).
Chống lại sự bạc nhược ấy, phó quản cơ Gia
Định là Trương Định nhất quyết mộ binh dũng, chiến đấu chống giặc Phú và
Y đến cùng (69). Thự tuần vũ Đỗ Quang tâu lên vua. Vua Tự Đức phong
Trương Định làm quản cơ, rồi lănh binh. Tri phủ Phước Tuy Nguyễn Thành
Ư, tuỳ phái Phan Trung cũng nhiệt thành hưởng ứng. Binh lính mộ nghĩa
Nam Ḱ lên đến hàng vạn. Thật hào tráng. Nhưng, buồn thay, ở ngoài Bắc,
tên Pierre Tạ Văn Phụng, vốn được các cố đạo Tây đưa sang Pénang (Mă
Lai) đào tạo, trước đây đem về đánh ở Đà Nẵng, nay dưới sự cố vấn của
quân sư Charles Duval (70), đạo trưởng Trường (Legrand de la Liraye),
vào tháng mười hai, năm Tự Đức thứ mười bốn (1961 – 1962), nổi lên đánh
phá với danh nghĩa con cháu vua Lê (71). Trong lúc đó, thành Biên Hoà đă
thất thủ, bị giặc chiếm cứ từ tháng mười một (18.12.1861) (72)!
Đầu năm Nhâm tuất, năm Tự Đức thứ mười lăm (1862), Nguyễn Văn
Tường lại nghe một lúc hai tin về đồng liêu và đồng hương: Tháng mười âm
lịch (1861), Hoàng Hữu Xứng được khen thưởng, v́ tiêu diệt thành công
bọn cố đạo Tây xúi
“dữu dân”
Tuy Viễn (B́nh Định) quấy phá hậu phương; tháng ba
âm lịch năm nay, huấn đạo Xứng sẽ được thăng tri huyện Hà Đông (Tam Ḱ,
Quảng Nam). Tháng giêng (1862), tuần vũ Biên Hoà Nguyễn Đức Hoan, người
đă cùng Nguyễn Thế Trị (làng Hương Liễu) làm rạng danh đại khoa cho
Quảng Trị, đă bị cách chức, về quê với nguyên tịch (không bị tước học vị
tiến sĩ), v́ Biên Hoà thất thủ (18.12.1861), Bà Rịa bị giặc chiếm
(07.01.1862), không tập hợp được sĩ dân (73)!
Và lại những tin tức phấn chấn tiếp theo tin đau ḷng lại ập về
kinh sư, thông tư ra Quảng Trị!
Gần đúng một năm từ ngày hai khâm phái Nguyễn Đăng Điều, Nguyễn
Túc Trưng ra Thành Hoá kinh lí, trận Nhật Tảo (74) ở Nam Ḱ gây rúng
động quân Phú và Y.
“Hoả hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạc Kiên Giang khấp quỷ thần”
Lửa hồng Nhật
Tảo lừng trời đất
Gươm trắng Kiên
Giang rúng quỷ thần!
Nhưng, chẳng bao ngày sau, thành Vĩnh Long thất thủ (23.03.1862) (75)!
Và đau đớn thay, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp đă nhanh chóng
kí “hoà” ước Nhâm tuất vào đầu tháng năm (09.05 âm lịch, 05.06.1862)
(76), trong niềm phẫn uất của sĩ dân Nam Ḱ:
“Phan, Lâm mại quốc
Triều đ́nh khí dân”
Phan, Lâm bán
nước
Triều đ́nh bỏ
dân!
trong lời than thống thiết của vua Tự Đức:
“Thương thay con đỏ của triều đ́nh, nào có tội ǵ! Rất đau ḷng! Hai viên này không những là
người có tội của bản triều, mà là người có tội của ngh́n muôn đời vậy!”
(77).
Chẳng lẽ nhà vua, đ́nh thần và các quan không chịu trách nhiệm ǵ
sao? Phải chăng bọn “tả đạo” người Việt không phải là người Việt nữa?
Nhà vua dùng người sai lầm như về sau đă từng tự trách (78)? Phan Thanh
Giản, Lâm Duy Thiếp, hai người nhân dân đă nguyền rủa ấy, thường khi họ
luôn tự răn ḷng:
“nhất thịnh phạn, bất vong cố quốc”
(mỗi bữa cơm ngon, không quên
nước cũ). Trách họ ư? Trách ta ư? Những người ấy nào đă sâu nặng ǵ với
Tổ quốc này, non sông đất nước này? Họ đă kí những ǵ với giặc, để hi
vọng sau khi kí xong,
“có thể ngồi mà trông thấy giàu mạnh” (79)?
Thật ḷng, Nguyễn
Văn Tường không dám và không nỡ trách ai, nhưng không phải không nghĩ
rằng lời nguyền rủa ấy là không thể không đúng (?)…
-
- Phú và Y
được tự do truyền “tả đạo”.
-
- Mất hẳn cho
giặc Phú ba tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Định Tường và đảo Côn Lôn; thuyền
chúng được tự do ra vào trên sông Mê Kông.
-
- Muốn giao
thiệp hoặc nhượng đất cho nước nào, phải được giặc Phú thuận cho.
-
- Mở ba cửa
biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho Phú và Y vào buôn bán.
-
- Phải nộp cái
gọi là
“bồi thường chiến phí” cho Phú và Y 4.000.000 nguyên;
chia ra mỗi năm giao nộp 400.000. Mỗi nguyên (đô-la) là 0,72 lạng bạc
ṛng.
-
- Phú sẽ trả
lại Vĩnh Long khi triều đ́nh nước ta rút hết quân thám báo, nhưng
chúng vẫn đóng quân ở tỉnh lị.
Không c̣n ǵ đau đớn, xót xa, tủi nhục hơn!
Ngay trong những ngày chuẩn bị kí “hoà” ước, lănh binh quan Nguyễn
Tán đă vào kinh, với chức vụ chưởng vệ, quyền chưởng doanh Hùng Nhuệ,
bảo vệ kinh thành (80). Tôn Thất Đính mấy năm trời vào Nam Ḱ quyết tâm
đánh giặc, cũng phải chuẩn bị về kinh đô thay Nguyễn Sơn làm đề đốc kinh
thành (81), để lo trấn giữ ḷng dân phẫn uất! Ông đang rơi vào bi kịch…
Tri huyện Thành Hoá mang quân hàm tán lí quân vụ Nguyễn Văn Tường
cũng rời vùng đất xung yếu ấy, sau thời gian suốt chín năm hơn bảo vệ
sinh điểm
(cũng gọi là
huyệt đạo tử vong)
của kinh đô và của cả nước, để vào kinh giữ chức
viên ngoại lang Bộ Binh (ṭng tứ phẩm). Chẳng bao lâu, ông lại vào Quảng
Nam làm án sát sứ, không kịp về quê hương Quảng Trị dự lễ khởi công xây
đền thờ người anh hùng trung nghĩa Trần Xuân Hoà, theo sắc dụ của vua Tự
Đức (82).
Nguyễn Văn Tường rời huyện miền núi Thành Hoá trong niềm đau về
vận nước, trong nỗi ngậm ngùi xa biệt một nơi đă trở thành quê hương thứ
hai của ông, nơi đă cho ông bao kỉ niệm thời thơ ấu và những tháng năm
cường tráng nhất của đời người. Trong tâm hồn thơ ca của tri huyện
Nguyễn Văn Tường măi sừng sững ngọn núi Tá Linh (Voi Phục), vọng sơn của
tỉnh, măi thơm ngát hương hoa mai vàng và trắng trên núi Mai Lĩnh, núi
Mai Đàn, măi in dấu động Tam Thai với h́nh tượng
“chúa ngồi tôi đứng”,
măi măi lưu giữ bao giờ khắc ông suy
tư bên đầu nguồn sông Hiếu chảy về đông, biển Thái B́nh, bên đầu nguồn
sông Cam chảy về tây, sông Khung (Mê Kông) (83). Nhưng trên tất cả, đó
là sự chan hoà, sum vầy, đông vui ngày càng thêm của ngót tám ngàn đồng
bào Thượng bên cạnh những xóm làng trù phú của đồng bào Kinh, trên vùng
đất Cam Lộ, Hướng Hoá, Đắc Krông, được gọi chung là
Thành Hoá thân thương
trong trái tim ông.
Hơn chín năm, một huyện miền núi ấy!
Viết đến ḍng chữ này lúc 11 giờ kém 13 phút,
ngày 27. 08. 2002
(mười
chín tháng bảy Nhâm ngọ,
năm thứ hai công nguyên Hoà B́nh).
TRẦN XUÂN AN
(29) ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 424.
(30) ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 456.
(31) ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 466.
(32) Dương Kinh Quốc,
Việt Nam, những sự kiện lịch sử (VN., NSKLS.), tập 1, Nxb. KHXH., 1981,
tr. 27.
(33) NĐNĐDVP.&TH., sđd., tr. 71.
(34) ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 472.
(35) ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 454.
(36) ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 455.
(37) Gia
phả,
sđd.; xem thêm:
Lê Tiến Công, “Niên biểu Nguyễn Văn
Tường”, trong tập
Các báo cáo khoa học
(CBCKH.),
Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường, Trung tâm Khoa học xă hội và nhân văn thuộc Đại học
Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế, 02.07.2002., tr. 141.
(38) ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 464, 459, 466, 468,
473…
(39) ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 187.
(40)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 473.
(41) ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 470.
(42) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 9, 11.
(43) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 12.
(44) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 12 – 13.
(45) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 17.
(46) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 19.
(47) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 25 – 26.
(48) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 35.
(49) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 37 – 41.
(50) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 42 – 45.
(51) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 74.
(52) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 48.
(53) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 57.
(54) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 71.
(55) ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 399.
(56) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 11.
(57) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 39.
(58) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 245, 293 – 294.
(59)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 252, 366; tập 29, sđd.,
tr. 203. Xem thêm:
Quốc triều hương khoa lục
(QTHKL.), sđd., tr. 245 – 246.
(60) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 80 – 81.
(61) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 91.
(62) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 438.
(63) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 184.
(64) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 99.
(65) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 167.
(66) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 119.
(67) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr.197.
(68) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 208 – 213, 226 – 228.
(69) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 239.
(70) NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 250 – 251.
(71) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 263 – 264.
(72) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 255 – 256.
(73) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 279 – 280.
(74) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 283 – 284.
(75) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 286 – 289.
(76) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 297 – 305.
(77) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 302.
(78) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 270.
(79) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 322.
(80) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 296.
(81) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 346.
(82) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 318 – 319.
(83) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 318 – 319.
Hết
phân đoạn 2
trọn
truyện kí thứ ba
XIN
XEM TIẾP TỆP 6
truyện kí thứ tư
(phần
1)