Tệp 10
– Tập III
(PHÂN ĐOẠN
4 TRUYỆN KÍ THỨ 10)
TRẦN XUÂN AN
BI KỊCH Ở ĐỈNH ĐIỂM
MÂU THUẪN
VÀ SỰ CHIẾN THẮNG
CỦA NHÓM CHỦ CHIẾN
YÊU NƯỚC TẠI TRIỀU Đ̀NH
Truyện thứ mười
(phân đoạn 4)
9
Trong bốn tháng vừa qua, nhất là sau khi thành Trấn Hải và các thành luỹ,
đồn trại hải pḥng tại Thuận An bị thất thủ, phải nhục nhă kí kết “hoà”
ước Quư mùi 1883 với bọn thực dân Pháp thắng trận, vua Hiệp Hoà bộc lộ rơ
bản chất đầu hàng, vun quén cá nhân, c̣n cánh chủ “hoà” trong triều đ́nh,
hoàng tộc lại tăng lên. V́ thế, ít nhiều nhóm chủ chiến bị lép vế, yếu thế.
Đại thần Tôn Thất Thuyết không cách nào khác, phải tự ư buộc Trần Tiễn
Thành thôi việc. Từ đầu tháng bảy nguyệt lịch, Trần Tiễn Thành “xin” khỏi
vào chầu khi thiết triều. Sau đó, lúc biết tin Pháp sắp tấn công Thuận An,
ông ta cố lấy lại uy thế, có tham gia vài cuộc họp. Đến cuối tháng tám,
ông ta bị buộc phải nghỉ việc hoàn toàn, về hẳn tại nhà riêng ở ấp Doanh
Thị trung bên kia cầu Gia Hội (Huế). Thượng thư Tôn Thất Thuyết không muốn
Trần Tiễn Thành tiếp tục chi phối vua Hiệp Hoà như đă chi phối vua Tự Đức,
mặc dù vua Tự Đức không dễ bị chi phối như Hiệp Hoà. Trước sức ép của Tôn
Thất Thuyết và bên cạnh Tôn Thất Thuyết c̣n có sự ủng hộ mạnh mẽ của
thượng thư Nguyễn Văn Tường cùng một số các quan chủ chiến khác, vua Hiệp
Hoà cũng đồng ư cho Trần Tiễn Thành băi chức, về hưu.
“Phụ chính đại thần là Trần Tiễn Thành v́ tật cũ lại phát ra, hai chân
đau buốt khó đi. Tháng trước [tháng bảy nguyệt lịch], [ông ấy] đă xin miễn
cho không phải vào chầu, [chỉ] lưu ở công đường làm việc. Đến bấy giờ [cuối
tháng tám nguyệt lịch] lại xin nghỉ việc Cơ mật, về ở nhà trọ [:bệnh xá]
để chữa bệnh. Vua cho nghỉ việc” (105) .
Thật ra, từ những ngày trước hạ tuần tháng tám Quư mùi (1883), trước khi
đoàn khâm sai ra Bắc Ḱ, Trần Tiễn Thành rất nhiều đêm đến dinh thự của
tham tri Bộ Lại Hồng Ph́ (phó khâm sai, con trai Tùng Thiện vương Miên
Thẩm), cùng Hồng Tu, Hồng Sâm (con trai Tuy Lư vương Miên Trinh), để bàn
mưu tính kế nham hiểm (106), nham hiểm chỉ v́ quyền lợi cá nhân, bè cánh
chủ “hoà” vị kỉ, mặc kệ vận mệnh nhân dân, Đất nước và mặc thây cả danh dự
triều Nguyễn, triều đại mà họ đang được hưởng ân sủng hoàng tộc hoặc đang
phục vụ, phụng sự (106).
Tuy Lư vương Miên Trinh cũng là một trong những kẻ chủ “hoà”. Ông
ta đồng mưu với những kẻ nham hiểm vị kỉ kia, cố sức câu kết với thực dân
Pháp, thông qua tên khâm sứ De Champeaux. Trước hết, Tuy Lư vương giả vờ
đến Sứ quán xin thuốc chữa bệnh! Xin thuốc kẻ thù xâm lược để chữa bệnh
cũng là một điều lạ, chưa từng thấy! Bày tỏ thiện chí và sự tin tưởng ư?
Hay là thuốc ǵ vậy?
“Tuy Lư vương Miên Trinh đến Sứ quán [Pháp] xin thuốc chữa bệnh, quan Cơ
mật viện và Thương bạc [:chỉ gồm Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] đem
việc tâu lên. Vua cho triệu Miên Trinh vào Nhà Duyệt thị, truyền chỉ bảo
rằng: “Sở ấy [:Sứ quán ấy], không nên đi lại luôn luôn”. Vua lại phê bảo
quan Viện Cơ mật: “Thân vương ấy tuổi cao, đức tốt, lại có học thức, thực
là người yêu nước trung thành, tưởng không ngại ǵ. Trẫm đă hỏi, về sau có
việc ǵ bàn bạc hay hỏi thăm viên [khâm] sứ ấy th́ sai cùng đi với đ́nh
thần [để] cùng đến Sứ quán [Pháp], có được không? Vương [Tuy Lư] đă bằng
ḷng. Chuẩn cho về sau có hỏi thăm hay bàn bạc khoản ǵ, chuẩn cho thân
vương ấy cùng đi với đ́nh thần””
(107)
.
Không những tuổi cao, lại có học thức, Tuy Lư vương Miên Trinh c̣n
là một trong hai nhà thơ nổi tiếng của hoàng tộc và kinh đô Huế. Nhưng
người chú ruột của vua Tự Đức này lại được Hiệp Hoà bảo là “yêu nước trung
thành”, hẳn đó là ḷng yêu nước trung thành theo quan niệm của cánh chủ
“hoà”, đầu hàng, thoả hiệp, thật ra đang câu kết với kẻ thù là thực
dân đang xâm lược Đất nước, bọn thực dân những muốn xô đổ hoặc chí ít cũng
tṛng cho được ách “bảo hộ” lên triều Nguyễn! Chưa bao giờ có một loại
t́nh cảm “yêu nước trung thành”
ḱ
quặc, ngược đời như vậy!
Hai đại thần Viện – Bạc Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết biết rất rơ âm
mưu câu kết phản dân, hại nước, âm mưu hành động một cách nham hiểm đối
với nhóm chủ chiến ấy. Và đồng thời, họ biết rơ vua Hiệp Hoà đang cùng Tuy
Lư vương bước đầu thực hiện điều khoản thứ XI, điều khoản nhục nhă nhất
của “hoà” ước Quư mùi 1883, “Trú sứ [:khâm sứ, résident] Pháp tại Huế
sẽ được quyền một ḿnh vào diện kiến vua nước [Đại] Nam; nhà vua không thể
từ chối không tiếp, nếu không có lí do chính đáng” (68)
:
“Sứ Pháp cho mời Tuy Lư vương Miên Trinh đến Sứ quán. Vua nhân thể sai đem
các việc ở quân thứ về Sơn Tây thương thuyết.
Lúc bấy giờ sứ Pháp đưa thư đến, yêu cầu ta [triệt] bỏ các quan quân thứ ở
Sơn Tây [Hoàng Tá Viêm…], Bắc Ninh [Trương Quang Đản, Bùi Ân Niên…], cho
nên vua sai đi thương thuyết bỏ việc ấy đi [v́ sợ quan chức và sĩ dân cả
nước phẫn nộ; vả lại, đó không phải là vấn đề then chốt…]. Sứ Pháp nhân
[dịp ấy], xin vào chầu vua.
Tuy Lư vương đem việc tâu lên. Vua lại sai Tuy Lư vương đi bàn định về
nghi lễ triều yết; lại sai tham tri Bộ Lễ là Nguyễn Văn Thuư, tham tri Bộ
Binh là Hà Văn Quan, tham biện Nội các là Hoàng Hữu Thường cùng sung làm
tiếp hộ sứ.
Rồi sau sứ Pháp vào yết kiến vua ở Điện Văn minh, cất mũ vái một cái. Vua
hỏi han, yên ủi (hỏi thăm sức khoẻ của giám quốc [:tổng thống toàn quốc]
nước Pháp và yên ủi viên sứ ấy)” (108).
Sự thật của việc câu kết, chầu yết ấy không thể là ǵ khác ngoài việc mưu
hại nhóm chủ chiến tại triều đ́nh, và bàn định việc thoả hiệp triệt để
giữa vua tôi chủ “ḥa” với kẻ thù xâm lược. De Champeaux trước đây đă từng
toan tính âm mưu “đập tan tành” thượng thư Bộ Hộ, đại thần Viện – Bạc
Nguyễn Văn Tường. Nay bên cạnh ông c̣n có đại thần Tôn Thất Thuyết, nên
hơn bao giờ hết, De Champeaux quyết hạ bệ và hạ sát cả hai đại thần đứng
đầu nhóm chủ chiến và đứng đầu đại bộ phận nhân dân quyết tâm chống Pháp
trong cả nước. Vấn đề then chốt và chủ chốt là ở hai đại thần phụ chính
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết chứ không phải là ở các quan tướng trên
mặt trận như Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản, Bùi Ân Niên… Do đó, De
Champeaux nhiệt thành một cách man rợ trong sự câu kết mà Tuy Lư vương là
con thoi qua lại! De Champeaux liền báo cáo ra Bắc Ḱ cho Harmand, báo cáo
vào Gia Định cho Thomson.
“Theo một điện tín của thống đốc Nam Ḱ gửi bộ
trưởng Hải quân ngày 10 tháng 12 năm 1883, Hiệp Hoà bày tỏ trong mọi lúc
cảm t́nh của ông ta đối với Pháp. Ông đă bí mật phái chú là Tuy Lư vương
đến Toà Sứ Pháp để hỏi De Champeaux là, nếu trong trường hợp có biến động,
ông có được Pháp giúp đỡ không? De Champeaux trả lời có, và
nhiệt thành khuyến
khích ông chống lại cận thần. Cuộc viếng thăm này làm triều đ́nh lo
ngại, họ làm đủ mọi cách để biết
nội dung câu chuyện nhưng vô ích” (109)
.
Bức điện tín ấy được đánh đi trong thời điểm mười một hôm sau cuộc đảo
chính tại triều đ́nh, vào ngày mười một tháng mười một nguyệt lịch Quư mùi
(1883).
Mâu thuẫn giữa chủ “hoà” với chủ chiến, thực chất là giữa bọn xâm lược,
bọn tay sai với những người yêu nước, chống Pháp, chống bù nh́n, đă bị đẩy
lên đến điểm đỉnh. Không thể không nổ ra cuộc đảo chính. Dẫu sao, cuộc đảo
chính ấy ít nhiều vẫn phải đẫm máu và đẫm thuốc độc thi hành án!
“TÔN THẤT THUYẾT LẬP PHẤN NGHĨA QUÂN”
(110):
“Lúc đó, [Tôn Thất] Thuyết muốn lập lính chân tay [:thủ túc chi binh]
riêng ḿnh, bèn thương lượng với Nguyễn Văn Tường, nói rằng:
“Tiến hành vào ngày 29 tháng 10 là quan trọng nhất [đó là ngày nhóm chủ
chiến triều đ́nh Huế tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Hiệp Ḥa cùng những
kẻ đồng mưu, câu kết với giặc Pháp]”.
Hai viên quan này [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] cùng
với những đ́nh thần đă dự biết
trước nên ai nấy giao cho những người thân thuộc tham dự vào việc hiểu
dụ các thân hào sĩ dân kết đảng làm theo.
Lần này, qua chọn lọc số người trong đó mà ban thưởng. Ngoài ra tuy [nhiều
người] chưa được dự vào phái cử, nhưng đều vui ḷng đáp ứng.
Gần đây [tháng chạp Quư mùi (1883)], nhiều người làm theo, nay các binh
ngạch thiếu nhiều, nên nhân t́nh h́nh ấy mà thu dụng họ, xin hội đồng Binh
bộ xét tuyển dụng được bao nhiêu lính (nhưng không được khấu giản), chia
làm vệ đội, lượng mà thiết lập quản suất, tùy số mộ được nhiều hay ít mà
thưởng phẩm hàm, đặt tên là “Phấn Nghĩa quân”. Số quân đó được khao thưởng
và đặt tên riêng; chiểu theo thứ tự, tuyển hai vệ tiên phong, nhưng vẫn lệ
thuộc vào các viên quan mà hai vị thần đó [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết] ủy nhiệm cho, để luyện tập và phân phái.
Theo thời ḱ này th́ hữu dụng, nên ([Nguyễn
Văn] Tường) cho phép.
Sau đó [Tôn Thất] Thuyết cho Trần Xuân Soạn lănh [nhiệm] số quân ấy”
(110).
“NGÀY ĐINH SỬU, NGUYỄN VĂN TƯỜNG, TÔN THẤT THUYẾT PHẾ VUA VÀ GIẾT ĐI, VÀ
GIẾT CẢ ĐẠI THẦN TRẦN TIỄN THÀNH; LẬP HOÀNG TỬ THỨ BA LÊN LÀM VUA”
(111):
“Trước đây, phế đế [:vua Hiệp Hoà] đă nối ngôi, [hai đại thần Nguyễn Văn]
Tường, [Tôn Thất] Thuyết cậy công tôn lập lên, việc ǵ cũng chuyên quyền
làm bậy [chủ chiến là làm bậy ư?!?]. Vua ghét hai người ấy, muốn tước bớt
quyền đi. Cho nên ngoài mặt vẫn hậu đăi, mà trong ức chế [:đè nén, áp chế]
cũng nhiều, (như việc đổi [Tôn Thất] Thuyết sang Bộ Lại, không cho giữ
binh quyền; lại tờ tâu của sáu bộ, đều giao cho Nội các duyệt tâu, không
chuyên giao cho hai người ấy). Gặp khi những người thân tín của vua là
tham tri Bộ Lại Hồng Ph́, tham biẹân Nội các Hồng Sâm mật mưu
việc ấy [:việc giết hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết],
Tuy Lư vương Miên Trinh, huyện công Hồng Tu đều có dự mưu (Hồng Tu,
Hồng Sâm đều là con Tuy Lư vương). [Hai đại thần Nguyễn Văn] Tường, [Tôn
Thất]
Thuyết đă biết việc ấy. Vua lại muốn dùng mẹo để hai người giết nhau.
Triệu [Nguyễn] Văn Tường vào nói chuyện, th́ [vua Hiệp Hoà] bảo [Nguyễn]
Văn Tường là người trung thành, vẫn rất tin cậy; c̣n [Tôn Thất] Thuyết rất
là ngang ngược, dặn [Nguyễn] Văn Tường t́m cách [giết] bỏ [Tôn Thất]
Thuyết đi. [Tôn Thất] Thuyết vào hầu, vua cũng nói thế.
Hai người lại ra, đều đem lời nói ấy mật bảo nhau. Nhân [thế, hai đại thần
càng phải quyết tâm] mưu việc [truất] bỏ vua [Hiệp Hoà] mà lập vua khác.
[Tôn Thất] Thuyết bèn lấy cớ là Thuận An sau khi thất thủ, phủ hạt Thừa
Thiên nên tự t́m cách bảo vệ gia hương, [ông sai] phát hổ phù ra, [hổ phù
là tín hiệu để trưng triệu quân lính], [bí] mật sai mộ nhiều hương dũng để
pḥng sai khiến. (Nhưng [đại thần Tôn Thất Thuyết đặc biệt] sai người thân
tín là Kỳ Nội hầu Hồng Chuyên, pḥ mă Đặng Huy Cát, [cùng] chia nhau cai
quản). Người ngoài chưa ai biết cả.
Gần đây phái viên nước Pháp [De Champeaux] nhân hoà nghị đến xin chầu yết,
hai người [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] kiếm cớ tránh
mặt, không dự việc ấy. Vua lại đặc cách sai Tuy Lư vương chuyên đi lại Sứ
quán bàn bạc. Hai người [:hai đại thần phụ chính] ngờ vua đem mưu ấy dặn
Tuy Lư vương cầu cứu với người Pháp.
Bèn vào ngày bính tí là ngày hai mươi chín (29) tháng ấy, lúc canh hai [khoảng
từ 19 – 21 giờ khuya], các cửa hoàng thành, kinh thành đă đóng kín, [đại
thần Tôn Thất] Thuyết thu hết cả ch́a khoá cửa. Bèn trước nói dối là, đêm
ấy, nghe nói ngoài thành có bọn bậy bạ họp kẻ dị dạng [:bọn ăn mặc khác
thường], [nên] xin tự kiểm biền binh, [bí] mật pḥng bị sẵn. [Ông] biên ra,
giao cho quan trực hầu tâu lên. Rồi ngoài th́ [đại thần Tôn Thất Thuyết ra
lệnh] phát ra hổ phù, sai họp tất cả [quân] mộ dũng ở bờ phía nam sông
Hương; trong th́ [ông cho] đ̣i gọi các quân [chủ lực] đều mang khí giới,
do các viên Ông Ích Khiêm, Trương Văn Đễ đi trước, dẫn đến đóng ở Sở Tịch
điền. [Đồng thời, hai đại thần] cho mời văn vơ đ́nh thần, người nào hiện ở
ngoài hoàng thành cũng đến công đường Bộ Hộ (chỗ [thượng thư Nguyễn] Văn
Tường ở).
Hai người [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] bảo rằng:
“Lăng quốc công [:Hiệp Hoà] nối ngôi đến nay, làm việc phần nhiều trái
phép cũ, lại gần gũi người bậy (ngầm chỉ bọn Hồng Ph́, Hồng Sâm, Hồng Tu),
người đều không phục. Nay nên xin bỏ đi, đón hoàng tử thứ ba [Ưng Đăng]
lên nối nghiệp lớn”.
Lúc bấy giờ các quan đều vốn sợ uy lệnh của hai người ấy [:hai đại thần
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết], không ai dám nói điều ǵ khác. Hai
người bèn một mặt dự làm tờ tâu, một mặt đem văn vơ đ́nh thần chuyển đến
Sở Tịch điền, (duy có thượng thư Bộ Công là Đoàn Văn Hội cáo ốm không đến).
[Hai đại thần phụ chính lại] sai đem tờ tâu lấy chữ các quan kí tên.
Lúc bấy giờ đă trống canh tư [khoảng từ 01 – 03 giờ khuya về sáng].
[Hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] bèn sai Hậu quân là
Nguyễn Hanh, thị lang Bộ Binh là Lê Đại, trích phái biền binh đi đến nhà
Dưỡng Thiện ở Khiêm lăng [:lăng vua Tự Đức].
(Hoàng tử thứ ba [Ưng Đăng] nguyên ở Dưỡng Thiện đường, ở bên hữu nhà
Duyệt Thị gần đấy [gần Sở Tịch điền]; [trước đây, khi] rước linh cữu tiên
đế [Tự Đức, lên] để ở Điện Ḥa khiêm tại Khiêm cung, hoàng tử thứ ba theo
[lên,] đến ở nhà quan xá ngoài cửa Vụ Khiêm [để cư tang]; nhân thể cũng
gọi [nhà quan xá ấy] là Dưỡng Thiện đường).
[Nguyễn Hanh và Lê Đại cùng biền binh lên đến đó để] đón hoàng tử thứ ba.
Lúc mờ sáng, [đoàn đón rước mới] về đỗ [kiệu, vơng lọng] ở Điện Quan canh
Sở Tịch điền. Hai người [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết]
cùng các quan ở Sở ấy đều lần lượt lạy mừng.
(Khi ấy bọn [Nguyễn] Hanh mới đến đón, hoàng tử thứ ba rất sợ hăi;
bọn [Nguyễn] Hanh ôm lên vơng rước đi.
Đến khi về đến nơi, hai người [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết] nói với hoàng tử thứ ba là xin lập lên làm vua.
Hoàng tử thứ ba nói rằng:
“Ta c̣n bé, sợ không làm nổi”.
Hai người [:hai đại thần phụ chính] nói rằng:
“Tiên đế đă có ư ấy, nhưng chưa kịp làm. Nay là mệnh trời vậy. Xin nghĩ
đến tôn miếu, xă tắc là quan trọng”).
Đến sáng rơ, (tức ngày đinh sửu là ngày ba mươi [30] tháng mười [10]), hai
người [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] thông báo cho các
quan hiện túc trực đêm ấy ở trong Nội (văn trực thần là tham tri Hà Văn
Quan, vơ trực thần là quyền chưởng doanh Hùng Nhuệ Trần Văn Cư, tham biện
Viện Cơ mật là Hồ Lệ, tham biện Nội các là Lê Duy Thụy, thị vệ sứ đại thần
là Tiền quân Tôn Thất Thạ). [Họ] đều đến họp. (Lúc bấy giờ Đoàn Văn Hội
cùng đến).
Khi đồng hồ 5, 6 chuyển, vua [Hiệp Hoà] mới biết là có sự biến. [Hiệp Hoà]
hỏi đến những người trực thần, th́ chỉ có vài người [thuộc hạ nội] cung,
thái giám. [Vua Hiệp Hoà cảm thấy] vội vàng thất thố, không biết làm thế
nào, chỉ phải dự phê tờ chiếu nhường ngôi, để đợi.
Đến giờ mùi [13 – 15 giờ chiều], hai người [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết] đón hoàng tử thứ ba vào Viện Cơ mật tạm nghỉ; và đem tờ
tâu bỏ vua cũ, lập vua mới, tâu lên Từ Dụ thái hoàng thái hậu, lấy ư chỉ
để thi hành. [Hai đại thần phụ chính] lại sai mở cửa mạn tây nam (ngày hôm
ấy cửa bốn mặt kinh thành đóng kín cả ngày); [đồng thời] cho gọi các hoàng
thân. [Hoàng thân] cũng lục tục vào Tả vu. Đến nơi th́ ai cũng im lặng,
chỉ trông nhau mà thôi.
(Duy Tuy Lư vương, Hồng Tu, Hồng Sâm ở ngoài, nghe biết tin, sợ bị vạ lây,
bèn đem gia quyến đến chỗ phái viên Pháp đóng ở Thuận An cầu cứu. Hoằng
Hoá công Miên Triẹân, Hải Ninh quận công Miên Tằng cũng sợ hăi đi mất. Sau
đấy vài ngày, Hồng Ph́ đi công sai ngoài Bắc về, đến đầu địa giới Quảng
Trị, nghe biết tin, tự cho là nguy, lập tức thuê thuyền đến hội với Tuy Lư
vương [tại tàu binh Pháp ở cửa Thuận An]. Sau v́ phái viên Pháp giao trả
về, [Hồng Ph́] cùng với Hồng Tu, Hồng Sâm, đều bị nạn).
Lúc bấy giờ, vua [Hiệp Hoà] sai thái giám là Trần Đạt đem tờ chiếu nhường
ngôi, yêu cầu lui về chỗ phủ cũ. Hai người [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết] giả cách nhận lời, sai Tôn Thất Thạ đem vơng đưa vua cùng
phi tần nội cung cho về phủ cũ (ở địa phận xă Phú Xuân), nhưng mật dặn
riêng [Ông] Ích Khiêm, [Trương] Văn Đễ trực [:chực] trước ở ngoài cửa Hiển
Nhân, đón đường, [rồi] sai đưa [vua Hiệp Hoà] đến nhà Hộ thành, cho uống
thuốc độc giết đi.
(Hộ thành nha, nguyên trước là Dục Đức đường, mới đổi tên. Lúc bấy giờ,
những phi tần đă cho về [phủ cũ] trước, [và] để hộ vệ đưa vua [về Nha Hộ
thành]. Khi [đưa phế đế Hiệp Hoà] đến đấy, [Ông] Ích Khiêm, [Trương] Văn
Đễ cho thuốc độc vào nước chè, dâng lên. Vua [Hiệp Hoà] không chịu uống.
[Trương] Văn Đễ ra lạy, khóc, khuyên rằng:
“Vua tôi đến lúc biến, không thể làm thế nào được”.
Vua nói rằng:
“Ta lại không được bằng Thụy quốc công à?”[Ư nói: Xin được xử như Ưng Chân
(Dục Đức)].
[Vua Hiệp Hoà] c̣n lần chần không uống. [Ông] Ích Khiêm bèn đem nước chè
ấy đổ vào miệng vua. [Vua Hiệp Hoà] lập tức phát lên như người phải gió.
Một lúc lâu, Trần Xuân Soạn ra truyền nói rằng:
“Nếu để chậm quá, sẽ phải tội nặng”.
[Phó đề đốc kinh thành Trần Xuân Soạn] lập tức lấy tay bóp họng [Hiệp Hoà].
Vua lè lưỡi, lồi mắt ra, rồi vua mới chết. Đến lúc đưa vua về phủ, thấy
chỗ cổ họng vua [Hiệp Hoà] sưng như cái cung giương lên, ai cũng lấy làm
lạ).
[Ông] Ích Khiêm, [Trương] Văn Đễ vào bảo rằng:
“Lăng quốc công đến đấy đă uống thuốc độc chết rồi”.
Hai người [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] bèn rước hoàng
tử thứ ba vào ở Điện Hoàng phúc, đợi sẽ chọn ngày tốt, tôn lên làm vua”
(111).
C̣n về Trần Tiễn Thành?
“Trần Tiễn Thành cùng hai người ấy [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết] vẫn không bằng ḷng nhau. Trước đây, v́ việc tuyên chiếu [Trần
Tiễn Thành mắc tội “truyền tả chế thư sai lầm”], đă bị hai người [:hai
đồng phụ chính] tham hặc, diếc móc [:nhiếc móc], [nên ông ta] giận không
quên được. Bọn Hồng Ph́ mật tâu xin bỏ cường thần, [Trần] Tiễn Thành cũng
có đi lại mật với nhau. ([Trần] Tiễn Thành đêm thường ngầm đến dinh thự
Hồng Ph́ bàn kín với nhau). Hai người đă biết. Cho nên việc [Trần] Tiễn
Thành cáo ốm, xin về nhà riêng, đều do hai người [:hai đồng phụ chính] bắt
buộc (106).
Đêm hôm trước họp nhau ở Sở Tịch điền, hai người [:hai đại thần Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết] cùng có đem bản thảo tờ tâu đến [để tŕnh bày tỏ]
tường với [Trần] Tiễn Thành, yêu cầu [ông ta] phải theo làm việc ấy. [Trần]
Tiễn Thành lại khước từ, nói rằng:
“Bỏ vua nọ lập vua kia, sao có thể làm măi? Tôi đă băi chức về nhà, không
dám dự việc ấy”.
Hai người [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] lại càng
ngờ mà ghét. Nhân thể đêm ấy, [hai đại thần đồng phụ chính] cũng sai người
đến giết [Trần] Tiễn Thành ở nhà riêng (nhà ở ấp Doanh Thị trung) (106).
Ngày hôm sau (tức là mồng một [1] tháng mười một [11]), hai người tâu xin
chôn vua [Hiệp Hoà] bằng lễ nghi quốc công, giao cho phủ Tôn nhân chiểu lệ
chôn cất.
C̣n [Trần] Tiễn Thành th́ do phủ Thừa Thiên khám biên cho là bị kẻ cướp
giết chết. Đến lúc việc phát ra, ai cũng biết là do hai người ấy [:hai đại
thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] sai người giết, mà chả ai dám nói
ra”
(106).
CHI TIẾT VỀ CÁI CHẾT CỦA TRẦN TIỄN THÀNH
(112):
“… Trần Tiễn Thành ra lệnh cho gia đ́nh lập tức về quê. Ông chỉ ở lại với
một người thiếp, bà thiếp thứ tư tên là Lê Thị Như, và vài tên gia nhân,
để chờ sự việc xảy ra.
Sau khi giết Hiệp Hoà, ngay đêm hôm đó, Tôn Thất Thuyết ra lệnh cho một
toán quân trong đội cận vệ riêng của ông, đi giết Trần Tiễn Thành và Tuy
Lư vương. Đó là một đêm cuối tháng, trời tối đen như mực. Cũng như các
đường phố khác lúc bấy giờ, đường phố Chợ Dinh không có đèn đường. Quân
Phấn Nghĩa cầm gươm giáo, do Hường Hàn [:Hồng Hàn, con trai của Miên Dần],
Hường Chức và Hường Tế (cả ba đều trong hoàng tộc và là cháu nội Minh Mạng)
chỉ huy. Họ đến trước nhà quan đệ nhất phụ chính vào khoảng canh ba (quá
nửa đêm). Đó là một căn nhà như những ngôi nhà đến nay ta vẫn c̣n thấy
trên đường Gia Hội. Nó gồm một căn nhà trệt ba gian nằm ngoài mặt đường,
trước đây có lẽ đă dùng làm cửa hàng. Gian giữa có cửa hai cánh, mỗi cánh
xây trên [:gắn vào] một loại trụ trát vữa. Một hàng hiên bên cánh trái sân
nối liền căn nhà ấy với một căn nhà tầng kiến trúc xoàng xĩnh. Quân Phấn
Nghĩa đứng trước nhà và ngoài đường, khoảng mười tên [:viên] đến đập cửa
đùng đùng bằng chuôi vũ khí của họ. Sự ồn ào làm cả khu phố tỉnh giấc, mấy
hàng xóm tưởng là quân cướp. Có người c̣n mở cửa để thét bảo bọn [:đoàn]
người ngỡ là trộm cướp ấy rằng, đấy là nhà quan đệ nhất phụ chính, họ chớ
dại mà đụng vào. Nhưng quan phụ chính đang nghỉ trên tầng gác căn nhà bên
trong th́ không nhầm lẫn. Gia nhân không dám mở cửa, và trong phút chốc,
bọn lính đă phá cửa, v́ chỉ cần dùng lưỡi kiếm ẩy lên là cửa mở toang. Vài
tên [:viên] lính xông vào nhà, đèn trong nhà leo lét, đi đầu bọn lính là
một người trong tay chiếc tráp đỏ thường dùng để đựng sớ tấu. Bọn [:nhóm]
chỉ huy hét lên là hội đồng phụ chính mời đại nhân xuống có việc khẩn cấp.
Vị lăo thần khoác chiếc áo đen do người thiếp yêu trao cho và bước xuống,
bà thiếp đỡ bên trái. Đến giữa cầu thang, khi tay phải ông c̣n giơ lên để
chỉ cài cúc áo, nhiều tên [:viên] lính xông vào đâm ông bằng giáo. Người
thiếp có phản ứng đáng khâm phục là lao về phía trước, cố gắng bảo vệ cho
“phu quân và phu tướng” của ḿnh bằng cánh tay mảnh mai và v́ vậy, bị
thương ở tay phải. Nhưng vị lăo thần đă gục xuống thở hắt ra trong tay
người thiếp của ông mà ông đă cố t́nh giữ lại bên ḿnh để bà có mặt trong
những giây phút cuối đời.
Bọn hung thủ [:những người nghĩa phẫn] rút lui để sang làm nhiệm vụ
tàn khốc [:xử tội] của họ ở nhà Tuy Lư vương. Nhưng trong số thủ lĩnh của
bọn chúng [:họ] cũng có người c̣n ái ngại, muốn cứu vị hoàng thân dù sao
cũng là chú ruột y, nên trùng tŕnh làm cả bọn [:đội] bị trễ. Khi chúng [:họ]
đến nơi, trời đă gần sáng. Vả lại, Tuy Lư vương đă trốn trước và đi lánh
nạn ở Thuận An [trên tàu binh La Vipère do tên thực dân viễn chinh Picard
Destelan làm thuyền trưởng], như ta đă biết”
(112)
.
Đến tháng mười hai nguyệt lịch Quư mùi (đầu năm 1884), cái chết của Trần
Tiễn Thành vẫn được xác định: “Đêm ba mươi tháng mười năm [nay], trước [đây],
bị cướp giết chết”! “Lại giáng Cần chính điện đại học sĩ [quá] cố là Trần
Tiễn Thành làm Binh bộ thượng thư”, “giáng xuống hàm ấy và chiểu theo hàm
mới mà cấp tuất” (113)
.
Hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cùng nhóm chủ chiến tại
triều đ́nh đă thừa ḷng dũng cảm, sự quyết đoán, táo bạo để truất phế vua
Dục Đức, thi hành án vua Hiệp Hoà theo lệ “tam ban triều điển”
, th́
c̣n ngại ǵ không thừa nhận việc xử tội Trần Tiễn Thành, kẻ đă chủ mưu
cùng đồng bọn giết để họ, nhằm mục đích thoả hiệp với Pháp, làm tay sai
cho bọn xâm lược ấy! Rơ ràng, không nghi ngờ ǵ nữa, “bọn Hồng Ph́ mật
tâu xin bỏ cường thần, [Trần] Tiễn Thành cũng có đi lại mật với nhau. ([Trần]
Tiễn Thành đêm thường ngầm đến dinh thự Hồng Ph́ bàn kín với nhau)” (106).
Việc ǵ không thừa nhận? Thượng thư Nguyễn Văn Tường cảm thấy có một
nỗi băn khoăn nào đó về chút ân nghĩa cũ trong việc tiến cử của Trần Tiễn
Thành trước đây, mặc dù việc tiến cử ấy là nghĩa vụ, trách nhiệm, theo sắc
dụ thể hiện phương châm “tiến cử được người hiền, sẽ được thưởng hậu;
che giấu người hiền, sẽ bị giết”
?
Chỉ
một ḿnh Tôn Thất Thuyết ra lệnh hạ sát Trần Tiễn Thành? Hay chính Hồng
Hàn, Hồng Chức, Hồng Tế đă tự động, không thừa lệnh ai hết? Những thủ lĩnh
hoàng tộc thế hệ Hồng ấy đă tự giác, tự nguyện thực thi bản án tử h́nh
Trần Tiễn Thành mà trước đó mười chín năm, nhóm Hồng Tập đă tuyên án!
Hơn một tháng sau, vào hạ tuần tháng mười một Quư mùi (1883), vụ án Hiệp
Hoà và những kẻ đồng mưu vẫn được tiếp tục xét xử, theo tinh thần “luật
pháp bất vị thân”
vốn
đă thành truyền thống tốt của triều Nguyễn:
“Đến lúc đó bèn tra xét, tam vương công [Tuy Lí, Hoằng Hoá, Hải Ninh…]
xưng là nghe nhầm Hồng Tham [:Sâm], Hồng Tu (đều là con Tuy Lư vương) dẫn
đến cuồng vọng… […]… [nên từ nay ba vương, công ấy] không được tham dự
triều chính và giao thiệp với người [nước] ngoài. Hồng Tham, Hồng Tu, Hồng
Ph́ phải tội chém… […] … Sau đó, phân đặt tam công ở các tỉnh ([…] Quảng
Ngăi, […] B́nh Định, […]Phú Yên). Con cháu chư công cũng đi theo […]. Hai
con của phế đế là Ưng Hiệp, Ưng Bác cùng thị vệ là Nguyễn Duy Thiện (cháu
[bên] ngoại phế đế) nên ban rằng không nên giao giam như b́nh thường. Thời
gian sau, phát về Sơn pḥng Quảng Trị thúc khẩn” (114)
.
Tuy nhiên, vẫn nhân hậu với Hiệp Hoà:
“Gần đến ḱ tang sự phế đế, (vua [Kiến Phúc]) mệnh cho tôn thất và các
quan văn vơ ai nấy được ban tế một lần”
.
Và về vụ án người dân mượn rượu nói “quốc sự”:
“Lúc bấy giờ [thượng tuần tháng bảy nguyệt lịch Quư mùi], người xă Long
Hồ (huyện Hương Trà) là Nguyễn Văn Thịnh đi đến bến đ̣ Vạn Xuân (gần
[kinh] thành, ngoài cửa Tây nam), nhân say rượu, nói liên thanh, nói đến
việc tự tiện bỏ vua này, lập vua khác, nói nhiều câu bất tốn. Bọn [Nguyễn
Văn] Tường, [Tôn Thất] Thuyết tâu xin đem chém bêu đầu ở chỗ phạm tội. Vua
không nghe, cho đổi làm trảm giam hậu. (Sau vua [Hiệp Hoà] bị truất bỏ,
[Nguyễn] Văn Thịnh mới được [hai đại thần phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết] tha)”
(115)
.
Trong khi đó,
Dục Đức (Ưng Chân) với thê thiếp, con cái, vẫn được chỉ định cư trú trong
giới hạn quản chế, được chu cấp mọi mặt để sinh sống, học tập, tại Giảng
đường Viện Thái y.
Từ đầu hạ
tuần tháng sáu đến cuối tháng mười nguyệt lịch, nói tṛn số là bốn tháng
trời, không dài, nhưng triều Nguyễn phải trải qua đến ba vị vua: Dục Đức
(Ưng Chân), Hiệp Hoà (Hồng Dật), Kiến Phúc (Ưng Đăng)! “Tứ nguyệt tam
vương”! Dẫu có những tác dụng tích cực cho công cuộc chống thực dân Pháp,
đó cũng là một nỗi đau lịch sử. Trong giai đoạn lịch sử ấy, ư hệ bảo
hoàng vốn lại bị nhồi nhét thêm ḷng trung quân mù quáng, do đó, trong tâm
thức sĩ phu cũng diễn ra một sự giằng xé, phân thân, dao động. V́ thế, vẫn
thấy về sau có xuất hiện hai câu thất ngôn khá bảo hoàng, mê tín, ngu
trung, phản động:
“Nhất giang lưỡng
quốc nan phân thuyết
Tứ nguyệt tam vương
triệu bất tường”!
Một sông hai nước
nạn nhiều thuyết
Bốn tháng ba vua
điềm chẳng lành!
“Nhất giang lưỡng
quốc ngôn nan thuyết
Tứ nguyệt tam vương
triệu bất tường”!
Một sông hai nước,
lời – khôn [:không thể] nói
Bốn tháng ba vua,
điềm – chẳng rành [:hay]!
Hai nước một sông,
lời –
khó nói
Ba vua bốn tháng,
điềm –
không hay! (116)
Nhưng bi kịch ở đỉnh điểm mâu thuẫn c̣n bị t́nh huống đẩy đến một mức
khác. Bởi mâu thuẫn nội bộ triều đ́nh tự bản thân nó là một biểu hiện rơ
nét mâu thuẫn giữa thực dân Pháp, “tả đạo”, tay sai với những người
chủ chiến yêu nước, trung nghĩa với triều Nguyễn một cách sáng suốt, cho
nên, thật không đơn giản! Mâu thuẫn ấy chỉ được giải quyết một khi,
+++ hoặc những người tích cực chống Pháp trong triều đ́nh Huế và dân tộc
ta,
+++ hoặc “tả đạo”, tay sai và thực dân Pháp,
một
trong hai, sẽ hoàn toàn thắng thế, nghĩa là t́nh huống hoàn toàn ngă ngũ…
Đỉnh điểm mâu thuẫn khác sẽ xảy ra trong thời điểm từ tháng sáu đến tháng
chín Giáp thân (1884)…
Đỉnh điểm mâu thuẫn ở mức tột độ: cuộc Kinh đô Quật khởi hai mươi ba
tháng năm Ất dậu (05.07.1885), phát động sự bùng nổ phong trào Cần
vương…
Bi kịch cùng bản anh hùng ca dưới ngọn cờ phong kiến triều Nguyễn, từ nỗ
lực chiến đấu, cầm cự đến bại vong, phân hoá, đă và sẽ cất lên, vang vọng
suốt gần bốn mươi năm (1858 – 1896)…
Hết
tệp 10 (trọn t ập III)
Khởi viết truyện
thứ mười này vào lúc khoảng 07 giờ
ngày 01.01.2003.
Viết
đến ḍng chữ này lúc 18 giờ 05 phút,
ngày
mùng 04.01.2003 (02.12 Nh. ngọ HB.3)
tại
thành phố Hồ Chí Minh.
TRẦN
XUÂN AN
(105) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr.
240.
(106) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr.
259 – 260.
(107) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr.
253 – 254.
(108) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr.
255.
(109) Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa và chủ
nghĩa thực dân Pháp tại Việt Nam (1857 – 1914), luận án tiến sĩ tại Pháp,
bản dịch ronéo của Đại học Vạn Hạnh, Sài G̣n, 1973, tr. 31 (bức điện tín
trên được lưu trữ tại Thư khố Bộ Hải ngoại Pháp, mang kí hiệu thư khố: A
30 (58), hộp 16).
(110) ĐNTL.CB., tập 36, 1976, sđd., tr. 63
– 64.
(111) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr.
255 – 259.
(112) PCĐT. Tr.TTh., (trong đó có in lại
bài viết của Đào Duy Anh trên Tập san Những người bạn cố đô Huế [Bulletin
des amis du vieux Huế (BAVH.), linh mục Pháp Cadière làm chủ bút, số 4 –
6/ 1944], bản dịch Bùi Trần Phượng), Nxb. Thuận Hóa, 1992, sđd., tr. 77 –
79.
(113) ĐNTL.CB., tập 36, 1976, sđd., tr.
68.
(114) ĐNTL.CB., tập 36, 1976, sđd., tr. 54
– 55.
(115) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr.
219.
(116) Phan Trần Chúc có chép lại hai câu
thơ khuyết danh này trong cuốn Vua Hàm Nghi (VHN.), Nxb. Chính Kư, Hà Nội,
1951, Nxb. Thuận Hoá tái bản, 1995, tr. 52: “Nhất giang lưỡng quốc nan
phân thuyết, Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường” với bản dịch là:
“Một sông, đôi nước, khôn đường nói [Thuyết]; Bốn tháng, ba vua, điềm
chẳng lành [Tường]”. Nhà văn Thái Vũ đă chép một dị bản khác: “Nhất
giang lưỡng quốc ngôn nan thuyết”. Xin lưu ư về phép tiểu đối. Chữ
“thuyết” (nói) là động từ, do đó, chữ “tường” cũng phải là động từ, có
nghĩa là rành rẽ, hay biết. Tạm dịch nghĩa: Một sông, hai nước, lời [th́]
khó nói; Bốn tháng, ba vua, điềm [báo trước, mà] chẳng biết. Về điềm báo
trước, sử gia Quốc sử quán ghi nhận: “Ngày ất hợi, làm lễ tấn tôn tại
Đền Thái ḥa. Khi các quan đương sắp hàng lạy, có một con chim đậu trên
ngọn cây trước Đền kêu lên bốn tiếng lớn. Đến khi đọc di chiếu, lại có một
đ̣an dê đi qua cầu Kim Thủy. Người ta cho là điềm không tốt” (Quốc sử
quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu, bản dịch tiếng Việt của
Quốc sử quán, Nxb. Thuận Hóa, 1998, tr. 543 – 544). Như vậy, theo bản sưu
tầm của nhà văn Thái Vũ, phải hiểu câu thơ ấy như sau: Bốn tháng, ba vua,
điềm [báo trước là không tốt, mà nhiều người] chẳng biết. Quả là rất hàm
súc (kiệm lời, nhưng gộp được nhiều ư, kể cả ư của Quốc sử quán)! Ai bảo
thơ ca ḥ vè phản động, mê tín, ngu trung không có những câu, những bài
hay (h́nh thức nghệ thuật không điêu luyện)!?!
Chú thích xong lúc
11 giờ 17 phút,
ngày 15.01.2003
(15.01 Q. mùi, năm
thứ hai công nguyên Ḥa B́nh [:HB.3]).
TRẦN
XUÂN AN
MỤC
LỤC
(tập
III)
1.
Truyện
thứ chín: Bắc Ḱ, tưởng chừng
lặp lại.
2. Truyện thứ mười:
Bi kịch ở điểm đỉnh
mâu thuẫn và sự chiến thắng của nhóm chủ chiến yêu nước tại triều đ́nh.
Mục lục.
Danh mục sách của
tác giả
Ghi chú : So bản in vi tính với bản
xuất bản:
Đổi font từ
VNI-Times sang VNI-Centur, sửa lỗi
sắp chữ và bổ sung một vài chi tiết (như vượt thành…):
13.02.HB.4
(23.01. Giáp thân HB4).
TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN
TỪNG CHỮ, TỪNG Ư TƯỞNG CỦA M̀NH.
Hết
tệp 10
(phân đoạn
4)
– trọn
truyện kí thứ 10 –
thuộc
TẬP III bộ sách “PCĐT. NVT.”.
XIN XEM TIẾP TẬP IV
(TRỌN BỘ BỐN
TẬP)