Tệp 6
PHÂN ĐOẠN 6
TRUYÊN KÍ THỨ 7
TRẦN XUÂN AN
CƯỠNG ƯỚC “HỮU NGHỊ”
VÀ CƯỠNG ƯỚC THƯƠNG MẠI,
GIÁP TUẤT 1874
Truyện kí thứ bảy
(phân đoạn
6)
14
Trong thời
đoạn bi kịch đó, đúng như quan Thương bạc Nguyễn Hữu Lập tâu lên vua Tự
Đức, ngoài vấn đề giáo dân Nghệ – Tĩnh tổ chức báo thù, nạn giặc biển
người Tàu ở Bắc Ḱ vẫn rất căng thẳng. Lại thêm bọn giặc Cờ vàng Hoàng [Sùng]
Anh và thổ phỉ, quan quân chưa đủ sức tiêu diệt hết ở vùng thượng du
biên giới phía Bắc (195)!
Tháng hai
Giáp tuất (1874), Rheinart vẫn đang rập ŕnh tàu chiến, lăm le đạn pháo
ở Hà Nội. Tháng sáu nguyệt lịch, tên giặc biển Khách Công tấn công Hải
Dương với bốn mươi chiếc tàu thuyền, đánh phá các phủ, huyện, vây bức
tỉnh thành (196)! Phái viên Pháp La Đăng (Dujardin) không thực tâm đánh
giúp theo “hoà” ước Nhâm tuất 1862 (“hoà” ước Giáp tuất 1874 chưa có
hiệu lực), mà chỉ quan tâm đến mỏ than, tính chuyện bóc lột khoáng sản
(196)! Tôn Thất Thuyết và Lê Bá Thận phải từ hai tuyến, tiến ra Hải
Dương cứu viện. Cơ mật viện thương thuyết với Pháp, Pháp vẫn lưng chừng,
trong thâm tâm vẫn muốn nuôi dưỡng bọn hải tặc, hải phỉ này để làm sức
ép với triều đ́nh Đại Nam. Chỉ có một vài lần Pháp yểm trợ tổng đốc Hải
– Yên Phạm Ư trong việc tiễu phỉ này (197)!
Ngay cả
giải quyết vấn đề bọn tay sai do Françis Garnier phong làm quan chức
cũng rất nan giải. Mùa đông năm ngoái, Quư dậu, phó sứ khâm sai đại thần
Nguyễn Văn Tường xử trí bọn Việt gian, “tả đạo” làm tay sai cho Pháp
bằng cách vẫn cho một vài tên tiếp tục làm với chức trách nhỏ để chúng
“yên ḷng phản trắc” (198).
Bấy giờ,
vua cho là khéo. Nay phải chấn chỉnh lại, vua Tự Đức không cho chúng
tiếp tục làm quan của triều đ́nh, lại trách Nguyễn Văn Tường lúc ấy xử
trí vội. Trần Đ́nh Túc xin vua tha cho chúng, đặc biệt là năm tên: Phạm
Quang Diệu, Nguyễn Quư Cát, Lê Văn Tốn, Nguyễn Tích, Đỗ Đ́nh Huyên. Quan
họ Trần tâu rằng chúng đă thú tội và có cố gắng chuộc tội. Vua vẫn không
đồng ư. Cơ mật viện (gồm Trần Tiễn Thành, Nguyễn Tư Giản, Phạm Phú Thứ,
lúc này Nguyễn Văn Tường đă vào Gia Định) xin vua cứ sử dụng v́ bọn ấy
có lắm đồ đệ, sợ sẽ thêm rắc rối nếu vội sa thải chúng. Về sau, lănh sự
Pháp Kê La Đích (Kergaradec) lại bênh vực chúng. Dẫu thế, chẳng bao lâu
chúng lại can án hoặc tự nghỉ việc (198).
Đó là một
giai đoạn cực ḱ khó khăn và rất phức tạp! Ở đấy, cái đốn mạt, đê tiện,
phi nhân nghĩa lại có dịp để bộc lộ một cách trắng trợn!
Nhưng đó
c̣n là một giai đoạn bi kịch!
Phải chăng
trong sự bế tắc chung của Đất nước và do bị thâm thủng tiền công ngoài ư
muốn (mặc dù đă bồi thường gần đủ), bang biện Bắc – Thái Đặng Huy Trứ đă
tự sát, vào cuối tháng bảy Giáp tuất (1874), với lời trăn trối xin đừng
đưa thi hài về quê quán Bác Vọng, Thừa Thiên (199)?
Chính giai
đoạn lịch sử này cũng đă tạo ra nhiều t́nh huống bi kịch và sản sinh ra
không ít những con người mang tâm trạng bi kịch với những cách hành xử
bi kịch!
Cộng vào
nỗi đau bi kịch lịch sử ở Đàng Ngoài, c̣n có thêm nỗi đau xé ruột, nỗi
đau dậy lên trong niềm phẫn nộ, khi Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ,
Nguyễn Tư Giản (ba đại thần Cơ mật viện – Thương bạc) tâu xin nhà vua
giải quyết vấn đề người Nam Ḱ chạy trốn ra vùng tị địa tại B́nh Thuận,
Khánh Hoà (200). Trước đây, bốn mươi mốt người dân Nam Ḱ khốn khổ, gồm
người Kinh lẫn người thổ, bị thực dân Pháp sai đi làm việc nặng nhọc
dưới những ngọn roi da và dùi cui của chúng, họ đă thoát ra, t́m đến với
bang biện khâm phái, điển nông sứ Phan Trung. Giữa tháng tám Giáp tuất
(1874), tướng Pháp Krantz nghi ngờ triều đ́nh Đại Nam vẫn tiếp tục huấn
luyện người Nam Ḱ để lại đưa về Nam Ḱ tổ chức nổi dậy, khởi nghĩa, nên
y gửi thư ra kinh đô Huế, đề nghị phải bắt giải giao cho y. Viện – Bạc
tâu xin vua thoả hiệp với Krantz, thông tư cho tỉnh B́nh Thuận yết nă
ngay bốn mươi mốt người dân ấy, sau đó viết thư trả lời cho Krantz khỏi
hiềm nghi! Vua Tự Đức đành đoạn đến tàn nhẫn nghe theo (200).
“Sách lược
thoả hiệp tạm thời”
với giặc xâm lược quả là quá đau xót, đến mức nhân dân đă căm phẫn kết
án triều đ́nh nhà Nguyễn “măi quốc, khí dân” (bán nước, bỏ dân)! Bấy giờ,
Nguyễn Văn Tường vẫn c̣n phải ở tại Gia Định (đến cuối tháng tám nguyệt
lịch ông mới về đến Huế). Ông hết sức đau ḷng, đă đấu tranh với Krantz,
nhưng vẫn không thể can thiệp được, bởi điều khoản IX của “hoà” ước Nhâm
tuất 1862 và điều khoản XVIII của “hoà” ước Giáp tuất 1874 ghi rơ, gần
như giống hệt nhau: “Phàm có
giặc ở địa phận nước [Nam Ḱ thuộc] Đại Pháp, như có phạm các tội làm
loạn và trộm cướp, mà trốn [ra] địa hạt nước Đại Nam [từ B́nh Thuận đến
Cao Bằng], được quan nước Đại Pháp [thông] tư cho quan nước Đại Nam biết,
th́ quan nước Đại Nam tức khắc phải hết sức ḍ bắt, giao cho quan nước
Đại Pháp xét xử”!
Đó là nỗi đau
một khi non sông đất nước vốn liền một dải từ Cà Mau đến Nam Quan, bỗng
bị cưỡng ước chia cắt thành hai nước khác nhau: Nam Ḱ thuộc Pháp và
Vương quốc Đại Nam thuộc triều đ́nh Huế!
15
CƯỠNG
ƯỚC THƯƠNG MẠI GIÁP TUẤT 1874 (201)
“Điều ước
thông thương (cộng hai mươi chín [29] điều) đă làm xong.
Ước rằng:
Nay vua
nước Đại Nam và vua nước Pháp nhân muốn giữ vững lời thề hai nước kết
giao với nhau và muốn cho tiện lợi dễ dàng về việc thông thương để rộng
đường giàu thịnh hai nước, nên vua nước Đại Nam đặc cách phái H́nh bộ
thượng thư, Ḱ Vĩ bá, chánh sứ Nguyễn Văn Tường, Lại bộ thị lang, phó sứ
Nguyễn Tăng Doăn đều sung chức giảng định thương ước toàn quyền đại thần.
Vua nước
Pháp đặc cách phái khâm sai, tổng thống Nam Ḱ thuỷ lục quân dân, kiêm
thống Đại Thanh, Nhật Bản lưỡng quốc ngoại dương chư binh thuyền, đại
nguyên soái Kha Răng Du Ly Pha Lang Sa Ê Mi Ly [Krantz], khâm thưởng đại
hạng thưởng công kim bội tinh, khâm sung giảng định thương ước toàn
quyền đại thần.
Hai bên đă
đem sắc chiếu được làm toàn quyền công đồng so sánh, tra xét, đều được
thoả đáng, liền đem bàn lập điều khoản kê khai ở sau:
Khoản 1:
Chiểu theo khoản thứ XI ở tờ hoà ước mới năm nay (ngày hai mươi bảy [27]
tháng giêng [01] Nam, ngày 15 tháng 03 Tây), đă phân biệt nghị định: Vua
nước Đại Nam chuẩn cho mở cửa biển Ninh Hải tỉnh Hải Dương ngược lên
sông Nhĩ Hà suốt đến địa giới tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh và phố Hà Nội
cùng cửa biển Thị Nại tỉnh B́nh Định, cho thuyền buôn các nước ngoài,
không cứ nước nào, hiệu cờ sắc ǵ, đều được đi lại mua bán ở các cửa
biển ấy.
Khoản 2:
Phàm các cửa biển đă chuẩn cho khai thương ở trong điều ước nên chiểu
theo lệ hàng hoá được chở ra, chở vào, trị giá cứ một trăm (100) phần
th́ lấy ra năm (05) phần, đem nộp thuế quan. Khi đă nộp thuế xong, th́
các hàng hoá đều được thông thương mua bán, thong dong tự tiện. Duy muối
trắng nên chiểu giá cứ một trăm (100) phần, lấy ra mười (10) phần, để
nộp thuế. C̣n súng ống, khí giới, thuốc đạn, tất cả các loại về quân khí,
đều không cho mua bán, không được vận chở ra vào. Lại mua bán thuốc
phiện, nên chiểu theo lệ riêng của nước Đại Nam đă định. C̣n như gạo,
người buôn thường được tuỳ tiện chở vào cửa biển, vào phố, về thuế chỉ
chiểu một trăm (100) phần, phải nộp năm (05) phần. Nếu tải ra khỏi cửa
biển th́ phải có giấy tờ rơ ràng của triều đ́nh nước Đại Nam tạm chuẩn
cho, và [thông] tư cho quan khâm sứ nước Pháp ở kinh [đô] biết, mới được
tải ra; và thuế gạo tải ra phải chiểu một trăm (100) phần thu lấy mười
(10) phần. Lại như vận chở tơ sống và gỗ thiết thường được vào cửa biển;
nếu ra khỏi cửa biển, tất phải [được] các xă thôn sở tại nhận nộp thuế
thổ sản xong, và phải đợi triều đ́nh nước Đại Nam đặt mua các hạng ấy đủ
dùng, việc xong, mới được chở ra; c̣n thuế lệ chiểu theo các hàng hoá
nhận nộp năm phần trăm (5/100). Hai hạng ấy đến khi ấy nước Đại Nam cho
chở ra hoặc không cho chở ra, đều nên trước khi ấy một (01) tháng, [thông]
tư cho quan khâm sứ nước Pháp ở kinh biết. Trong đó, các hạng cấm, trừ
các thứ khí giới, thuốc đạn, súng ống, đồ dùng về việc quân, không có
triều đ́nh nước Đại Nam cho chở th́ không được chở; không kể ngoài ra
những hàng hoá khác có lệ cấm đều cho tải từ nước ngoài đi qua suốt đến
Vân Nam và chở từ Vân Nam đi qua ra biển, th́ không cùng can thiệp. Duy
triều đ́nh nước Đại Nam tuỳ tiện được nghị định quy luật điều lệ để ngăn
ngừa hoặc có kẻ đem hạng cấp [:cấm (?)] ấy giả mạo, đem lên bộ trà trộn
vào trong địa hạt nước ḿnh. Phàm các hàng hoá được tải đi qua, hoặc từ
biển vào tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh hoặc từ tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh
mà ra biển, th́ mỗi khi tải đến địa hạt nước Đại Nam, chiểu nộp thuế
quan một lần thôi. Phàm hàng hoá vào cửa biển đă theo thuế lệ chiểu nộp
thuế quan, mà hoặc có từ tỉnh này tải đến tỉnh khác, từ phố này tải đến
phố khác, chuyển đi mua bán với nhau, đều không được định thêm số thuế
lệ nào khác.
Lại muốn
cho hai nước khỏi sinh dị nghị, cho nên lần này phải nghĩ nhất định.
Phàm thuyền buôn nước Đại Thanh chở hàng hoá vào, ra, về hạng cấm cùng
thuế quan, phải chiểu theo hàng hoá được tải ra, vào của các hiệu thuyền
Tây và Tân thế giới (tức hai tờ ước gọi là Cờ các nước ngoài) theo nộp
như nhau. Duy thuế phải nộp của các thuyền buôn nước Đại Thanh và nước
Đại Nam là bao nhiêu, đều thuộc về quan ti thuế quan nước Đại Nam thu
riêng, cất riêng; muốn chi tiêu việc ǵ, chỉ quan nước Đại Nam tính liệu
riêng mà thôi. C̣n như hàng cấm th́ thuyền buôn nước Đại Nam cũng giống
như các nước.
Khoản 3:
Phàm thuyền buôn ra vào cửa biển hai lần đều có chở hàng hoá th́ phải cứ
trọng tải mỗi tôn [:tấn] nộp tiền thuế đèn chỉ đường và thuế bỏ neo là
ba (03) đồng cân bạc. Nếu có thuyền nào lúc vào không có hàng hoá, mà
lúc ra chở hàng hoá hoặc lúc vào có hàng hoá, mà lúc ra không có hàng
hoá, phải cứ trong tải mỗi tôn nộp bạc thuế một (01) đồng cân năm (05)
phân. Nếu ra vào hai lần đều không chở hàng hoá th́ miễn cho tiền thuế.
Lại như sức thuyền chở được hai mươi (20) phần mà hàng tải trong thuyền
chưa tới một phần, giá trị mỗi tôn [:tấn] lại không tới năm (05) quan
tiền th́ cũng coi như thuyền ra vào đều không chở hàng hoá, miễn tiền
thuế tất cả.
Khoản 4:
Phàm hàng hoá từ Gia Định chở đến cửa biển nước Đại Nam hiện cho cho mở
mang buôn bán, hoặc muốn đi thẳng sông Nhĩ Hà, chở đến địa giới Vân Nam,
lại từ địa giới tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh, hoặc từ các cửa biển nước
Đại Nam hiện cho mở mang buôn bán mà chở đến Gia Định, về hàng hoá nên
chiểu theo cùng với thuế lệ đă định về hàng hoá từ xứ khác chở đến cửa
biển mở mang buôn bán ở nước Đại Nam hoặc lên thẳng Vân Nam và từ Vân
Nam hoặc từ cửa biển mở mang buôn bán ở nước Đại Nam chở đến xứ khác, [th́]
chước thu nửa phần mà thôi.
Lại muốn
lấp hẳn tệ dối trá mà phải thực có bằng cứ, cho nên phàm thuyền nào hàng
hoá từ Gia Định chở đi, phải có quan tấn thủ nước Pháp và quan lănh sự
nước Đại Nam ở Gia Định cấp giấy kí tên đóng ấn làm bằng, mới được chước
giảm. Thuyền nào từ địa giới Vân Nam hoặc từ các cửa biển hiện cho khai
thương ở nước Đại Nam mà chở đến Gia Định th́ ti thuế quan có thể tuỳ
tiện bắt mượn người bảo lănh số thuế nửa phần đă nói trên. Nếu không có
người bảo lănh hoặc có bảo lănh mà không đủ làm bằng, cũng có thể bắt
phải nộp cả số thuế nửa phần được chước giảm ấy. Đợi có bằng cứ đích
thực, sẽ trả lại sau.
Khoản 5:
Hai tỉnh B́nh Thuận và Biên Hoà do [:theo] đường bộ đi lại buôn bán th́
từ trước đến nay hạng thuế nào có thu hay không, nay nên vẫn như cũ,
không nên thêm bớt, thay đổi. Đợi sau khi thương ước cùng giao cho nhau,
hạn trong một năm, sẽ nghĩ định điều riêng về buôn bán đường bộ, phụ
theo điều ước ấy. Tuy vậy có người ở địa hạt nước Đại Nam mua ngựa đem
đến tỉnh Biên Hoà để bán, th́ tất phải chiểu theo thuế lệ hiện hành,
không nên gia nặng thêm.
Khoản 6:
Muốn được chiểu liệu đánh thu thuế quan và khỏi để khách buôn các nước
ngoài trở ngạnh [:ngáng trở] với quan nước Đại Nam, cho nên triều đ́nh
nước Pháp giúp triều đ́nh nước Đại Nam lựa chọn viên quan nước Pháp,
nhưng phải theo quan Bộ Hộ nước Đại Nam chỉ bảo, đủ để theo giúp việc
thuế quan. Triều đ́nh nước Pháp cũng giúp triều đ́nh nước Đại Nam t́m
cách tuần pḥng ngoài biển, cốt được nghiêm mật, để giữ cho dân buôn.
Phàm trước khi chưa bồi xong số bạc bồi phí tổn c̣n thiếu của nước Y Pha
Nho, th́ không được thuê người nước Tây nào khác không phải là người
nước Pháp mà quan khâm sứ hoặc quan lănh sự có ư không bằng ḷng cho làm
việc thuế quan. Đợi khi nào bồi xong số bạc thiếu của nước Y Pha Nho và
quan nước Đại Nam đă am hiểu việc đánh thuế, thu thuế, không phải phiền
cậy người nước Pháp làm giúp, th́ đến khi ấy hai nước sẽ hội nghị nên
làm thế nào, tuỳ tiện thay đổi.
Khoản 7:
Phàm ti thuế quan ở các cửa biển đă mở ra cho các người nước ngoài thông
thương đều thuộc quan nước Đại Nam, một viên đóng ở cửa Ninh Hải để
trông coi, lại có một viên người nước Pháp giúp nước Đại Nam giữ việc
thuế quan của người buôn nước Tây cũng cùng đóng ở cửa biển ấy. Phàm
luật lệ thuế buôn ở các đồn thuế quan ấy, do hai viên ấy cộng đồng làm
cho thoả đáng. Các người Tây theo làm việc ở các đồn thuế quan đều do
quan nước Pháp ấy cai quản cả. Viên ấy cũng có thể thời thường gửi thư
cho quan lănh sự và quan khâm sứ Pháp để bày tỏ các việc thuế quan và
thông thương. C̣n hai viên quản lí và thống nhiếp ấy, đến khi việc thu
thuế, nếu có khoản nào phải tư tŕnh quan Bộ Hộ nước Đại Nam xét bảo,
th́ đều phải cùng kí tên [thông] tư đi. Trong đó, nếu có khoản nào hai
viên ấy ư kiến không hợp nhau th́ đều cứ đem ư kiến của ḿnh tư [tŕnh]
cho quan Bộ Hộ xét xử.
Khoản 8:
Phàm người nước Pháp theo giúp nước Đại Nam, nên được phẩm trật, lương
bổng và cùng với quan Đại Nam đi lại lễ tết, nên ở thứ bậc nào, sẽ đợi
hai nước hội đồng bàn định.
Khoản 9:
Phàm sổ sách biên thu thuế lệ, nên đều làm riêng 02 bản: 01 bản để ở ti
thuế quan người buôn nước Tây, 01 bản để ở ti thương trường chiểu thu
các thuế quan do triều đ́nh nước Đại Nam đă định. Về đơn nộp thuế cùng
giấy biên hoặc chi tiêu tiền bạc ở kho ấy ra, đem để ở kho khác, cũng
phải có chữ của quan nước Đại Nam và quan nước Pháp kí tên, đóng ấn. Cứ
đến cuối tháng, đều đem sổ thuế hội đồng đối chiếu.
Khoản 10:
Phàm chi phí trong một năm, phải lấy ở tiền thuế đèn chỉ đường và bỏ neo
để chi. Nếu hạng ấy chi không đủ, lại cho lấy ở các thuế quan, nhưng
không được chi quá nửa phần.
Về việc
nên chi:
1.
Cấp
phát lương bổng cho người Tây theo giúp việc thuế quan ở nước Đại Nam,
cùng quan viên nước Đại Nam và ngoài ra [là] quan viên nước khác dự làm
việc thuế không phải ở Phương Tây.
2.
Dựng
làm các sở nha môn, sảnh, thự ở ti thuế quan.
3.
Tu bổ
thuyền cắm đèn, cột đèn.
4.
Đào
sông, đo nước cùng tất cả các khoản chi phí mà có ích cho việc buôn bán.
Khoản 11:
Phàm thuế lệ đă định ở điều ước thông thương này, phải theo giữ kể từ
khi [tiến hành nghi thức] giao cho nhau, hạn đủ mười (10) năm. Trong hạn
ấy, nếu có khoản nào nên sửa đổi, th́ kể từ ngày trong hai nước, có một
nước xướng nghị trở về sau, đủ một năm, được hai nước hội đồng bàn định,
mới được thay đổi.
Khoản 12:
Phàm người buôn các nước cùng với các quan viên ti thuế quan có v́ sự lệ
thuế quan mà không bằng ḷng, sinh ra kiện tụng, th́ do quan sở tại nước
Đại Nam cùng với quan lănh sự nước Pháp hội đồng xét xử.
Khoản 13:
Phàm các thuyền của nước Pháp và nước khác đến cửa biển nước Đại Nam
hiện chuẩn cho khai thương, đều cho thuê người dẫn thuỷ dẫn đường vào
cửa biển. Khi nào thuyền ấy tuân theo nộp thuế lệ mà muốn ra khỏi cửa
biển, cũng được thuê người dẫn thuỷ dẫn ra, đều không ngăn trở để chậm.
Người nào muốn làm nghề dẫn thuỷ phải có ba (03) người chủ thuyền buôn
biên giấy nhận thực, người ấy thực là có thể làm được th́ quan lănh sự
nước Pháp và quan tấn thủ nước Đại Nam cấp bằng cho làm dẫn thuỷ. Về giá
thuê dẫn thuỷ, phải do quan tấn thủ và quan lănh sự hoặc phó lănh sự
chiểu theo cửa biển xa hay gần, hiểm trở hay dễ dàng liệu định.
Khoản 14:
Hễ người dẫn thuỷ dẫn thuyền nước ngoài vào cửa biển xong, quan ở ti
thuế quan phái ngay một, hai người coi giữ, để thuyền ấy khỏi thầm trái
điều lệ thuế buôn. Các người coi giữ ấy được tuỳ tiện hoặc ở thuyền ḿnh,
hoặc ở thuyền buôn ấy. C̣n như lương bổng, tiền bạc ăn hằng ngày và tiêu
dùng, sẽ do ti thuế quan chi cấp, không được đến chủ thuyền và chủ hàng
hoá ấy đ̣i tính tiền phí tổn. Nếu trái lệnh th́ chiểu tính tang đ̣i lấy
ấy nhiều hay ít, [mà] trị tội, rồi đ̣i lại tiền tang, đưa trả sự chủ.
Khoản 15:
Phàm thuyền buôn các nước ngoài đến cửa biển hiện chuẩn cho thông thương,
hạn một ngày đêm, trừ ra thuyền nào thực có duyên cớ trở ngại, chủ
thuyền, chủ hàng hoá ấy hoặc người thay mặt phải đem ngay bài thuyền,
hoá đơn, tên người, đưa tŕnh quan lănh sự nước Pháp. Lại hạn một ngày
đêm, quan lănh sự ấy đem cả tên thuyền, tên người và lệ trọng tải cùng
hàng hoá ǵ, số là bao nhiêu, khai rơ kĩ càng, chuyển tư [tŕnh] cho
quan ti thuế quan biết. Nếu chủ thuyền ấy lười biếng, khinh nhờn mà sau
khi vào cửa biển đă hai ngày đêm, chưa chịu tuân theo lệ ấy, th́ cứ quá
một ngày đêm, phạt bạc năm mươi (50) đồng. Về tiền phạt, chỉ đến hai
trăm (200) đồng là cùng. C̣n tiền phạt ấy được thu vào kho thuế quan.
Quan ở ti thuế quan đă tiếp được quan lănh sự tư [tŕnh] đến, tức th́
cấp phát giấy biên, cho chủ thuyền ấy mở khoang thuyền bốc hàng hoá. Nếu
chủ thuyền ấy chưa lănh được giấy biên mà đă vội mở khung [:khoang]
thuyền bốc hàng hoá, th́ phải phạt bạc chỉ năm trăm (500) đồng, và tất
cả hàng hoá bốc ra khỏi thuyền đều phải tịch thu vào kho thuế quan.
Lại thuyền
buôn vượt biển, như có mang theo súng ống, thuốc đạn để tự vệ, mà đă có
biên kê ở trong bài thuyền, th́ lúc mới đến đồn cửa biển, kê khai đơn
hàng, cũng đều khai cả một thể. Nếu quan nước Đại Nam cho là súng ống,
khí giới, thuốc đạn ấy không tiện để ở thuyền, th́ chủ thuyền ấy phải
đem súng ống, thuốc đạn ấy lên trên cạn, nộp gửi quan tán thủ ở đồn địa
đầu và quan lănh sự nước Đại Pháp. Đợi khi nào thuyền ấy hoặc ra khỏi
cửa biển hoặc chuyển về tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh th́ trả lại. Như từ
cửa biển Hải Ninh mà chuyển đến Vân Nam, khi đi có phải mang theo khí
giới để tự vệ, th́ do quan quản lí nước Đại Pháp và quan lănh sự nước
Pháp hội đồng liệu định. Trái lệ ấy th́ súng ống, khí giới, thuốc đạn,
đều [bị] tịch thu vào kho công nước Đại Nam, lại phạt bạc chỉ đến năm
Trăm (500) đồng.
Lại có
thuyền nào là người nước Tây và nước Tân thế giới chở trộm khí giới,
thuốc đạn lên bộ trong địa phận nước Đại Nam, nếu khí giới, thuốc đạn ít
th́ thu lấy nộp vào kho công, lại phải phạt bạc năm trăm (500) đồng;
nhiều mà có ngại, th́ có thể lại bắt giam, thuyền ấy bị tịch kí, và tịch
kí cả hàng hoá ở thuyền hoặc tịch kí mấy phần, tới khi ấy sẽ tuỳ nặng
nhẹ nghĩ định. C̣n như tịch kí án ấy th́ hai nước xét xử.
Khoản 16:
Phàm chủ thuyền và người buôn các nước ngoài cho được tuỳ ư thuê mượn
thuyền vận tải, thuyền nhỏ để chở người đi và hàng hoá, c̣n giá thuê
thuyền đó là bao nhiêu, cho hai bên đối giá vừa phải với nhau. Quan nước
Đại Nam không phải trông nom giúp. Nếu thuyền đ̣ ấy hoặc có lừa dối chở
của cải của người buôn chạy mất, th́ quan nước Đại Nam cũng không có lí
phải bảo hiểm và bồi thường. Các thuyền đ̣ ấy không phải hạn số là mấy
chiếc, cũng không nên cho người giữ lấy, và không cho người phu khuân
vác nắm cả bốc hàng lên, đưa hàng xuống.
Khoản 17:
Phàm người buôn các nước ngoài, mỗi lần bốc hàng [lên,] đem [hàng] xuống,
phải kê khai đơn hàng trước cho minh bạch, đệ tŕnh quan lănh sự. Quan
lănh sự ấy tức th́ chuyển tường quan ở ti thuế quan, [để xin] cấp giấy
chuẩn cho bốc hàng lên, đem hàng xuống. Nhưng tra xét các hàng hoá đă
khai ấy cho thoả đáng, để cho đôi bên đều không phải thiệt.
Hễ khi xem
xét hàng hoá định thuế, người buôn ấy nếu không muốn tự phải cùng xét,
phải uỷ người am hiểu làm thay, th́ cũng cho tuỳ tiện. Nếu đương lúc xét
hàng hoá định thuế, mà người buôn ấy không theo lệ cùng xét, th́ sau dù
có kêu ca ǵ cũng không được chấp nhận. Hoặc nếu người buôn cùng với
quan ở ti thuế quan định giá hàng hoá có không hợp, th́ hai bên đều nên
chiêu tập người buôn mỗi bên hai, ba (02, 03) người, đến đấy đối chiếu,
cùng so sánh giá. Trong đó, có người nào trị giá cao, th́ phải theo giá
ấy mà đánh thuế.
Phàm nộp
thuế quan th́ lấy hàng hoá trần làm đích. Nếu có gói bọc, th́ phải bỏ đi.
Nếu người buôn cùng ti thuế quan so sánh định b́ gói của hàng hoá không
hợp, th́ hai bên đều đem một, hai ḥm, thùng, bao hàng hoá ấy có cả b́
đem cân qua, xem nguyên nặng là bao nhiêu. Lại bỏ b́ ra cân nặng là mấy
cân, rồi sau đem các thứ nặng nhẹ không đều nhau tính suốt, chia đều làm
chuẩn đích. Cái khác theo lệ ấy mà suy ra.
Nếu đương
lúc kiểm tra hàng hoá mà có ǵ ngăn trở không thể phân giải được th́
người buôn ấy nên lập tức xin quan lănh sự liệu định. Quan lănh sự ấy
cũng tư [tŕnh] cho quan ở ti thuế quan biết. Trong đó, hết sức điều
đ́nh làm cho phải, cốt cho hai bên cùng bằng ḷng. Duy người buôn ấy có
kêu ca ǵ, không [quá] ở trong hạn một ngày đêm. Nếu quá hạn, hết thảy
không được chấp nhận đơn. Lại đương lúc hai bên không hợp nhau, chưa
được xét định, th́ quan ở ti thuế quan, chờ đem hàng hoá ấy biên vào
trong sổ. Đợi hai bên xét rơ thoả đáng, mới được ghi chép vào sổ. Lại v́
hàng hoá có bị duyên cớ ǵ mà thiếu hụt, th́ lập tức phải khám xét lại.
Về thuế cũng chiểu số thiếu hụt là bao nhiêu, lượng giảm, hoặc nên chiểu
theo như trên, chiêu tập các người buôn đă am hiểu đối chiếu, xét xem
cũng được.
Khoản 18:
Phàm các thuyền buôn đă vào cửa biển hiện chuẩn cho khai thương, mà chưa
lănh giấy cấp cho bốc dỡ hàng như khoản trên đă nói, th́ hạn cho hai
ngày đêm có thể ra khỏi cửa biển đi đến cửa biển khác, [và ở trường hợp
này] th́ thuế quan, thuế hàng hoá, cửa biển ấy không phải đ̣i thu. Đợi
đến cửa biển khác, bán hàng hoá, sẽ phải chiểu lệ nộp thuế.
Khoản 19:
Phàm chủ thuyền hay người buôn, [tuân] điều lệ dỡ hàng nộp đủ thuế, đều
chiểu theo hàng hoá đă dỡ ấy [mà] đă được xét, lần lượt nộp thuế; bốc
hàng xuống thuyền để xuất khẩu, cũng chiểu theo lệ ấy mà làm. Các thuế
thuyền, thuế hàng hoá đă nộp đủ xong rồi th́ quan ở ti thuế quan phải
cấp ngay cho giấy biên nhận đă thu cả để tŕnh quan lănh sự xét rơ, đem
ngay bài thuyền và các giấy biên đă nộp trước giao trả, chuẩn cho ra
khỏi cửa biển. Tuy vậy, nếu chủ thuyền ấy cùng ti thuế quan hợp ư, mà
muốn cho việc buôn bán được tiện lợi dễ dàng, th́ cũng được chiểu theo
bài thuyền và hoá đơn mà đánh thuế, thu thuế, không phải đợi dỡ bốc hàng
để khám xét.
Khoản 20:
Phàm thuyền buôn tiến đến cửa biển đă qua hạn hai (02) ngày đêm như
khoản mười tám (18) đă định, và trước khi chưa bốc dỡ hàng hoá, phải đem
ngay tiền thuế đèn chỉ đường và bỏ neo nộp đủ, theo như khoản thứ ba
(03) đă định; không được lại sinh cớ khác yêu sách tính tiền phí tổn.
Lúc nộp tiền thuế, quan ở ti thuế quan cấp phát ngay giấy chấp chiểu,
khai rơ thuế thuyền đă từng nộp xong. Nếu thuyền ấy tuỳ tiện chở đến cửa
biển khác, đem ngay giấy chấp chiểu ấy đưa tŕnh quan ở ti thuế quan sở
tại tra xét quả thực, th́ miễn nộp thuế thuyền lần nữa.
Lại phàm
thuyền buôn các nước ngoài đến buôn ở cửa biển nước Đại Nam hiện chuẩn
cho khai thương mỗi một (01) lần từ nước ngoài tiến đến nước Đại Nam,
chỉ nộp thuế thuyền một (01) lần mà thôi.
Khoản 21:
Phàm thuyền buôn các nước ngoài đă tiến vào cửa biển hiện chuẩn cho khai
thương, nếu đem hàng hoá bốc lên ít nhiều ở cửa biển ấy, th́ chiểu số
hàng hoá đă bốc ấy nộp thuế. Về hàng hoá c̣n lại tuỳ ư mang đến cửa biển
khác bốc lên để bán, th́ phải đợi đến khi đến cửa biển khác sẽ nộp. Nếu
có thuyền nào ở cửa biển đă đem thuế hàng hoá nộp đủ xong việc, muốn đem
hàng hoá ấy chuyển đến cửa biển khác để bán, th́ bảo rơ với quan lănh sự,
[thông] tư cho quan ở ti thuế quan biết; xét rơ hàng hoá ấy quả là
nguyên phong, không động đến, th́ phải cấp cho bài chỉ, giữ làm bằng;
chưa rơ hàng hoá ấy đă từng nộp đủ thuế ở cửa biển nào, để cho cho người
buôn ấy đến cửa biển khác, chỉ đem bài chỉ ấy tŕnh quan lănh sự, chuyển
đưa cho quan ở ti thuế quan sở tại tra xét, miễn thuế cho, liền cấp ngay
bài chỉ bốc dỡ hàng hoá, tất cả tính tiền phí tổn đều không. Duy lúc
quan ở ti thuế quan xem xét hàng hoá ấy, thấy đích thực có t́nh tệ lậu
thuế hàng hoá và gian dối, tức th́ tịch thu hết hàng hoá ấy vào kho thuế
quan.
Khoản 22:
Phàm hàng hoá trong thuyền người buôn, trừ [trường hợp] được có giấy tờ
cấp riêng và gặp có việc cần phải chuyển vận không kể, ngoài ra không
được tự tiện chuyển vận đến thuyền khác, chỗ khác; gặp có việc không
chuyển vận không được, người buôn ấy phải báo rơ với quan lănh sự cấp
cho giấy chấp chiểu, đệ tŕnh quan ở ti thuế quan xét và chuẩn cho,
nhưng phải sai nha thuộc đến nơi khám xét. Nếu không phải v́ nguy hiểm
và chưa lănh giấy tờ mà tự tiện chuyển vận, th́ những hàng hoá đă chuyển
vận ấy đều [bị] đem tịch thu vào kho thuế quan.
Khoản 23:
Phàm các nha thuế quan ở các cửa biển thông thương đều lănh các thứ cân,
quả cân, trượng, thước của Bộ Hộ nước Đại Nam ban cấp cho, mỗi thứ một
bộ, và phải lănh một bộ đưa đến để ở dinh quan lănh sự. Các cân, thước
nặng nhẹ, dài ngắn, chiểu theo giống như của nước Đại Nam vẫn dùng không
khác. Mỗi cái đều có khắc ghi dấu tích của Bộ để làm chuẩn đích. Phàm
cân đo hàng hoá ở thuyền cùng thuế quan và số bạc chi cấp, đều theo cân
và quả cân ấy giao dịch với nhau. Nếu hai bên có tranh dài, ngắn, nặng,
nhẹ không nhất định, th́ lấy cân thước ấy làm nhất định.
Khoản 24:
Phàm chủ thuyền và người buôn ra vào các cửa biển thông thương, người
nào dám chở trộm hàng hoá ǵ ra vào cửa biển, th́ không kể chở nhiều hay
ít, hàng hoá ǵ, giá bao nhiêu, cùng vật cấm đă chở mà trá mạo đem lên
bờ, đều phải do quan địa phương sở tại tra bắt, tịch thu vào nhà nước.
Triều đ́nh nước Đại Nam lại có thể sức [:truyền lệnh] bắt thuyền buôn ra
khỏi cửa biển, sau này không được lại đến buôn bán ở các cửa biển thông
thương của nước Đại Nam nữa.
Lại nếu có
thuyền buôn nước này mà dám giả mạo dùng cờ hiệu của nước khác, th́ do
quan nước Pháp tuỳ việc t́m cách ngăn cấm trừng trị, để ngăn thói điêu.
Lại phàm tiền phạt cùng hàng hoá tịch thu đem bán được tiền là bao nhiêu,
đều thu vào kho thuế quan.
Khoản 25:
Vua nước Pháp được tuỳ tiện phái tàu binh đậu ở cửa biển hiện chuẩn cho
họ thông thương ở nước Đại Nam, để đàn áp thuỷ thủ các thuyền buôn, và
giúp uy quyền cho quan lănh sự. Lại sẽ định điều luật hạn chế để khỏi do
tàu binh ấy đậu ở sông và cửa biển mà gây ra sự trở ngại. Phàm tàu binh
đều miễn nộïp các hạng thuế quan và tiền lương.
Khoản 26:
Phàm tàu binh nước Pháp đi lại tuần pḥng, hộ vệ thuyền buôn, hễ đến cửa
biển nào ở nước Đại Nam, đều lấy t́nh hữu nghị tiếp đăi. Các tàu binh ấy
được nhờ mua các vật ăn dùng. Nếu có hỏng cũng được mua các vật liệu tu
bổ; [việc mua vật liệu ấy] đều không trở ngại.
Tàu buôn
các nước ngoài nếu có hư hỏng và các việc nhân nạn băo nguy cấp, cần
phải tiến đến cửa biển để lánh, th́ không cứ cửa biển nào, cũng chiểu lệ
ấy trông coi, đối đăi. Nhưng tàu ấy cũng phải đậu tạm, đợi yên lặng th́
phải đi ngay, không được đậu lâu, bốc dỡ hàng hoá buôn bán. Nếu các hạng
tàu ấy không may đắm vỡ ở gần biển nước Đại Nam, quan địa phương sở tại
khi nghe tin báo, phải cứu vớt ngay và liệu biện pháp giúp các việc cần
dùng. Lại t́m cách cứu giúp vật liệu, hàng hoá ở thuyền ấy; rồi [thông]
tư ngay cho quan lănh sự gần đấy biết, [để] hội đồng với quan địa phương
t́m cách cho các người chân sào [:thuỷ thủ] ở thuyền buôn ấy về nước, và
đem giả các thứ ván gỗ, hoá vật hiện vớt được, như được hạng nào, bao
nhiêu, giao trả cho chủ cũ.
C̣n như
cửa biển Thuận An, là nơi gần đường sông kinh đô nước Đại Nam, các hạng
tàu binh, tàu buôn ấy không được chạy đến đậu lại. Nếu tàu binh nước
Pháp có được phái đến việc công ǵ với triều đ́nh nước Đại Nam hoặc với
quan khâm sứ nước ấy, mà xin vào cửa biển ấy, đến khi ấy phải có nước
Đại Nam chuẩn cho vào cửa biển mới được chạy vào.
Khoản 27:
Phàm thuyền buôn nước Đại Nam nếu buôn bán ở nước Pháp, hoặc [ở] thuộc
địa nước ấy như các cửa biển ở sáu (06) tỉnh Nam Ḱ, cũng chỉ chiểu theo
như thuyền buôn của nước mà nước Pháp đối đăi rất hậu (:tối huệ quốc),
nộp các hạng thuế quan.
Khoản 28:
Triều đ́nh nước Pháp lại xin theo khoản thứ hai (II) trong tờ hoà ước
ngày mười lăm (15) tháng ba (03) Tây năm nay đă nói, phải hết sức đánh
giết giặc thuỷ, bộ, [vốn] làm ngăn trở đường buôn bán; mà ở các cửa biển,
các phố gần đây hiện chuẩn cho thông thương, càng phải hết sức [đánh dẹp
giặc cướp], để cho người buôn được thông hành buôn bán.
Khoản 29:
Thương ước này cũng nên phụ với hoà ước mới năm nay (ngày hai mươi bảy
[27] tháng giêng [01] Nam: 15 tháng 03 Tây) cùng chiểu theo một thể mà
làm. Hễ việc giao cho nhau [:hỗ giao] xong, hai nước phải nên theo giữ.
Nếu thương ước ấy [:này] làm [lễ hỗ giao] xong kịp, cũng không được quá
ngày 15 tháng 03 Tây năm sau. Nên khâm sai toàn quyền đại thần hai nước
đều phải kí tên, đóng ấn làm bằng cứ.
Thương ước
trên này viết bằng chữ Tây và chữ Nam, mỗi thứ hai (02) bản; [đă] đối
chiếu [bản] chữ Tây, [thấy:] phù hợp với những điều đă thoả định ở Phủ
Nguyên soái thành Gia Định. Niên hiệu biên ngày hai mươi (20) tháng bảy
(07) năm Tự Đức thứ hai mươi bảy (27), tức lịch Tây ngày 31 tháng 08 năm
1874.
Lại
TỤC NGHỊ:
Toàn quyền
đại thần hai nước định thêm một khoản, để khỏi sau này một, hai câu
trong thương ước, hoà ước có nghĩa ngờ. Khoản ấy cũng phụ theo với
thương ước theo giữ như nhau.
Và xét phố
Hà Nội đă cho người Tây các nước ngoài đến buôn, th́ phải đặt một quan
lănh sự và lính đi theo. Và người buôn nước Tây làm nhà cửa chứa hàng
hoá, ở, buôn bán, và một sở thuế quan theo như cửa biển Thi Nại và Ninh
Hải, nếu sau lại xét ti thuế quan cửa Ninh Hải đủ để đánh thuế, thu thuế,
th́ ti thuế quan Hà Nội được bỏ bớt ngay. Nhưng quan lănh sự cùng lính
đi theo và người buôn nước Tây vẫn ở lại Hà Nội buôn bán. Nơi mà nước
Đại Nam đă cho các quan lănh sự nước Pháp và lính đi theo ở, mỗi nơi đất
rộng theo thước Nam là năm (05) mẫu, thành thước Tây ước hai (02) mẫu
rưỡi (1/2). Đất ấy không phải trả tiền. Nếu người buôn nước Tây có mua
đất làm nhà, th́ phải chiểu giá trả tiền, mà quan nước Đại Nam cùng quan
lănh sự nước Pháp ở đấy hội đồng định giá, cốt được vừa phải.
Lại người
buôn nước Tây làm nhà, tất phải gần nha thự quan lănh sự; không được xâm
phạm đến chùa, miếu, phần mộ. Trong đó nếu có nhà của người mà chủ nhà
t́nh nguyện bán đi, th́ người Tây mới được chiểu giá nộp trả, cần phải
xứng đáng. Phàm đất người buôn Tây đă ở, phải nộp thuế lệ bao nhiêu, đều
theo lệ định hiện nay theo thế mà nộp thôi, không có thuế khác ở ngoài
lệ. C̣n như lănh sự và lính đi theo đóng ở Ninh Hải, nay hăy ở lại đồn
Ninh Hải, để tiện tuần pḥng, kiểm xét, đợi khi nào việc buôn yên ổn,
quan lănh sự và lính đi theo ấy lại dời đến ở chỗ đất năm (05) mẫu của
nước Đại Nam đă cho; c̣n đồn Ninh Hải giao lại cho quan nước Đại Nam coi
đóng.
Niên hiệu
biên ngày hai mươi (20) tháng bảy (07) năm Tự Đức thứ hai mươi bảy (27),
tức lịch Tây là ngày 31 tháng 08 năm 1874.
Lại
TỤC NGHỊ:
H́nh bộ
thượng thư, Ḱ Vĩ bá, sung chánh sứ toàn quyền đại thần của nước Đại Nam
Nguyễn Văn Tường; tổng thống Nam Ḱ thuỷ lục quân dân, kiêm thống Đại
Thanh, Nhật Bản lưỡng quốc ngoại dương chư binh thuyền đại nguyên soái
của nước Đại Pháp Kha Răng [Krantz], được thưởng đại hạng thưởng công
kim bội tinh, sung toàn quyền đại thần; hội đồng nghĩ định, đem các lời
nói ở khoản thứ hai (02) trong thương ước năm nay (biên ngày hai mươi
(20) tháng bảy (07) Nam, ngày 31 tháng 08 Tây) nói:
Từ chữ
“Nhất định phàm thuyền buôn nước Đại Thanh chở hàng hoá ra, vào, về hạng
cấm cùng thuế quan, phải chiểu theo hàng hoá được tải ra, vào của các
hiệu thuyền Tây và Tân thế giới (tức hai tờ ước gọi là Cờ các nước ngoài)
theo nộp như nhau. Duy thuế phải nộp của các thuyền buôn nước Đại Thanh
và nước Đại Nam là bao nhiêu, đều thuộc về quan ti thuế quan nước Đại
Nam thu riêng, cất riêng; nếu muốn chi tiêu việc ǵ, chỉ quan nước Đại
Nam tính liệu riêng mà thôi. C̣n như hàng cấm th́ thuyền buôn nước Đại
Nam cũng giống như các nước”.
Nay nên
nghĩ lại rằng: Phàm thuyền buôn của nước Đại Thanh cùng thuyền buôn của
nước Đại Nam chở hàng hoá từ nước ngoài vào các cửa biển nước Đại Nam
hiện chuẩn cho khai thương, hoặc từ các cửa biển nước Đại Nam hiện chuẩn
cho khai thương ra các nước ngoài, th́ lệ cấm và thuế quan cũng giống
như thuyền buôn hiệu cờ nước Tây và Tân thế giới chở hàng hoá ra vào.
C̣n thuế lệ cũng thuộc viên quan ở ti thuế quan thu cất, cùng [thuế lệ
áp dụng cho thuyền buôn] các nước giống nhau, không khác. Ngoài ra theo
như khoản cũ. Điều ấy đợi đến khi thương ước đă định ngày ba mươi mốt
(31) tháng tám (08) Tây năm nay cũng giao cho nhau [:lễ hỗ giao] th́
viết thêm, đính vào làm một với thương ước ấy.
Niên hiệu
biên ngày mười lăm (15) tháng mười (10) năm Tự Đức thứ hai mươi bảy (27)
ta, tức lịch Tây ngày 23 tháng 11 năm 1874.
16
Mới đến
Gia Định, sau một số buổi đàm phán về thương ước, một thương ước về cơ
bản đă tạm hoàn thành từ cuối năm Quư dậu (1873, bước sang 1874) tại Hà
Nội, Nguyễn Tăng Doăn lại phải cùng Sô Ma Rô ra lại Huế để trực tiếp
thỉnh thị ư kiến vua Tự Đức (202). Quả là cuồng vọng của thực dân Pháp
là chiếc túi tham không đáy! Dupré cũng thế, Krantz cũng thế! Krantz
muốn ghi thêm vào thương ước điều khoản: Mở thêm phố buôn bán và đặt
lănh sự ở Hà Nội (202). Điều khoản ấy sẽ thành một trong hai tục ước của
thương ước. Trong thời đoạn lịch sử này,
“nước Đại Nam đâu chỉ đối diện với
Pháp và Trung Hoa”
mà phải đối diện
với bao nước thực dân Âu Mỹ khác! Không thể không đồng ư, v́ phải nhẫn
nhịn trước liên minh xâm lược Âu Mỹ (mặc dù trực diện là Pháp), do đó,
nhà vua chuẩn y.
Một điều
khoản nữa sẽ thành tục ước, nhưng không phải kí cùng ngày với thương ước,
hai mươi tháng bảy, năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, Giáp tuất (31.08.1874)
(203), mà vào bốn mươi lăm ngày sau, mười lăm tháng mười nguyệt lịch
(23.11.1874). Đây không phải là điều khoản bổ sung như trên, lại là điều
khoản sửa đổi. Thực chất của điều khoản sửa đổi này (tục ước thứ nh́) là
Pháp muốn cạnh tranh với Trung Hoa, đồng thời giảm số thuế lẽ ra thuộc
về Đại Nam hoàn toàn. Nội dung tục ước thứ nh́ là: Thuế thu được từ
thuyền buôn nước Trung Hoa theo thương ước đă kí là hoàn toàn thuộc về
Đại Nam, nay chữa lại là số tiền thuế ấy cũng phải được sử dụng với cách
thu chi như số tiền thuế thu được từ tàu Âu Mỹ và tàu từ thuộc địa Nam
Ḱ của Pháp; và Pháp ép buộc thuyền buôn Đại Nam không có ưu thế ǵ so
với thuyền buôn của Pháp và Âu Mỹ nói chung (203)!
Tuy nhiên,
lúc này mới là tháng bảy nguyệt lịch, sứ bộ Nguyễn Văn Tường, Nguyễn
Tăng Doăn đâu ngờ về sau Krantz cứ nằng nặc yêu sách vua Tự Đức và triều
thần phải chấp nhận thêm tục ước thứ hai ấy, vào tháng mười năm nay!
Sau khi kí
thương ước và tục ước thứ nhất xong, vào tháng tám nguyệt lịch, phó sứ
Nguyễn Tăng Doăn cùng linh mục thông ngôn Nguyễn Hữu Cư ra Bắc Ḱ, bàn
việc đánh dẹp giặc biển với Dujardin, đồng thời quy hoạch địa điểm cho
Pháp xây đặt Nha Lănh sự tại Hải Dương và tại ngoài thành Hà Nội (204).
Cho đến cuối tháng chín Giáp tuất (1874), Nguyễn Tăng Doăn mới vẽ xong
bản đồ Hải Dương cùng bốn phía tỉnh ấy cùng các chú giải, thuyết minh về
chỗ ở, chỗ đóng trạm của lănh sự Pháp, để tŕnh về triều đ́nh (204).
Trong thời
gian này, chánh sứ Nguyễn Văn Tường phải thương xuyên ra vào Huế – Sài
G̣n, để tiếp tục hoàn tất nốt thương ước, tục ước, kể cả bàn bạc để
triển khai “hoà” ước Giáp
tuất
1874.
Tháng tám
ta, chánh sứ Nguyễn Văn Tường tâu bàn về điều khoản hai mươi (20) của
“hoà” ước Giáp tuất 1874 (205). Theo điều khoản ấy, nước ta có quyền đặt
một khâm sứ tại thủ đô Paris của nước Pháp, và Pháp cũng có quyền đặt
một khâm sứ tại kinh đô Huế nước ta. Chánh sứ Nguyễn Văn Tường xét thấy
khó khăn nếu thực thi như thế. Ông viện dẫn:
một là,
tŕnh độ ngoại
ngữ tiếng Pháp của quan ta c̣n kém,
hai là,
thông tin liên lạc (điện báo) ta hoàn toàn phụ thuộc vào Pháp. Sử dụng
điện báo của Pháp, không khỏi bị tiết lộ bí mật. Nếu mật bàn qua thư tín,
thư tín do nhân viên ta qua, về (Paris – Huế) giao nhận, lại quá chậm
chạp, tốn kém lộ phí tàu xe… Do đó, ông đề xuất: Chỉ đặt khâm phái kiêm
lănh sự (chánh, phó, hai [02] viên) ở Gia Định. Dupré trước đây cũng bàn
như thế, nay tuỳ nhà vua chuẩn y hoặc không. Nếu vua chuẩn, xin giao
đ́nh thần chọn người (205). Thật ra, không chỉ chánh sứ Nguyễn Văn Tường,
vua Tự Đức và đ́nh thần đều biết, ngoài những khó khăn, hạn chế có thật
đó, các tên tướng suư Pháp, cho dù là Dupré hay Krantz, đều muốn tăng
cao quyền lực của chúng: nước ta chỉ quan hệ với nước Nam Ḱ thuộc Pháp
mà thôi! Đó là điều Nguyễn Văn Tường từng quyết liệt tố cáo bọn tướng
suư Pháp tại Gia Định trong bản tấu tháng ba năm Tự Đức thứ hai mươi mốt
(1868). Về những khó khăn, ông viết:
“… Xem các nước Tây phiên đi lại hoà hợp, tiếng nói chữ viết cùng thông,
lại có điện báo để thông tin tức. Nếu ta giao thiệp với nước ấy, chỉ dựa
vào giấy tờ, một khi phiên dịch sai đi, lại sinh không hợp, th́ đặt khâm
sứ ở kinh đô không ích ǵ. Nếu đặt sứ ở Gia Định, là ngang hàng với kinh
đô, chưa [được] là thoả đáng, hoặc chỉ đặt lănh sự th́ phẩm trật danh
vọng thấp kém, theo tục nước Tây không được dự bàn việc công. [Xin] nghị
đặt một viên khâm phái kiêm sung lănh sự ở Gia Định, lại đặt một viên
phó lănh sự để giúp uỷ làm việc. Thần trước phụng mạng đi sứ, đă từng
thương thuyết với tướng [Dupré, Krantz] ấy, ư hợp. Nếu được chuẩn cho,
xin giao cho đ́nh thần dự chọn và nghĩ làm công việc”.
“Vua theo
lời”.
Không phải
vua Tự Đức và triều thần không thấu hiểu việc ấy như Nguyễn Văn Tường đă
thấu hiểu. Đă nhiều lần nhà vua cử phái bộ sang Pháp trực tiếp thương
thảo với vua Pháp v́ sợ tướng suư Pháp tại Gia Định vượt quyền, lập công
vượt chỉ tiêu! Nhưng trong thực tế, ngay cả sau khi “hoà” ước, thương
ước, tục ước đă kí kết, thực dân Pháp vẫn muốn làm sức ép!
Cuối tháng
tám nguyệt lịch, Giáp tuất (1874), từ Gia Định, chánh sứ Nguyễn Văn
Tường gửi tập tâu về triều: Xin chỉ dụ cho dân buôn, nhất là dân buôn
người Hoa (nước Thanh), đăng kí làm nhà, mở phố dọc hai bờ sông Cấm ở
Ninh Hải thuộc tỉnh Hải Dương; đồng thời chuẩn cho đ́nh thần chọn quan
trông coi ở đấy. Đó là yêu cầu của phía Pháp để Pháp có thị trường (chợ
búa) mua bán. Ông cho rằng điều này cũng tiện cho ta trong việc khoanh
vùng để quản lí. Vua cho là phải (206).
Chánh sứ,
thượng thư Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường lại trở về Huế.
Trên
chuyến tàu thuỷ chạy bằng máy hơi nước, rời bến Thủ Ngữ, Sài G̣n, ra cửa
Cần Giờ để men theo duyên hải ra kinh đô, ông thấy ḷng không thể thanh
thản, cho dù công việc đă hoàn tất. Thế là đă bao nhiêu tháng ngày rồi,
kể từ khi ông được sắc dụ và chiếu chỉ của vua Tự Đức, rời khỏi các quân
thứ đang tiễu phỉ ở biên giới phía bắc Tổ quốc, để sung vào sứ bộ, cùng
Lê Tuấn, Nguyễn Tăng Doăn vào Gia Định? Thượng thư Nguyễn Văn Tường nhớ
ngày ấy là vào tháng năm Quư dậu (1873). Đến ngày mười sáu tháng sáu
nhuận (08.08.1873) năm ngoái ấy, ông mới thực sự xuống tàu thuỷ vào Nam
Ḱ. Từ đó tới lúc đặt bút kí tên, áp ấn toàn quyền đại thần lên “hoà”
ước hai mươi tháng giêng Giáp tuất (15.03.1874) là hơn sáu tháng dài! Từ
đó tới lúc kí kết thương ước hai mươi tháng bảy Giáp tuất (31.08.1974)
là hơn mười hai tháng hai mươi ngày! Và nếu tính từ đó đến lúc kí thêm
tục ước thứ nh́ với chỉ mỗi một điều khoản sửa đổi vào ngày mười lăm
tháng mười Giáp tuất (23.11.1874) là đă mười lăm tháng rưỡi! Từ chuyến
tàu thuỷ khởi sự đến chuyến tàu thuỷ tất công, dài đến mười lăm tháng
rưỡi! Trong quăng thời gian mười lăm tháng rưỡi ấy, có những sự kiện nổ
ra thật khốc liệt, bi hận và bi tráng, măi măi không thể phai nhoà trong
tâm khảm ông và của bao người cùng thời, măi măi c̣n ghi khắc vào lịch
sử muôn đời, không bao giờ mờ nét!
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường bất giác thở dài, khi nhớ đến
cuộc nội chiến lương – giáo Nghệ –
Tĩnh – B́nh – Thanh,
hiện nay trên cửa miệng mọi người vẫn quen gọi là
sự biến “sát tả” của văn thân Nghệ –
Tĩnh. Ông
thừa hiểu và thấm hiểu ấy là cuộc trừng trị bọn “tả đạo” phản quốc của
hai lănh tụ yêu nước, trung thành với triều Nguyễn, Trần Tấn và Đặng Như
Mai, cùng bao sĩ phu, nhân dân trên vùng đất Nam Đàng Ngoài. Bấy giờ,
đau ḷng theo lệnh dụ của vua, ông cùng binh lính phóng ngựa ra sông
Gianh. Cùng với thượng thư Bộ Lễ Lê Bá Thận, ông vẫn lần chần, nào nỡ
tiến quân, nào nỡ gọi Trần Tấn và Đặng Như Mai cùng nhân dân Nghệ – Tĩnh
yêu nước hưởng ứng hịch khởi nghĩa là “giặc”!
Chỉ trách họ xem nhẹ việc “b́nh Tây”,
đặt nặng việc “sát tả”, lại không phân biệt những tên đầu sỏ với bao
giáo dân ngây ngô, đến nỗi rơi vào âm mưu kích động thù hận lương – giáo
của bọn viễn chinh Pháp và cố đạo Pháp!
Và măi cho đến
khi chiếc tàu Antilope của Pháp chạy ra đón ông (và cả Nguyễn Tăng Doăn)
với lệnh dụ “sứ bộ phải vào Gia Định ngay” của vua Tự Đức trong tay linh
mục hành nhân Nguyễn Hữu Cư, ông mới phải đau ḷng chấp nhận “ngọc đá
đều cháy” (207), bất đắc dĩ phải điều thêm một số thuyền công, thuyền
đánh cá của dân, bước xuống tàu Antilope ấy để nh́n bọn Pháp bắn doạ vào
các lán trại,
thành luỹ quân
khởi nghĩa và cả quân giáo dân tại Mũi Dao, Thần Đầu, Đèo Con
trong nội mỗi một ngày,
sau đó cùng tàu Antilope lại quay vào Huế! Thật ra, không chỉ riêng ông
có tâm trạng ấy, mà các quan tỉnh, quan quân thứ cùng bao người dân,
người lính đều băn khoăn, khó xử trong t́nh huống đó.
Thật ra,
chính ông và các quan quân đă yêu cầu bọn Pháp trên tàu Antilope:
- Cánh
quân chúng tôi sở dĩ không tiến, bởi c̣n phân vân khó xử. Lương hay giáo
đều là con đỏ của hoàng đế và triều đ́nh. Nếu không công bằng, sẽ phải
lănh nhận một hậu quả khôn lường: nội chiến lương – giáo sẽ không ngừng,
thù hận không bao giờ thôi, và khó ḷng có một hoà nghị nào giữa người
Pháp với triều đ́nh.
- Vậy phải
xem lương hay giáo ǵ trong cuộc nội chiến này đều là “giặc” nổi loạn? –
Một tên sĩ quan Pháp hỏi, nhưng y đă tự trả lời –.
- Đúng như
vậy! Và chỉ nên bắn doạ, để cả lương lẫn giáo đều tan ră hàng ngũ! –
Nguyễn Văn Tường nói thật cứng giọng –. Không c̣n cách nào khác!
- Đồng ư,
thưa quan thượng thư chánh sứ.
- Các ông
nên nhớ tôi là thượng thư Bộ H́nh. Bộ H́nh phải giữ kỉ cương, phép nước,
và phải tuyệt đối công bằng. Tôi được hoàng thượng cử ra đây, không phải
để cầm gươm, cầm súng, mà để thực thi luật pháp với tinh thần tuyệt đối
công bằng!
- Thế th́
nhân danh Thần Công lí, xin ra lệnh nổ súng bắn doạ cả lương lẫn giáo,
nếu họ không chống cự! – Tên thuyền trưởng tàu Antilope nói –.
Trong t́nh
huống khó xử ấy, thượng thư Nguyễn Văn Tường nghe quan binh truyền nhau
câu nói của viên tướng trẻ rất tài năng về thao lược là Tôn Thất Thuyết:
“Ngọc đá đều cháy”!
Ngọc trong ngần, ngọc sáng ngời, biết bao quư giá cũng đành phải đánh
đồng cùng loại với đá tầm thường, thậm chí xấu xa! Quân khởi nghĩa cũng
như bọn giáo dân phản quốc của tên cố đạo thực dân Gauthier (Ngô Gia Hậu),
quan quân đành ḷng xem như đều là “giặc”! Thượng thư Nguyễn Văn Tường
chẳng hiểu sao giữa ông và tham tán Tôn Thất Thuyết lại có khẩu hiệu
tương ứng với nhau như thế:
“Ngọc đá đều cháy”!
Nhưng ngẫm cho
cùng, ấy là ư tưởng nẩy sinh từ một tâm thế chung trong một t́nh huống
chung. Người ta c̣n truyền ngôn, không biết có đúng không, rằng Tôn Thất
Thuyết trong t́nh huống đau ḷng, khó xử ấy, đă nói như đinh đóng cột:
“Đây là cuộc hành quân truy quét với mục tiêu chính trị, nếu cần tàn
nhẫn cũng phải đành ḷng! Đánh dẹp cả bọn giáo dân “tả đạo” lẫn quân
khởi nghĩa văn thân!”. Tất nhiên đó chỉ là lời truyền miệng, thượng thư
Nguyễn Văn Tường đến lúc này vẫn chưa có dịp gặp lại Tôn Thất Thuyết để
hỏi lại cho rơ thực hư. Nhưng dẫu sao, ấy vẫn là cách xử trí đơn giản mà
thiết thực nhất, như thể hai đứa em nhỏ trong nhà bị người lạ ác tâm
kích động đến mức ẩu đả nhau u đầu sứt trán, th́ người anh cả chỉ c̣n
cách lôi hai đứa ra hai đường sau khi quất cho mỗi đứa vài roi vào mông,
để c̣n thời giờ đối phó với người lạ ác tâm! Ví von thế là xúc phạm,
nhưng ví von nào chẳng khập khiễng!
Chính v́
khẩu hiệu “ngọc đá đều cháy”,
bọn Pháp của tàu Antilope đă bị giáo dân Nam Đàng Ngoài thù hận như họ
đă thù hận triều đ́nh nhà Nguyễn. Thậm chí cộng đồng giáo dân ấy đă nhận
định rằng, người Pháp nói chung đă bắt tay với vua Tự Đức để phản bội họ,
bỏ rơi họ như đă phản bội, bỏ rơi một vạn hai (12.000) tên “lính bản xứ
Bắc Ḱ” và bọn chức sắc ngụy ngợm cỡ tên thợ rèn Hải Dương phản quốc tên
Trương. Sự thật lịch sử đó, về sau, khoảng vào đầu hạ tuần tháng ba năm
Ất hợi (1875), đă được vua Tự Đức nêu ra trong sắc dụ ban ra cho giáo
dân Nghệ – Tĩnh: “Dân lương
hay dân giáo đều là dân ta, th́ đều là con đỏ của ta. Tự thù hằn nhau,
đă là không nên, lại thù hằn với người Pháp, c̣n ra thế nào? […] Huống
chi lại chống cả người Pháp, chống cả quan… […] Dân giáo của ngươi nhiều
người bị chết, dân lương há không chết nhiều ư? Bảo rằng của cải dân
giáo mất nhiều, dân lương bị mất, so với ngươi há lại chẳng gấp đôi ư?
Nếu hết thảy phải đền [cho] ngươi, th́ dân lương bị mất, sẽ ai phải đền?…
Trong khi chiến tranh, ngọc, đá đều cháy […]. Triều đ́nh xử trí cho hai
bên không ngờ ghét nhau…” (207) (208).
Bấy giờ, lúc đấu
tranh với thuyền trưởng Antilope, và lúc này, cuối tháng tám nguyệt lịch
năm Giáp tuất (1874), tất nhiên sắc dụ ấy chưa viết và chưa ban ra,
nhưng tinh thần hành xử ấy, trước t́nh huống ấy (là trấn áp
cuộc nội chiến lương – giáo
đó với khẩu hiệu “ngọc đá đều
cháy”),
đă thể hiện ra hành động một cách đau ḷng.
Bấy giờ,
thượng thư Nguyễn Văn Tường c̣n nghe người ta truyền tai nhau một tuyên
cáo của Tôn Thất Thuyết (209):
“Bản sao của tuyên bố mà hoàng thân Thuyết gởi cho sĩ phu, quan lại,
thân hào…
Từ mười
hai năm nay, bọn dă man đă chiếm đóng nước ta và nuốt đầy họng tài
nguyên của ta. Chúng ta ngưng lại đây chăng?
Tôi xin bí
mật khuyến cáo các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh, Hải Dương, tất cả
các phủ huyện, các sĩ phu và chánh tổng, các hào mục, hăy tuyển mộ những
người can đảm và hăy sẵn sàng cùng với vũ khí và thuyền bè.
Cũng đă
quyết định là vào tháng năm (05) này, toàn thể sĩ phu ai quê ở tỉnh nào
về tỉnh ấy để các quan đầu tỉnh trao cho chức chỉ huy các đội quân, và
tới ngày mười (10) tháng sáu (06) (tức 23.7.1874) phải cùng với bộ đội
ḿnh xuống tỉnh Hải Dương để đánh phá quân dă man và buộc chúng phải về
nước bằng tàu thuyền của chúng.
Tất cả
những kẻ nào dám đụng chạm đến đồng đạo của ta th́ là kẻ thù của ta và
sẽ bị trừng trị.
Ngày 03
tháng 05 năm Tự Đức thứ 27 (tức 16.06.1874)” (209).
Người ta
c̣n nói rằng:
“Cờ của quân mưu
phản [!] h́nh vuông và màu tím” (209).
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường hơi phân vân. Ông thừa biết, vào dịp cuối tháng sáu
nguyệt lịch, sau ngày đề trên tuyên cáo một tháng, và ngay sau khi tham
tán Tôn Thất Thuyết tiến công với khẩu hiệu
“ngọc đá đều cháy”,
đánh dẹp cuộc nội chiến lương – giáo Nam Đàng Ngoài xong, vua Tự Đức
“liền chuẩn cho tham tán Tôn
Thất Thuyết (hiện đóng tại quân thứ Nghệ An) lấy năm trăm (500) phái
binh, giao cho đề đốc Nguyễn Văn Hùng, tán lí Nguyễn Đ́nh Thi đi gấp
đường đến cứu viện [Hải Dương]” (210).
Bấy giờ, Hải
Dương đang bị bọn hải tặc Tàu tên là Khách Công vây bức tỉnh thành rất
nguy khốn. Lê Bá Thận cũng được lệnh điều quân đi đường thuỷ để phối hợp.
Như vậy, hẳn là Tôn Thất Thuyết lúc ra tuyên cáo trên là nhắm đến không
chỉ bọn hải tặc Tàu mà cả tên sĩ quan thực dân Pháp Dujardin, kẻ đang
săm soi t́m kiếm mỏ than tại tỉnh ấy!
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường c̣n nhớ, mới vài năm trước, lúc c̣n ở Bắc Ninh, có lần
ông đă gặp gỡ, chuyện tṛ rất tâm đắc và cũng đă xướng hoạ thơ để kín
đáo ngụ ư ḿnh với tú tài họ Đặng. Tú tài họ Đặng ấy là người có chí lớn,
muốn ra tay trong khi nh́n vận nước ngả nghiêng. Đó là một sĩ phu nung
nấu chí “b́nh Tây sát tả” để cứu nước khỏi ách ngoại xâm Pháp và “tả đạo”,
nhưng tiếc thay chưa có điều kiện. Phóng tầm mắt trên biển xanh phía
trước mũi tàu, thượng thư Nguyễn Văn Tường bỗng xa xăm và bâng khuâng
ngâm thầm trong hồi tưởng:
Kí phỏng Đặng tú
tài
Kỉ kinh sương
tuyết phí mang bôn
Hồi ức tiên giao
cứu trượng hồn
Hoàng Thạch phi
vô phương lược tại
Truyền thư khước
hận tải không ngôn!
Gửi tú tài họ
Đặng
Trải bao sương
tuyết, phí in ḷng
Thường nhớ, keo
sơn, cứu chí ông
Hoàng Thạch đâu
chăng, phương lược đó
Gửi thư bèn hận,
chuyển lời không! (211)
Tâm trạng
ấy của Nguyễn Văn Tường, được thể hiện trong bài thơ ấy của ông, là tâm
trạng chung của sĩ phu văn thân, và tú tài họ Đặng đâu phải một người.
Trên khắp nước có hàng vạn tú tài họ Đặng phẫn chí, đau ḷng trước vận
nước như thế.
Bấy giờ,
hai thầy tṛ Trần Tấn, Đặng Như Mai phải chạy trốn nơi này, chốn kia, kể
cả chạy ra Bắc Ḱ để tránh sự truy nă, do “tội” dùng thơ văn công kích
“tả đạo”, bởi Gauthier, Croc đang kêu kiện ở Bộ Lễ!
Trong
tháng tám nguyệt lịch này, thượng thư Nguyễn Văn Tường đă nghẹn ngào khi
hay tin Trần Tấn đă chết bệnh, Đặng Như Mai và cả Trần Quang Cán bị tử
h́nh! Ông thấm thía nỗi đời với biết bao niềm khổ tâm! Ông suy tư về
những từ ngữ bổ nghĩa cho bốn chữ “trung quân ái quốc”: khác chính kiến,
khác thái độ dấn thân, nhập thế, “sát tả” đơn thuần hay vừa “b́nh Tây”
vừa “sát tả”, nhiệm vụ và mục tiêu nào là chính yếu…
Vẫn lặng
nh́n mũi tàu thuỷ rẽ sóng, thượng thư Nguyễn Văn Tường lại dần dần suy
nghĩ đến những điều về khát vọng canh tân Đất nước. Khát vọng ấy vẫn
chưa hề được thực hiện, cho dù suốt bao năm trầm tư, tính liệu. Ông nhớ
thuở nào và ngay mới ngày hôm qua, ông đă suy nghĩ về
“Đông học vi thể, Tây học vi dụng”
ở Trung
Hoa, Nhật Bản, Cao Ly… Đầu tháng tư năm nay, Nguyễn Văn Tường và Nguyễn
Tăng Doăn đă tiến dâng lên vua Tự Đức hai mươi (20) tập sách chữ Tây:
bốn (04) tập Khung giang bát
vật đồ chí,
ba (03) tập Lăng sa ḱ đăng
hiệu,
mười một (11) tập Nam Ḱ điều
lệ, một
(01) tập Thuế lệ,
một (01) tập Binh thuyền
(211). Đó
là những bộ sách ghi chép khoáng sản, sinh vật, lưu lượng nước, vẽ đồ
bản về sông Mê Kông, về quy định đèn, hiệu cho tàu biển (hải đăng, sắc
cờ)…, về điều lệ ở Nam Ḱ do người Pháp quy định, về thuế lệ, binh
thuyền… Những cuốn sách ấy, sứ bộ đă t́m mua, có cuốn được tướng suư
Pháp biếu tặng, nhưng hỏi mua cũng được tặng tất (212). Nguyễn Văn Tường
mong ước sao người Đại Nam ta phải mở rộng tầm nh́n về phía Âu Mỹ để học
hỏi, và học hỏi ngay cả cái nh́n, cách phân tích, tổng hợp của người da
trắng phương xa về những ǵ quanh ta, như về sông Mê Kông chẳng hạn, mặc
dù kiến văn của họ có thể chưa thật chính xác.
“Học ở giặc để đánh giặc”,
phương châm ấy chẳng phải là truyền thống ngh́n xưa, cha ông ta đă đúc
kết, trong điều kiện phải thường xuyên đối phó với Trung Hoa đó sao! Vua
Tự Đức bảo: “Đấy thực là có
ḷng, có ích, giao Viện [Cơ mật] giữ cẩn thận, đợi dịch rơ để tiện xem”
(212).
Trên
chuyến tàu tháng tám nguyệt lịch này, ông đă mua được để đem về cung
tiến lên vua một khẩu súng lục với năm trăm (500) viên đạn, giá đến một
trăm tám mươi (180) quan (213). Và nơi khoang tàu, phía ngoài pḥng dành
riêng này, là những người Việt, người Hoa kiều ở Gia Định, ông t́m gọi
để cùng ông về Huế làm việc. Trong số ấy, có năm (05) người thông dịch
tiếng Pháp, bảy (07) người là công nhân kĩ thuật cơ khí. Lần trước, ông
đă tâu xin, và đă được vua đồng ư chuẩn y, nên lần này ông đưa họ về
(213).
Không thể
khác được! “Hoà” ước, thực chất là cưỡng ước bất b́nh đẳng, đă kí kết.
Mặc dù được triều đ́nh đánh giá là thắng lợi, nhưng dẫu sao “hoà” cũng
là việc bất đắc dĩ. Tuy nhiên, một khi đă đành chịu phải “hoà”, lại
không canh tân Đất nước về khoa học – công nghệ và về mọi mặt, không
chấn chỉnh nội lực để tạo thế và lực nhằm đưa Đất nước lên tầm hùng mạnh,
nhằm đuổi được bọn Pháp và các cố đạo thực dân, th́ cái “hoà” ấy chẳng
vô ích, thậm chí là nhục nhă lắm sao?!?
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường c̣n định bụng, trong tháng chín sắp tới, ông sẽ viết
tập bản sớ đệ tŕnh lên vua Tự Đức để nhắc lại, trước đây, ông đă tâu:
“Súng nhỏ đạn chạy ria, phỏng
giá bạc hai trăm linh hai (202) đồng. Nếu được chuẩn cho mua, xin do Bộ
Binh chọn quân Thần cơ, Cảnh tất, hơi am hiểu phép bắn, đến Gia Định học
tập cho thạo kĩ, mới có thể mua để dùng” (214).
Tất nhiên,
mấy đời bọn giặc Pháp lại truyền hết nghề cho người Đại Nam ḿnh, một
khi chúng đang xâm lược ta bằng vũ khí, và ta thất bại trước chúng cũng
v́ vũ khí. Và không chỉ vũ khí, mà c̣n là kĩ thuật luyện quân và hành
quân, tác chiến. Vũ khí mới đă sản sinh ra kĩ thuật quân sự mới! Tất cả
ta đều phải học. Nhưng phải cố gắng học một biết mười.
“Thắng Tàu, bởi học vượt lời Tàu xưa”
(215).
Nay học Tây cũng phải vậy. Vả lại, “Tây dương” là từ chỉ chung Âu Mỹ,
chứ đâu riêng chỉ Pháp!
Khi tàu
thuỷ vừa đến Đà Nẵng, cập bến, để theo đường bộ ra kinh đô Huế, thượng
thư Nguyễn Văn Tường lại nghe tin Bắc Ḱ đang phải gặp nạn băo!
“Nhà cửa đổ nát, thuyền bè ch́m mất,
nhân dân có nhiều người bị chết” (216).
Ông đứng sững
trong vài phút với nỗi thương cảm đến nghẹn ngào. Bao nhiêu tai trời ách
nước, chẳng hiểu sao lại trút xuống Bắc Ḱ quá nỗi nặng nề. Theo thuyết
“thiên nhân tương cảm tương
ứng”,
phải chăng do ḷng người li tan, chia rẽ, đánh mất hai chữ
“nhân hoà”?
Dẫu sao, thượng
thư Nguyễn Văn Tường vẫn cảm thấy quá đau xót, cứ thương nhớ ngậm ngùi
về xứ Bắc Ḱ ngoài ấy.
Hết
tệp 6 truyện kí thứ 7
Viết đến ḍng
chữ cuối của truyện kí thứ 7
vào lúc 11
giờ kém 05,
ngày
09.11.2002
(05.10 Nh. ngọ,
HB.2).
TRẦN XUÂN AN
(195)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 40 – 41, 53, 57, 81, 107, 109.
(196)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 78 – 80.
(197)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 85.
(198)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 83 – 85.(199)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 105.
(200)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 107.
(201)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 87 – 104.
(202)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 82.
(203)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 103 – 104.
(204)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 105 – 106, 114, 116; NNBCĐH., bài đă
dẫn, sđd., 2001, tr. 487 – 488.
(205)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 106 – 107.
(206)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 110.
(207)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 186 – 189.
(208)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 186 – 189.
(209)
NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 234 – 287.(210)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 78 – 80. Xin xem lại theo chú thích
(196).
(211)
Trần Xuân An (biên soạn [chú thích, dịch thơ…]),
Ḱ Vĩ phụ chính
đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ, vài nét về con người, tâm hồn và tư
tưởng
(KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. & TT.), Trần Viết Ngạc sưu tầm, giới thiệu,
Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển dịch thơ, giới thiệu, Nguyễn Tôn Nhan
dịch nghĩa, TS. Ngô Thời Đôn hiệu đính, TS. Vơ Xuân Đàn, GS. Đoàn Quang
Hưng khảo luận sử học, bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản),
bài thơ số 44, bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch thơ của
Trần Xuân An, tr. 287 – 288.
(212)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 42.
(213)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 111.
(214)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 116.
(215)
Thơ Trần Xuân An.
(216)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 111.
Soạn xong phần
chú thích
lúc 09 giờ 25
phút, ngày 14.11.2002
(10.10 Nh. ngọ,
HB.2).
TRẦN XUÂN AN
HẾT TỆP 6
(PHÂN ĐOẠN 6
TRUYỆN KÍ THỨ 7)
Xin xem tiếp TỆP 7
(phân đoạn 6 truyện kí thứ 7