Tệp 8
PHÂN ĐOẠN 8 TRUYÊN KÍ
THỨ 7
TRẦN
XUÂN AN
CƯỠNG ƯỚC “HỮU
NGHỊ”
VÀ CƯỠNG ƯỚC
THƯƠNG MẠI,
GIÁP TUẤT 1874
Truyện kí thứ
bảy
(phân
đoạn 8)
19
Thượng thư Nguyễn Văn Tường có dịp được trầm ngâm
ngồi đọc lại và suy ngẫm những ǵ ông đă làm, đă viết trong những ngày
tháng qua. Đó là những ngày tháng dầu sôi lửa bỏng, bùng nổ những mâu
thuẫn gay gắt của thời đại và của Tổ quốc. Đó cũng là bước ngoặt lịch sử
bi tráng và bi phẫn. Bước ngoặt ấy diễn ra từ lúc Jean Dupuis bắt đầu
gây rối, khích biến để tạo cớ cho thực dân Pháp ép ta ngồi vào bàn “hoà”
nghị, và bởi sứ bộ không chịu “hoà” một cách thua thiệt, nhục nhă, nên
chúng đẩy nhanh và mạnh âm mưu xâm lược Bắc Ḱ, những tưởng có thể nuốt
trọng được cả hai đầu Đất nước Đại Nam.
Thượng thư Nguyễn Văn Tường c̣n nhớ, nhớ như nhớ một
tâm niệm, vào tháng ba nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ hai mươi mốt, Mậu
th́n (1868), với tư cách bồi sứ, nhân vật thứ ba của sứ bộ hồi ấy, ông
đă viết bản sớ, thay mặt cả chánh sứ Nguyễn Văn Phong, phó sứ Phan Đ́nh
B́nh, để bác bỏ yêu cầu của Pháp và của Nguyễn Trường Tộ, đại diện của
cánh Thiên Chúa giáo do tên cố đạo thực dân Gauthier cầm đầu, về việc
đàm phán “hoà” nghị. Ông kiên quyết không rơi vào mưu kế xảo trá của
chúng để phải kí kết “hoà” ước mới, xoá bỏ “hoà” ước Nhâm tuất 1862, hợp
thức hoá chủ quyền cho Pháp và “tả đạo” trên cả ba tỉnh Miền tây Nam Ḱ
(Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, chúng bức chiếm từ năm 1867!), hoàn toàn
chấp nhận lục tỉnh Nam Ḱ thành thuộc địa của chúng. Bấy giờ, từ năm
Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp kí kết, ông cũng đă nhận ra, chính “hoà”
ước Nhâm tuất 1862 ấy, một khi đă chấp nhận mất vào tay Pháp ba tỉnh
Miền đông (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường), cũng đă chấp nhận bị thất
thế về quân sự, và chắc chắn Pháp sẽ rất thuận lợi để chiếm nốt ba tỉnh
Miền tây! Tại sao khi đàm phán “hoà” ước Nhâm tuất 1862, Pháp không chịu
chiếm ba tỉnh Miền tây mà đ̣i cho được ba tỉnh Miền đông? Bởi không ai
không biết, Pháp đă mưu toan chiếm gọn cả sáu tỉnh Nam Ḱ! Chấp nhận
mất ba tỉnh Miền đông, vô h́nh trung mà hiển nhiên chấp nhận mất luôn
sáu tỉnh! Ba tỉnh Miền tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) bị cách
bức, bị kẹp giữa ba tỉnh Miền đông (thuộc địa của Pháp) và Cao Mên (bấy
giờ sắp rơi vào tay Pháp), quân binh Đại Nam ta làm sao tiếp viện để
chiến đấu!
Từ năm Nhâm tuất (1862) đến khi Jean Dupuis (1872),
rồi Françis Garnier (1873) gây rối, khích biến ở Bắc Ḱ, Pháp và “tả đạo”
đă rất nhiều lần cử sứ giả ra Huế để yêu cầu triều đ́nh chính thức hoá
việc giao nhượng, kể cả khi chúng đă chiếm cứ nốt, và Phan Thanh Giản tự
sát (1867)!
Việc Hà Nội thất thủ, danh tướng Nguyễn Tri Phương
bị thương, bị bắt và tuẫn tiết, pḥ mă Nguyễn Lâm tử trận, cùng ba tỉnh
khác, Nam Định, Ninh B́nh, Hải Dương, nối nhau thất thủ, quả thật, đă
khắc vào gan ruột mọi người yêu nước một nỗi đau và niềm uất hận khôn
nguôi. Pháp cũng không ngờ chúng có hậu thuẫn “tả đạo” và “phù Lê” đông
đảo đến thế!? Một vạn hai (12.000) tên “lính bản xứ” và hàng trăm tên
ngụy tặc khác, cỡ như tên ngụy tổng đốc thợ rèn tên Trương! Do đó,
bốn tỉnh Bắc Ḱ trọng yếu nhất thất thủ, đâu chỉ do vài trăm tên lính
viễn chinh mắt xanh mũi lơ, mà do lực lượng phản quốc ấy! Tất nhiên
hoả lực và sức công phá của vũ khí bọn Pháp xâm lược cũng đáng kể! Chính
Jean Dupuis cũng thú nhận là Hà Nội thất thủ, một phần đáng kể, rất quan
trọng, là do lực lượng nội ứng “phù Lê” (trong đó có “tả đạo”, vốn mượn
chiêu bài mị dân này) (229)!
Cuộc nội chiến lương – giáo Nam Đàng Ngoài, chủ yếu
ở Nghệ – Tĩnh, vô h́nh trung, cũng đă là một động lực khá dữ dội, đẩy
triều đ́nh vào thế nguy khốn, đồng thời đặt Pháp và “tả đạo” vào thế
không thể không thoả hiệp với triều Nguyễn. Do đó thương ước Giáp tuất
1874 phải lập tức được kí kết! Hai lănh tụ cuộc khởi nghĩa văn thân Nghệ
– Tĩnh, Trần Tấn và Đặng Như Mai, hẳn không ngờ đến hậu quả đó!
Sự thể đă như thế, c̣n cách nào khác, nên triều đ́nh
dưới quyền định đoạt của vua Tự Đức, và cũng dưới quyền thiên tử ấy, sứ
bộ, trong đó Nguyễn Văn Tường là phó sứ, đành phải chấp nhận cưỡng ước
“hữu nghị” và thương ước Giáp tuất 1874! Ông và chánh sứ Lê Tuấn, tham
biện Nguyễn Tăng Doăn đă đấu tranh kiên tŕ, đấu tranh quyết liệt và
nhẫn nại, nhưng cũng chỉ đạt đến mức thế đó. Chiến tranh ngoại xâm, Pháp
và bọn giặc Cờ, cộng với nội phản, Hán gian (Hoa kiều…) và Việt gian (“tả
đạo”, “phù Lê”, thổ phỉ, hải tặc…), lại cộng với cuộc nội chiến lương –
giáo Nghệ – Tĩnh chính là bối cảnh xám xịt và chói rực máu lửa của hai
cưỡng ước “hữu nghị” và thương mại Giáp tuất 1874!
Vua Tự Đức, đ́nh thần, hoàng tộc đánh giá là sứ bộ,
đặc biệt là phó sứ Nguyễn Văn Tường, rất có công lao trong những tháng
ngày dầu sôi lửa bỏng và bùng nổ xung đột, thù trong giặc ngoài ấy.
Thượng thư Bộ Lại kiêm quản Quốc tử giám, Cơ mật viện đại thần Nguyễn Tư
Giản ca ngợi thành công của Nguyễn Văn Tường trong việc đàm phán và thu
hồi bốn tỉnh Bắc Ḱ, đến mức đề nghị vua Tự Đức ghi khắc vào đĩnh đồng,
vào nhà đại lịch, để lưu lại ngh́n sau (230), trong bài “Biểu mừng
ngày giảng hoà lấy lại bốn tỉnh”! Nguyễn Văn Tường được nhà vua
phong đến bá tước với danh hiệu Ḱ Vĩ! Phạm Phú Thứ, thượng thư Bộ Hộ,
đồng kiêm quản Quốc tử giám, Cơ mật viện đại thần, trong ngày chia tay,
ra Bắc Ḱ làm tổng đốc Hải – Yên kiêm tổng lí thương chính đại thần (tương
đương với Hoàng Tá Viêm trên mặt trận quân sự), có làm một bài thơ tặng
Ḱ Vĩ bá Nguyễn Văn Tường. Ra đến đất Bắc, Phạm Phú Thứ mới gửi vào tặng
ông. Ông cũng vừa mới nhận được.
Bắc hành chu quá Bao Vinh Ḱ Vĩ bá biệt nghiệp,
thích tuyên phong lễ thành, thư hạ nhân tự biệt - Nguyễn bá, húy Văn
Tường, tiền sung toàn quyền đại thần, đồng Dương phái văng Bắc ḱ, nhận
hồi tứ tỉnh
Bang quốc chung
xương vận
Giang sơn xuất
vĩ nhân
Kinh trần bài
đại nạn
Mĩ dự bá chư lân
Thế thưởng luận
công mậu
Dương sinh sức
hỉ tân
Phương thành
xuân sắc cận
Yến tập cựu t́nh
chân
Lang miếu trù
duy thiết
Giang hồ ngụ mị
tần
Du nhiên chinh
lỗ ư
Mai nguyệt trầm
hà tân.
PHẠM PHÚ THỨ (231)
Thuyền đi ra Bắc
Ḱ, ngang qua vườn nhà riêng của Ḱ Vĩ bá ở Bao Vinh, vừa gặp lễ tuyên
phong xong, viết thư mừng, nhân kể nỗi biệt li - bá tước Nguyễn, tên húy
là Văn Tường, trước đó sung chức toàn quyền đại thần, cùng phái viên Tây
dương (Pháp) đi Bắc Ḱ nhận lại bốn tỉnh
Vận nước thật tốt
lành
Núi sông hiện vĩ
nhân
Bụi chiến! Trừ tai
họa!
Danh người thơm lân
bang
Đời luận khen công
lớn
Khí dương nỗi vui
tràn
Sắc xuân quanh
thành ngát
Bạn cũ tiệc ân cần
Triều miếu việc chu
tất
Thuyền ta trôi
trường giang
Càng xa thêm rộng ư
Cành mai ch́m ánh
trăng (231).
Đất nước vun nên
vận sáng
Núi sông xuất hiện
vĩ nhân
Đời lo xua từng nạn
lớn
Tiếng tốt vang các
lân bang
Nhân gian luận khen
công đẹp
Khí dương vui thắp
chồi xuân
Danh thơm thành mùa
thắm thiết
Tiệc nồng họp t́nh
thật thân
Kế nghĩ triều đ́nh
sâu khắc
Giấc trọ giang hồ
vội tàn
Ư mái chèo xa, rong
ruổi
Bờ sông mai nở ch́m
trăng.
Thú thật, thượng thư Nguyễn Văn Tường rất cảm tạ tấm
ḷng tổng đốc, tổng lí thương chính Phạm Phú Thứ. Đó là bài thơ của Phạm
Phú Thứ viết để ca ngợi ông về chiến công ngoại giao, đàm phán trong
mười sáu tháng vừa qua, trong chức năng phó sứ rồi chánh sứ sứ bộ. Tuy
nhiên, với Nguyễn Văn Tường, ông đă tự chế giễu: "bởi kẻ bề tôi bất
tài, nên mới giảng nói việc chiến ḥa của ba nước; chỉ nhà vua
với mệnh lệnh sẵn có, cam đành dằn xóc chốn núi biển bảy năm
[1868 – 1874]" (dĩ thần bất tài, giảng thuyết chiến hoà tam quốc sự; duy
quân sở mệnh, khi khu sơn hải thất niên gian) (232). Chính câu đối
ấy ông tự viết và tự treo trong gian giữa của ngôi nhà ḿnh, như một
minh định: chiến, mới là tiên quyết và hậu quyết! Ông khẳng định với mọi
người và với chính ḿnh, khi giặc xâm lược, chân lí giản dị nhất và đúng
đắn nhất là chiến, phải chiến đấu để đuổi cổ bọn xâm lược ấy. Chỉ v́
những kẻ bề tôi như chính ông bất tài, mới phải vất vả, nhẫn nại, đấu
dịu giảng “hoà” với chúng, bọn ngoại xâm ấy. Đó là giặc Pháp, Y Pha Nho
cùng các nước Âu Mỹ khác và bọn cố đạo thực dân đội lốt tôn giáo, một
tôn giáo bị xuyên tạc thành “tả đạo” để phục vụ cho âm mưu xâm lược, nô
dịch, kể cả bọn Tàu bất nhân bất nghĩa… “Hoà”, thực chất là chịu nhân
nhượng, phải cắt đất, chia dân, phải cam đành cắn răng chấp nhận các
điều khoản bất b́nh đẳng với các cưỡng ước rất đáng bi phẫn! Và nói một
cách khái quát, giản lược, “tam quốc sự” vẫn là việc ba nước, chủ yếu là
“nước Đại
Nam đối
diện với Pháp và Trung Hoa” (233)!
Thượng thư Nguyễn Văn Tường dù được công nhận là vĩ
nhân, ḱ vĩ, tài trí, giỏi ứng đối và rành rơi trong giao thiệp, vẫn
thật ḷng tự thâm tâm ông, ông không chấp nhận một "ḥa" ước, thực chất
là nhượng ước, hàng ước nào cả, nên lời khen của Phạm Phú Thứ chỉ đúng ở
một phần nào. May chăng, ông tự nhủ, đó là năng lực cá nhân trong việc
vận dụng sắc lệnh của nhà vua mà bất ḱ kẻ bề tôi nào cũng không dám
kháng chỉ.
Và chính kẻ thù, dẫu rất căm thù ông, về sau cũng đă
thừa nhận “chẳng mấy chốc [Philastre] dần dần chịu ảnh hưởng của
ông bộ trưởng đối ngoại [đúng ra là chánh sứ], và nhất là ông Nguyễn
Văn Tường trong khi ông Philastre làm phiên dịch chính thức ở Sài G̣n
cho ông Tường và ông Tường là phó lănh sự [đúng ra là phó sứ] […] Bản
thân ông Philastre, như ông đă nhiều lần bày tỏ lúc c̣n ở Bắc Ḱ, là
thật t́nh ông không tán thành về ư kiến đặt nền bảo hộ Pháp ở Đông Dương.
Ông cho đó là nguồn gốc của một thất bại và tai hại. Nước An Nam, theo ư
ông, không cần đến sự giúp đỡ tốt [!] của chúng ta và đây là một tội ác
về vi phạm nhân đạo, bóp chết một nền văn hóa lâu đời và đáng trọng này.
Tôi không trách ông Philastre về những sự mến chuộng của ông đối với nền
văn minh này và tôi xin nghiêng ḿnh cảm phục về tính năng động và tŕnh
độ hiểu biết của ông; nhưng tôi cũng nghĩ rằng tốt hơn là ông đừng nhận
cái trọng trách kinh khủng là làm đại diện và bênh vực quyền lợi của
nước Pháp bên cạnh Triều đ́nh Huế. Cách suy tư của ông Philastre đúng là
chỉ để khuyến khích vua
Annam nối lại quan
hệ chư hầu [!] giữa An
Nam
và Trung Hoa và chẳng thèm đếm xỉa ǵ đến hiệp ước 1874. Như vậy chính
phủ An Nam vừa kêu cứu nước Pháp đánh dẹp bọn cướp nước người Hoa (tháng
12.1878), lại vừa yêu cầu sự giúp đỡ của hai tổng đốc Lưỡng Quảng cùng
trong mục đích đó” (234).
Tất nhiên, về
sau, các cố đạo mới viết thành chữ trên báo, theo quan điểm thực dân “tả đạo”, nhưng
ngay lúc này, họ đă cam đành cùng nhau thừa nhận tài năng của thượng thư
Nguyễn Văn Tường, đối phương của họ, và về tên thực dân Philastre, một
tên thực dân ít nhiều c̣n có ư thức về công lí của nhân loại, đă ảnh
hưởng bởi sự tâm công của chánh sứ Lê Tuấn, và nhất là sự tâm công của
phó sứ Nguyễn Văn Tường! Lúc này, ông cũng đă nghe chúng nói xa gần về
chánh sứ họ Lê, về ông và về tên thực dân Philastre, kẻ c̣n có trái tim
người như thế!
Đó là tiếng
nói của những người cùng thời của ông và về sau. Họ đă khẳng định bản
lĩnh văn hóa Việt của Nguyễn Văn Tường trong cuộc đấu tranh chính trị,
ngoại giao với thực dân Pháp. Chiến công ngoại giao, chính trị này của
Nguyễn Văn Tường, trước hết và có ư nghĩa sâu sắc nhất là, trong đó, có
chiến thắng văn hóa. Philastre cũng là một nhà ngôn ngữ học, Phương Đông
học, Việt
Nam
học, là một tên thực dân có học vấn và có trái tim nhân bản (trong chừng
mức nào đó) (235). Chính Nguyễn Văn Tường đă tâm công, đánh thức lương
tri của y bằng văn hóa Việt. Và chính Philastre, tự bản chất, cơ hồ y
vẫn là một trí thức Pháp c̣n chưa bị chủ nghĩa thực dân Pháp và Âu Mỹ
làm tha hoá đến mức đáng kinh tởm!
Nguyễn Văn
Tường được gọi là vĩ nhân, được tôn xưng là vị bá tước ḱ vĩ,
chính là ở điểm này. Ông tự nghĩ, phải chăng là thế?
Trong sự ngợi ca Nguyễn Văn Tường của Phạm Phú Thứ,
ở bài thơ trên, phải chăng có biểu hiện sự chiến bại khá văn hóa, khá
nhân bản của trái tim thực dân dẫu sao cũng vẫn c̣n chất người của
Philastre, ở một mức nhất định?
Dẫu sao đi nữa, thượng thư Nguyễn Văn Tường cũng
biết, thậm chí hiểu rất sâu sắc, lời ca tụng, ngợi khen trong trường hợp
nào đó, với ai đó, là liều thuốc độc bọc đường! Dĩ nhiên, cũng như sắc
dụ ban khen của hoàng đế Tự Đức, ở Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tư Giản và triều
thần, ông hiểu đó là lời ngợi ca của những người hiểu rơ hành trạng ông
nhất, họ rất chân thành. Ông cảm động, cảm ơn nhưng vẫn dặn ḷng ḿnh cố
tỉnh táo.
Thượng thư Nguyễn Văn Tường c̣n hiểu rất rơ, không
chiến th́ không thể đàm phán thắng lợi, đánh phải đi đôi với đàm. Đó c̣n
do công lao chỉ huy, yểm trợ và trực tiếp chiến đấu, của thống đốc Hoàng
Tá Viêm, tham tán đại thần Tôn Thất Thuyết và “hiệp sĩ phi chính phủ,
hành đạo trừ tà” Lưu Vĩnh Phúc:
“Vua bảo
quan Viện Cơ mật và Thương bạc rằng: “Điều hay th́ không điều nào nhỏ
nào là không ghi lấy, huống chi có công lớn. Viêm và Thuyết mùa đông năm
ngoái giết được đầu sỏ giặc [Françis Garnier], làm mất khí thế của chúng,
Nguyễn Văn Tường nhân đấy dễ làm việc. Văn Tường nói: “Tuy có trở ngại
một chút, nhưng thực giúp được nhiều. Đấy là lời b́nh tâm, không khoe
công. Viêm và Thuyết nên [được] phong tước, giả [:trả] lại chức quan””.
[Nhà vua] bèn thưởng thụ Hoàng Tá Viêm là hiệp biện đại học sĩ, tấn
phong Địch Trung tử [:tử tước với danh hiệu Địch Trung], vẫn sung làm
Tam Tuyên quân thứ thống đốc đại thần; Tôn Thất Thuyết làm Binh bộ hữu
tham tri, tấn phong là Vệ Chính nam [:nam tước với danh hiệu Vệ Chính],
vẫn sung làm tham tán đại thần; đều gia thưởng kim khánh, kim tiền [cho
cả hai]” (236).
“Chuẩn cho
Lưu Vĩnh Phúc được nhắc bổ làm phó lănh binh quan quân thứ ấy. Đoàn quân
ấy từ quản đội trở xuống, thưởng cho thăng ba trật và thưởng tất cả binh
dơng đi trận ấy bạc lạng và tiền (bạc ba trăm bốn mươi lăm [345] lạng,
tiền ba ngàn [3.000] quan). [Đó] là [do] xét công đánh trận Cầu Giấy”
(237).
Đó c̣n là công lao của đoàn tuỳ tùng luôn sát cánh
và cận vệ cho Nguyễn Văn Tường:
“Nguyên
khâm sai Nguyễn Văn Tường nghĩ thuộc viên ở Nội các mùa đông năm ngoái,
tuỳ phái đi ra Bắc Ḱ, [nhất] là Nguyễn Đăng Ngoạn (lănh trước tác),
Đoàn Như Bích (lănh biên tu), trong khi đi làm việc [tỏ ra] đắc lực, [nên]
tâu xin nghĩ thưởng. Vua chuẩn cho đều được thực thụ và gia thưởng (Ngoạn
một đồng, Bích ba đồng) và thưởng cho lính đi theo tiền lương một tháng,
có thứ bậc, để tỏ ư thể tất” (238).
Dẫu vậy, chẳng hiểu sao, thượng thư Nguyễn Văn Tường
vẫn âu lo hậu thế sẽ nguyền rủa ông hoặc bắt chước ông kí kết với giặc
ngoại xâm những cưỡng ước đau ḷng đến thế! Hăy hiểu cho, thế nước yếu
hèn mới phải thế! Hăy hiểu cho, chính những kẻ thần tử, bầy tôi bất tài
như ông, không đuổi cổ được Pháp, Y Pha Nho, “tả đạo”, cũng như
những tên thực dân da trắng hung hăn khác (Anh, Đức, Nga, Mỹ, Hà Lan, Bỉ…),
đang lăm le hất cẳng Pháp để giành chỗ, và cả bọn Tàu đủ màu sắc, dạng
thể (Hoa kiều, giặc Cờ, tổng đốc Vân Nam, Lưỡng Quảng…)! Hăy hiểu cho,
triều vua Tự Đức và dân tộc ta, cho đến lúc này, phải chống Pháp, “tả
đạo” và các nước da trắng thực dân cấu kết với nhau, trong điều kiện
nước ta cô độc về ngoại giao, không có được một liên minh hỗ trợ nào!
T́nh cảnh cô độc, bị li gián ấy, ở nước ta, cũng như ở mọi nước châu Á
Tế Á (Asie) khác!
Dĩ thần bất tài,
giảng thuyết chiến hoà tam
quốc
sự
Duy quân sở mệnh,
khi khu sơn hải thất niên
gian
Bởi kẻ bề tôi
bất tài,
nên mới giảng nói việc chiến ḥa
của ba nước
Chỉ nhà vua
với mệnh lệnh sẵn có,
cam đành dằn
xóc chốn núi biển
bảy năm
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường đă bao năm sôi kinh nấu sử, ông hiểu mọi đánh giá đều
phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong tương quan lực lượng cụ
thể, và phải có tầm nh́n xa rộng ra các nước lân bang đương thời, đồng
đại… Trong bối cảnh lịch sử cụ thể như vậy, vua Tự Đức, triều thần và sứ
bộ, trong đó có ông, chỉ có thể chiến đấu với thù trong giặc ngoài đến
thế! Nếu xét xem, thấy thế nước c̣n mạnh, có thừa sức lực hay ít ra cũng
đủ để đuổi cổ bọn ngoại xâm các loại, trấn áp được những đồng bào cam
tâm biến thành ngụy tặc, tay sai của giặc, th́ hậu thế hăy nguyền rủa
triều Tự Đức, trong đó có ông, cứ nguyền rủa đến muôn đời, bởi đă chấp
nhận các cưỡng ước đau ḷng đến vậy! Và hăy hiểu cho, với mọi người Đại
Nam
yêu nước, sáng suốt, “hoà” ước Giáp tuất 1874, không phải không đau ḷng,
nhưng đó là nỗi đau ḷng xen lẫn với sự nhận thức tỉnh táo rằng, đó là
một thắng lợi trong bối cảnh lịch sử ấy. Đồng thời, hăy hiểu cho, về
phía thực dân Pháp, “tả đạo”, “hoà” ước Giáp tuất 1874, đối với chúng,
cũng thắng lợi nhưng cũng đau ḷng không kém! Thực dân viễn chinh Pháp
cầm súng và đội lốt tôn giáo cầm thập giá không đau xót đến cuồng điên
thế nào được trước tổn thất quá lớn của chúng: Tất cả cơ sở hậu thuẫn
của chúng, suốt bao nhiêu năm chúng mất bao công sức gầy dựng, tiêm
chích “nọc độc”, đă bị lộ mặt, đúng hơn là tự “lật tẩy”: hàng trăm tên
ngụy tặc, cỡ như tên ngụy tổng đốc thợ rèn tên Trương, với một vạn hai
(12.000) tên “lính bản xứ” Bắc Ḱ, và hẳn cũng số lượng tương đương như
thế ở Nam Đàng Ngoài (Nghệ – Tĩnh là chủ yếu).
“Khi ấy phái
viên nước Pháp là Lê Na [Rheinart] dời đến đóng ở Hải Dương (nguyên
trước đóng ở Hà Nội) đưa thư xin sao và giao cho [y] án chém của bốn
tỉnh (các án từ tháng chạp năm ngoái đến tháng hai [năm Giáp tuất 1874],
nhân dân các tỉnh bị chém). Quan ở Viện Cơ mật và Nha Thương bạc tâu nói:
“Phái viên nước Pháp chuyên coi việc buôn bán, lại muốn lấn quyền. Xin
giữ lẽ bác [bỏ] đi”. Vua khen là phải” (239), (157).
Cả hai phía
đều xem“hoà” ước Giáp tuất 1874 là nỗi đau ḷng! Nhưng ở phía nào là nỗi
đau ḷng chính nghĩa, nỗi đau ḷng của công lí dân tộc (cũng là công lí
nhân loại) về độc lập dân tộc, về tự do (không bị nô dịch) của nhân dân
trước t́nh trạng công lí ấy bị chà đạp? Ở phía nào là nỗi đau ḷng của
cuồng vọng tham lam trong tâm địa bọn thực dân kẻ cướp, của lũ ngoại xâm
kẻ trộm, theo cách nói của Philastre? C̣n nỗi đau ḷng ô nhục của bọn
phản quốc “tả đạo”, “phù Lê” (hai bộ phận nhân dân ta), ở phía nào? Sự
phân biệt về chất, tự nó đă quá rơ ràng.
Tuy vậy, phải
thấy rơ: Sự tự “lật tẩy” của tất cả lực lượng phản quốc người
Việt Đàng Ngoài, bọn Hán gian, là một thắng lợi lớn của triều đ́nh Đại
Nam, cũng là của tuyệt đại bộ phận sĩ dân yêu nước Đại Nam. Và tất nhiên,
với cách hiểu ư tại ngôn ngoại, hay đúng hơn là căn cứ vào hiện thực
lịch sử bấy giờ, đó cũng là thắng lợi của “hoà” ước Giáp tuất 1874. Việc
bọn phản quốc tự “lật tẩy” và sau đó chúng bị án chém (người Việt), bị
trục xuất cảnh ngoại (đuổi bọn Hoa kiều bất nhân bất nghĩa về nước)
(240), để Đàng Ngoài tiệt sạch bè lũ “thù trong”, chẳng là một thắng lợi,
th́ c̣n biết gọi là ǵ!
V́ thế, có
những tên thực dân hậm hực, hận thù, t́m cách xuyên tạc, giễu cợt, mỉa
mai về chiến công ngoại giao của sứ bộ, đặc biệt là của sứ thần Nguyễn
Văn Tường, như Rheinart, trong bức thư y tŕnh gửi cho tên thống đốc Nam
Ḱ Le Myre de Vilers, vào ngày 30.11.1881 (239), chẳng hạn. Một nỗi hậm
hực, hận thù đáng kinh tởm của tâm địa thực dân, dai dẵng đến bảy năm
trời (1874 – 1881) và c̣n sục sôi dai dẳng măi đến về sau!
“Philastre ra tới Bắc Ḱ với ư định dứt khoát là
lập tức trả lại những thành tŕ mà Françis Garnier đă chiếm được. Sứ
thần Nguyễn Văn Tường chỉ phải mệt nhọc là nhận những thành tŕ đó từ
tay phái viên Pháp. Nhưng khi trở lại Huế, [Nguyễn Văn] Tường đă tuyên
bố rằng thành công là nhờ vào tài khéo léo, vào sức thuyết phục của ḿnh,
rằng Tự Đức đă chịu ơn khi thâu hồi lại các tỉnh Bắc Ḱ trong một thời
gian đă tưởng là mất. Giả thuyết ấy được người ta tin, và làm cho [Nguyễn
Văn] Tường, kể từ năm 1874, trở thành nhân vật ảnh hưởng nhất triều đ́nh
Huế. Được coi như con người dũng mănh đă làm cho Pháp phải nhả Bắc Ḱ,
nay [Nguyễn Văn] Tường cũng được coi như người có khả năng làm cho Pháp
nhả nốt
Nam Ḱ”
(241).
Với điều khoản X của “hoà” ước Giáp tuất 1874, nếu
Pháp chấp nhận thực thi nghiêm chỉnh, th́ triều đ́nh Huế và dân tộc Đại
Nam vẫn đă giữ được ḷng sĩ dân Nam Ḱ trước sự nhồi sọ, nô dịch của
chúng. Phó sứ Nguyễn Văn Tường đă thao thức, trăn trở:
“Thần trộm
nghĩ rằng có người mới có đất, mà thu phục nhân tâm th́ chính trị tốt
không bằng giáo hóa tốt. Các hạt trong Nam vốn có dựng văn miếu, có thầy
dạy, có trường thi, nhưng từ khi hữu sự đến nay bỏ phế đă lâu vậy…
Xin được ưng thuận cho đem lí lẽ tranh biện với nó,
đ̣i hỏi cho ta được trùng tu văn miếu để tiện phụng thờ, cắt đặït giáo
chức để rèn luyện học tṛ và mở trường thi để thu nhiều kẻ học. Dân giáo
nếu xin nhập học, ứng thí cũng cho.
Như thế th́ cơi bờ dù có mất mát ch́m đắm, chính
lệnh tuy chưa tới được, nhưng giáo hoá vẫn c̣n có thể thi hành, lấy đó
mà vun trồng đạo lí, kích thích sĩ phu. Chúng nó mới đến, dùng chính
sách hà khắc, ta lấy thiện giáo dạy dỗ dân. Tuy mất đất đai nhưng có
được ḷng người, th́ cũng có thể dùng về sau. Vả lại, bên ngoài ta lấy
vẻ mặt tươi cười chờ đợi, bên trong lại nghiêm chỉnh tự trị, binh khí,
thuyền súng có nhân viên đảm trách, người người tự nỗ lực, tự mưu tính
để chờ cơ hội, th́ cái hiệu nghiệm lúc xế chiều không phải là muộn vậy”
(Bản
tấu ngày mùng mười [10] tháng tám [8] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quư dậu [1873]) (58).
Ngày 30.11.1881, tên thực dân Rheinart c̣n viết thư
báo cáo (242), với cách nhận định sự thực theo cái nh́n và ư định “thực
dân hạng nặng” của y:
“Khi trở
thành đứng đầu phe cứng rắn, chính [Nguyễn Văn] Tường đă xúi Tự Đức coi
thường hiệp ước năm 1874. Do đó, làm cho mối quan hệ Việt – Pháp suy
thoái dần” (242).
Những ǵ chất chứa nỗi hậm hực và căm thù dai dẳng ở
bọn Pháp về ông, thượng thư Nguyễn Văn Tường đă nghe, đă thấy từ nhiều
năm trước, trong những tháng ngày vừa qua, và ngay cả mấy hôm cuối tháng
mười, đầu tháng mười một nguyệt lịch năm Giáp tuất (1874) này, đâu phải
đợi đến nhiều năm về sau.
Lúc này, thượng thư Nguyễn Văn Tường vẫn đang đọc
lại, suy nghĩ về những ǵ ḿnh đă viết, và ông không thể không ngẫm ngợi
về những trực nhận của ông qua dáng điệu, thái độ hằn học làm ra vẻ cao
đạo của đối phương, về những lời tiếng phong thanh xuyên tạc không ít ác
ư của kẻ thù ngoại xâm…
Hết
tệp 8, TRỌN truyện kí thứ 7
Viết đến ḍng
chữ cuối của truyện kí thứ 7
vào lúc 11 giờ
kém 05,
ngày 09.11.2002
(05.10 Nh. ngọ,
HB.2).
TRẦN XUÂN AN
(229)
VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 514.
(230)
HYTPK. & STBCNTNVLS., Nxb. TP.HCM., 1993, tr. 451 –
452. GS. Trần Văn Giàu đánh giá rất “tả” khuynh, cực đoan, thiếu cái
nh́n khoa học với quan điểm lịch sử – cụ thể! GS. bất chấp điều kiện
hiện thực của giai đoạn lịch sử cụ thể, cứ lấy một
hệ tiêu chí chủ quan của bản thân, đồng thời dựa vào thế
và lực nửa sau thế kỉ XX (Liên Xô, CHND. Trung Hoa…), để mạt sát quá khứ!
Một cách chắc chắn, quan điểm sử học của GS. Trần Văn Giàu là mao-ít (maoisme),
duy ư chí, chứ không phải mác-xít – lê-nin-nít (marxisme – léninisme),
lại càng không phải hồ-chí-minh-nít (hochiminhisme)! Và xét trên quan
điểm tổng thể của cuốn CXL., gắn liền với trường hợp khác, như thể hiện
qua cách đánh giá về Nguyễn Trường Tộ chẳng hạn, GS. lại tỏ ra rất chiết
trung! Xin xem thêm: Trần Xuân An,
Nguyễn Văn Tường, “những người trung nghĩa từ xưa,
tưởng không hơn được”,
khảo luận và phê b́nh sử học, bản in vi tính, chưa có điều kiện xuất bản rộng răi (2002).
Trong cuốn sách này, chúng tôi đă có trích dẫn để đối thoại về tác phẩm
sử học Chống xâm lăng của GS. Trần Văn Giàu (trong
giới hạn đề tài). Kính mong được GS. chỉ dạy thêm.
(231)
Thơ Phạm Phú Thứ, bản dịch thơ 1 của Tôn Thất Mạnh
Hào, bản dịch thơ 2 của Trần Xuân An.
(232)
Câu đối của Nguyễn Văn Tường do nhà thơ Lương An
sưu tầm. Xin xem: KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. & TT., bản in vi tính, 2000 (chưa
có điều kiện xuất bản), bài thơ số 44, bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn
Nhan và bản dịch vần của Trần Xuân An, tr. 77 – 79.
(233)
Tên sách Yoshiharu Tsuboi: NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH.
TU. Tp.HCM. xb., 1993.
(234)
NNBCĐH., bài
“Phái bộ Pháp ở Huế và những phái viên đầu tiên”
của linh mục Aldophe
Delvaux, tập III, bộ sđd., 1997, tr. 36 – 37. Chúng tôi đă phê phán các
bài viết trên NNBCĐH. (BAVH.) của các cố đạo thực dân (cũng như các tên
thực dân cầm súng và thống trị khác) trong lời thưa đầu sách của cuốn:
Trần Xuân An (biên soạn),
Tiểu sử biên niên Ḱ Vĩ phụ chính đại
thần Nguyễn Văn Tường,
bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản rộng răi).
(235)
NĐNĐDVP. &TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr.
116 – 117.
(236)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 26 – 27.
(237)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 27.
(238)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 25.
(239)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 54.
(240)
CXL., sđd., 2001, tr. 319.
(241)
NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr.
269.
(242)
NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr.
270.
Soạn xong phần chú thích
lúc 09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002
(10.10 Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN AN
HẾT TỆP 8
(PHÂN ĐOẠN 8 TRUYỆN KÍ THỨ 7)
Xin
xem tiếp TỆP 9
(phân
đoạn 1 truyện kí thứ 8)