TỆP 7
Phân đoạn 2
truyện kí thứ tư
TRẦN XUÂN AN
PHỦ DOĂN KINH ĐÔ,
NGƯỜI TỰ NGUYỆN TỪ CHỨC,
VÀ BỊ CÁCH CHỨC
Truyện kí thứ tư
(phân đoạn 2)
6
Đêm đă khuya, ngồi sau án thư trong tư dinh phủ doăn, nh́n ngọn bấc bên vành đĩa sứ
xanh lam, màu men sứ Huế, đang cháy sáng, toả thơm mùi dầu phụng, vị
quan tuổi đă bốn mươi hai, suy nghĩ, viết tiếp tập tâu kính đệ tŕnh lên
nhà vua. Sau khi nh́n vào mấy cây nến sáp ong đang cắm sẵn trên giá,
không nỡ thắp, ông đọc lại những ḍng chữ mở đầu:
“Gần đây ở nơi kinh thành mọi người đều tụ họp kiếm ăn rất nhiều; liền mấy năm mất mùa, lúa chiêm năm nay lại tổn
hại, sau này t́nh h́nh quẫn bách so với năm ngoái sợ lại tệ hơn. Nếu đợi
đói mới cấp nuôi, rét mới cấp áo, không những thế khó làm được chu đáo
mà của kho kế tiếp sao được. Vậy nên tính việc cứu giúp từ trước, để cho
được tuỳ tiện sinh sống, rồi sẽ bổ cấp thêm” (47).
Quan phủ doăn Nguyễn Văn Tường viết tiếp:
“Xin liệt kê 4 khoản sau đây:
1.
Xin cấp cho dân ở ven núi : (sức khắp cho các xă dân, ai có thể
đi đẵn củi, đốt than, lấy song, lấy đá được th́ cho lĩnh trước tiền gạo;
rồi đẵn lấy được bao nhiêu, cho đem về [quê – ct.] quán ḿnh, tuỳ tiện
chứa tạm; cứ mỗi tháng hai (2) lần, các công cuộc sở đều phái thuộc hạ,
hội đồng với Nha Phủ doăn, tới nơi, chiểu theo giá chợ cho cân thu, khấu
trừ tiền thuê thuyền để chở về; cốt trong một tháng tính xong các khoản).
2.
Xin cấp cho dân đánh cá ven biển: (các xă khai rơ số dân nghèo,
lượng cấp cho tiền vốn công, hoặc gạo, khấu thành tiền độ ba, bốn trăm
(300, 400) quan, để nhờ đó mua chài lưới; nhưng chia làm hai (2) thành,
mỗi năm đệ nộp một (1) thành; trong hai năm, phải nộp đủ số cho vay
trước).
3.
Xin cho ruộng của các xă đă cầm cố trả về dân để cày cấy: (phàm
các xă có ruộng đất công, theo lệ quân cấp, nếu có người đem cầm cố cho
nhà giàu, xin sức giao trả xă ấy; hoặc về kỉ phần của binh dân, đều chia
ra cùng cày cấy trong một (1) năm; vụ hạ sang năm, gạo ăn của dân hơi
thư, lại giao trả tài chủ nhận để cày cấy, khấu trừ đi. Hoặc tài chủ
người nào đă có ruộng đất tư từ 5 mẫu trở lên, th́ các số ruộng đất công
lấy cầm ấy phải trả lại tất cả cho binh dân không có công nghiệp riêng;
cùng là tài chủ có một, hai (1, 2) mẫu riêng, mà lấy cầm ruộng công số
nhiều, th́ liệu để lại số ruộng công cùng với [số – ct.] ruộng tư vừa đủ
số năm (5) mẫu thôi, c̣n th́ cũng châm chước giao trả lại để đều cùng
giúp đỡ nhau; hạn trong một (1) tháng phải giao trả, chia cấp cho xong
việc để kịp thời vụ. Nếu c̣n giấu giếm, chiếm đoạt, cho dân tố giác ra,
chiểu luật “vi chế” [trái chế thư] gia thêm bậc lên mà trị tội. Lại sau
khi quân cấp, bọn binh, dân không đủ sức cày ruộng, gieo mạ cấy th́ cho
tuỳ tiện để người có của đứng lĩnh canh gặt rẽ chia đôi; hoặc do Phủ
châm chước cấp cho tiền gạo, tới ḱ lúa chín thu nộp).
Ba đều trên [xin –
ct.] đều sao lục, ở đạo Quảng Trị theo đó mà làm.
4.
Xin dời huyện lị Hương Thuỷ làm ở nơi khác: (Hương Thuỷ, Phú
Lộc [là – ct.] hai (2) huyện đường sá dài suốt; những dân ở núi, ở biển
thuộc huyện Phú Lộc, đến huyện Hương Thuỷ, đường sá xa cách; các việc
cứu giúp và khẩn yếu, thế khó kiêm coi được cả hai. Nay xin dời huyện [lị]
Hương Thuỷ đến xă Sứ Lỗ Đông, cho đường thuỷ, đường bộ được tiện, mà
đường đi được vừa đều. Cho huyện Hương Thuỷ kiêm nhiếp huyện Phú Lộc mới
đúng)” (47).
Măi đến trống canh ba, ông mới xếp lại tập tâu đă ráo
mực, vén tay áo rộng, dùng tay quạt tắt bớt một ngọn bấc đèn. Phủ doăn
Nguyễn Văn Tường quay mặt lại, bảo người lính hầu cận vốn đứng im phía
bên trái, từ đầu hôm đến giờ, cầm dĩa đèn c̣n lại, soi đường. Ra hành
lang, người lính thắp cây đèn lồng, tắt dĩa đèn. Ông và hai người lính
bước theo con đường lát gạch có mái che, nối từ thư pḥng sang nhà ở.
Trước khi từ giă hai người lính, quan phủ doăn bước ra sân đang thơm
phảng phất hương hoa, ông nh́n lên ṿm trời cao, phóng tầm mắt trông
những v́ sao cuối xuân, sắp vào hạ, lấp lánh sáng. Ông cảm thấy hơi nhẹ
ḷng một ít, nhưng vẫn c̣n nỗi băn khoăn, không hiểu nhà vua có chuẩn
cho hay không, và Viện Cơ mật có đồng thuận với ông không.
Mặc dù vua Tự Đức là một người cần mẫn, có nhiều đêm
thức đến canh tư để phê duyệt, có khi lời châu phê dài hơn cả lời tâu,
quan phủ doăn cũng phải đợi đến ba hôm sau, bởi lẽ Viện Cơ mật đă phải
bàn luận đến hai hôm. Ông nhận được tập tâu sao lục, sao lục cả lời châu
phê, từ Nội các chuyển về. Ông chỉ được nhà vua và các đại thần chuẩn y
và nhất trí một số ư tưởng. Vua phê bút son đỏ:
“Cấp tiền gạo, dời huyện lị, cốt
dân có chỗ trông nhờ được, quan không hư phí, không để thêm bận giấy tờ
th́ mới tốt. Về khoản ruộng công, thực là tệ hại đă lâu, nhưng dân t́nh
chưa rơ, khó khinh suất mà cho được”
(47).
Vua bèn sai bộ duyệt lại. Bộ Hộ, thượng thư là Phan Thanh Giản, cho là:
“Về khoản trả lại ruộng cầm cố cho dân cày cấy, chỉ thêm sinh sự làm hại
dân thôi”(47).
Rồi không thi hành (47)!
Quan phủ doăn Nguyễn Văn Tường thất vọng. Ông đă đội
nắng dầm mưa đi thăm xét t́nh h́nh nhân gian, về tổng hợp lại những ǵ
mắt thấy tai nghe, suy nghĩ trắng đêm, viết nên những kiến nghị ông nghĩ
là rất phù hợp với thực tế, với ḷng dân, đặc biệt là với đại đa số dân
nghèo, đói kém,
“tháng ba, ngày tám”
giáp hạt. Thế mà ư của Bộ Hộ cho rằng tập trung ruộng công điền cho tài chủ (địa chủ) lại tốt hơn, thây mặc dân
nghèo và neo đơn! Phủ doăn chỉ biết thở dài!
Nhưng sau đó vài hôm, nghe đâu, đến tháng sáu sắp tới
cũng định lại lệ chia đều ruộng công, trong hạn định 3 năm hoặc 6 năm
(48).
7
Sang tháng tư nguyệt lịch, phủ doăn Nguyễn Văn Tường
lại theo sự chuẩn y của vua, cho khoi lại sông Vĩnh Định, con sông từ
Huế chảy ngang qua Quảng Trị. Khúc ở Quảng Trị ấy, quăng Kim Giao, Hội
Yên cứ bị cát dưới ḷng sông đùn lên, khiến thuyền đ̣ hay bị mắc cạn!
Nhân công lần này đến ba ngàn người (3.000) với tiền công mỗi người mỗi
tháng ba quan tiền, một vuông (phương) mười lăm bát gạo (49)! Quan phủ
doăn cũng nghe tin vua chuẩn bị gợi ư cho Nguyễn Bỉnh và thám hoa Nguyễn
Đức Đạt ra khám và dựng bia đá có khắc bài văn lưu niệm cho lần khoi
sông Vĩnh Định này (50)! Tháng sáu, ông đích thân ra tận nơi để thăm xét
sông Vĩnh Định và khích lệ việc trị thuỷ, chống lũ và úng nước ở các
chân ruộng sâu (51).
Sau khi viết thêm tập tâu xin vua ngăn thuyền Quảng
Nam ra buôn gạo Thừa Thiên kẻo dân kinh sư đói kém, với ngầm ư
vượt phạm vi quản lí là xin cho thuyền vào Vĩnh Long buôn gạo ra.
Nam – Ngăi đói, Thừa Thiên – Quảng Trị nào phải không thiếu ăn!
May thay vua đă chuẩn với vốn công được cấp (52). Làm quan, không ǵ
thường xuyên thao thức bằng lo cho dân đủ no, khỏi rét!
Mấy tháng trước, mới chẩn cấp cho dân Thuận An, và cả
dân An Cư (ở chân núi Hải Vân, Thừa Thiên) bị giặc biển cướp bóc, đốt
phá (53), nay giặc biển c̣n cả gan vào cướp đồn Tư Hiền (Thừa Thiên)!
May thay đề đốc Nguyễn Cửu Lễ và phủ thừa Vũ Khắc Bí phục kích, bắn dẹp
được (54). Chúng bỏ chạy thục mạng.
Nhưng một điều hệ trọng nhất c̣n phải lo cho dân, ấy là
dân khỏi bị quan thuộc cấp nhũng nhiễu. Tri huyện Đăng Xương là Trần
Cương cùng bố là Trần Kinh lại bức dân chiếm của, ngay lập tức bị tâu
hặc. Vua cách chức, giáng phạt và truy xét cả người tiến cử (55)! Quan
phủ doăn Nguyễn Văn Tường cảm thấy mừng vui v́ huyện quê nhà thoát khỏi
một tri huyện như thế, tri huyện ấy lại trực thuộc Phủ Thừa Thiên!
Những công việc của một phủ doăn đă giúp ông hiểu từng
miếng ăn, manh áo của người dân kinh sư suốt những ngày
“hậu
chiến”, “hoà b́nh” trong thất bại,
phải nhượng bộ kẻ thù Tây dương,
lại gặp phải t́nh cảnh thiên tai dịch lệ, muà màng thất bát, khốn khó
này.
8
Sáng tinh mơ ngày gần cuối tháng mười nguyệt lịch, người dân kinh
thành Huế nghe tiếng trống báo hiệu có phiên thi hành án đại h́nh. Đặc
biệt, tiếng trống ở pháp trường Bắc Dă (An Hoà), phía ngoài cửa bắc,
thật dồn dập.
Hôm nay là ngày xử tội tên đầu sỏ Pierre Tạ Văn Phụng (Phê Rô
Phượng), người huyện Thọ Xương, Hà Nội, đă được các tên thực dân cố đạo,
vốn đội lốt một tôn giáo có tên gọi là Gia Tô, đưa sang Pénang (thuộc Mă
Lai) để đào tạo. Mấy năm trước, chúng định sai tên Phụng này đánh phá Đà
Nẵng. Nhưng Đà Nẵng không có mấy dân đạo nhẹ dạ theo giặc Tây dương,
chúng liền đưa tên Pierre Phụng ra Bắc Ḱ, bảo y đội cái tên của một hậu
duệ vua Lê là Lê Duy Minh, hoặc Lê Bảo Phụng (56).
Tên Pierre Phụng, sáng nay, bị thi hành án cùng các tên trọng phạm
khác: Nguyễn Đ́nh Ước (Quảng Yên), Lê Bá Đức (châu Tiên Yên, Quảng Yên),
Vy Xuân (phủ Hải Ninh, Quảng Yên), Phan Văn Khương (Hải Dương). Cả năm
tên đều bị lăng tŕ xử tử. Tên trọng phạm thứ sáu là Nguyễn Văn Niên (Thanh
Hoá) cùng hai mươi chín (29) tên đầu mục ngụy khác đều bị xử chém (56).
Bọn giặc theo đạo Gia Tô này đă từng được cố đạo Trường (Legrand
de la Liraye) và tên Charles Duval làm quân sư, cố vấn, quấy nhiễu hung
bạo nhất ở Bắc Ḱ, để cùng với sự tấn công đánh chiếm của lực lượng hải
quân viễn chinh ở Đà Nẵng, Nam Ḱ, thực dân Pháp, Tây Ban Nha làm sức ép
buộc triều đ́nh kí “hoà” ước Nhâm tuất (1862). Bọn ngụy ấy đă bị Charles
Duval và cả cố đạo Legrand de la Liraye bỏ rơi sau khi chúng đă đạt mục
đích tạm thời. Sau đó, bọn Pierre Tạ Văn Phụng này đă bị quân binh của
tổng thống quân thứ Nguyễn Tri Phương ra Bắc thảo phạt. Chúng tan tành
giấc mơ
“nước Bắc Ḱ theo Thiên Chúa giáo “được bảo hộ” bởi Tây dương” (56)!
Giữa tháng chín trước đây, bọn giặc Pierre Phụng
(Phê Rô Phượng) đang lênh đênh ngoài biển, gặp một đoàn tàu thuyền nước
Thanh, chúng đánh cướp, nhưng bị phản công. Bấy giờ, sóng gió nổi lên,
chúng bị băo cuốn, trôi giạt thuyền bè vào ngay chính địa hạt do phủ
doăn Nguyễn Văn Tường quản nhiệm! Những tên đầu sỏ quyền lực nhất, hung
ác nhất lại trôi vào cửa biển Hải An (Quảng Trị). Chúng toan vượt lên bộ,
t́m đường trốn. Một số tên khác trôi vào đảo Thảo Dữ (Ḥn Cỏ, Quảng B́nh),
cửa Nhượng, cửa Thuận An (Thừa Thiên). Tất cả đều bị quân binh bắt sạch,
nhốt vào cũi gỗ, giải về kinh.
Sau một tháng hơn, tra xét xong, bản án do Bộ H́nh và đ́nh thần
nghị xử đă thành.
Ḷng căm hận của những người thi hành án lăng tŕ trút xuống những
nhát dao xẻo thịt, cắt da từng miếng nhỏ trong sự gào rú kinh hồn của
bọn từng bán nước, giết dân không một chút lương tâm ấy. Máu phun ra,
trào ra ướt đẫm!
Ḷng uất hận trút xuống lưỡi đao của các đao phủ thủ: Tên trọng
phạm thứ sáu bị chém đầu cạnh đó, như một đặc ân cuối cùng. Hai mươi
chín chiếc đầu khác cùng một loạt rơi rụng! Ba mươi cần cổ phụt máu đỏ
ḷm, tanh tưởi!
Ngót cả vạn người dân, hôm ấy, c̣n chứng kiến sáu tên giặc phản
quốc thuộc loại trọng phạm bị mổ ngực, bị lấy gan tim, để làm lễ tế
chiến sĩ trận vong và bao người dân lành vô tội khác, để tưởng niệm,
thương nhớ trong đau xót về đất đai và nhân dân ba tỉnh Miền đông Nam Ḱ.
Sáu bộ tim gan bọn bán nước, tay sai của thực dân và “tả đạo” Pháp, Tây
Ban Nha được đựng trong sáu chiếc đĩa lớn, c̣n tươi màu máu. Đứng gần,
có thể thấy hơi nóng thân nhiệt c̣n bốc lên.
Nhiều người ngất xỉu v́ sợ hăi, khiếp đảm.
Trong hàng vạn người tham dự buổi hành h́nh theo quan niệm
“lấy ác trị ác”
từ thời trung cổ vẫn c̣n tồn tại đến hiện thời,
có những dân đạo và giáo sĩ đạo Gia Tô. Họ làm dấu thánh, để nhớ đến cây
thập tự tử h́nh Chúa Giê Su của người Do Thái! Chúa Giê Su bị đóng vương
miện bằng gai nhọn vào đầu. Chúa bị quất bằng roi câu rút, từng miếng
thịt da bị giựt rứt. Áo đă khô máu, bết vào da, lại bị lột ra, toàn thân
Chúa bật máu. Chúa bị đóng đinh trên cây thập tự, thoi thóp đến ba ngày,
ba đêm trong đau đớn, khát nước đến cháy bỏng họng. Lưỡi giáo “ân huệ
cuối cùng” của lính thi hành án xuyên vào hông, đâm thốc lên tim Chúa
(57). Với liên tưởng ấy trong đức tin sai lệch, những người dân đạo và
giáo sĩ kinh đô Huế làm dấu thánh và khẽ đọc: A-men! Họ nhận thức với
niềm tin tôn giáo đă bị các cố đạo thực dân nhồi sọ về Giê Su xứ Na-za-rét
của dân tộc Do Thái một cách đảo ngược, đảo ngược hành trạng và ư nghĩa
trong sự thật lịch sử Do Thái – La Mă như thế!
Nắng ở pháp trường Bắc Dă đă lên cao. Gần cả vạn người tập trung
theo lệnh các tổng lí và cũng v́ căm hận bọn bán nước, tay sai, đến lúc
này, một số đă tản về bớt. Những người c̣n ở lại quanh cánh đồng hành
h́nh c̣n chứng kiến một đao phủ thủ đă vung đao chém luôn ba thủ cấp ĺa
khỏi cổ ba xác chết: Pierre Phụng, Ước, Đức, bỏ vào tiểu sành, đặt trong
ḥm gỗ nhỏ. Theo bản án của Bộ H́nh, ba chiếc đầu này sẽ bị chuyển ra
Quảng Yên, Hải Dương cho nhân dân ngoài đó hả ḷng căm thù và để răn
những tên phản quốc khác (56).
Những người chứng kiến cuộc trừng phạt theo án xử hôm ấy c̣n được
thấy một trăm ba mươi lăm (135) tên phản quốc, được gọi là
“giặc theo đạo Gia Tô”,
cũng là đồng bọn với hai mươi chín tên đầu sỏ, đầu mục đă đền tội kia.
Chúng bị đóng gông, quỳ trên đất mọc lan đầy và xâm xấp cỏ cú, cỏ gà,
chứng kiến cuộc hành quyết diễn ra (56).
Trong những tuần sau, quân binh thuộc triều đ́nh và phủ Thừa Thiên
– Quảng Trị c̣n bắt được nhiều tên đồng bọn
“giặc theo đạo Gia Tô”
này, con số lên đến năm trăm (500) tên. Chúng được tha chết nhưng phải
đền tội với các mức án thấp hơn án tử h́nh (56).
8
Quan phủ doăn Nguyễn Văn Tường rời án thư, bước đến bộ trường kỉ bằng
gơ (gụ) được chạm trổ rất tinh tế bởi những bàn tay nghệ nhân làng Mỹ
Xuyên, một làng nghề truyền thống giáp giới Thừa Thiên – Quảng Trị. Trên
mặt bàn, một bộ khay chén trà nạm bạc, được cấp để tiếp khách. Người
lính hầu cận hiểu ư, bước đến, bỏ trà vào b́nh, châm nước.
Nhấp ngụm trà ướp hương lài đầu tiên, đặt tách xuống, quan phủ
doăn cho gọi viên chánh bát phẩm thư lại.
- Bẩm, quan cho gọi…
- Anh lấy cuốn sổ nhật biên, cho ta xem những đề mục ghi công việc
mấy tháng gần đây.
- Bẩm, vâng.
Lát sau, viên thư lại tŕnh quan phủ doăn:
- Bẩm, sổ nhật biên đây ạ.
- Được, anh để đó.
Quan phủ doăn mở cuốn sổ khá lớn, đọc và ngẫm nghĩ về những điều
lưu ư, những công việc đă và sẽ tiếp tục làm cho hoàn tất:
[…] (58)
Năm Tự Đức thứ mười bảy, Giáp tí (1864):
Tháng mười:
Tham tri Bộ Binh, hiệp lí thuỷ sư Nguyễn
Luận (tên cũ trong ḱ thi hương năm Thiệu Trị thứ nhất [1841] là Nguyễn
Văn Tường) trước đây bị Đặng Huy Trước [Đặng Huy Trứ] tâu hặc về tội
nhũng nhiễu binh đinh, đ̣i tiền hối lộ, đến nay tra xét xong, thành án:
cách chức cho về sổ dân. Vua sai sao lục bản án chuyển giao cho các
doanh vệ để biết, lấy đó làm răn […] (58).
Năm Tự Đức thứ mười tám, Ất sửu (1865):
Tháng tư:
Phủ thần Thừa Thiên xin đưa Đinh Đạo (Ưng Đạo) và bốn người trong gia
đ́nh đến tế mộ thân sinh là Đinh Bảo (Hồng Bảo), vào dịp hài cốt Đinh
Bảo được cải táng, để Đinh Đạo trọn t́nh cha con, và nếu được như thế,
cũng là tỏ rơ t́nh vua ưu ái cho bề tôi […] (59).
Tháng năm:
1) Đề đốc Nguyễn Cửu Lễ xin tăng cường pḥng thủ mặt biển. Các đại thần
Phan Thanh Giản, Đoàn Thọ, Trần Tiễn Thành… đến kiểm xét. 2) Lưu Hội
thay Nguyễn Cửu Lễ làm đề đốc kinh thành. 3) Phủ Thừa Thiên sửa lại
Trường thi ở cửa Ninh Bắc […] (60).
Tháng chín:
1) Thị độc học sĩ Phan Trung theo lời dụ của vua ra kinh. 2) Cho người
lạc quyên ra làm việc. 3) Phủ Thừa Thiên theo đơn tố cáo, phái người đến
khám xét ao sen đă hoá ruộng của Phú B́nh công Miên Áo (cha của Vũ Tập [Hồng
Tập]), vốn bị con cái bán cho Ninh Thuận công. Kết quả khám xét: Phú
B́nh công Miên Áo cũng bao chiếm trái phép! […] (61).
Tháng mười:
Vua dụ cho kinh doăn Nguyễn Văn Tường và
các tỉnh thần tiến cử người hiền đức, theo câu nói của tiền nhân ngày
xưa:
“Tiến [cử] được người tài, sẽ được thưởng hậu; che giấu [ém tài], sẽ bị giết”
[…] (62).
Tháng mười một: 1) Nuôi tằm ở Thái thường tự. Phủ Thừa Thiên tuyển người. 2)
Xin vua đặt chức điển học (đốc học) ở đạo Quảng Trị. 3) Uỷ lạo các buôn
làng cống dân ở đạo Cam Lộ, Quảng Trị. 4) Xin pḥng kiểm thêm gia đ́nh
Đinh Đạo (quan hệ với pḥ mă Nguyễn Đ́nh Tứ – con trai cựu thượng thư
Nguyễn Đ́nh Tân). Đức vua hỏi ư kiến phủ doăn Nguyễn Văn Tường về vấn đề
Đinh Đạo. Phủ doăn phụng đáp: Không dám lạm bàn, chỉ xin giảm ở mức chia
ghép các người em của Đinh Đạo tại các tỉnh gần… […] (63).
Tháng mười hai: 1) Về thanh tra, Phủ Thừa Thiên nay thuộc Đạo Kinh ḱ của
Viện Đô sát. 2) Đức vua lấy ư kiến triều thần, phủ, tỉnh, đạo thần về
việc cấm hẳn hay đánh thuế thuốc phiện thật nặng (xem như cấm, chỉ người
giàu mới hút nổi) […] (64).
Năm Tự Đức thứ mười chín, Bính dần (1866):
Tháng hai:
Nhân đợt xét công hai khoá, gồm 6 năm (từ năm Tự Đức thứ mười bốn, Kỉ
mùi [1959], đến nay): thự phủ doăn Nguyễn Văn Tường mới thăng chức, nên
chỉ được thưởng thêm một cấp […] (65).
Tháng năm:
Thừa Thiên và tám (8) tỉnh khác được mùa […] (66).
Tháng sáu:
Đạo đồ Nguyễn Hoằng (người Hương Khê, đạo Hà Tĩnh), vốn biết tiếng Pháp,
được điều về kinh đô Huế làm việc phiên dịch […] (67).
Tháng bảy:
Thượng thư Bộ Hộ Phạm Phú Thứ xin đặt chức tuyên phủ sứ ở 4 tỉnh và ở
đạo Cam Lộ, Quảng Trị; lại đề xuất: bề ngoài là buôn bán ở thành, ở chợ,
bên trong là việc quân; và một số ư kiến khác. Nhà vua chỉ đồng ư đặt
tuyên phủ sứ ở đạo Cam Lộ và vẫn đặt lưu quan, c̣n thế tập thổ tù, phải
xem lại […] (68).
[…].
Những công việc của phủ doăn cùng những người đồng sự thật
bộn bề, tuy b́nh thường, ngỡ b́nh thường đến nhàm nhạt, nhưng cũng có
nhiều sự việc cứ ám ảnh măi không nguôi hoặc trở thành kỉ niệm đáng nhớ,
ít ra cũng có thể rút ra nhiều bài học trong việc kinh bang tế thế (sửa
nước cứu đời) của kẻ sĩ rời nhà tham dự vào chính trị.
Quan phủ doăn nhấp thêm một ngụm nước trà, ông suy nghĩ, ôn lại
những ǵ đă tiến hành, giải quyết, những ǵ đang dở dang, chưa hoàn tất.
Quan phủ doăn Nguyễn Văn Tường chợt nhớ đến lần gặp hai giám mục
Pháp, Phê Chính Hoà (Croc), Ngô Gia Hậu (Gauthier) và giáo sĩ Nguyễn
Trường Tộ với sự hiện diện của hai thượng thư Trần Tiễn Thành, Phạm Phú
Thứ (69). Sắp đến đây, hẳn sẽ c̣n phải ít nhiều tranh biện, thuyết phục
giáo sĩ Nguyễn Hoằng nữa đây! Đức vua Tự Đức đă viết Đạo biện, quan phủ
doăn vẫn c̣n nhớ:
“Cái mà người ta gọi là Đạo không có ǵ huyền bí hết, không phải do thượng đế nào lập nên, mà ấy là theo Tính,
theo cái Tính của con người mà trời phú từ thuở sơ sinh: Theo Tính, gọi
là Đạo. Nói Tính, ấy là nói luân thường, bởi vậy cho nên ngoài nhân luân
ra th́ không có Đạo khác, chỉ có Đạo làm người mà thôi. Đạo chỉ có một
mà thôi. C̣n đạo Lăo, đạo Thích, đạo Gia Tô, v.v… là những thứ mà chúng
tự tôn là Đạo của chúng, chớ thực ra không phải là Đạo. Những thứ đó
không phải là Đạo bởi v́ những điều cơ bản mà họ chủ trương, nào tịch
diệt, nào vô vi, nào thiên đường, Thiên Chúa, đều không phải là Tính
người, đều không phải là luân thường”![…] “… C̣n như Gia Tô là hạng
người nào mà dám cho ḿnh là Thiên Chúa?”. […] “Xuống trần cứu đời mà
chính bản thân ḿnh c̣n không cứu được th́ c̣n cứu ai?” […] (70).
Có những điều nhà vua nói với cách nói đế vương,
nhưng ư tưởng bên trong không phải không ít nhiều sắc bén. Ông chưa rơ
Nguyễn Hoằng là người như thế nào, liệu có hiểu nổi
nhân tính, nhân luân,
đạo làm người,
tế thế, cứu
thế
theo quan niệm ít ra là như thế không. Nghe đâu, y tầm thường hơn Nguyễn Trường Tộ, kém xa Trương Vĩnh Kí rất nhiều!
Lại nhấp một ngụm nước trà đă nguội, quan phủ doăn thấy chẳng có
ǵ phải tranh luận v́ cái chính là vấn đề chúng cướp nước, cướp dân và
ta đang mất ba tỉnh Nam Ḱ, mất một bộ phận dân theo “tả đạo” ngay ở
Trung Ḱ, Bắc Ḱ! Sự thật đó chưa đủ sáng mắt ra sao, c̣n ǵ để tranh
luận nữa!
Cướp nước là
cứu thế
ư?
9
Sau ba ngày mở đàn chay, buổi tối cuối chưa trả lại sự yên tĩnh
thường ngày của sân chùa Pháp Vân. Hơn một trăm dân phu và nhiều đạo hữu
vẫn c̣n chờ tuần kinh giải đàn khuya nay. Thật ra, Đoàn Trưng (71) và
những người trong nhóm đứng đầu Đông Sơn thi tửu hội của ông đă lặng lẽ
rời chùa. Năm người chia ra ba đường khác nhau nhưng cùng hẹn đến nền
làng cũ Dương Xuân Thượng, một làng mà dân cư đă dời đi định cư nơi khác.
Đất làng trở thành chỗ xây dựng lăng Vạn Niên. Nơi đó trở thành một công
trường với tên gọi dân gian là “xưởng thợ”, có hàng ngàn thợ giỏi đang
thi công.
Vạn Niên cát địa đă được chuẩn định từ tháng chín Giáp tí (1864),
đến tháng mười một, “xưởng thợ” bắt đầu khởi công (72). Như thế là đă
hai mươi mốt tháng đổ mồ hôi, sôi nước mắt, nắng lửa, mưa dầu, gió buốt
như dao cắt!
“Vạn Niên là Vạn Niên nào
Thành xây: xương lính! Hào đào:
máu dân!”
Năm nay, đă là năm Tự Đức thứ mười chín, Canh dần (1866).
Vầng trăng tháng tám khuya mùng tám, gần Tết Trung thu, đă lặn sau
những rặng núi phía tây. Theo hiệu lệnh đă bàn trước, trong số hàng ngàn
người thợ, có cả vài trăm người bỗng cầm lấy khí giới vốn đă được cất
giấu bí mật, và sẵn sàng tuân theo lệnh Đoàn Trưng.
Một người thi lễ với một chân quỳ, một chân ở tư thế chuẩn bị đứng
dậy, dâng bằng hai tay một thanh gươm lệnh cho Đoàn Trưng. Ông nhận lấy,
rút ra, lưỡi gươm sáng quắc, với giọng nói cũng rất đanh thép:
- Hăy nghe ta truyền sắc chỉ! Bắt lấy hai tên thống chế Nguyễn Văn
Xa, biện lí Nguyễn Văn Chất! Ta tuân sắc chỉ đến đây để trói Nguyễn Văn
Xa, Nguyễn Văn Chất, giải về, chờ lệnh của hoàng tôn Ưng Đạo. Sáng mai
sẽ làm lễ đăng quang! Hoàng tôn Ưng Đạo là vị tân hoàng đế sẽ được tôn
lập của nước Đại
Nam! Ai kháng chỉ
sẽ bị xử tử! Ai tuân lệnh sẽ được thưởng hậu!
- Xin tuân chỉ! Xin tuân lệnh truyền! – Nhiều tiếng đáp khá rập
ràng –.
Nhưng những người thợ bỗng trở thành quân binh ấy chỉ bắt trói
được thống chế Nguyễn Văn Xa lúc y đang ngủ ngon giấc. Họ để sổng mất
Nguyễn Văn Chất, tên biện lí hà khắc, tàn nhẫn với thợ thầy nhất. Vài
trăm người vốn được vận động trước cùng với ba anh em họ Đoàn (Đoàn
Trưng, Đoàn Hữu Ái, Đoàn Tú [Tư] Trực), Trương Trọng Hoà và Phạm Lương
tạo nên một khí thế xốc dậy tinh thần phản kháng của hàng ngàn thợ thầy
trên công trường. Hàng ngàn người cầm lấy những ǵ có thể trở thành vũ
khí chiến đấu, trong đó chày gỗ để giă vôi là nhiều nhất. Theo sự phiên
chế đă vạch ra trước, những người mới thức tỉnh ngay lúc đó được hướng
dẫn bởi hàng trăm người vốn đă được bí mật giác ngộ và liên kết từ lâu.
Suất đội Bùi Văn Liệu đă vận động từ lâu hai mươi lính tráng dưới quyền
của ḿnh. Lúc này, như bỗng dưng được truyền chất lửa, máu được hâm nóng,
suất đội Nguyễn Tăng Hựu, đội trưởng Lê Văn Cơ cùng các biền binh liền
ứng nghĩa.
Hàng ngàn nghĩa binh Chày Vôi chia làm ba đạo quân. Đoàn Tú [Tư]
Trực và một thủ lĩnh người làng Dă Lê là Nguyễn Văn Vũ chỉ huy tiền đạo.
Chỉ huy trung đạo, không ai khác hơn là Đoàn Trưng, Đoàn Hữu Ái và Phạm
Lương. Trương Trọng Hoà và, đặc biệt nhất, nhà sư trụ tŕ chùa Long
Quang là Nguyễn Văn Quư chỉ huy hậu đạo. Ba đạo quân lần lượt vượt nhánh
sông Phủ Cam, vốn tách từ chỗ cồn Dă Viên của sông Hương chảy về An Cựu,
rồi vượt cả sông Hương, ào ạt tiến lên bờ bắc, ngay trước Phú Văn Lâu.
Họ đợi tiếng súng lệnh theo lệ thường, mỗi sớm tinh mơ, lúc bắt đầu canh
năm, đều vang lên, báo hiệu một ngày mới, cũng là lúc các cửa hoàng
thành trong kinh thành mở cánh. Khi tiếng súng theo lệ thường ấy nổ vang,
quân tiền đạo và trung đạo tiến vào cửa Chính
Nam,
lại sấn vào cửa Ngọ Môn. Nghĩa binh Chày Vôi chia ra hai nhánh, áp sát
hai trại binh Cẩm Y và Kim Ngô ở hai bên tả hữu, thu lấy khí giới.
Nguyễn Tăng Hựu đoạt được gươm bạc chỉ huy của hai trại binh ấy, và
truyền bảo tất cả quân lính hộ thành ở đó phải tuân lệnh, lặng nghiêm.
Thống chế quyền chưởng Hữu quân Tôn Thất Cúc, vốn đă bí mật liên kết từ
trước, xuất hiện ở cửa đại, ông gặp Đoàn Tú Trực, trao đổi trong chớp
nhoáng, liền quay bước vào cửa tả. Đoàn Tú Trực dẫn quân theo. Bất thần,
phó vệ uư Nguyễn Thịnh sấn đến. Ngay lập tức, thống chế Tôn Thất Cúc
lánh mặt. Chỉ huy sứ Phạm Viết Trang phối hợp với Nguyễn Thịnh đóng cửa,
phản công, quyết đánh lùi nghĩa binh Chày Vôi. Nghĩa binh vẫn tiến công,
phá cửa, vung gươm chém Nguyễn Thịnh và Phạm Viết Trang bị thương tại
chỗ. Nghĩa binh vẫn ào ạt tiến đến nhà Duyệt Thị. Tại đấy, Hồ Uy (chưởng
vệ quyền chưởng doanh Long Vũ) liền rút gươm đốc thúc quân sĩ nghinh
chiến.
Đoàn Tú Trực đang so gươm với Hồ Uy. Hai người đang dốc hết những
tuyệt chiêu với những đường gươm quyết đốn hạ đối phương. Chỉ một thoáng
sơ hở của Hồ Uy, lưỡi gươm của Đoàn Tú Trực đă chém đứt cả vành úp bằng
đồng ở chiếc mũ Hồ Uy đang đội, chém phạt một vành tai của viên chưởng
vệ ấy. Theo đà, đường gươm ấy bổ xuống vai Hồ Uy, nhưng lần nháng lửa
thứ hai này, không thể đủ lực để chém đứt ngù vai cũng bằng đồng của
chiếc áo giáp Hồ Uy đang mặc. Máu bắn ra, Hồ Uy hoa mắt, sợ nghĩa binh
đột nhập được vào nội cung, vội ra lệnh:
“Nội giám đóng ngay cửa Tả Xương!”. Hồ Uy rút vào băng bó để tiếp tục phản công.
Trong lúc đó, Đoàn Tú Trực phóng đi t́m bắt chưởng vệ Trung quân
Đoàn Thọ.
- Đoàn Thọ đang ở đâu? – Đoàn Tú Trực quát hỏi những người lính –.
- Bẩm, ở điện Thái Hoà! – Những người lính đáp –.
Ngay lập tức, Đoàn Tú Trực quay lại điện Thái Hoà. Trên sân ngôi
điện lớn nhất (bên trong điện đặt ngai vàng của hoàng đế), hai anh em họ
Đoàn, chỉ huy tiền đạo và trung đạo gặp nhau. Lúc ấy, chỉ huy trung đạo
Đoàn Trưng đang tập hợp khoảng năm đến sáu trăm nghĩa binh Chày Vôi trên
sân điện, xếp theo hàng ngũ. Suất đội nghĩa binh Nguyễn Tăng Hựu lấy mác
sắt ở vệ Cẩm Y cắm từng hàng sáng quắc dưới ánh hừng đông mới hé.
Bấy giờ, phó vệ uư Nguyễn Thịnh cùng cai đội Trần Đức Lư đang
quyết giữ cửa nách Ngọ Môn. Chưởng vệ Hồ Uy ra hiệu lệnh cho các quân
thuộc đội Thị Vệ, Cẩn Tín, Túc Trực (?) khẩn trương phản công.
Đoàn Trưng cho gọi đội Loan Giá đem kiệu ra đón rước hoàng tôn Ưng
Đạo. Kiệu loan ra đến nửa đường, liền bị Hồ Uy quát mắng:
“Phải lui ngay!”.
Chỉ vào nghĩa binh, Hồ Uy lại quát:
“Lũ ngươi cam tâm theo giặc à?”. Không hiểu sao chỉ với tiếng quát như
vậy, nghĩa binh thuộc đoàn đi đón rước tân hoàng đế lại lui tan hết, chỉ
c̣n khoảng ba mươi viên.
Hồ Uy và cai đội Cáp Văn Sâm rút gươm quyết hạ sát Đoàn Tú Trực.
Lần này, không địch nổi, Đoàn Tú Trực đă trúng thương, ngă xuống.
Không những chỉ Đoàn Tú Trực bị bắt trói, ngay cả Đoàn Trưng cũng
không thoát được. Thấy thế bại, Đoàn Hữu Ái chạy vào bếp Sở Hộ vệ rút
đao tự vẫn. Quân triều đ́nh truy t́m, bắt được Đoàn Hữu Ái với vết đao
đẫm máu. Nguyễn Văn Vũ (đồng chỉ huy tiền đạo với Đoàn Tú Trực) nhảy đâm
đầu xuống ao Thái Dịch, tự sát, bị Vũ cử Nguyễn Văn Thích thuộc quân
triều đ́nh tức tốc lao theo, bắt được.
Lúc cuộc tiến công và phản công đang diễn ra, hậu đạo nghĩa binh
Chày Vôi, do Trương Trọng Hoà và nhà sư Nguyễn Văn Quư chỉ huy, đă tiến
đến bờ nam sông Hương. Sư Nguyễn Văn Quư nghe tin thám báo, biết việc
không thành, bèn đi về chùa Pháp Vân, ngôi chùa bạn đồng tu của ông đang
trụ tŕ. Trương Trọng Hoà không được báo tin, vẫn chưa biết, định đem
cánh quân nghĩa binh dưới quyền ḿnh vào trại quân doanh Thần Cơ thu lấy
khí giới. Hiệp quản vệ Thần Cơ liền lấy áo quan vơ và thẻ bài trao cho
Trương Trọng Hoà. Sau đó, hiệp quản Vũ Giác đi theo quân nghĩa binh Chày
Vôi, đánh trống làm hiệu. Các tướng thuộc quân triều đ́nh, Nguyễn Hùng,
Lê B́nh đem quân ra khỏi cửa Chương Đức (phía hữu hoàng thành), phối hợp
với Lê Sỹ, phản công, truy kích, bắt được Trương Trọng Hoà. Mặt khác, họ
phái quân đến chùa Pháp Vân, t́m bắt nhà sư Nguyễn Văn Quư, vốn trụ tŕ
chùa Long Quang, mấy lâu nay tới cư trú tại đấy với hai nhà sư khác,
Nguyễn Văn Viên và Nguyễn Văn Lư.
Các cửa kinh thành và hoàng thành đều bị đóng chặt, toàn bộ quân
khởi binh tiến vào thành đều đă bị bắt. Số c̣n lại, chạy về đội cũ, hoặc
thoát về công trường, xưởng thợ ở Dương Xuân Thượng, cũng có một số bỏ
trốn, mất tích.
Lúc trời đă sáng hẳn, nhân dân kinh thành Huế và những nơi lân cận
mới được lệnh cho mở cửa nhà. Tin về cuộc đảo chính truyền từ nhà này
sang nhà khác, gây nên sự xáo động dữ dội nhất, hơn cả vụ biến Hồng Tập
và sĩ tử trường thi năm kia.
Phủ doăn Nguyễn Văn Tường lập tức cùng những người hầu cận đến
công đường. Ông cho lính phủ chia đường chạy qua dinh đề đốc Nguyễn Hữu,
người mới nhậm chức thay Lưu Hội, đồng thời chạy qua dinh phủ thừa Vũ
Khắc Bí, dinh hộ thành phó sứ Nguyễn Tuần. Mặt khác, những người lính
được phái đến Bộ Binh và các nơi hữu quan để thu thập tin tức.
Khi đă phân phái xong, đang sốt ruột chờ xem t́nh h́nh diễn ra thế
nào để đối phó, quan phủ doăn nhận được sắc chỉ: Tất cả phủ thần, và cả
tri huyện Hương Thuỷ Nguyễn Thừa Huy, đều bị tạm thời quản thúc tại
công đường. Quân binh trực thuộc Bộ Binh vây kín nơi ông đang làm việc
với gươm súng và nai nịt nghiêm chỉnh. Quan phủ doăn Nguyễn Văn Tường
lạnh người, nhưng vẫn giữ được vẻ b́nh tĩnh cố hữu.
Măi đến một tuần trăng sau, ông và các đồng sự vẫn tiếp tục làm
các công việc như thường lệ trong điều kiện bị quản thúc tại công đường.
Trung thu năm ấy, vầng trăng sáng trong nhất trong năm cùng ông thao
thức, suy tư.
Bản án về vụ đảo chính đă được Tôn nhân phủ, đ́nh thần nghị xử và
thi hành. Quan phủ doăn Nguyễn Văn Tường đọc bản thông tư triều đ́nh gửi
về các phủ, tỉnh:
“Đinh Đạo đến tế mả cha hắn là Đinh Bảo, lũ giặc ấy trông thấy cho là không phải người thường, đem ḷng kính
mến, mưu dựng lên làm vua để mong giàu sang. Các thân công là lũ Miên
Định mật tâu xin trừ đi. Vua đem việc ấy bảo các quan đại thần xem lại,
[các đại thần] xin y. Vua bảo rằng: “Ḷng ta nếu không thể giăi tỏ với
mọi người, [th́] c̣n có thể giăi tỏ với muôn đời, v́ sự yêu ghét [hiện
nay] đă thiên lệch, không thể bắt ép [mọi người] giống nhau được. Từ xưa
[cũng đă] có nhiều việc như thế. Nhưng [ta] ḷng tự hỏi ḷng, không chút
thẹn riêng. Trẫm từ trước đến nay, thương giấu [anh ruột là Hồng Bảo,
cháu ruột là Ưng Đạo] cho nên trái với lời nói mọi người, để đến có việc
ngày nay, thực là khổ tâm vô hạn! Nay không thể thôi được [việc] nghĩ
đến xă tắc, không thể không theo lời các thân công và các quan đại thần.
Làm ơn không đầy đủ, vẫn tự thấy thiếu, nhưng trừ kẻ ác cốt phải ḱ hết,
nên quả quyết th́ quả quyết, trẫm [thà] chịu tiếng hung ác, tàn nhẫn, mà
trừ hết mầm ác, không để lo cho người sau. [Có thể] lũ tiểu nhân [nhân
việc tận diệt,] có mượn cớ, [th́ cứ] cho là [trẫm nhằm mục đích] để giữ
kế lâu dài. Việc phải hay trái đă có công luận, không phải vua tôi ta có
dụng tâm” (71).
Lời dụ tiếp theo: Gia đ́nh Đinh Đạo (Ưng Đạo) gồm mẹ và các người
vợ cùng bốn người con trai lẫn gái, tất thảy tám (8) người đều bị thắt
cổ chết, để được toàn thây, lại được cấp cho quan quách, vải lụa để chôn
(71).
Thống chế quyền chưởng Hữu quân Tôn Thất Cúc đă uống thuốc độc tự
sát, vẫn bị xẻo thây từng mảnh, chặt đầu đem bêu, và phải đổi theo họ mẹ,
thành Nguyễn Cúc (71).
Thủ phạm: bốn (4) người: Đoàn Trưng, Đoàn Tu” Trực, Trương Trọng
Hoà và nhà sư Nguyễn Văn Quư. Yếu phạm: mười ba (13) người khác. Tất cả
đều bị lăng tŕ, bêu đầu. Thân thuộc họ đều bị bắt, gia sản bị sung công.
Tám (8) người khác: trảm đầu đem bêu (71).
Con gái Tùng Thiện công Miên Thẩm trước đây được gả cho Đoàn Trưng.
Hôm ấy, khi xảy ra cuộc đảo chính, nhà thơ quư tộc Miên Thẩm liền trói
con gái và cả cháu ngoại đem nộp! Ông c̣n tự nhận lỗi là không biết hặc
tội tâu lên trước, xin dâng sớ chịu phạt. Vua cho là Miên Thẩm chỉ có
tội kén rể không kĩ, phải phạt bổng tám năm (71).
Thống chế Nguyễn Văn Xa, biện lí Nguyễn Văn Chất đều bị giải chức.
Sau đó, cả hai được nghị xử và dụ chuẩn với mức án cách chức, cho hiệu
lực (71).
C̣n phủ thần kinh sư?
Bản nghị xử ghi rơ:
“V́ sơ suất việc canh pḥng, kiểm soát”
(71).
Phủ doăn kinh sư (thống lĩnh phủ Thừa Thiên, kiêm quản đạo Quảng
Trị) Nguyễn Văn Tường, phủ thừa Vũ Khắc Bí, hộ thành phó sứ Nguyễn Tuần
và cả tri huyện Hương Thuỷ Nguyễn Thừa Huy đều bị cách chức, cho gắng
sức làm việc chuộc tội! Đề đốc Nguyễn Hữu (người mới nhậm chức thay Lưu
Hội), v́ vừa nhận chức vụ mới ít ngày, cũng bị giáng xuống suất đội Cấm
Binh (71).
Và ngay tức khắc, Vơ Hiển điện đại học sĩ Nguyễn Tri Phương cùng
hiệp biện đại học sĩ Vũ Trọng B́nh được vua Tự Đức vời về kinh, nắm giữ
Bộ Binh và Bộ Lại (73)! Để trấn tĩnh công luận, Nguyễn Tri Phương tâu
xin nhà vua xuống chiếu tự phê b́nh (tự trách)! Nhà vua lần này lại t́m
cách từ chối, bởi cho rằng không lẽ cứ tự trách măi (74)!
10
Thế là Nguyễn Văn Tường đă hoàn toàn bị cách chức, sau hai năm hai
tháng nhiệm chức phủ doăn! Ông b́nh tĩnh nghe quyết định nghị xử ấy vào
một buổi sáng cách vụ chính biến mùng tám tháng tám đúng mười ngày, lúc
ông và các đồng sự vẫn bị tạm quản thúc để điều tra tại các công đường
của họ. Ông không biết ḿnh sẽ bị đi làm việc chuộc tội ở đâu! Sung quân?
Cắt cỏ chăn voi? Tạp dịch ở một vùng núi non hiểm trở như đỉnh Hải Vân,
hay biên giới phía
Nam,
phía Bắc? Điều ông ước ao nhất là được trở lại Thành Hoá với kế hoạch
ông đă dâng sớ lên vua Tự Đức, và năm ngoái ông cũng đă có lần t́nh
nguyện từ chức để về Thành Hoá thực hiện kế hoạch ấy nhưng đức vua từ
chối. Biết đâu, đây là một dịp may (75)!
Nguyễn Văn Tường chợt nhớ, vài hôm nữa sẽ đến sinh nhật của ông,
hai mươi bốn (24) tháng tám (8) nguyệt lịch. Sắp tṛn bốn mươi hai năm
chẵn được sinh ra đời, cộng chín tháng mười ngày trong ḷng mẹ! Bốn mươi
ba tuổi! Ông mỉm cười, thấm thía thấu hiểu nỗi thăng trầm của kẻ sĩ dấn
thân trên con đường chính trị, kinh bang tế thế! Mặc dù không thiện cảm
với thói
“chữ t́nh là cái chi chi, chẳng chi chi cũng chi chi với t́nh”
của Nguyễn Công Trứ, ông cũng thừa nhận cụ Uy Viễn tướng công rất bản
lĩnh lúc tự bảo:
“Khi làm quan, ta không
lấy làm vinh; khi làm lính, ta không lấy làm nhục”!
Với ông, vinh và nhục đâu chỉ quy về cá nhân bản thân và
lấy cái cá nhân bản thân để định giá!
Vụ biến Hồng Tập và sĩ tử trường thi phản đối nghị “hoà” đă đánh
thức trong Nguyễn Văn Tường nhiều suy tư về thái độ của nhiều hạng người
đương thời. Vụ đảo chính Đoàn Trưng liên kết với các nhà sư Phật giáo và
thợ thầy Chày Vôi c̣n nóng bỏng, suy xét cho tận cùng, là ǵ? Đích thực,
đúng nghĩa, đó là một cuộc lật đổ vua Tự Đức, lập nên một minh đế cho
nhà Nguyễn trước nạn ngoại xâm của thực dân cầm súng đạn và thực dân cầm
cây thập tự tử h́nh đă bị xuyên tạc ư nghĩa. Nguyễn Văn Tường chợt nhớ
mấy câu trong
Trung nghĩa ca,
người con rể của Tùng Thiện vương Miên Thẩm viết từ hai năm trước:
“Gia Tô nội ứng ghê thay
Giúp đem lương thực chẳng ngày nào
không”
“Ngoài thời Tây tặc lưới giăng
Trong thời tả đạo chạy quanh bốn bề”
“Trong trừ tả đạo cho thanh
Ngoài cùng Tây tặc tranh hành một phen”
(76)
Trong hai năm gần đây, nhiệm vụ vua Tự Đức giao phó cho Nguyễn Văn
Tường ở kinh sư và cho Ngụy Khắc Đản ở Nghệ An là “hiểu bảo cho dân giáo”
trước t́nh h́nh mâu thuẫn lương – đạo ở hai điểm nóng ấy rất gay gắt,
lương – đạo thường xuyên khích bác nhau. Ông chưa bao giờ xao lăng nhiệm
vụ ấy. Ông đă nhiều lần gặp giám mục, linh mục sở tại và cả giám mục
Croc (Phê Chính Hoà), giám mục Ngô Gia Hậu (Gauthier), giáo sĩ Nguyễn
Trường Tộ từ Nghệ An vào, để nói với họ một điều:
Đừng để giáo dân bỏ quên đến mức ngày càng xa lạ với phong tục thờ cúng tổ tiên và anh hùng dân
tộc Việt Nam.
Và cũng chỉ hỏi Croc, Gauthier, Nguyễn Trường Tộ (69):
Tại sao người Việt lại tôn sùng Nhi-nhu (Jésus) và Đức mẹ Đồng trinh của Do Thái trong khi Việt Nam (Đại Nam) có biết bao anh hùng
chống ngoại xâm thời một ngàn năm Bắc thuộc, như Trưng Trắc, Trưng Nhị,
Triệu Thị Trinh, Mai Thúc Loan… Thế mà họ vẫn ngoan cố đến mức không thể
hiểu nổi! Chiếm cả ba tỉnh Miền đông Nam Ḱ, Pháp và “tả đạo” c̣n muốn
chiếm cả ba tỉnh Miền tây trong đó, thế mà những kẻ mị yêu nước vẫn lừa
người được sao? Bây giờ, ngay sau vụ biến
Chày
Vôi
này, họ đă lên đường sang Pháp với dụ chuẩn y của vua Tự Đức cùng tiền nong của triều đ́nh nhà Nguyễn, để thuê
giáo sĩ về giảng dạy và mua vật dụng khoa học, công nghệ (77), mà ông
biết chỉ là tṛ bịp và ma mị, mị triều đ́nh và mị dân! Điều kiện của
chúng trước sau vẫn là
Pháp “bảo hộ”
và Thiên Chúa giáo là quốc giáo!
Họ mới lên đường sau cuộc nổi dậy
Chày Vôi mấy hôm!
Vầng trăng Tết Trung thu năm nay vẫn ngời sáng trong nỗi bàng
hoàng của kinh đô Huế, và vẫn ngời sáng trong niềm suy tư của nguyên phủ
doăn Nguyễn Văn Tường, về biến động thời thế, về quăng đời dấn thân
thăng trầm.
Viết đến ḍng chữ này lúc 10 giờ 34 phút,
ngày 05.09.2002 (28.07 Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN AN
(47)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 186 – 188.
(48)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 230.
(49)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 190.
(50)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 237.
(51)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 226.
(52)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 228, 229, 230.
(53)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 183, 184 – 185.
(54)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 195.
(55)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 238 – 239.
(56)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 258 – 259, 275 –
276. VNSL.
(Việt Nam sử lược),
sđd., tr. 502 – 505. Yoshiharu Tsuboi,
Nước Đại
Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (NĐNĐDVP. & TH.), UB.KHXH. TU. Tp.
HCM. xb., 1993, tr. 250 – 251.
(57)
Nhiều tác giả,
Kinh thánh
(KT.), Hội thánh Tin Lành Việt
Nam xb., 1996:
phần
Tân ước, các tiểu truyện về
Chúa Giê-su (Jésus) của Ma-thi-ơ, Mác, Luca, Giăng. Chúng tôi tổng hợp
lại.
(58)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 139 – 140. Các
đoạn được xếp chữ cỡ nhỏ hơn, khổ bát chữ hẹp hơn, không sử dụng kiểu
chữ nghiêng, không đặt trong dấu ngoặc kép, cùng dạng dưới đây, không
phải là nguyên văn trong ĐNTL.CB., mà chỉ là các lượng thông tin (các sự
kiện, sự việc…) được ghi chép trong bộ sử biên niên ấy.
(59)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 197.
(60)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 202 – 203, 204,
215.
(61)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 255, 260 – 261.
(62)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 267 – 268.
(63)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 283, 286 – 287.
(64)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 289 – 290, 294 –
296.
(65)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 12 – 14.
(66)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 34.
(67)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 41.
(68)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 50.
(69)
Nhiều tác giả,
Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân đất nước
(NTT. & VĐCTĐN.), Nxb.
Đà Nẵng, 2000: phần Niên biểu, tr. 390 – 391. Các tiểu sử khác của
Nguyễn Trường Tộ đều có ghi: trong hai năm 1864 – 1865, giáo sĩ này có
đến Huế, cùng đi với giám mục Phê Chính Hoà… Chúng tôi phỏng đoán rằng,
thế nào họ cũng phải gặp phủ doăn Nguyễn Văn Tường. Xem thêm: Đào Duy
Anh,
“Những thế gia vọng tộc ở Huế: Phụ chính đại
thần Trần Tiễn Thành”,
trong Tập san
Những người bạn cố đô Huế (Bulletin des amis du vieux Huế),
4 – 6.1944 [bản dịch của Bùi Trần Phượng,
trong cuốn
Phụ chính đại thần Trần Tiễn
Thành
(PCĐT. Tr.TTh.), do Nguyễn Đắc Xuân biên soạn, Nxb.
Thuận Hoá, 1992]. Xin lưu ư:
Đào Duy Anh viết và đăng tải trên một tập san thuộc quỹ đạo chế độ thực
dân, do cố đạo Cadière làm chủ bút.
(70)
Dẫn theo GS. Trần Văn Giàu,
Hệ ư thức phong kiến và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử (HYTPK.
& STBCNTNVLS.),
Nxb. TP.HCM., 1993, tr. 356 – 357. Xin lưu ư:
Cũng như nhà Hậu
Lê, triều Nguyễn vốn chủ trương độc tôn Nho giáo.
Chính Tự
Đức cũng có lần phê phán Nguyễn Huy Kỷ đam mê Phật giáo mặc dù có dư
luận phản ánh cho rằng Nguyễn Huy Kỷ vừa gần gũi nhân dân, vừa được lại
dịch thuộc cấp nể sợ (ĐNTL.CB., tập 35, Nxb. KHXH., 1976, sđd., tr. 62 –
63). Một lần khác, Tự Đức bảo: triết thuyết “Phật
giáo hư vô, mù mịt, có cảm cách hay không, không bởi đâu mà biết được;
trẫm từ trước đến nay cũng không tin; chỉ hết ḷng ta, mong cho trung
hồn được siêu bạt để giúp nước được trị yên lâu dài; mới sai làm đàn bạt độ ở chùa Linh Mụ, lấy ngày
trung nguyên khai kinh, tế chung các tướng sĩ chết trận ở Nam Ḱ, Bắc Ḱ
từ năm thứ nhất (1848) đến nay”
(ĐNTL.CB., tập 34, Nxb. KHXH., 1976, sđd., tr. 135 –
136). Xem thế, tuy quan điểm là Nho giáo, nhưng trong thực tế nhà vua
vẫn cho lập đàn chay, kinh kệ. Ngoài ra, người ta c̣n thấy, chưa có nơi
nào nhiều chùa chiền Phật giáo bằng ở kinh đô Huế của nhà Nguyễn. Đó là
chưa kể các đền miếu mang đậm màu sắc Lăo giáo bản địa, như điện Ḥn
Chén chẳng hạn. Vả lại, cũng cần thấy rơ, ngay bản thân Nho giáo tuy xem
h́nh nhi hạ
là hệ trọng, nhưng cũng có bàn đến
h́nh nhi thượng
một cách khá duy lí, mặc dù duy lí theo hệ tư
tưởng duy tâm.
(71)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 53 – 57.
(72)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 131.
(73)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 73.
(74)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 62 – 63.
(75)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 86 – 87.
(76)
Dẫn theo HYTPK. & STBCNTNVLS.
(Hệ ư thức phong kiến và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử),
sđd., tr. 368.
(77)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 57.
Hết
phân đoạn 2
trọn
truyện kí thứ tư
XIN XEM TIẾP TỆP 8
Truyện kí thứ năm