TỆP 9
Phân đoạn 2
Truyện kí thứ năm
TRẦN XUÂN AN
BANG BIỆN KHÂM PHÁI HUYỆN THÀNH HOÁ VÀ NHÀ NGOẠI GIAO CHỦ
CHIẾN
Truyện kí thứ năm
(phân đoạn 2)
4
Tháng chạp cuối năm Tự Đức thứ mười chín, Bính dần (1866) ấy, bang biện
khâm phái Nguyễn Văn Tường lại viết tập tâu kính đệ tŕnh vào vua.
Ngồi nh́n mưa ngoài trời lất phất bay, ông suy nghĩ, h́nh dung ra
một con đường xuyên dăy Trường Sơn, từ Nghệ An vào đến B́nh Định, để các
tỉnh thông thương với nhau và giúp nhau chống giữ. Đó là kiến nghị then
chốt nhất trong kế hoạch
chiến để thủ.
Nhưng ông phải đặt nó xuống vị trí thứ hai trong sáu đề nghị, để sự nới rộng kế hoạch lập đồn Ba Xuân không bị
những kẻ lần chần, lừng khừng, chủ “hoà” gây khó khăn như những năm
trước. Những điều này ông cũng đă có lần chuyện tṛ với quản đạo Quảng
Trị Nguyễn [Quang] Quưnh hồi tháng chín vừa rồi ở Huế.
-
“Xin đem binh đội Thiên Thiện và binh đồ tù
các tỉnh đạo, đều phát đến cơ Định Man; chọn người cai quản, cấp cho
lương ăn để khai khẩn ruộng đất.
-
Xin ở Tây Sơn tỉnh B́nh Định và Trấn Ninh tỉnh Nghệ An,
mở
con đường ở thượng du thông đến Cam Lộ, để [trong việc] chống giữ, [giúp
đỡ] lẫn nhau.
-
Mộ
thêm [lính cho] cơ Định Man; các quản suất, thưởng cho phẩm hàm; và gạo lương của lính mộ,
xin theo lệ làm việc. Sau thành nền nếp, mỗi đội đặt làm một làng.
Ruộâng vỡ hoang cho lấy một nửa làm thế nghiệp, [một] nửa sung làm ruộng
công. Có người t́nh nguyện mộ dân làm nhà ở, khai khẩn, th́ cấp: cho
thực tiền mười (10) quan, cho vay ba mươi lăm (35) quan, [ra hạn trong]
ba (3) năm phải nộp trả lại; mộ được dân nội tịch [trong tỉnh th́] cho
được trừ [khỏi nộp trả], biên là chính mộ; [người mộ được dân] đều [được]
chiểu lệ thưởng hàm. Và mua trâu giao người phu mộ chăn nuôi, để giúp
việc cày cấy.
-
Quan kinh thu thuế hàng hóa của người Kinh,
người Man ở trường mậu dịch, xin đ́nh chỉ. Nhưng phái hai (2) người
thanh liêm, công bằng lănh tiền công, mua hàng hóa, cùng với người Kinh,
người Man trao đổi, lấy lăi giúp vào chi phí. Và cho người Kinh lănh
trưng: thị trường chọn chỗ làm ra chỗ khác.
-
Xin đem hai (2) tổng An Lạc, Bái Ân thuộc
huyện Do Linh, nửa tổng An Đôn thuộc huyện Đăng Xương và các phường ở
thượng nguyên [mà dân vốn] từ nơi khác đến ở, [nay] đổi lệ thuộc vào
huyện Thành Hoá. Lần lượt dời làm huyện nha.
-
Xin rút số lính cơ hai (2) phường Bảng Sơn,
Mai Lộc lại về ngạch hộ lấy gỗ, chịu nộp thuế gỗ, nhưng đem giản binh
hai (2) làng Cam Lộ, Châu Lạng cùng với dân có tên trong sổ đồn điền vào
số lính cơ Định Man c̣n thiếu” (38).
Bang biện Nguyễn Văn Tường thấy rằng phải thực sự mở rộng Thành Hoá,
rộng về phạm vi địa bàn, đồng thời tăng cường số dân, lấy từ đất và dân
của các huyện lân cận. Dân, phải chiêu mộ thêm ở các tỉnh, và đặc biệt
ưu tiên cho dân nội tỉnh ở miền xuôi. Phải lấy thêm lính được tuyển mộ,
tư cách đạo đức và sức khoẻ tốt, kể cả tù phạm vốn là lính (vi phạm kỉ
luật quân đội). Tất cả rồi sẽ thành dân của các làng mới lập, tên những
làng ấy sẽ bắt đầu bằng chữ Tân, như Tân Thành, Tân Long, Tân
Lập, Tân Hiệp, Tân Hợp (35)… Phải ưu đăi người Thượng, ngay cả người
Kinh, về thuế khoá, nghĩa là không thu thuế ở họ, mà quan viên phải tự
làm thương nghiệp, thu lăi bù chi. Phải di dời chợ búa, do người Kinh
nhận thầu. Cũng dần dần di dời huyện lị v́ địa bàn đă rộng hơn, và phải
chọn vị trí có tính chiến thuật, chiến lược hơn. Ngoài ra, quan trọng
nhất là phải tạo điều kiện cho dân mới đến có tiền bạc, cơm gạo sinh
sống, có trâu ḅ để cày cấy, và ruộng khai khẩn sẽ thành một nửa ruộng
công, một nửa ruộng tư (ruộng tư nối đời thừa kế, gọi là ruộng thế
nghiệp), đồng thời phải chuyển đổi lính trong phiên chế để khai thác gỗ
nhưng vẫn bảo đảm đủ lính trong Cơ Định biên, sẵn sàng chiến đấu… Như
vậy, dân sẽ hưởng ứng, đồng thời lính sẽ gần như “ngụ binh ư nông,
ngụ binh ư lâm” (gửi lính ở nông thôn, ở rừng, vừa làm ruộng, làm
sơn tràng, vừa làm lính).
Huyện Thành Hoá, gồm Cam Lộ, Hướng Hoá, Đắc Krông, sẽ thành căn cứ kháng
chiến trung ương, có con đường thượng đạo xuyên Trường Sơn, nối hữu ḱ
với tả ḱ và với cả nước!
Mặc dù Tết
nguyên đán sắp đến, người người đang lo đón Tết, bang biện khâm phái
Nguyễn Văn Tường vẫn đệ gửi tập sớ qua đường binh trạm, dịch lộ vào kinh
đô Huế. Ông mỉm cười h́nh dung vua Tự Đức sẽ duyệt phê vào đêm giao thừa,
khoảnh khắc chào xuân mới.
5
Tết Nguyên
đán vừa qua đem đến cho bang biện khâm phái
Nguyễn Văn Tường một niềm vui lớn, có thể nói là rất lớn: Vua Tự Đức đă
chuẩn y bản sớ cuối tháng chạp trong năm. Nhưng tiếc thay, quản đạo
Quảng Trị Nguyễn [Quang] Quưnh, người trước đây là thuộc cấp của ông,
đồng chí của ông, không hiểu thế nào lại theo một chiếc thuyền buôn xuôi
ra cửa Việt An (Việt Yên), vào Quảng Nam, về lại quê nhà ở làng Bàn
Thạch, huyện Duy Xuyên, trong khi không hề được phép của nhà vua. Ông
cảm thấy ḿnh thiếu mất một đồng chí đắc lực trong việc thực hiện kế
hoạch thủ và chiến. Niềm vui lớn ấy đă phải vơi đi khi hay tin Nguyễn
Quưnh như vậy. Lại nghe đâu giặc biển dám táo bạo, liều lĩnh vào đóng ở
địa phận Quảng Trị, liên tiếp quấy nhiễu nhiều làng thôn, lại tiến vào
toan cướp phá cả ở các cửa biển Chu Măi, Tư Hiền, Cảnh Dương thuộc Thừa
Thiên (39)! Bọn hải tặc, thuỷ khấu này vốn là lũ người Tàu lấy sông, lấy
biển làm nhà, câu kết với lũ bất hảo ở Bắc Ḱ, trang bị gươm súng đầy đủ,
chuyên sống bằng nghề cướp. Tháng giêng hai c̣n mưa rét, biển vắng
thuyền buồm, chúng mới dám táo bạo, liều lĩnh đổ bộ, cướp phá. Cũng may
thay, làng An Cư của ông, tuy cũng gần biển, lại thoát khỏi những trận
cướp phá của chúng.
Giữa tháng
hai, trong khi đang nỗ lực sắp xếp nơi ăn chốn ở, điều khiển đám tù nhân
đầu mục mới được chuyển từ Cao Bằng vào, cùng với đoàn người Minh Hương
từ các vùng ven phủ đạo đến, để bước đầu bắt tay vào việc khai hoang giữ
đất, bang biện khâm phái Nguyễn Văn Tường lại được tin chính thức về
Nguyễn Quưnh. Viên quản đạo này có tâm huyết, có trí lực nhưng hầu như
luôn gặp những rủi ro. Hoá ra, không phải Nguyễn Quưnh tự động trốn về
thăm quê trong dịp Tết, mà chính bọn “giặc mặt nước”, bọn hải tặc, thuỷ
khấu đó đă bắt cóc ông (40)! Nói cho đúng, chúng đă dụ được lính tráng
của ông bằng tiệc rượu, có kĩ nữ, đào nương giả dạng con nhà gia giáo,
ngay trong nhà một phú hộ quen biết ở huyện lị Đăng Xương. Trước đó,
chúng uy hiếp, bắt con trai người phú hộ làm con tin để buộc phú hộ ấy
tổ chức thết tiệc, nhận các kĩ nữ, đào nương của chúng làm bà con ruột
thịt từ Bắc vào. Đám lính hầu cận của ông, đứng canh gác và ngồi ăn uống
ở bên ngoài gian nhà chính, hầu như đều bị chuốc rượu đến say khướt.
Nguyễn Quưnh và dăm người cận vệ vẫn tỉnh táo, nghiêm túc, đàng hoàng,
rượu chỉ nhấp môi, không ngờ lính bên ngoài lại thế. Do đó, không thể
kháng cự lại bọn giặc biển, giặc sông. Chúng trói lại, nhốt viên quản
đạo và mươi viên lính trong chồ gỗ vốn đựng đầy thóc, thóc đă bị chúng
khuân sạch xuống thuyền. Cũng c̣n may cho Nguyễn Quưnh, trong những gă
đầu sỏ của bọn “giặc mặt nước” ấy, có tên vốn trước đây là thảo khấu lục
lâm ở biên giới Cao Bằng, đă được án sát sứ Nguyễn Quưnh giảm án, trả về
nước Thanh (41). Y nhận ra quan án sát Cao Bằng Nguyễn Quưnh ngày nào,
nay là quản đạo Quảng Trị. Y cũng biết thế nào là ân oán giang hồ, ân
đền, oán trả, theo kiểu quan niệm của những kẻ sống ngoài pháp luật. Nhờ
y, Nguyễn Quưnh và đám lính được sống sót, sau khi quân binh triều đ́nh
do chưởng vệ Nguyễn Hữu Lạc chỉ huy, với thuyền bọc đồng Chuẩn Kích và
các loại thuyền tuần canh khác phối hợp với đề đốc Nguyễn Cửu Lễ, đánh
tan bọn hải tặc, thuỷ khấu ấy (39).
Nghị xử đă
thành án: Quản đạo Nguyễn Quưnh lần này vĩnh viễn bị cách chức (42),
suưt bị tước cả học vị cử nhân và quan tịch. Chưởng vệ hữu thuỷ quân
Nguyễn Thảo chậm thi hành lệnh hành quân, cũng bị bắt giam, giáng bốn
cấp (39).
Tin ấy về
Nguyễn Quưnh, người bạn vong niên và đồng chí của ông, khiến Nguyễn Văn
Tường đau đớn. Ông rất tiếc cho Nguyễn Quưnh và cho kế hoạch thủ để
chiến đă được chuẩn y và đang tiến hành!
Nguyễn Văn
Tường lại được biết, Đinh Văn Khoa (43) đă được bổ làm quản đạo thay
Nguyễn Quưnh. Trước đây, hồi năm Giáp tí (1864), Đinh Văn Khoa đă một
lần ở chức trách này (43)!
6
Cuối tháng
hai năm Tự Đức thứ hai mươi, Đinh măo (1867), cả
địa bàn Thành Hoá trở thành một công trường rộng lớn. Ngoài việc khẩn
trương đốc thúc các tù phạm vốn là đầu mục Cao Bằng bị bắt, các người
Minh Hương khai khẩn, c̣n phải đóng mốc ranh giới địa chính mở rộng, đón
tiếp các binh lính vi phạm quân kỉ, quân luật từ các tỉnh đến, lại làm
lán trại, đồn bảo cho số lượng lính mới được tuyển mộ vào cơ Định biên
và một số công việc kèm theo như tăng, cấp lương tiền, miễn thuế khoá,
làm chợ mới… Vấn đề đặt ra vẫn là lực lượng lao động trong việc khai
khẩn, đắp thành dựng luỹ, để rồi phiên chế lực lượng ấy thành từng làng
định cư, những làng mà cư dân hoàn toàn là lính chiến, tư cách đạo đức
và sức khoẻ tốt. Đây là lực lượng cơ bản. Ngoài ra, c̣n có thể nói, sức
lao động khổ sai của những can phạm tội đồ, tội lưu trong quân đội cộng
với sức lao động cũng khổ sai như thế của đám tù Cao Bằng là rất có hiệu
quả. Họ vốn có sức bền chịu đựng khí núi độc, nguồn nước độc dễ gây sốt
rét. Nhưng trong thực tế, với các dự án đă được duyệt và chuẩn y, Thành
Hoá vẫn cần thêm sức người. Lấy đâu ra sức người mà không gây phiền
nhiễu mất ḷng dân, tốn kém ngân quỹ của triều đ́nh?
Đang lúc muốn
tận dụng mọi lực lượng có thể điều động mà ít hoặc không phiền nhiễu dân
và tốn kém ngân sách triều đ́nh ấy, bang biện khâm phái Nguyễn Văn Tường
bỗng nhận được đơn của dân theo đạo Gia Tô qua tri huyện Nguyễn Duy Tự.
Đơn này do quản đạo Đinh Văn Khoa chuyển vào lại sau khi quản đạo duyệt
xong. V́ theo lệ, dân phải đệ đơn đúng cấp, từ huyện lên đạo, rồi đạo
mới đệ vào kinh, nhưng công tŕnh Nguyễn Văn Tường đang phụ trách lại
thuộc sự chỉ đạo trực tiếp của vua Tự Đức và của Bộ Binh do Nguyễn Tri
Phương quản lănh. Đây là công tŕnh của triều đ́nh trên địa bàn huyện,
đạo. Do đó, tri huyện và quản đạo nhận đơn của dân phải chuyển qua khâm
phái Nguyễn Văn Tường để ông trực tiếp tâu lên vua với ấn “khâm phái
quan pḥng”. Ông cầm tờ đơn t́nh nguyện của dân đạo, trước đây bị
gọi là “dân tả đạo”, “dữu dân”. Họ t́nh nguyện được chiêu mộ dân
lên Thành Hoá vỡ đất hoang làm ruộng.
Đang cần
nhiều bàn tay cầm ŕu đốn cây, cầm đao phạt cỏ tranh, cầm cuốc vỡ đất,
cầm cày cày ruộng, nhận được lá đơn t́nh nguyện này của dân đạo, bang
biện khâm phái Nguyễn Văn Tường rất mừng rỡ nhưng cũng rất âu lo và phân
vân. Đành rằng lệnh phân tháp (chia ghép), khắc xăm đánh dấu “tả đạo”
đă được triều đ́nh băi bỏ, nhưng trong thực tế vấn đề lương – đạo
vẫn chưa bao giờ dứt điểm, dân lương với dân đạo chưa khỏi khích bác
nhau. Triều đ́nh vẫn ngầm xem dân đạo là một nguy cơ nội phản đáng sợ
nhất!
Ông vẫn nghĩ
theo cách Nguyễn Trăi mà thám hoa Nguyễn Đức Đạt cho rằng Nguyễn Trăi
muốn nói ǵ chả được! Nguyễn Đức Đạt kể ra cũng “lập dị”, như có người
nhận xét! Ông ta dám bảo Nguyễn Trăi mượn oai Lê Lợi sau khi đánh thắng
giặc Minh (Trung Quốc), nên viết B́nh Ngô đại cáo thế nào chả được, nói
ǵ cũng chả ai dám chê (44)! Nhưng “nói thế nào chả được” là cái
ǵ kia, chứ toàn bộ nội dung B́nh Ngô đại cáo, trong đó có nhân
nghĩa này vẫn rất thật!
“Lấy chính nghĩa mà thắng hung tàn
Đem chí nhân mà thay cường bạo”
Đó là sách
lược đồng thời cũng là chiến lược tâm công, chinh phục trái tim và bộ
óc của kẻ thù và của nhân dân. Nhân là thương yêu, quư trọng dân,
con người nói chung, có khi phải “mở lượng hiếu sinh”, phải biết
tha thứ, kể cả tha thứ cho bọn giặc đă thật sự thức ngộ. Nghĩa là lẽ
phải, cái đúng nên làm. Nhân nghĩa là phương cách và cũng là mục tiêu
cuối cùng. Trong lịch sử, chưa có cái ǵ, triều đại nào gian ác,
hung tàn một cách phi nhân nghĩa mà tồn tại lâu. Nhân nghĩa là nền tảng
của mọi bền vững.
Bang biện
Nguyễn Văn Tường đắn đo, suy nghĩ:
“Nay mai
việc lương – đạo ở các tỉnh khá yên, chỉ c̣n lại vài tên côn đồ th́ […]
tuỳ cơ tiễu trừ, phủ dụ, ít lâu sẽ xong. Duy thần trộm nghĩ, muốn việc
về sau tốt đẹp th́ nên xem chuyện lương – đạo là rất quan trọng. Kẻ gánh
vác phải có nhiều cách thể hiểu dụ, dạy bảo khiến cho người ta trông cậy
ở ḿnh mà không sợ hăi, tin ḿnh mà không nghi, mới có thể cùng quay về
điều tốt đẹp”
(châu bản, 05.12
Quư dậu,
1873) (45).
Nhưng điều
suy nghĩ, đắn đo đó thật khó thực hiện biết bao. Trong thực tế hiện nay
bọn “tả đạo” vẫn đang hoành hành! Dẫu sao cũng không thể dồn một bộ phận
người lầm lạc vào chân tường, đặt họ trước miệng vực thẳm. Hăy tạo cho
họ một cơ hội trở lại với văn hoá dân tộc, tôn thờ những anh hùng
Trưng nữ vương, Triệu nữ vương, Mai hắc đế, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lí
Thường Kiệt, Lê Lợi… với mái đ́nh, và cả tiếng chuông chùa siêu thoát,
cảnh tỉnh rất Việt, nếu họ cần thiên đường (niết bàn), địa ngục… Đừng
phân biệt đối xử với họ, hăy trọng dụng họ, họ mới nghe ra sự thật và
giác ngộ được chân lí. Đây không phải là những ǵ lần đầu tiên ông
suy nghĩ, đắn đo. Mười năm trước, ông đă nghĩ thế, bây giờ ông cũng nghĩ
thế, và hẳn mười năm sau ông lại vẫn nghĩ thế chăng.
Ông viết tập
tâu trực tiếp đệ tŕnh lên đức vua Tự Đức:
“Dân theo
đạo t́nh nguyện xin [chiêu] mộ dân vỡ ruộng. Nên cho [họ chiêu] mộ những
dân c̣n [ẩn] lậu, chưa có tên ở sổ đinh. [Và, sắp xếp] cho [họ] ở gần
dân lương để khai khẩn. [Như thế,] một là để biết rơ số dân đi đạo, hai
là để [mở] rộng dân cư. [Thiết] tưởng vậy cũng hơi tiện [lợi]” (46).
Cuối tháng hai, năm Tự Đức thứ hai mươi, Đinh măo (1867).
Đúng như vậy, nào phải họ làm quan quyền ǵ. Hăy để cho họ được làm
người dân lương thiện, nếu họ muốn. Trên tất cả, ông hiểu họ là người
Việt, làm sao không “máu đổ ruột mềm”! Vả lại, đâu phải ông không nhận
thức ra Thành Hoá (Cam Lộ, Hướng Hoá, Đắc Krông) là địa phận xung yếu!
Ông nhận thức bằng cả mười năm trời lăn lộn, sống chết ở chốn này chứ
không chỉ lướt mắt trên bản đồ! Ông đă có biện pháp cảnh giác, sắp xếp
cho họ ở gần dân lương! Ông cũng cần qua đó để nắm vững số dân theo đạo
Gia Tô đang rơi vào cảnh bị thực dân lợi dụng!
Bang biện Nguyễn Văn Tường cẩn trọng đóng ấn “khâm phái quan pḥng”
vào tập tâu, lấy ống tre sơn đỏ, bỏ vào, đậy nắp, buộc kĩ bằng dây
đay bện săn chắc. Ông đóng ấn “khâm phái” lên tờ giấy rời, chờ ráo mực,
ông lại dán hồ niêm phong ống công văn.
Lát sau, quan bang biện gọi người lính hầu cận thường xuyên túc trực, giao cho anh ta đưa ống công văn
cho toán lính quân bưu thuộc đường binh trạm, dịch lộ tối mật và tối
khẩn. Ngồi trong doanh trại, ông vẫn nghe tiếng vó ngựa của đội kị mă
phóng nhanh, xa dần.
Mấy hôm sau, ông nhận được ống công văn từ Huế chuyển ra.
Rất tiếc, lần này tập bản sớ của bang biện Nguyễn Văn Tường
không được vua Tự Đức và Cơ mật viện nhất trí. Viện Cơ mật có ư kiến:
“Đạo Cam Lộ là nơi địa đầu quan yếu, bắt đầu tụ tập, mở
mang. [V́ vậy, về] chính [sự] nên cẩn thận trước, để pḥng bị từ lúc [mầm
mống] c̣n nhỏ. [Do đó] nên thôi đi, ngơ hầu khỏi lo ngại về sau” (46).
Và vua nghe theo lời bàn ấy.
Đành là như vậy, nhưng lấy đâu ra sức người để tiếp tục
thi hành kế hoạch thủ và chiến đang được chuẩn y?
Một hôm cuối tháng hai nguyệt lịch, khi vừa nhận công
văn phúc đáp đó, quản đạo Đinh Văn Khoa cũng nghe chuyện, liền viết tập
sớ đệ tŕnh vào kinh với nội dung xin chiêu phủ ba châu Ba Lan, Tầm Bồn,
Mang Bổng (47)! Đó là ư kiến riêng của Đinh Văn Khoa, chưa một lời bàn
bạc với khâm phái Nguyễn Văn Tường. Quản đạo Quảng Trị này những tưởng
như thế là đưa được họ vào “cơi giáo hoá của triều đ́nh”, t́m thêm lực
lượng lao động cho huyện và cho công tŕnh Nguyễn Văn Tường phụ trách!
Thiện ư đó rất tốt, nhưng Đinh Văn Khoa quên mất thực tế tranh chấp hồi
năm ngoái, lúc Nguyễn Quưnh c̣n chưa bị cách chức, giữa ba châu “hoang
sơn nhân” (người miền núi hoang sơ) này với châu “thục sơn nhân” (người
miền núi nhân ái) Ba Ngạn!
Bang biện khâm phái Nguyễn Văn Tường nhận được sắc dụ
của vua phải xem xét vấn đề để làm việc. Sắc dụ sao lục viết rơ:
“Ba châu ấy đă giả cho người Lào. [Nay ta] chiêu phủ chưa
chắc có ích ǵ, mà mất sự hoà hiếu với nước Xiêm, lại gây thù hằn ở biên
giới” (47).
Bang biện Nguyễn Văn Tường trước đây đă tâu bày rất cặn
kẽ vụ tranh chấp giữa “hoang man” với “thục man” hồi tháng chạp năm
ngoái. Rất nhiều việc, nhưng vua Tự Đức vẫn rất quan tâm, nhớ kĩ về
Thành Hoá! Nguyễn Văn Tường cũng phải chịu là nhà vua nhận định đúng.
Ông cũng xin tạm để im.
Năm ngoái, sắp Tết, ông phân giải giữa ba châu ngoài
với một châu trong cơi giáo hoá của triều đ́nh, cũng chỉ mong lấy t́nh
tự nhân tộc ngh́n đời của Bru Vân Kiều, Tà Ôi, Cơ Tu vốn cùng một gốc để
dần dần thuyết phục họ giữ yên biên giới chung, có trách nhiệm chung về
biên giới chung ấy. Nhưng cũng chỉ đến thế. Trên ba châu Ba Lan, Tầm Bồn,
Mang Bổng c̣n có vương triều Lào, mà bên cạnh ngai vàng của Lào c̣n có
đại thần Xiêm giám sát (23), và bên cạnh ngai vàng Xiêm c̣n có mươi tên
Anh, Pháp, Mỹ, Bồ, Hà Lan, Đan Mạch, Đức
(23)… cùng kềm kẹp vua Xiêm và toan chực xâu xé nhau! Thật không nên đụng vào đó, tạo ra cớ cho chúng gầm gừ, giơ nanh
xoè vuốt!
Tuy vậy, khó khăn đến mấy về nhân lực cũng phải thực
hiện cho bằng được kế hoạch thủ để chiến. Bang biện Nguyễn Văn Tường
nghĩ thế.
8
Nguyễn Văn Tường có sắc dụ về kinh để bàn việc. Cũng như mấy lần trước, hồi c̣n làm
phủ doăn kinh sư, lần này ông lại được vào điện Cần Chính yết kiến vua
Tự Đức. Nhà vua hỏi thăm thật cụ thể công việc ở huyện Thành Hoá. Nguyễn
Văn Tường tŕnh bày hết những khó khăn, những thuận lợi ở ngoài ấy, và
cũng tâu xin quyết tâm thực hiện thật trọn vẹn kế hoạch mở thượng đạo từ
Tây Sơn tỉnh B́nh Định đến Nghệ An, xây dựng ở Thành Hoá những làng gia
binh,
“ngụ
binh ư nông, ngụ binh ư lâm”
với chủ trương ruộng công, ruộng thế nghiệp, cùng việc
di dời chợ, huyện nha, giảm bỏ thuế cho dân… Những điều ông đă kính kiến
nghị ở các tập tâu đều được tŕnh bày bằng lời nói một cách cặn kẽ. Vua
Tự Đức tỏ vẻ phấn chấn về việc này, nhưng lại thở dài buồn bă, nghẹn
ngào giọng nói khi nhắc đến Nam Ḱ.
Sau buổi yết kiến có sự hiện diện của các đại thần Cơ
mật viện, ông được Vũ Trọng B́nh mời về tư dinh ở Bộ Lại.
Thượng thư Bộ Lại Vũ Trọng B́nh trước đây làm phủ doăn
Thừa Thiên kiêm nhiếp đạo Quảng Trị, hồi Quảng Trị mới đổi tỉnh thành
đạo. Lúc ấy, Nguyễn Văn Tường mới được bổ làm tri huyện Thành Hoá. Do đó,
họ đă có dịp biết nhau qua công tác. Vũ Trọng B́nh đỗ cử nhân năm Giáp
ngọ (1834), Minh Mạng thứ mười lăm. Từ lúc bắt đầu tham chính đến nay,
vị quan người xă Mỹ Lộc, huyện Phong Đăng (thuộc phủ Quảng Ninh), Quảng
B́nh này nổi tiếng là bộc trực và thanh liêm (48).
Sau bữa cơm trưa, thượng thư họ Vũ kể nhỏ cho bang biện
khâm phái huyện vụ Nguyễn Văn Tường về những diễn biến ở Nam Ḱ mà lúc
ban sáng, vua Tự Đức khi nhắc đến không khỏi thở dài, ứa nước mắt.
Nguyên phủ doăn kinh sư Nguyễn Văn Tường mới bị cách
chức, ra Thành Hoá chưa đầy hai năm, nên ông cũng đă trực tiếp chứng
kiến những sứ đoàn Pháp đến Huế với mục đích về lục tỉnh Nam Ḱ, từ sau
khi Aubaret đến bàn
“tục ước (1864) rất quan ngại”.
Thượng thư Vũ Trọng B́nh nhấn mạnh những ǵ xảy ra từ khi ông về triều nắm giữ Bộ Lại, sau vụ biến Đoàn
Trưng, khiến Nguyễn Văn Tường nghĩ ngợi nhiều.
Không phải một lần, mà rất nhiều lần, thực dân Pháp bằng mọi cách cố chiếm nốt ba tỉnh
Miền tây Nam Ḱ. Chúng đă năm lần, bảy lượt cho sứ giả của chúng đến
kinh đô Huế để thuyết phục, đi đôi với việc vin cớ nghĩa binh c̣n nổi
dậy ở ba tỉnh Miền đông, căn cứ nghĩa binh lại đặt ở Vĩnh Long, An Giang,
Hà Tiên, để làm sức ép buộc triều đ́nh phải bắt nộp nghĩa binh cho chúng,
giao hẳn cho chúng ba tỉnh ấy. Hết Pari (Sơ Ba Lê) đến Huế, lại Vial đến
Huế (49)… Từ trước tháng bảy năm Tự Đức thứ mười tám, Ất sửu (1865), tên
nô bộc ngoại bang rất khá về thơ Nôm, trổ nghề ngụy biện cho ư thức và
hành trạng làm tay sai của chính y là Tôn Thọ Tường, cũng nói hùa thêm
thay bọn chủ thực dân của y, với giọng điệu khoe khoang được làm tay sai
một cách vô liêm sỉ:
“Nếu số bạc Tây dương [(dollar) triều đ́nh Đại Nam buộc phải] bồi thường
c̣n thiếu, th́ trích lấy ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên để khấu
trừ vào số [tiền] bồi thường [ấy]” (50)!
Tháng chín nguyệt lịch, năm ngoái, Bính dần (1866),
thân phiên và đ́nh thần cũng nhận định:
“Thế của ta tính chưa thể đánh nhau với chúng được” (51).
Cùng bàn luận vào dịp đó, Cơ mật viện gồm Nguyễn Tri
Phương, Vũ Trọng B́nh, Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ cũng mật tâu:
“Tướng nước Pháp hoặc uỷ điều ước [mới], bức
lấy ba tỉnh [Miền tây Nam Ḱ], th́ đối với ta đă là vô t́nh, tưởng cũng
không thể trách bằng giấy tờ [mà] được. [Việc chúng bức chiếm] chỉ khiến
ba tỉnh ấy một ḷng chống giữ, hoặc sinh việc ngại khác. Xin tư cho quan
kinh lược không đánh nhau với quân Pháp, [mà] tự phải rút lui. [Khi]
việc đă rơ ràng, th́ lấy ngay việc ấy cũng đủ làm cớ để nói. Nếu người
Pháp bức lấy tỉnh Vĩnh Long, th́ c̣n hai tỉnh An Giang, Hà Tiên, có thể
dời đóng, hoặc bị người Pháp bức lấy tất cả, th́ tất phải chuyển về B́nh
Thuận để đợi lệnh triều đ́nh. Đến khi ấy sĩ dân sáu tỉnh tức giận lũ
lượt nổi lên, bấy giờ ta sẽ tuỳ cơ định liệu. Lũ tôi nghĩ đi nghĩ lại,
sự thế đến thế, tưởng phải nên như thế” (52).
Vua Tự Đức nghĩ về Phan Thanh Giản, người đang làm kinh lược sứ
trong ấy:
“Lúc kinh lược sứ họ Phan vào từ tạ xin đi, trẫm đinh ninh uỷ thác, phải hết sức đợi cơ hội,
theo t́nh thế, mưu lấy lại ba tỉnh [Miền tây
Nam Ḱ]. Viên ấy cũng xin đảm đương để bù lỗi trước. [Thế mà] từ khi đến
Nam Ḱ đến nay, thăm thẳm không được việc ǵ, lại hầu thua thiệt. Nhiều
người nói rằng người Pháp tin trọng viên ấy lắm, chắc hắn biết luồn lọt
chờ cơ hội một lời nói hơn vạn quân” (53).
Trong thư gửi Phan Thanh Giản vào tháng hai Đinh
măo (1867) mới đây, vua Tự Đức lại thống thiết:
“Trẫm ngày ngày mong tin ngươi thu lại ba tỉnh [Miền tây
Nam Ḱ] ấy, báo cho trẫm. [Lấy lại được] th́ ngươi giả sử có chết cũng
nhắm được mắt, trẫm [có chết] cũng yên tâm. Không thế th́ [trẫm] cùng [với]
ngươi cùng mang tội đến muôn đời, không bao giờ chuộc được. [Khi chết
xuống] hồn vía không tan cũng làm hùng kiệt loài quỷ để mong báo [thù]
mới hả. Nói đến đau ḷng không thể viết được nữa. Tuy cách xa muôn ngh́n
dặm, [trẫm] như nói trước mặt ngươi. [Thế mà] ngươi c̣n không tin [ḷng
trẫm], tự để lụy hay sao? Từ sau có trông thấy, nghe tiếng [về việc ǵ]
và trù tính việc ǵ đều tâu vào [tập tâu] cả, chớ lại [toàn quyền định
đoạt] như trước” (54).
Khi đă về đến nhà ở cửa Chính Đông (Đông Ba), bang biện Nguyễn Văn Tường vẫn không
thể quên được những lời ông và quản đạo Nguyễn Quưnh đă nói với nhau về
mâu thuẫn gay gắt giữa phe chủ “hoà” Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ và
phe chủ chiến, thủ để chiến, của Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng B́nh.
- Quan khâm phái chắc đă rơ từ lâu, thượng thư Nguyễn
Tri Phương và ḿnh không thể không tranh căi với Trần Tiễn Thành, Phạm
Phú Thứ khi ngồi bàn việc cơ mật. Thật ra, đây là việc cơ mật, nhưng
không nói với quan khâm phái ở đây th́ nói với ai! Ḿnh cũng đă phải xin
từ chức ở Viện Cơ mật. Thượng thư họ Nguyễn có lần thưa với đức vua, hồi
tháng tư vừa rồi:
“Gián hoặc có ư kiến khác nhau, đến khi bàn luận, [cũng chỉ như thế chứ] không có
ḷng nào khác. Kể th́ hai chữ “bè đảng”,
ở đời thái b́nh cũng không phải là việc tốt, huống chi lúc nhiều việc này. Trên th́ hoàng thượng sớm khuya chăm
chỉ, [mà ở dưới] lũ tôi giúp nước không chu đáo, lại có h́nh tích [mất
đoàn kết, không hay] như thế, tôi lấy làm sợ” (55). Vua bảo:
“Người quân tử hoà thuận mà không giống nhau,
không phải đều giống nhau mới gọi là hoà. Ngày xưa các bậc quân tử như
Hàn Kỳ và Phạm Trọng Yêm, khi lên điện tranh luận cùng nhau, khi xuống
điện không mất hoà khí […]. Vả lại từ khi hoà nghị thành, sĩ phu bên
ngoài có nhiều lời bàn khác, trẫm rất lấy làm lo […]. Nay đương lúc có
việc, các quan đều nên cùng ḷng giúp nước, ngơ hầu vô sự. C̣n những câu
nói bè đảng lợi thế, cẩn thận không nên để lộ ra miệng để sinh hiềm
khích” (56). – Thượng thư Vũ Trọng B́nh thở dài –. Ḿnh cũng chẳng biết
nói sao khi Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ, nhất là Trần Tiễn Thành, rất
được nhà vua nghe theo. Vua hỏi ḿnh, ḿnh cũng phải nói:
“Tôi cùng Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ vốn
không có ḷng nào. Tôi v́ ít học, nói năng thô lỗ, táo bạo, lại ở ngoài
lâu ngày, phóng khoáng sơ suất rất nhiều, hiểu ra vô cùng sợ hăi” (57).
Ḿnh và Nguyễn Tri Phương phải chịu lép vế! Phải nói thế là v́ phép khiêm cung của
kẻ sĩ, nhưng đâu phải thế! Dịp đó, vua ban cho bốn đại thần Viện Cơ mật
bốn quả vải và ban cả cho đ́nh thần với ư tượng trưng, chia ngọt sẻ bùi
(57)! Lúc ḿnh không thể chịu được nữa, xin từ chức, vua bảo: “Người ta không phải là Nghiêu
Thuấn, ai [mà] hay [, mà tốt] hết được. Trẫm có lỗi, các
quan sửa chữa; các quan có lỗi, trẫm cũng tuỳ việc răn bảo. [Ấy] là mong
cho [vua và kẻ bề tôi] đổi lỗi được hay [, được tốt] để thành hoàn toàn.
Nếu lấy một việc, hay một câu nói, làm chẳng vừa ḷng, là c̣n có ư không
thích, hầu mong [vua và tôi] đổi lỗi được sao? Thế th́ ḷng không thẳng
thắn lắm, rất không muốn nghe. Nay đương lúc nhiều việc, [trẫm] cần t́m
người hiền. Phàm được chọn dùng, đều là người trẫm biết, [trẫm] đối đăi
như nhau, điều hay th́ khuyên, điều không hay th́ răn. [Như vậy là] muốn
cho [tất cả] cùng ḷng, hợp sức cùng giúp việc lúc khó khăn, để thu lại
ba tỉnh [Miền tây
Nam Ḱ], [đồng thời cùng nhau] chia làm
mọi việc [khác] mà thôi. Các ngươi nên một ḷng cùng giúp, không nên
chia rẽ người này [với] người khác mới được. Nếu vẫn hết sức khư khư
chối nhường [từ chức, nhường chức cho người khác], hăy c̣n h́nh tích [mất
đoàn kết, không hay], th́ việc nước và đạo làm tôi ra sao?” (58). Sự thể là
như thế đó. Ḿnh không nói nhiều và b́nh luận thêm làm chi. Sự thật là
thượng thư Nguyễn Tri Phương với Vũ Trọng B́nh này không thể làm việc
với Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ được! Khổ một điều là Trần Tiễn Thành
ấy lấy ḷng vua rất giỏi. Phạm Phú Thứ có hơi thẳng thắn lúc trước, chứ
bây giờ cũng “dẻo” lắm!
- Vâng, vẫn biết sự thể là thế. Nhưng lúc này khuynh hướng chủ
“hoà”
đang thắng thế, người tâm huyết biết lo pḥng thủ để chiến đấu
chống giặc đành phải khổ tâm! – Bang biện khâm phái Nguyễn Văn Tường nói
–. Dám nghĩ, chúng ta không nên nhường chức, từ chức, để kẻ chủ “hoà”
tranh hết chỗ ở Viện Cơ mật, rồi chúng lũng đoạn được, khuynh loát được
triều đ́nh, mà nên chăng chúng ta vẫn kiên tŕ cương, nhưng
cương trong nhu?
- Thật không đơn giản! Hi vọng ở quan khâm phái bang biện đây! –
Vũ Trọng B́nh lắc đầu –. Thượng thư Trương Đăng Quế hồi c̣n sinh thời
cũng nhiều lần xin từ chức! Cụ ấy từng viết nhiều bản sớ, trong một bản
có câu:
“C̣n như t́nh
chó ngựa đền ơn, sẽ đợi đến kiếp sau” (60).
Thân chó ngựa xin đền đáp kiếp sau, chứ kiếp này, trước t́nh h́nh bọn
Pháp
“đánh đâu được đó”
như thế, bọn chủ “hoà” tất nhiên phải thắng
thế ở các cuộc triều nghị! Nhưng đúng là
“cương trong nhu” hiện thời là thượng sách!
Một lát, thượng thư họ Vũ nói:
- Rứa chứ quan khâm phái đă biết, lúc này, vừa mới thảo phạt giặc
biển ngoài Quảng Trị xong, lại nghe tin bọn giặc Nguyễn Đ́nh Tạo ở Quảng
Yên ngoài Bắc. Bọn phỉ Bắc sau khi bị ta đánh tan, chạy vào Gia Định,
cùng thông ngôn Trần Đ́nh Doăn sang Hương Cảng (Hồng Kông), yết kiến
minh chủ Lê Duy Định, mưu lập hậu duệ nhà Lê, toan quấy nhiễu nữa (61).
Tên Lê Duy Định cho người về nước quyên tiền, chiêu mộ giám mục, linh
mục “tả đạo”, chính chúng cũng giả dạng đi giảng đạo Gia Tô, lại liên
kết với bọn giặc nước Thanh! Nhà vua phải vin “hoà” ước Nhâm tuất
(1862), nhờ tướng Pháp bắt chúng giúp (62)! Thật là kế đường cùng, nhờ
giặc ngoại xâm bắt giặc nội phản! Như thế là phải nhân nhượng chúng nữa!
- Sao bọn Nguyễn Đ́nh Tạo ở Quảng Yên chưa sáng mắt trước bọn
Pierre Tạ Duy Phụng nhỉ? Và c̣n đủ loại giặc Cờ ngoài biên giới Bắc Ḱ,
chúng đang quá lộng hành! – Bang biện họ Nguyễn cũng phải nén tiếng
nguyền rủa –.
Ở lại Huế chỉ một đêm, với những trăn trở, suy nghĩ, sáng hôm sau,
Nguyễn Văn Tường cùng những người lính hầu cận phóng ngựa ra lại Thành
Hoá. Trên đường thiên lí, trong tiếng vó ngựa soải mạnh, ông tự nhủ, dẫu
sao đi nữa cũng phải
“thủ để
chiến”, “cương trong nhu”,
bởi không c̣n cách nào khác!
Hết
phân đoạn 2
truyện kí thứ năm
(c̣n tiếp)
Viết đến ḍng chữ này lúc 17 giờ 14 phút,
Ngày
16.09.2002 (10.08 Nh. ngọ, HB.2).
Chú thích xong vào lúc 17 giờ 02 phút, 20.9.2002
(Tiết Trung thu, 14.8
Nh. ngọ, HB.2).
TXA.
(38)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 103 – 104. Xem
thêm: ĐNTL.CB.,
tập 32, sđd., 1974, tr. 87, tháng giêng năm Tân mùi
(1871):
“Tha cho những người bị tội quân, [phải] lưu [đày], tù bị tội đồ ở tỉnh Quảng Trị (43 tên) dồn làm [ở] 7 đội Thiên Thiện, cấp cho
ngưu canh điền khí để khai khẩn ruộng ở huyện Thành Hoá”.
(39)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 110 – 111.
(40)
Bữa tiệc người phú hào thết đăi Nguyễn Quưnh do áp
lực của bọn phỉ là một chi tiết hư cấu của chúng tôi (tác giả tiểu
thuyết).
Quốc triều hương khoa lục
chỉ ghi là ông bị cách chức lần thứ hai (xem chú thích (42)).
(41)
ĐNTL.CB., tập 28, sđd., 1973, tr. 73.
(42)
QTHKL., sđd., 1993, tr. 178.
(43)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 150; ĐNTL.CB.,
tập 31, sđd., 1974, tr. 118.
(44)
Nhiều tác giả,
Từ điển văn học, Nxb. KHXH., tập 2, 1984, tr. 63 – 64.
(45)
Nhiều tác giả,
Nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế và Nguyễn Văn Tường,
kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử, ĐHSP. TP. HCM.,
20.6.1996, xem: Trần Viết Ngạc,
bài “Nguyễn Văn Tường qua châu bản triều Nguyễn”, tr. 216; tạp chí
Xưa & Nay, số 100, tháng 9.2001, tr. 14 – 16 xem
tiếp tr. 32.
(46)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 116.
(47)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 118.
(48)
QTHKL., sđd., 1993, tr. 177.
(49)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 85; ĐNTL.CB., tập
31, sđd., 1974, tr. 65.
(50)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 234.
(51)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 65 – 66.
(52)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 66.
(53)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 66 – 67.
(54)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 114.
(55)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 121.
(56)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 121 – 122.
(57)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 122.
(58)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 127.
(59)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 75.
(60)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 337.
(61)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 111 – 112.
(62)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 137.
Hết
phân đoạn 2
truyện kí thứ năm
(c̣n tiếp)
XIN XEM
TIẾP TỆP 10
phân
đoạn 3, trọn
truyện kí thứ năm