TRUYÊN KÍ THỨ 7
chia ra làm 8 tệp (8 phân đoạn), từ
tệp 1 đến tệp
8.
Tệp
1
(PHÂN ĐOẠN 1
TRUYỆN KÍ THỨ 7)
Phụ chính đại
thần
NGUYỄN
VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)
HAI MƯƠI LĂM THÁNG
MƯỜI
HAI KHÔNG KHÔNG
HAI
(HAI MƯƠI THÁNG
CHÍN
NHÂM NGỌ
NĂM THỨ HAI CÔNG NGUYÊN HOÀ B̀NH
TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN
TỪNG CHỮ, TỪNG Ư TƯỞNG CỦA M̀NH
TRÂN TRỌNG VÀ THÀNH THẬT BIẾT ƠN
Tác giả,
TRẦN XUÂN AN
71B Phạm Văn Hai
(cửa hiệu Phan Huyên)
Phường 3, quận
Tân B́nh
Thành phố Hồ Chí Minh
ĐT.: [08] 8453955
& 0908 803 908
Khởi viết từ 08 giờ
39 phút, ngày 25.10.2002
(20.9 Nhâm ngọ, năm
thứ hai công nguyên Hoà B́nh);
Tạm hoàn tất tập II
vào lúc 17 giờ 24 phút,
ngày 06.12. 2002
(03.11 Nh. ngọ HB.2),
tại thành phố Hồ Chí
Minh.
TRẦN XUÂN AN
PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN
VĂN
TƯỜNG
(1824 – 1886)
truyện – sử kí
TẬP II
(TRỌN BỘ BỐN TẬP)
bản sơ thảo hoàn chỉnh, 10.2002
bản tự nhuận sắc, 02.2004
NHÀ XUẤT BẢN VĂN NGHỆ TP. HCM.
2004
(trong bản đă xuất bản,
có gác lại một số đoạn chú thích)
Xin tạ ơn ngọn bút,
biểu tượng của sự công chính và liêm khiết trí tuệ.
Xin yêu thương, trân trọng
và bảo vệ
từng ḍng chữ mồ hôi nước mắt
của chất xám và trái tim.
TXA.
PHẦN THỨ TƯ
(1873 – 1880)
TRẦN
XUÂN AN
CƯỠNG ƯỚC “HỮU
NGHỊ”
VÀ CƯỠNG ƯỚC
THƯƠNG MẠI,
GIÁP TUẤT 1874
Truyện kí thứ
bảy
(phân
đoạn 1)
1
Tháng sáu nhuận lại khởi đầu với những ngày nắng chói chang. Quảng Trị quê nhà
chói rực nắng đến nhức mắt. Nắng nóng ngay từ lúc hừng sáng trên biển
đông phía Cửa Việt, và gió, gió nam lửa từ phương tây phía Lào, suốt
ngày đêm thổi gắt, khiến ruộng đất nứt nẻ. Phó sứ, tham tri Bộ Lễ Nguyễn
Văn Tường cùng những người trong sứ bộ, trong đoàn tuỳ tùng chuẩn bị vào
Gia Định trong cái nắng xứ Huế dữ dội không kém ǵ ở Quảng Trị.
Với quan
niệm thiên, địa, nhân nhất thể và cảm ứng lẫn nhau, quan quản đạo Tôn
Thất Trường đă sáu lần lập đàn cầu mưa, nhưng chỉ được mưa nhỏ (một cách
ngẫu nhiên!). Quan phủ doăn kinh sư Nguyễn Hanh cũng lập đàn cầu mưa cho
cả Thừa Thiên và Quảng Trị trong niềm tin về Trời. Trời như một
thực thể lí và khí, không nhân dạng, nhân h́nh, không hề nói ǵ và chẳng
bao giờ nói ǵ, cứ vận hành theo quy luật, nhưng có thể cảm ứng với Đất,
với Người. Người không hại người, không hại đất, không hại trời, và cũng như
thế, không yếu tố nào làm hại yếu tố nào, đó là nhân của quả thái b́nh.
Nhưng Con Người, mỗi người là một tiểu vũ trụ, vẫn là chủ thể của chuỗi
tương tác bất tận ấy. Thiên thời, địa lợi, nhân hoà, ba yếu tố trong
nhất thể, tương tác theo luật nhân quả với quan niệm biện chứng tâm linh!
“Thiên hà ngôn tai
Tứ thời hành yên
Vạn vật sinh yên
Thiên hà ngôn tai”
Trời nói ǵ đâu!
Bốn mùa vần trôi
Vạn vật sinh sôi
Trời nói ǵ đâu! (1)
Trời, tạo
vật ư? Khổng Tử đă chẳng viết về ư niệm Trời và quy luật vận hành, sinh
sản của vạn vật như vậy đó sao!
Và đôi
khi, rất ngẫu nhiên, trời cảm động, chuyển mưa, như Quảng Trị đang mưa!
Quan phó sứ Nguyễn Văn Tường đă thấy trời xứ Huế mát dịu hẳn lại nhờ
những cơn mưa nhỏ ở quê nhà Quảng Trị (2).
Nhưng
t́nh h́nh chính trị không mát dịu chút nào!
Ở Hà Nội,
Jean Dupuis vẫn liên kết với suư phủ Pháp tại Gia Định qua trung tá
Senès, kẻ đang đảm nhiệm chức vụ thuyền trưởng tàu Bô Liên (Bô Len,
Bourayne), vốn trước đây đă được Dupré phái ra ngoài ấy, để quyết buộc
triều đ́nh Huế phải mở cửa biển, phải khai thông tuyến sông Hồng lên Vân
Nam (Trung Quốc), nhằm mục đích cho chúng tiến hành việc buôn bán muối
và vũ khí cho Vân Nam. Jean Dupuis đă quá vất vả mấy năm nay v́ phải
chuyên chở vũ khí theo một con đường rất xa và rất khổ nhọc trên lưng
ngựa thồ, từ cửa biển Trung Hoa vào Vân
Nam phải mất đến
sáu tháng ṛng ră (3)! Nay làm sao y chịu lỡ mất thời cơ để khai thông
tuyến đường thuỷ sông Hồng: Hải Pḥng – Vân
Nam! Phủ suư Pháp
tại Gia Định cũng thế! Tất nhiên, tham vọng của chúng không chỉ thế! Âm
mưu này, Jean Dupuis, Doudart de Lagrée, Françis Garnier đă toan tính và
chúng đă thực hiện các bước thăm ḍ, khảo sát thực địa ít ra từ tháng
sáu, năm Tự Đức thứ hai mươi (1867), hồi Nguyễn Văn Tường c̣n là bang
biện Thành Hoá (Quảng Trị). Một âm mưu đă toan tính, rắp tâm lâu dài đến
thế, nay chúng không thể không làm sức ép tại Hà Nội, bằng mọi cách, kể
cả việc khiêu khích, gây biến.
Nguyễn
Văn Tường, Lê Tuấn được triều đ́nh điều động từ Bắc Ḱ về kinh cũng v́
sự thể đó. Sứ bộ được thành lập với sự bổ sung Nguyễn Tăng Doăn. Đến lúc
này, t́nh h́nh càng gay gắt thêm, nhưng sứ bộ cũng chưa kịp xuống tàu
thuỷ vào
Nam đàm phán!
Thư của
Nha Thương bạc đă tống đạt vào tên tướng thực dân Dupré:
“[Đồ] Phổ Nghĩa [Jean Dupuis] ngang ngược bừa băi. Chiểu theo hoà ước [Nhâm tuất 1862], [y và Senès]
rất cùng trái lắm. Xin sức cho thuyền ấy tuân theo hoà ước, rút về”
(4).
Quan khâm
mạng Nguyễn Tri Phương biết tin tướng suư Pháp ở Gia Định đă gửi thư cho
Đồ Phổ Nghĩa, bảo y phải rút khỏi Hà Nội (5). Nhưng ông biết rơ đó chỉ
là một bức thư giả vờ, một động tác giả, nhằm đối phó với triều đ́nh Huế,
tuy viết như thế nhưng vẫn có chỉ thị mật với nội dung ngược lại. Dẫu là
thực dân, nhưng bọn Pháp vẫn cố gắng tránh được chừng nào hay chừng ấy
sự trắng trợn vi phạm “hoà” ước Nhâm tuất
1862. Chúng vẫn muốn lừa giáo dân nước ta và để các cố đạo thực dân dễ ăn nói! V́ cố che giấu dă tâm,
bọn Pháp mượn tay tên lái buôn người Pháp làm việc cho thực dân Anh gây
hấn. Trên danh nghĩa, Jean Dupuis không phải là người của Pháp suư Gia
Định, cũng không phải nhân viên đặc phái của chính phủ Cộng hoà Pháp!
Thuyền trưởng Senès của tàu Bourayne cũng chỉ mượn chiêu bài đánh dẹp
hải tặc theo “hoà”
ước Nhâm tuất 1862! Nói chung, ở Huế, phó sứ Nguyễn Văn Tường thừa biết chúng vẫn cố “lấy vải thưa để che mắt thánh”
chừng nào c̣n che được! Ông biết chuyện quan khâm mạng Nguyễn Tri Phương
đă cho mời y đến để thử lại nước cờ của bọn Pháp. Quan khâm mạng hỏi
Jean Dupuis:
- Ông đă
nhận được thư của ngài Pháp suư Gia Định? Bản chức đă được triều đ́nh
bản quốc thông tư, rằng tướng Du Bi Lê (Dupré) đă gửi thư yêu cầu ông
phải rút khỏi Hà Nội và rút khỏi bất ḱ nơi đâu trên lănh thổ Đại Nam.
Bản chức muốn được nghe lời cáo biệt của ông!
- Thư nào?
Thư yêu cầu như thế ư? Ồ, vâng, tôi có nhận được. Tuy nhiên, ơ hay, việc
ǵ tôi phải tuân lệnh tướng Dupré! Tôi là thương gia, đâu phải sĩ quan
của Pháp, cũng chẳng là nhân viên Chính phủ Pháp, thưa ngài! Cho nên, lá
thư của tướng Dupré không buộc tôi “cáo biệt” Bắc Ḱ này được!
Quan Vũ
hiển điện đại học sĩ, khâm mạng đại thần, kinh lược sứ Bắc Ḱ Nguyễn Tri
Phương nén giận trước sự man trá, giảo quyệt của Jean Dupuis. Nếu chỉ y,
cho dẫu quân của riêng y đến mấy trăm tên, kể cả lính của tổng đốc Vân
Nam, với số vũ khí lên đến bảy ngh́n (7.000) cây súng, ba mươi (30) cỗ
đại bác và vô số đạn dược (6), th́ đâu khó ǵ mà quan triều đ́nh dưới
quyền Nguyễn Tri Phương không đuổi y được! Thật ra, triều đ́nh Huế và
quan khâm mạng thừa biết, sau lưng tên Jean Dupuis quỷ quyệt này là cả
nước Pháp và liên quân các nước Âu Mỹ!
- Đồ Phổ
Nghĩa (Jean Dupuis)! Bản chức thừa biết ông chỉ là cái bung xung, cái
ng̣i nổ cho tướng Pháp và cả nước Pháp mà thôi! Nhưng dẫu sao mặc ḷng,
lá thư của suư phủ Pháp Du Bi Lê (Dupré) là có thật! – Quan khâm mạng họ
Nguyễn cẩn trọng thử thêm một lần nữa –. Nếu ông không tuân lệnh tướng
Du Bi Lê (Dupré), th́ ông rơi vào trường hợp đơn phương vô cớ xâm phạm
lănh thổ của nước Đại
Nam chúng tôi, hẳn
sẽ nguy to cho ông đấy!
- Thưa
ngài, – Jean Dupuis cười khẩy –, tôi chỉ là một thương gia. Tôi xin lặp
lại yêu cầu: Ngài hăy cho khai thông tuyến sông từ Hải Pḥng lên Vân
Nam, và bỏ lệnh
cấm buôn bán muối cho miền nam Trung Quốc. Ngài không thấy đoàn tàu
thuyền của tôi treo cờ có chữ “Mă” (7), họ của đề đốc Vân
Nam, Trung Quốc đó
sao! Đại
Nam
là thuộc quốc của Trung Hoa, ngài không tuân hành sao? Hay ít ra cũng nể
v́ lá cờ có chữ
“Mă”
trên đoàn tàu thuyền của tôi chứ?
- Ông Đồ
Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) này! Ông nhầm to rồi! Nước Đại
Nam chúng tôi là
một nước độc lập, tự chủ, giữa Việt – Hoa không phải “ra lệnh, tuân lệnh”
với nhau được! Triều cống chỉ là xă giao, hữu nghị, “hậu văng bạc lai”!
Thật ḷng,
Jean Dupuis cũng hơi ngạc nhiên, nhưng liên hệ với vốn liếng thực tế mà
y thu thập được, y thấy quan khâm mệnh Nguyễn Tri Phương nói đúng: người
Trung Quốc không có quyền xuôi thuyền trên sông Hồng ngang qua Bắc Ḱ,
và miền nam Trung Quốc cũng không được mua muối Bắc Ḱ như y đang cố
khai thác mối lợi trước mắt khá ngon ăn này. Ngẫm nghĩ một lúc, Jean
Dupuis nói:
- Chỉ có
mỗi một liên quan giữa tôi với nước Pháp là quốc tịch tôi đang mang. Tôi
sẵn sàng bỏ quốc tịch Pháp (5), và sau đó sẽ t́m kiếm một nước Âu Mỹ
khác, để đạt cho bằng được mục tiêu mở tuyến đường thuỷ sông Hồng, tức
là sông Cái hoặc c̣n gọi là sông Kói này! Tướng Dupré làm ǵ tôi tốt nào!
Mặc xác cái “hoà” ước Nhâm tuất 1862 của nước Pháp với nước Đại
Nam!
– Jean Dupuis không ngờ y đóng kịch đạt đến thế –.
Ở kinh đô
Huế, phó sứ Nguyễn Văn Tường để tâm theo dơi t́nh h́nh ở Bắc Ḱ. Ông đă
đọc rất kĩ các tập tâu của Nguyễn Tri Phương đệ gửi vào vua Tự Đức.
Trong tập tâu gần đây nhất của quan Vũ hiển, kinh lược sứ, Nguyễn Văn
Tường thấy rơ nhận định của Nguyễn Tri Phương về Jean Dupuis:
“Lời nói nhiều điều doạ nạt” (5)!
Nguyễn Văn Tường vốn trầm
tĩnh, cũng không thể nén giận!
Trong
những ngày thượng tuần tháng sáu nhuận năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quư
dậu (1873) này, phó sứ tạm hàm tham tri Bộ Lễ c̣n nhận được thông tin về
mối quan hệ giữa cố đạo Nghệ An Gauthier (Ngô Gia Hậu, thầy của Nguyễn
Trường Tộ) với Jean Dupuis. Chính tổng đốc Nghệ An Tôn Thất Triệt tâu
báo, quân thám báo đă nhặt được thư Jean Dupuis trả lời giám mục thực
dân Gauthier (5), với nội dung nói về việc góp vốn buôn bán từ Bắc Ḱ
lên Vân
Nam!
“Buôn
bán” những ǵ? Đă quá rơ! Hăy nh́n những thùng vũ khí hiện đại và muối biển trên tàu
thuyền của y đang buông neo tại Hà Nội! Vua Tự Đức xác nhận : “Việc ấy
sự tất có đến thế” (5)! Đó là xác nhận sau khi điều tra thủ bút! Ngay
lập tức, nhà vua sai quan Thương bạc viết thư cho suư phủ Pháp tại Gia
Định, đồng thời
“lại sai sao bản dịch của tỉnh Nghệ An, mật giao cho
Nguyễn Tri Phương và các quan tỉnh ở Bắc Ḱ, [dặn] hết ḷng pḥng bị,
cần phải mười phần [pḥng thủ] vững bền, để ngăn ngay từ đầu” (5)
âm mưu trong mối quan hệ giữa “tả đạo” Nghệ
An với tên lái buôn Jean Dupuis! Nguyễn Văn Tường biết
ngay, nếu sự biến xảy ra, sẽ không chỉ ở Bắc Ḱ (từ Ninh B́nh trở ra) mà
cả Nam Đàng Ngoài (Thanh – Nghệ – Tĩnh)! Và ông nhận thức nhiệm vụ đàm
phán sắp khởi hành thật
không dễ dàng chút nào! Không chiến tốt, không thủ tốt, làm sao có thể
đàm cho thắng lợi? Từ năm năm trước, ông chẳng dâng sớ lên vua Tự Đức
với mục đích vạch trần âm mưu thực dân Pháp cố lừa ta ngồi vào bàn “hoà”
nghị để phải kí thêm “hoà” ước mới, nhượng đứt bằng cách hợp thức hoá
chủ quyền cho chúng ba tỉnh Miền tây Nam Ḱ mà chúng đă chiếm đoạt từ
năm Bính dần (1867)! Gần đây t́nh h́nh càng bi đát hơn, bi đát đến mức
triều đ́nh và vua Tự Đức bỏ vuột mất thời cơ khi chiến tranh Pháp – Phổ
1870 – 1871 nổ ra với sự thất bại thảm hại của Pháp! Phân tích t́nh h́nh,
tương quan lực lượng, Nguyễn Văn Tường thấy Pháp đang suy yếu, mới gắng
phục hồi trong vỏn vẹn hai năm gần đây, nhưng đến nay ta thật sự cũng
sức cùng lực kiệt bởi bọn giặc Cờ và phỉ Bắc. Thời điểm này, chúng vẫn
muốn gây chiến để ép ta ngồi vào bàn hội nghị và có khả năng gây loạn
lạc khắp Đàng Ngoài (từ Hà Tĩnh trở ra)! Phó sứ Nguyễn Văn Tường thật
ḷng rất băn khoăn, ngần ngại, nhưng không biết sẽ làm thế nào!
Lại được
tin thêm về việc cố t́nh gây rối của Jean Dupuis! Tên thực dân lái buôn
này bất chấp mọi can ngăn, thuyết phục, kể cả việc chỉ rơ vai tṛ bung
xung, ng̣i nổ mà y đang bị lợi dụng, y vẫn tiếp tục cho tàu thuyền lên
đến thượng du tỉnh Hưng Hoá, t́m cách móc nối, ngầm thông với bọn giặc
Cờ vàng Hoàng [Sùng] Anh (8)! Quan tuyên sát đổng sức đại thần Nguyễn
Tri Phương ra mật lệnh cho các nơi canh pḥng nghiêm mật, lại phái viên
ngoại lang tuỳ phái Trần [Thúc] Nhượng đến các tỉnh Hưng Yên, Nam Định,
Hải Dương khám xét, đốc thúc việc canh gác, pḥng thủ các đường sông
hiểm yếu (8).
Như vậy,
ngày càng rơ ràng là tên bung xung lái buôn muốn thực tâm gây hấn, theo
ḷng thực dân hám lợi của y và của Chính phủ Pháp lẫn của suư phủ Pháp
tại Gia Định. Như thế, không nghi ngờ ǵ nữa, từ đầu năm ngoái (1872),
Jean Dupuis về Pháp để mua vũ khí, tiếp tục thực hiện kế hoạch
“chở súng đạn cho người Tàu đánh nhau” (9),
cho bọn giặc Cờ
quấy rối nước ta, từ năm, bảy năm trước. Lúc đến
Paris, y có tiếp xúc với cả
bộ trưởng Bộ Hải quân Pháp Pothuau (10). Pothuau tuy dè dặt nhưng cũng
“giới thiệu” y cho thiếu tướng D’Arbaud, kẻ đang đảm nhiệm thay chức vụ
thống đốc Nam Ḱ trong thời gian Dupré nghỉ phép (10). Thật ra, đó là
tấn tuồng che giấu âm mưu xâm lược Bắc Ḱ!
Tháng sáu
nhuận, Quư dậu (1873) năm nay, dù ngoài quê nhà Quảng Trị đă mưa được
vài cơn mưa nhỏ, làm dịu gió nóng, nắng lửa, ở kinh đô Huế cũng vẫn chỉ
dịu bớt phần nào. Nhưng t́nh h́nh chính trị vẫn không hề giảm nhiệt độ,
lại đang tăng lên từng ngày một, bởi chỉ một tên “lái buôn” bung xung
Jean Dupuis!
Ngày mười
sáu tháng sáu nhuận (08.08.1873) ấy, sứ bộ đă phải xuống tàu hơi nước để
lên đường (11)!
Thuyền
Mẫn Thoả dẫn đầu, tiếp sau là thuyền Viễn Thông (11)! Hai chiếc thuyền
hơi nước đưa sứ bộ và đoàn tuỳ tùng vào Gia Định trên sóng biển không hề
lặng sóng…
Lên tàu,
ngoảnh lại, quan phó sứ Nguyễn Văn Tường thấm hiểu t́nh h́nh Bắc Ḱ ngày
càng nóng lên, đến mức bức bối. Thêm vào đó, ở B́nh Định, tổng đốc Ngăi
– Định Hoàng Văn Tuyển lại tâu xin cho mở ḷ tư nhân để đúc tiền, tất
nhiên dưới sự kiểm sát của quan chức. Vua thấy cũng tiện, chuẩn y. Nào
ngờ khách buôn người Hoa nước Thanh liền chở tiền giả (tiền sềnh) đúc từ
Tàu sang, thông đồng với chủ ḷ Hoàng Đ́nh Quan (12)! Tiền giả! Tiền
sềnh! Tiền giả! Tiền sềnh! Lại một nguy cơ lan tràn phải chận đứng! Ḷ
đúc tiền ngay lập tức bị dẹp bỏ, có điều nhiệt độ thời sự lại càng bị
nung đốt! Nhiệt độ lại nung đốt thêm cũng do vụ Ông Ích Khiêm, Trương
Văn Đễ bất tuân tướng lệnh của hai vị quan Vũ hiển Nguyễn Tri Phương,
thống đốc Hoàng Tá Viêm, phải bị cách chức, bị trói, dẫn độ về kinh đô
chịu nghị xử!
“Trước đây, bọn giặc vây bức đồn Phong Đăng, quan khâm mạng Nguyễn Tri
Phương, thống đốc Hoàng Tá Viêm muốn nhân lúc [giặc] bỏ trống, đánh úp
lấy sào huyệt giặc ở Đại Đồng, giục ngay phải tiến đến đồn để tiếp việc.
Bọn Ích Khiêm lấy cớ giặc nhiều, đường hiểm, từ chối, lại đều lấy bệnh
t́nh, đóng lùi lại. Bọn Tri Phương cho là mượn cớ để ở lại, ngại khó,
chọn thuận tiện, làm tập tâu hặc tội. Vua chuẩn cho lập tức bắt trói đưa
về kinh, giao đ́nh thần nghiêm nghĩ. Đến nay án nghĩ xử: Bọn ấy tiến hay
ở lại, tự do, không theo lệnh tướng, xin cách chức cho làm việc chuộc
tội. Vua chuẩn y án nghĩ, phát đi theo sai phái ở quân thứ Tuyên Quang”
(13).
Và tin Ngụy Khắc Đản chết v́ bệnh (14)! Những
nguồn tin ấy, qua những nơi tàu cập bến, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu,
sứ bộ đều được trung sứ (sứ thần giao liên giữa triều đ́nh với sứ bộ)
tŕnh báo!
Chỉ một
thoáng mưa mát dịu là khi nhận được thông tin về huyện Thành Hoá (thuộc
Quảng Trị). Ấy là khâm phái Phan Khắc Kiệm đến chín châu mường, châu bạn
thuộc huyện để uỷ lạo, cấp vải muối, mặc dù Lào đă chiếm lại ba châu
(15)!
Cuối
tháng sáu nhuận đó, kinh đô Huế mới tràn ngập một trận mưa thật lớn,
thấm đẫm đất trời (2). Tuy nhiên, bấy giờ, lúc một giờ sáng ngày hai
mươi ba nguyệt lịch, sứ bộ đang lâm vào cảnh vất vả v́ hệ thống nồi hơi
nước của tàu thuỷ bị nổ (16). Tàu ngập tràn nước sôi, sôi sùng sục, bốc
khói nóng bỏng, sôi và bốc khói cả khi nước đă tràn ra khắp hầm tàu! Tàu
thuyền phải lênh đênh nổi trôi theo sóng gió ở Ḥn Khô (thuộc B́nh Định)
và suưt mắc cạn ở đấy (16)! Nửa đêm hai mươi bốn, theo lệnh của chính sứ
Lê Tuấn, viên lính tên Hiền và viên suất đội Linh chèo thuyền đi trưng
dụng các thuyền đánh cá dọc bờ biển để kéo tàu. Sáng hai mươi lăm, phó
sứ Nguyễn Văn Tường cùng tham biện Nguyễn Tăng Doăn và vài viên tuỳ tùng
khác vào làng Đông Lương trưng dụng thêm mười tám thuyền đánh cá của các
làng phụ cận để hợp sức kéo tàu vào bờ. Măi đến tám giờ tối, tàu mới vào
đến băi Vũng Tồ để buông neo, t́m cách chữa lại hệ thống nồi hơi nước
(16)!
Trong khi
đoàn thuỷ thủ đang ra sức chữa tàu, linh mục Nguyễn Hữu Cư (c̣n gọi là
cha Thơ) đang đưa linh mục Martin - Henri Brillet (có tên Việt là Hiền)
và giáo sĩ giúp việc thường gọi là chú Quy đến các xóm đạo Kẻ Thử, Quán
Ngỗng, G̣ Thị, Cửa Giả để thăm cậu Tám, thăm giám mục Eugène-Etienne
Charbonnier (cố Trí), thầy Quyên, thầy Nhựt (17). Chủng viện G̣ Thị ở
B́nh Định vốn là nơi linh mục Nguyễn Hữu Cư (1835 – 1892) từng tu học
vào những năm tuổi ông ta mới lên mười (1845 – 1849), trước khi sang
Pénang, nơi đào tạo linh mục “tả đạo” người bản xứ Viễn Đông (17)! B́nh
Định cũng đang và sẽ là điểm nóng của vấn đề
lương – giáo! Linh mục Nguyễn Hữu Cư, cũng như linh
mục Nguyễn Hoằng, cảm thấy thật lạc quan: Năm 1873 này, tại chính trường
nước Pháp, phái quân chủ Thiên Chúa giáo đă lên
cầm quyền trở lại (18)!
Phó sứ
Nguyễn Văn Tường nh́n ra biển rộng, sau khi mải mê giám sát, động viên
thuỷ thủ chữa tàu. Ông quay sang tham biện Nguyễn Tăng Doăn, khẽ nói:
- Mấy
viên linh mục biến vào các xóm đạo rồi phải không? – Không đợi Nguyễn
Tăng Doăn, vốn là bạn đồng hương cũng là đồng liêu trả lời, ông lại phàn
nàn –. Chúng ta lâm vào thế thật lúng túng, đến mức phải sử dụng cả
những tên giáo sĩ, linh mục nhị trùng, hai mặt!
- Linh
mục Nguyễn Hữu Cư là người làng Cao Xá, cũng Quảng Trị ḿnh, tuy gốc là
làng Mỹ Hương, Quảng B́nh! H́nh như không đến nỗi vô lương tâm lắm. Y đă
cộng tác với triều đ́nh để dịch thuật từ năm Tự Đức thứ hai mươi (1867)
đến nay (17).
- C̣n
linh mục Nguyễn Hoằng (Hoàng)? Y người Hà Tĩnh (19). Không biết thế nào!
Nhưng dẫu sao, sứ bộ ḿnh phải tự lực là chính. Chúng ta vẫn có những
viên hành nhân thông ngôn của ta. Bản thân quan tham biện và tôi cũng
phải chủ động trong vấn đề Pháp ngữ này. Ta chỉ thua kém trong cách phát
âm mà thôi.
Phó sứ
Nguyễn Văn Tường và tham biện Nguyễn Tăng Doăn vẫn kín đáo chuyện tṛ,
bàn bạc trong khi chờ tàu sửa chữa xong. Những ngày này, chính sứ Lê
Tuấn đang say sóng và cứ áp tay vào cổ họng. Ông lại trở cơn viêm họng
mạn tính (20).
B́nh Định
vẫn không mưa. Tại bờ biển Vũng Tồ này, hơi nước biển chừng như mặn hơn
trong nắng chói chang.
2
Trong khi
chờ buổi tŕnh diện của Françis Garnier, tướng Dupré ngồi nhấm nháp tách
cà phê với điếu x́ gà, một loại thuốc vấn bằng lá thuốc như nông dân
nước ta thường tự trồng, tự cuốn lấy, to bằng ngón tay cái. Tên tướng
này được gọi nguyên tên họ là Marie - Jules Dupré (1813 – 1881), xuất
thân từ hạ sĩ quan, từng tham chiến xâm lược tại châu Phi ở xứ
Madagascar, đảo Réunion, hiện là thống đốc Nam Ḱ (21). Dupré đang vào
tuổi sáu mươi, y thấy ḿnh cũng đă hơi mỏi mệt. Y nh́n giữa hai ngón tay
kẹp điếu thuốc, những sợi khói x́ gà bốc lên một vài tấc thẳng đứng
trước khi uốn éo lan toả. Y ngẫm nghĩ, thử nhẩm tính từ ngày sang đây
nhậm chức, 01.4.1871 (22), đến đợt nghỉ phép dài đến hơn chín tháng,
04.3.1872 – 16.12.1872 (22). Suốt gần chín tháng rưỡi ấy, thiếu tướng
D’Arbaud sang làm quyền nhiếp thay y (22). Nhưng dẫu y hay D’Arbaud th́
cũng thế. Và cũng đều như thế, từ thống đốc Nam Ḱ đầu tiên là Bonard,
nhậm chức trong các năm 1861 – 1863, đến De la Grandière rồi Roze… sau
đó, tất cả đều đă toan tính từng bước xâm chiếm toàn cơi Đông Dương (Việt
– Miên – Lào). Dupré cười một ḿnh với nụ cười nham hiểm, đôi môi mỏng
dính dưới hàng râu mép đỏ quạch. Thật ḷng y nham hiểm một cách hết sức
b́nh tâm, không hề ư thức nham hiểm là tội ác!
Lúc này,
lan man theo ư nghĩ, Dupré chợt nhớ từ năm 1872, y đă gặp gỡ nhiều chính
khách Pháp tại
Paris, và đă giải thích cho
họ:
“Nhận thấy rằng quyền lợi của nước Pháp là đặt chân lên Bắc Ḱ, ít ra là để củng cố
Nam Ḱ” (23).
Dịp ấy, vào ngày 22.12.1872, gần
đến Lễ Giáng sinh, Dupré đă viết thư gửi Chính phủ Pháp: Phải chiếm lấy
Kẻ Chợ (Hà Nội) để buộc vua Tự Đức chấp nhận giao hẳn ba tỉnh Miền tây
Nam Ḱ cho Pháp; vả lại, Đức lẫn Anh cũng đều đang nḥm ngó Bắc Ḱ, nên
không thể để chậm trễ (24)! Dupré cũng nhớ, trong một bức thư gửi cho bộ
trưởng Hải quân Pháp vào ngày 19.5.1873, y đă viết:
“Việc chúng ta thiết lập cơ sở trong xứ [Bắc Ḱ] ph́ nhiêu này, [xứ đó vốn là] láng giềng của nước Tàu
và là ngơ xuất phát cho những tỉnh tây nam giàu có của nước này [tức là
nước Tàu ấy], là một vấn đề sinh tử cho tương lai nền đô hộ của ta ở
Viễn Đông (25) […]. Chúng ta phải đặt chân lên đất này, có thể bằng cách
đồng minh với Tự Đức để mà lập lại uy quyền của nhà vua, hoặc là bằng
cách chiếm đóng bằng quân sự…” (25).
Đầu tháng 06.1873, Dupré đă nghe Millot, người của Jean Dupuis, quả quyết theo nhận
định của tên lái súng ấy:
“Tự tôi có sức đánh được quan lại triều đ́nh Huế, lập lại nhà Lê và đặt Bắc Ḱ dưới quyền đô hộ của
Pháp mà Pháp không phải tốn một người nào, cũng không phải tốn một xu
nào. Nếu thống đốc [Dupré] muốn tự ḿnh hành động th́ hai trăm (200)
lính đủ làm cho Bắc Ḱ trở thành thuộc địa của Pháp” (26).
Thật quá dễ dàng và thuận lợi! Do đó,
Dupré c̣n báo
cáo về Pháp:
“Bắc Ḱ là miếng mồi dễ ăn”
(27). Cũng vào tháng 06.1873, chính Dupré lại đề nghị với
Paris:
“Mặc dầu hiện nay có những sự khó khăn,
nên cho phép chúng tôi dùng vũ lực xâm chiếm đồng bằng sông Hồng Hà”
(28). Ngày 28.07.1873, cũng chính y lại viết:
“[Khi] Bắc Ḱ đă
được khai phóng bằng sự thắng lợi của Dupuis (đi lên Vân Nam), [sẽ] tác
động lớn lao trong thương mại Anh, Đức, Mỹ; tuyệt đối cần thiết phải
chiếm Bắc Ḱ và đưa về tay Pháp cái đường thông thương duy nhất này. Tôi
không cần có viện binh ǵ cả. Tôi làm với khả năng mà tôi có. Chắc chắn
thành công”
(29). Nhưng Paris dè dặt, v́ nước Cộng hoà thực dân Pháp đang cố thoát
ra khỏi cơn khủng hoảng sau thảm bại trước đế quốc Đức. Chính phủ Pháp
tại Paris điện trả lời:
“Dù với duyên cớ nào, với lí do nào, cũng không được làm cho Pháp quốc phải
dính líu ở Bắc Ḱ” (30).
Đó là do khó khăn mà tạm hoăn, chứ tham vọng xâm chiếm Bắc Ḱ và toàn cơi Đông
Dương ở chúng có bao giờ tự dập tắt! Dẫu sao, ở thời điểm này, Dupré
cũng thấy rơ t́nh t́nh, và mới đây y đă nói với viên lănh sự Pháp tại
Quảng Châu (Trung Hoa):
“Hắn ta [:Jean Dupuis]
hành động ở Bắc Ḱ như một xứ đă chiếm được. Và chính phủ [:triều đ́nh]
nước [Đại] Nam quả là quá yếu đuối mới nhờ tôi đuổi anh ta khỏi nơi [Bắc
Ḱ] này, như chánh phủ ấy hiện đang làm. Nếu Dupuis với những lực lượng
tệ hại của anh ta mà đă làm cho họ thất bại, th́ đối với ta, nếu muốn
đặt chân vào xứ [Bắc Ḱ] này, thật không tốn kém ǵ bao lăm” (31).
Nhưng
Dupré thấy đă đến lúc phải điều động Garnier, và Garnier từ Thượng Hải (Trung
Hoa) đă về, từ hôm trước. Chính ngày 16.8.1873 (24.6 nhuận, nguyệt lịch)
ấy, lúc Françis Garnier đặt chân đến Gia Định để tŕnh diện Dupré (32),
cũng là ngày hệ thống nồi hơi nước của tàu thuỷ sứ bộ Đại Nam mới bị nổ
ở ngoài khơi Ḥn Khô (thuộc B́nh Định), vào lúc đầu giấc khuya về sáng,
và con tàu đang trôi nổi lênh đênh!
Françis
Garnier đă đưa vợ con về Thượng Hải (Trung Hoa). Ḷng đă tạm yên,
Françis Garnier, tên thực dân được sinh ra đời vào năm 1839 tại thành
phố Saint Etienne thuộc tỉnh Loire ở Pháp (33), bước vô văn pḥng tên
cáo già Dupré. Sau cái đưa tay lên trán nghiêm chào, Françis Garnier
thưa:
- Tôi xin
đợi lệnh thống đốc.
- Đại uư
ngồi xuống đây.
- Vâng.
Một người
lính hầu bưng cà phê ra, khẽ cúi đầu, bẩm:
- Kính
mời.
- Cảm ơn.
Thống đốc
Dupré mỉm cười:
- Hẳn đại
uư hiểu tôi cho mời đại uư về đây có việc ǵ? Đó là vụ Jean Dupuis ở Hà
Nội. Nhắc lại với đại uư: Ngày 19.5.1873 vừa rồi, cách đây khoảng ba
tháng, tôi đă gửi điện cho
Paris với đề nghị thực hiện
xâm chiếm Bắc Ḱ, hoặc ít ra cũng bắt buộc Huế phải mở cửa biển Hải
Pḥng để thông thương theo tuyến sông Hồng lên Vân
Nam. Từ năm 1867
đến nay, sau khi xâm chiếm hẳn ba tỉnh Miền tây Nam Ḱ, ta vẫn đang dẫm
chân tại chỗ, chưa tiến thêm bước nào. Vấn đề Bắc Ḱ, từ năm 1864, cố
trung tá Doudart de Lagrée sau khi đặt được nền bảo hộ Pháp trên nước
Cao Mên (34), ngay lập tức đă cố thăm ḍ sông Mê Kông, và từ đó tuyến
sông Hồng thành mục tiêu thông thương của chúng ta. Nhưng trong thực tế,
đến nay, t́nh h́nh đă chín muồi. Không thể để muộn hơn. – Tên thực dân
cáo già Dupré cười nham hiểm –. Vụ đại uư gặp Jean Dupuis ở Hán Khẩu năm
năm trước, nay đă rất tốt (35). Đó là việc phải tiếp tục tiến hành tại
Bắc Ḱ…
- Vâng,
tôi đă xin vâng lệnh thống đốc. Nhưng có lẽ tôi phải được phép thống đốc
cho nghỉ ba tuần để lại sang Thượng Hải xếp đặt cho vợ con chu đáo hơn.
Nhận lệnh, đi gấp, nên vợ con tôi vẫn chưa thật ổn định… Ba tuần, thời
hạn không lâu. Chắc thống đốc vui ḷng…
- Được.
Trong dịp đó, đại uư nên nghiên cứu thêm về lai lịch Jean Dupuis của
nước Pháp chúng ta. Thương gia này vốn là người Pháp chính tông, sinh ra
đời năm 1833, trong một hộ phú nông. Đấy là một người phiêu bạt, đă ĺa
nhà năm hai mươi lăm tuổi, sang làm việc tại vùng kênh đào
Suez, lại từng theo quân
Pháp quốc chúng ta sang đánh Tàu. Sau đó y ở lại Tàu và phục vụ trong
một đoàn thám hiểm Anh. Y đă như một người Tàu chính cống. Lâu nay y
chuyên buôn bán súng đạn cho người Tàu đánh nhau và hiện giờ vẫn đang
tiếp tục bán súng đạn cho bọn giặc Cờ (tàn quân Thái b́nh thiên quốc)… Y
c̣n buôn bán muối và thu về quặng kẽm…
- Vâng,
tôi cũng đă biết ít nhiều.
- Đại uư
nên nhắc lại cho tôi quá tŕnh phục vụ trong lực lượng hải quân Pháp của
chính đại uư (36)!
- Tôi năm
nay ba mươi bốn tuổi, người Pháp, đă học Đại học Văn khoa, lại ham cả
khoa học tự nhiên, từng sống tại Paris, đă vào học Trường Vơ bị
Vincennes, lại học về môn vơ khí tại Trường Hải quân Lorient. 1860, tôi
sang châu Á, trước hết là chiến đấu ở Trung Hoa. Sau đó, sang Đại
Nam,
tôi phục vụ dưới trướng trung tướng Charner, từng chạm trán với danh
tướng Nguyễn Tri Phương tại đại đồn Kỳ Hoà. 1863, tôi đảm nhiệm chức
thanh tra Nam Ḱ dân sự vụ, cai trị trực tiếp Chợ Lớn. Tiếp theo, tôi là
thành viên rồi trưởng đoàn thám hiểm Mê Kông cho đến 19.6.1868. Tôi có
dự vào cuộc chiến Pháp – Phổ, 1870 – 1871, và viết báo, diễn thuyết về
sông Mê Kông và sông Hồng. Tôi mới cưới vợ được vài năm (36)… Thưa thống
đốc, tôi báo cáo đă hết. Xin được nhận tiếp nhiệm vụ.
- Thôi,
được.
“Tôi cho gọi anh về để nói chuyện với anh về
công việc ở Bắc Ḱ… Công việc Bắc Ḱ hiện nay có thể tóm lược lại trong
hai chữ: Jean Dupuis” (37). Tôi nhắc lại như thế. Anh cũng rơ, có người
từng nhận định: “Nếu sông Cái [:sông Hồng] trong hai tuần lễ [đă] đưa [được]
các thương thuyền Trung Hoa đến vịnh Bắc Ḱ, ta chỉ c̣n buộc Tự Đức kí
một thương ước bảo đảm tự do ra vào các hải cảng Bắc Ḱ. Từ Hải Pḥng,
tàu Pháp và tàu bản xứ lần dọc theo bờ biển Trung Ḱ trong mấy ngày sẽ
đổ bộ lên Sài G̣n vô số những tài nguyên mà từ trước chỉ được tải đến
Quảng Châu [Trung Hoa]” (38). Và chính Jean Dupuis đă bước đầu nhận định, báo cáo:
“Việc đánh lấy thành Hà Nội […] có một tiếng vang lớn trong toàn cơi.
Sự tập kích mau lẹ do một nhóm người [Pháp] làm cho quan dân đều kinh
hoàng. Bọn dư đảng nhà Lê tất nhiên đặt hi vọng lớn lao vào sự việc này;
mà dư đảng nhà Lê, thật sự là toàn dân của xứ Bắc Ḱ [:Đàng Ngoài],
ngoại trừ bọn quan lại từ các tỉnh phía nam sông Gianh [:Đàng Trong] đến…
Ḷng tin tưởng của dân chúng đặt vào nước Pháp, sự bất lực của quan lại…,
đó là những ǵ […] khiến cho nhiều đô thị do hàng ngàn người chống giữ
mà đầu hàng trước một nhóm người [Pháp]…”
(39). Đúng ra, hỗ trợ và ủng hộ người Pháp chúng ta là bọn dư đảng trung
thành với nhà Lê và nhất là giáo dân Thiên Chúa giáo! Câu ấy Jean Dupuis
vừa viết ở th́ hiện
tại và th́ tương lai, nhưng sau này, tôi đoan chắc y cũng sẽ lại
viết như thế với th́ quá khứ đă hoàn tất! Thế đấy! Bây giờ, anh sẽ được
nghỉ phép ba tuần. Bấy giờ, trong thời gian ba tuần ấy, sứ bộ Đại
Nam cũng đă đến
đây. Lúc này họ đang trên đường vào. Tất nhiên ta phải chuẩn bị làm sức
ép để sứ
bộ Đại Nam và triều đ́nh Huế chấp nhận yêu sách của ta. Tôi nhận định: Sứ bộ này không non nớt
như sứ bộ Phan
Thanh Giản hồi 1862! Sẽ căng thẳng lắm đấy!
Hết
tệp 1 truyện kí thứ 7
Viết đến ḍng
chữ cuối của truyện kí thứ 7
vào lúc 11 giờ
kém 05 phút,
ngày 09.11.2002
(05.10 Nh. ngọ,
HB.2).
TRẦN XUÂN AN
(1)
Khổng Tử trả lời Tử Cống,
Luận ngữ (Dương hoá, XVII), dẫn theo Trần Trọng
Kim,
Nho giáo, Nxb. Tp.HCM. tái bản,
1992, tr. 101.
(2)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam thực lục, chính biên, tập 32, bản dịch
Viện Sử học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1975, tr. 312.
(3)
Đào Đăng Vỹ,
Nguyễn Tri Phương (NTP.), Nha Văn hoá, Bộ VH. & GD. xb., Sài G̣n, 1974,
tr. 176.
(4)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 305.
(5)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 305 – 306.(6)
NTP., sđd., 1974, tr. 178.
(7)
Dương Kinh Quốc,
Việt Nam, những sự kiện lịch sử (VN.NSKLS), tập 1, Nxb. KHXH., 1981,
tr. 146; ĐNTL.CB., tập
32, sđd., 1975, tr. 322: Tuần phủ Vân Nam, năm Đồng Trị thứ 8
(1869), có họ là Sầm.
Mă là họ của một viên tướng (đề đốc) ở tỉnh ấy. Xem thêm: GS. Trần Văn
Giàu,
Chống xâm lăng, Nxb. Tp. HCM. tái bản, 2001, tr. 290,
293 - 294.
(8)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 307.
(9)
NTP., sđd., 1974, tr. 176.
(10)
NTP., sđd., 1974, tr. 177 – 178.
(11)
Tập san Những người bạn cố đô Huế (NNBCĐH.)
(Bulletin des amis du vieux Hué
[BAVH.], Cadière làm chủ bút.), bài
“Hoà
ước 1874, Nhật kí của thư kí sứ bộ An Nam” của linh
mục Nguyễn Hữu Cư, tập VII (1920), Bửu Ư, Đặng Như Tùng dịch, Nxb.
Thuận Hoá, 2001, tr. 466. Phải chăng bài này do H. Peyssonnaux, thanh
tra mật thám, Bùi Văn Cung, thư kí chánh ngạch [Ban] Ngoại kiều biên tập
[?]? Chẳng hiểu tại sao trong
NNBCĐH., sđd., tên của Nguyễn Hữu Cư lại chỉ in ở phần chú thích, trong
khi đó hai cái tên H. Peyssonnaux, Bùi Văn Cung lại
được in ở chỗ thường là in tên tác giả, khiến người đọc ngỡ Nguyễn Hữu
Cư c̣n có cái tên Pháp là H. Peyssonnaux!
(12)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 306 – 307.
(13)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 309 – 310.
(14)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 312.
(15)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 309.
(16)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 466.
(17)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 466 – 467.
(18)
GS. Trần Văn Giàu,
Chống xâm lăng (CXL.), Nxb. Tp. HCM. tái bản, 2001, tr. 288.
(19)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 41 (năm Tự Đức
thứ 19 [1866]). Xem thêm: NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 465.
(20)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 468.
(21)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 470.
(22)
Yoshiharu Tsuboi,
Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa
(NĐNĐDVP. & TH.), UB.KHXH. TU.
Tp.HCM. xb., 1993, tr. 106.
(23)
Jean Dupuis,
Les Evènements du Tonkin, dẫn theo GS. Trần
Văn Giàu, CXL., sđd., 2001, tr. 294.
(24)
CXL., sđd.,
2001, tr. 294.
(25)
Amiral Dupré à consul canton
26.06.1873,
dẫn theo Đào Đăng Vỹ, NTP., sđd., 1974, tr. 181; CXL., sđd., 2001, tr. 294.
(26)
Archives du ministère de la
Marine et des Colonies,
dẫn theo GS.
Trần Văn Giàu, CXL., sđd., 2001, tr. 295 – 296.
(27)
Dẫn theo,
CXL., sđd., 2001, tr. 292 (xem chú thích (23)).
(28)
Dẫn theo,
CXL., sđd., 2001, tr. 295.
(29)
Dẫn theo,
CXL., sđd., 2001, tr. 295; Trần Trọng Kim,
Việt Nam sử
lược
(VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 512.
(30)
Dẫn theo,
NTP., sđd., 1974, tr. 181.
(31)
Dẫn theo,
NTP., sđd., 1974, tr. 181; CXL., sđd., 2001, tr. 297.
(32)
NNBCĐH., bài
đă dẫn, chú thích của Cadière, sđd., 2001, tr. 476.
(33)
NTP., sđd.,
1974, tr. 175 – 176.
(34)
NTP., sđd.,
1974, tr. 172.
(35)
NTP., sđd.,
1974, tr. 177.
(36)
NTP., sđd.,
1974, tr. 173 – 174.
(37)
NTP., sđd.,
1974, tr. 176.
(38)
Roger Vercel,
Françis Garnier l’assaut des Fleuves, dẫn theo Đào Đăng Vỹ,
NTP., sđd., 1974, tr. 177.
(39)
Jean Dupuis,
Les Evènements du Tonkin, dẫn theo Đào Đăng Vỹ,
NTP., sđd., 1974, tr. 202 – 203.
Soạn xong phần chú thích
lúc 09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002
(10.10 Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN AN
Hết
tệp 1
(PHÂN ĐOẠN 1 TRUYỆN KÍ THỨ 7)
xin xem tiếp
tệp 2
(Phân đoạn 2 truyện kí thứ
7)