Truyện kí thứ 11
được
chia ra làm 4 tệp
Tệp
1
– Tập IV
(phân
đoạn 1, truyện kí thứ 11)
TRẦN XUÂN AN
PHỤ
CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN
VĂN
TƯỜNG
(1824 –
1886)
truyện – sử kí –
khảo cứu tư liệu lịch sử
TẬP IV
(trọn bộ
4 tập)
bản sơ thảo hoàn chỉnh, 02.2003
bản tự nhuận sắc, 02.2004
NHÀ XUẤT BẢN VĂN NGHỆ TP. HCM.
2004
(trong bản đă xuất bản,
có gác lại một số đoạn chú thích)
THÁNG HAI
HAI KHÔNG KHÔNG
BA
THÁNG GIÊNG QUƯ
MÙI
NĂM THỨ HAI CÔNG NGUYÊN HOÀ B̀NH
TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN
TỪNG CHỮ, TỪNG Ư TƯỞNG CỦA M̀NH
TRÂN TRỌNG VÀ THÀNH THẬT BIẾT ƠN
Tác giả,
TRẦN XUÂN AN
71B Phạm Văn Hai
(Cửa hiệu Phan Huyên)
Phường 3, quận
Tân B́nh
Thành phố Hồ Chí Minh
ĐT.: [08] 8453955
& 0908 803 908
Khởi viết từ 07 giờ 30 phút, ngày 06.01.2003
(04.12 Nhâm ngọ,
năm thứ hai công nguyên Hoà B́nh);
Tạm hoàn tất tập IV vào lúc 16 giờ 14 phút,
ngày 27.01.2003 (25 tháng chạp, Nh. ngọ HB.3);
Chú thích xong
vào lúc 09 giờ kém 12 phút,
ngày 22.02.2003
(22.01 Quư mùi HB.3),
tại thành phố Hồ Chí Minh.
Xin tạ ơn ngọn bút,
biểu tượng của sự công chính và liêm khiết trí tuệ.
Xin yêu thương, trân trọng
và bảo vệ
từng ḍng chữ mồ hôi nước mắt
của chất xám và trái tim.
TXA.
PHẦN THỨ SÁU
(1883 – 1885)
TRẦN XUÂN AN
THẾ TRẬN
“TOẠ SƠN QUAN
SONG HỔ ĐẤU”
Truyện kí thứ mười một
(phân đoạn 1)
1
Hoàng tử
thứ ba Ưng Đăng đă bước vào tuổi mười bốn, xấp xỉ mười lăm, kể cả một
tuổi trong ḷng mẹ. Ưng Đăng thực sự có mặt trên đời này chín tháng mười
ngày trước ngày cất tiếng khóc ngỡ ngàng trong phút chào đời. Hôm chào
đời ấy là mùng hai Tết Nguyên đán năm Kỉ tị (1870) (1). Hoàng tử thứ ba
Ưng Đăng là con đẻ của Kiên quốc công Hồng Hợi và phủ thiếp Bùi Thị
Thanh. Thân phụ Hồng Hợi là em ruột của vua Tự Đức. Thân mẫu Bùi Thị
Thanh, nguyên quán ở làng Đồng Dương, huyện Hải Lăng, Quảng Trị. Nhưng
người nuôi nấng, bú mớm, dạy dỗ cho Ưng Đăng từ tháng giêng năm Canh ngọ
(1871), lúc hoàng tử mới lên hai tuổi ta, lại là học phi Nguyễn Văn thị
Hương (2), thứ phi của vua Tự Đức, vốn là người thuộc làng An Đức, tỉnh
Vĩnh Long, Nam Ḱ (ngụ tại xă Dương Xuân, tỉnh Thừa Thiên) (1).
Hoàng tử
Ưng Đăng “từ nhỏ đă hiểu biết sớm, ôn hoà, yên lặng, sạch sẽ, cẩn
thận lời nói và việc làm. Khi hầu cơm, khi thăm hỏi, [hoàng tử luôn luôn]
kính cẩn giữ phận làm con. Ngày thường, chỉ ưa thích sách vở, thơ văn.
Dực tông Anh hoàng đế khen ngài [Ưng Đăng] thông minh, chăm học, giống
tính vua cha [hoàng dưỡng phụ Tự Đức], tỏ ư yêu dấu khác thường. Mùa thu
năm Nhâm ngọ, Tự Đức thứ ba mươi lăm (1882), [vua cha] cho ra nhà đọc
sách ở bên tả Duyệt thị đường, đặt tên nhà ấy là Dưỡng thiện đường. Sau
lúc [Ưng Đăng] rảnh rang sử sách, vua cha lại sai đem các chương tấu ở
các nha thuộc các Bộ mà cắt nghĩa, giảng giải để [hoàng tử thứ ba] tập
xem cho quen” (3) .
V́ “tư
trời thông tuệ, tính nết nguyên lương; dạy lấy điều lành, tiên đế
đă định ḷng kén chọn” (4) , cho nên,
việc lập Ưng Đăng lên ngôi lúc gần mười lăm tuổi không phải là một việc
đáng ngạc nhiên đối với phần lớn đ́nh thần, hoàng tộc. Người ta thấy như
vậy là hợp lẽ hơn, hoàn toàn đúng theo ẩn ư của vua Tự Đức trong di
chiếu và di chúc.
Lúc trời
chưa kịp rạng đông ngày ba mươi tháng mười một Quư mùi (1883), khi rước
hoàng tử Ưng Đăng từ Khiêm lăng về Điện Tịch điền quan canh, hai đại
thần phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và đa số triều thần,
hoàng thân đă bái yết, nói rơ việc nghinh lập.
Hoàng tử
Ưng Đăng, đă là vua nối ngôi, khiêm tốn nói:
- “Ta
c̣n non trẻ, sợ không cam nổi công việc” (5)
!
Hai đại
thần phụ chính, một vị tâu trước, một vị lặp lại y như thế, để tỏ sự
đồng tâm nhất trí giữa hai người:
- “Đó
là ư của tiên đế [Tự Đức], nay là mệnh trời. Xin nghĩ lấy tôn miếu, xă
tắc làm trọng” (5) .
Ngày mậu
dần mùng một, tháng mười một nguyệt lịch, Quư mùi (1883), vua nối ngôi
Ưng Đăng (c̣n có tên là Ưng Hỗ), đến Điện Cần Chính, lạy nhận tỉ ngọc ấn
vàng truyền quốc. Bấy giờ, mũ cửu long, áo bào vàng, đai ngọc chưa kịp
chế xong, vua nối ngôi Ưng Đăng, chỉ mặc áo thêu h́nh con măng (6).
Hai hôm sau,
Ưng Đăng chính thức được tôn lên ngôi hoàng đế Đại Nam, lấy niên hiệu là
Kiến Phúc (6).
Trong đoạn
mở đầu ân chiếu lúc đăng quang, có đoạn:
“Đă theo
ư chỉ của Từ Dụ thái hoàng thái hậu chuẩn cho Lăng quốc công [Hồng Dật]
lên nối ngôi [lấy niên hiệu Hiệp Hoà], v́ lúc này nhiều việc, nước cần
có vua lớn tuổi, mới có thể gánh vác được. Ngờ đâu mới được bốn tháng, [Hiệp
Hoà] đă làm nhiều điều lầm trái. Nay hoàng thân, vương công, Tôn nhân
phủ, phụ chính đại thần và văn vơ trăm quam đồng thanh đem việc tâu lên,
cho rằng trẫm là con nhỏ của tiên hoàng đế, xin nối ngôi để giữ mối lớn,
kính vâng [theo] ư chỉ [Từ Dũ thái hoàng thái hậu] y cho” (6)
.
Cũng trong
những ngày “trước đây, hoàng thân, tôn nhân, đ́nh thần tâu nói:
“Hiện nay công việc nặng nề, khó nhọc, tự quân tuổi nhỏ lên ngôi, cần có
những bậc thân thần trọng hâïu, lăo luyện giúp đỡ, mới mong trọn vẹn””
(7) . Thân thần là những vị quan
vốn thuộc hoàng tộc trong đế hệ (được đặt tên theo Đế hệ thi). Do đó,
“hữu tôn nhân ở Phủ Tôn nhân Gia Hưng quận vương là Hồng Hưu sung làm
phụ chánh đại thần [phụ chánh thân đại thần]” (7)
.
Và “các
nha ở Bộ, Các, từ nay đi, phải có mảnh giấy tâu […].Trước phải tâu bày
với phụ chính thân thần Gia Hưng quận vương là Hồng Hưu và phụ chính đại
thần kiêm sung Cơ mật viện đại thần, thái tử thái phó, thự Văn minh điện
đại học sĩ, lănh Hộ bộ thượng thư, tước Ḱ Vĩ hầu Nguyễn Văn Tường, điện
tiền tướng quân, hiệp biện đại học sĩ, lănh Lại bộ thượng thư, tước Vệ
Chính bá Tôn Thất Thuyết vâng duyệt rồi sau sẽ tâu lên vua. Đó là kính
theo lệ cũ của Dực tông Anh hoàng đế [Tự Đức] khi mới lên ngôi, chuẩn y
cho làm” (7) .
Theo thông
lệ, một loạt quan chức trong kinh, ngoài tỉnh được thăng thưởng sau lễ
đăng quang. Các quan phụ chính cũng thế. Phụ chính đại thần Nguyễn Văn
Tường phải kiêm quản thêm chức trách ở Khâm thiên giám, kiêm Quốc sử
quán tổng tài (8). Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết chuyển sang lănh
thượng thư Bộ Binh. Phụ chính thân đại thần Hồng Hưu thăng lên “nhất tự
vương” (một chữ “vương”) , tước cao nhất
trong hoàng tộc, gọi là Gia Hưng vương. Nhưng hai phụ chính Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết xin trả lại tước hàm do Hiệp Hoà phong thăng (8).
Về việc sắp
xếp lại hoặc giữ nguyên nhân sự, trong nhiều vị quan thuộc trường hợp
thứ hai này, có “hồng lô tự khanh, biện lí Bộ Hộ đi sang các nước
Phương Đông về, là Nguyễn Thượng Phiên, vẫn làm biện lí như cũ” (9)
.
Cuộc đảo
chính do lực lượng chủ chiến tiến hành đă hoàn toàn thành công!
Trong việc
phế truất, nghinh lập, Ông Ích Khiêm được xác định là người có công lao
lớn nhất, trong ba mươi chín (39) vị quan trực tiếp tiến hành (10). Ông
được phong tước nam (nam tước), chuyển sang làm ở Bộ Binh với hàm thị
lang, được thưởng huy chương “Long vân khế hội” hạng nhất, một đồng tiền
vàng với dải đeo. Theo thứ tự, sau Ông Ích Khiêm là Chu Đ́nh Kế, Tôn
Thất Phan, Hoàng Hữu Thường, Nguyễn Hổ, Tôn Thất Triệt, Lê Đại, Trương
Văn Đễ, Nguyễn [Thượng] Phiên, Tạ Thúc Đĩnh,… Tôn Thất Lương Thành,… Hồ
Lệ,… Tôn Thất Thế,… Nguyễn Hanh, Hồ [Văn] Hiển, Đinh Tử Lượng, Vũ Văn
Đức, Nguyễn Hữu Ngoạn, Trần Xuân Soạn,… Tôn Thất Trang,… Tống Phúc Hiệp,…
(10).
Riêng về
học phi Nguyễn Văn thị Hương, vốn là dưỡng mẫu của vua Kiến Phúc, chiểu
theo tiền lệ phong sắc cho thân mẫu vua Hiệp Hoà, được phong làm hoàng
thái phi. Đây là một lệ định trước đây đ́nh thần, tôn nhân đă nghiên cứu
kĩ trong sách sử, điển lệ xưa nay (11). Từ Dũ thái hoàng thái hậu chuẩn
y (11).
Công việc
có tính chất nghi lễ để xác định tính hợp hiến và tính chính thống của
vua nối ngôi Kiến Phúc đă hoàn tất trong vài hôm, v́ t́nh h́nh Bắc Ḱ
đang lúc cấp bách. Tuy thế, vẫn không thiếu vẻ trang trọng. Việc tôn lập
này không một ai có thể nói là có một chút nào lạm quyền, chuyên quyền.
Đặc biệt nhất là với cơ chế phụ chính được xác lập, hai đại thần Nguyễn
Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cũng không thể bị một ai cho là quyền thần
độc đoán.
Một động
tác ngoại giao cũng được thực hiện, là vị vua trẻ đă “chuẩn cho Ti
Thương bạc trong Cơ mật viện đem việc lễ đăng quang đă xong, viết thư
báo cho công sứ Pháp là Săm Bô (De Champeaux) để ông ta chuyển [thông]
tư cho Suư phủ của Pháp ở Gia Định, báo cáo về quốc trưởng nước Pháp”
(12) . De Champeaux điên tiết,
lồng lộn trong cơn tức giận, v́ y và những tên thực dân chóp bu tại Pháp
bị hai quan phụ chính Đại Nam đặt trước một sự đă rồi!
2
Bấy giờ, từ
sau khi Thuận An bị thất thủ, thực dân Pháp hoàn toàn phong bế cửa ngơ
kinh đô. Chúng thường xuyên đỗ tại đó hai, ba chiếc thuyền binh với ba
ngàn bốn trăm (3.400) tên lính viễn chinh (13). Bọn pháp quyết không
cho một chiếc thuyền buôn nước ngoài nào được ra vào (13). Những chiếc
thuyền đồng của ta đỗ ở Đà Nẵng, Quảng Nam, chúng cũng ngang ngược tước
lấy máy móc, vũ khí (13)! Thực dân Pháp c̣n cho tàu binh của chúng tuần
tiễu khắp các hải phận Nam – Bắc, v́ chúng sợ bất thần tàu chiến của ta
và của quân Thanh tấn công, giải toả.
V́ bị giặc
Pháp ngăn sông cấm biển như thế, nên có lệnh dụ Phủ Thừa Thiên phải nộp
nguyên định mức thóc thay v́ chiết nộp từng đợt, các tỉnh trực ḱ cũng
phải điều hoà lương thực cho nhau (14). Không c̣n cách nào khác, v́ tàu
thuyền đều bị cấm vận!
Mặt khác,
quan ở bộ phận Thương bạc thuộc Viện Cơ mật phải qua gặp De Champeaux để
thương thuyết, đề nghị nới lỏng sự cấm vận cho tàu thuyền treo cờ hiệu
nước ta (13)! Thật là cay đắng và căm phẫn!
Triều đ́nh
lại phải tiến hành nghị xử các quan đă can tội thất thủ thành luỹ từ mùa
xuân năm Nhâm ngọ (1882) đến mùa thu năm nay (1883). Đó là các thành Hà
Nội, Nam Định, Hải Dương, Thuận An, Hải Pḥng. Theo đ́nh nghị và đă được
chuẩn y: “Đều được gia ơn khoan giảm có thứ bậc. V́ cớ lần ấy đường
lối chiến hay hoà chưa xác định, t́nh h́nh diễn biến quá bất ngờ, việc
pḥng thủ có khó khăn, nên đặc ân giảm tội đến mức thấp nhất” (15)
. Trong đó, đa số đều được giảm ở mức cách chức, cho đi
hiệu lực (làm việc chuộc tội), chỉ mỗi một Phan Văn Tuyển, nguyên bố
chánh Hà Nội, “lần ấy bỏ thành trốn trước” (15)
, phải bị cách chức về làm dân thường, chịu sai dịch (sẽ
được khai phục cử nhân). Riêng tổng đốc Hà – Ninh Hoàng Diệu, đă tử tiết
cùng thành, “chuẩn cho giữ nguyên chức hàm, lại cho chép ngay vào sổ
ghi [ở] những đền thờ người trung nghĩa để biểu dương” (15)
.
Đúng như
năm kia, thượng thư Nguyễn Văn Tường đă nói cùng nguyên hiệp đốc Tôn
Thất Thuyết (lúc ông chưa được vua Tự Đức bổ nhiệm làm thự thượng thư Bộ
Binh), trong thời gian hơn một năm cuối đời của vua Tự Đức đến khi Hiệp
Hoà lên ngôi vua trong bốn tháng, hai vị vua này đều không dứt khoát
chiến hay hoà! Quả thật, trong thời gian gay go đầy thử thách đó, “đường
lối chiến hay hoà chưa xác định” (15) !
Một trong
những nguyên nhân là nhà Thanh cũng không quyết tâm đánh giúp, viện trợ
cho quân binh ta!
Khi hồng lô
tự khanh, biện lí Bộ Hộ Nguyễn Thượng Phiên được cử sang Quảng Đông và
các nước Phương Đông về, t́nh h́nh thương thuyết giữa Trung Hoa với Pháp
đă được ông báo cáo khá tỉ mỉ. Nhờ đó, cộng với những thông tin Viện Cơ
mật thu thập được, hai phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nắm
chắc hơn vấn đề, để cùng đi đến một quyết sách.
Chính tên
bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp Pothuau đă viết thư cho tên bộ
trưởng Bộ Ngoại giao Pháp, từ ngày 30.12.1882:
“T́nh
h́nh của chúng ta ở Bắc Ḱ sinh ra nhiều việc lo âu cho hai bộ chúng ta,
và đă nhiều lần chúng ta cùng nhau than phiền rằng, hoà ước 1874 [Giáp
tuất] thiếu sự rơ ràng và nó lại khiếm khuyết nữa. Thực vậy, về phần ta,
th́ hoà ước này bao hàm phần lớn các nhiệm vụ mà một nước đi “bảo hộ”
phải đảm nhận, nhưng nó không bao hàm một quyền lợi nào cả. Nước An Nam
có quyền đ̣i ta giúp sức chống nội hoạ hay ngoại hoạ nào nguy hại cho
chủ quyền nó, nhưng đối với các nước khác th́ chúng ta không thể căn cứ
vào vai tṛ của ta để đ̣i hỏi cái quyền có một ưu thế trong chính trị,
ngoại giao” (16) .
“Tôi có
cần phải nói không, t́nh h́nh này là do cái hoà ước 1874 [Giáp tuất]!
Hoà ước này rơ ràng được thảo ra với ư định thành lập quyền đô hộ của ta
trên xứ Bắc Ḱ, nhưng nó không nói đến chữ đô hộ. V́ vậy mà, thực ra,
những người đại diện của ta, dù có quân đội ủng hộ, họ không phải đại
diện của một quyền đô hộ mặc dù họ có làm một phần việc ấy, cũng không
phải là đại diện lănh sự, bởi v́ họ không có quyền tài phán” (16)
.
“Hoà” ước
Giáp tuất 1874 đối với thực dân Pháp và các tên “tả đạo” là cả
một nỗi đau ḷng, và càng ngày chúng càng thấy rơ là không thể vin vào
đâu trong “hoà” ước ấy để bắt ép Đại Nam trong khi ḷng tham lam của
chúng không hề giảm bớt!
Khi thực
dân Pháp quyết định phải dùng bạo lực để làm sức ép, chính thượng thư
Nguyễn Văn Tường đă phá vỡ thế cấm vận ngoại giao của Pháp, bằng cách
tiếp xúc với Đường Đ́nh Canh (Chiêu thương cục) (17), với hướng mở sang
Trung Hoa và các nước châu Âu (nhiệm vụ của đoàn khâm sai do Phạm Thận
Duật dẫn đầu), mở sang các nước Phương Đông (nhiệm vụ của khâm phái
Nguyễn Thượng Phiên) (17).
Bộ trưởng
Ngoại giao Pháp gửi bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa Pháp Jauréguiberry,
ngày 26.09.1882:
“Hồi đầu
tháng bảy, chính phủ Nam Ḱ (Pháp) có lúc tưởng rằng đă có thể vượt qua
những khó khăn hiện tại. Triều đ́nh Huế, có một lúc có giận dữ v́ ta lấy
Hà Nội, nay đă có thái độ hoà nhượng hơn, và ta tin rằng họ có thể kí
một hoà ước phụ thuộc cho hoà ước 1874 [Giáp tuất], cương quyết hơn và
rơ ràng hơn, đặt nước An Nam dưới sự bảo hộ của ta, trong những điều
kiện na ná với xứ Tunysie. Th́nh ĺnh, một chuyển hướng xảy ra trong
trí của những cố vấn vua Tự Đức, họ tuyệt đối không nhận những đề
nghị của ta nữa. Cũng như ngài, tôi nghĩ rằng sở dĩ như thế là v́ ảnh
hưởng của Trung Quốc… Cho nên cũng như ngài, tôi đồng ư là chính phủ
Pháp phải có một thái độ cương quyết và quyết định để phá những mưu mô
có thể đem lại những kết quả tai hại. Vả lại, từ lúc cuộc viễn chinh này
bắt đầu th́ bản bộ [Ngoại giao Pháp] đă theo một đường lối giống hẳn như
đường lối bây giờ” (18) .
Sứ thần Tăng Kỷ Trạch nhà Thanh cũng được lệnh đấu tranh với Pháp
tại châu Âu, sau khi thượng thư Nguyễn Văn Tường tiếp xúc với Đường Đ́nh
Canh, gửi thư cho Lư Hồng Chương, Tăng Quốc Thuyên, đề đạt lên vua Quang
Tự (17).
Biên bản thương nghị giữa Lư Hồng Chương và Bourée ở Thiên Tân
ngày 27.11.1882 ghi rơ lời họ Lư:
“Chúng tôi có thể nào tuyên bố rằng: Một mặt Trung Quốc thừa nhận chủ
quyền của nước Pháp tại Việt Nam ở nơi nào mà Pháp có chủ quyền ấy rồi,
nghĩa là ở Sài G̣n và sáu tỉnh [Nam Ḱ]; mặt khác th́ Pháp thừa nhận
quyền bảo hộ (suzenaineté) của Trung Quốc ở phần Việt Nam c̣n lại, rồi
cả hai đều cùng nhau đô hộ chăng? Một lời tuyên bố như thế sẽ được quảng
cáo rộng răi nhất, như thế danh nghĩa của chúng tôi được bảo vệ mà quyền
lợi của các ông không tổn thất ǵ cả” (19)
!
“Chúng ta chắc chắn sẽ giàn xếp với nhau được và tôi sẽ nhờ Tổng
lí nha môn gấp rút ra một chỉ thị để rút quân của chúng tôi về” (19)
.
Ngày 15.01.1883, Henry Rivière gửi thư cho Rheinart:
“Ông Bourée mà Bắc Kinh và Paris đều thừa nhận ư kiến, đương làm một
hoà ước rất ngu ngốc. Theo hoà ước đó th́ cả “Bắc Ḱ gạo” sẽ về tay ta,
c̣n cả “Bắc Ḱ mỏ” th́ về tay Trung Quốc…” (20)
.
“Nếu
quả người ta đă bỏ cả vùng mỏ th́ thật là đáng tiếc…” (20)
.
Rheinart viết cho Henry Rivière, ngày 09.02.1883:
“Dù sao đi nữa, nếu chúng ta muốn chộp lấy cơ hội cuối cùng để làm chủ
mỏ than th́ chúng ta phải làm mau, không để mất th́ giờ. Có lẽ cần phải
hỏi ư kiến Paris, nhưng thư từ lâu lắc quá mà chắc là trong một tháng
hay sáu tuần [Tây lịch] th́ mỏ Ḥn Gai sẽ bị giao [cho Trung Quốc] rồi…”
(21)
.
Và sự thật về Đường Cảnh Tùng? Chính Đường Cảnh Tùng đă thuyết
phục Lưu Vĩnh Phúc:
“Vua Việt thế thua, vận suy, địa phương rối loạn… Ông có thể nhân thời
cơ ấy đem số quân Việt Nam giết hết đi, tức là lên ngôi cửu ngũ, sao mà
không được? Đường [Cảnh Tùng] mỗ đây thấy thời không thể bỏ lỡ, xin đặc
biệt giúp ông, ấn tín đă dự bị sẵn cả. Ông nên đi trước hành sự, không
thể bỏ lỡ cơ hội tốt. Người xưa nói “thức thời vụ là hào kiệt” (22)
.
Lưu Vĩnh Phúc không đồng t́nh với âm mưu đốn mạt ấy. Đường Cảnh
Tùng nói tiếp, rằng Lưu không thuận theo như thế th́
y không dám về phụng mạng “thiên triều” (22)!
Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường rất buồn ḷng khi ngày càng
hiểu rơ Đất nước đang phải đối đầu trước hai thế lực Trung Hoa và Pháp,
cả hai đều muốn xâu xé Đại Nam ta! Liên minh với Trung Hoa trước sự xâm
lăng cuồng bạo của Pháp, nước ta những muốn bước đầu thiết lập liên minh
với các nước Phương Đông trước sự xâm lấn của Phương Tây, ngờ đâu ḷng
dạ Trung Hoa bành trướng mấy ngh́n năm vẫn không thay đổi! Từ năm kia,
thượng thư Nguyễn Văn Tường đă nói với nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết
rằng, Đại Nam ta chân thành thiết lập sự liên minh với Trung Hoa và các
nước Phương Đông; nếu Trung Hoa giúp Đại Nam một cách trong sáng, lịch
sử sẽ măi ghi đậm công đức ấy, nhưng nếu Trung Hoa có ḷng dạ nào, th́
Đại Nam phải thoát khỏi hai gọng kềm lịch sử, một bên là Pháp, một bên
là Hoa, để giữ thế trung lập, và thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu” sẽ
phải bắt đầu!
Họp xong cuộc họp Viện Cơ mật – Thương bạc, hai quan phụ chính
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết tâu lên vua, sau
khi Hồng Hưu duyệt y. Dụ triệt thoái quân binh Bắc Ḱ, rút về
bảo vệ kinh đô được ban ra, trong bối cảnh đau ḷng ấy:
“… Nước Thanh ban đầu, từ sau khi quân Pháp đánh thành Chiêm Hà [Hà Nội
và Chèm], họ lần lượt phái doanh đoàn đến đóng đồn ở các tỉnh biên giới
ven nội địa và hai tỉnh Sơn (Tây), Bắc (Giang), tuy nói rằng để làm
thanh viện cho lực lượng ta ở Bắc Ḱ, nhưng ḱ thực là để tự bảo vệ vững
phên giậu của họ thôi…” (23)
.
Viện – Bạc do phụ chính Nguyễn Văn Tường đứng đầu cho rằng:
“Nước ta ở giữa hai nước lớn, đối với nhà Thanh th́ là kẻ “phiên phục”
ngàn năm, theo nghĩa không nên đoạn tuyệt, mà đối với nước Pháp th́ lại
là nước xa lửa gần, thế buộc không đừng được. Chi bằng cứ đứng trung lập,
đợi hai nước hành động thôi” (23)
.
Pháp đă đơn phương xé bỏ “hoà” ước Giáp tuất 1874, dùng bạo lực
đánh chiếm Hà Nội, Nam Định và cả cửa biển Thuận An, và đơn phương dự
thảo hàng ước Quư mùi 1883! Hiệp Hoà, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Trọng Hợp,
đă triệt để “chấp
hành” với quan điểm chủ “hoà” vị kỉ! Và Trần Đ́nh Túc,
vốn hưu trí, cũng đă quyết định một phần nào đó. Một điều hết sức
khó khăn cho triều đ́nh Đại Nam lúc này là thực dân Pháp nay chỉ vin vào
“hoà” ước Quư mùi 1883 để bắt chẹt phải rút quân nước ta khỏi các cứ
điểm pḥng thủ xung yếu, khỏi các vị trí chiến đấu lợi hại!
Harmand từ Bắc Ḱ gửi văn thư vào cho De Cham-peaux, để y thương
thuyết với triều đ́nh. De Champeaux nói, “nước
[Pháp] ấy định đánh quân Thanh, xin chỉ thị rơ cho cho quan nước ta
không được phép thông lưng với quân nước Thanh. Nếu kẻ nào lưu lại giúp
đỡ quân Thanh phải coi là trái mệnh triều đ́nh” (24)
. De
Champeaux c̣n liệt kê một danh sách những
quan ta cần triệt hồi (24)! Y đ̣i công khai cách chức những vị quan
chống Pháp ấy (24)! Mặt khác, khâm sai đại thần Nguyễn Trọng Hợp lại tâu
vào: “Chấp
nhận tai hoạ, nên chọn cái nào nhẹ” (24)
, và
“xin triệu bọn Hoàng Tá Viêm về kinh để cho quan Pháp tự lo liệu, ngơ
hầu đỡ sinh sự ra” (24)
!
Trước t́nh h́nh đó, Viện – Bạc do phụ chính Nguyễn Văn Tường đứng
đầu, tâu: “Xin cứ giữ lí của ḿnh, trả lời bác [bỏ] đ̣i
hỏi của họ [Pháp], mà lại triệt hồi bọn Hoàng Tá Viêm để chặn lời nói
của người ta [Pháp]” (24)
, đồng
thời, viện dẫn
“chỉ
là quan giữ đất” (24), “đă triệt thoái về tỉnh Sơn [Tây]” (24)
để tâu
bày: “Nay
nếu đem hai viên quan đó [Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản] kết tội là
trái mệnh lệnh triều đ́nh và yết cáo cách chức th́ thật là phi lí trái
t́nh. Xin nắm lấy lí đó mà phúc đáp cho họ” (24); “Nếu [lược bỏ hai chữ:
“thế th́”] đem các viên quan đóng quân ở đó mà cách chức th́ sợ không
lấy ǵ để thoả măn ḷng người. Chỉ có quư sứ lấy làm điều, nhắc đi nhắc
lại nhiều lần thôi” (24)
!
Trong t́nh huống ấy, phải cứng rắn trong vẻ mềm mỏng chứ không c̣n
cách nào khác. Dẫu sao, không thể không bảo vệ các quan chức trọng yếu,
có tinh thần chống Pháp nhất của nước ta! Dẫu sao dụ triệt thoái ấy cũng
chỉ là một thủ thuật chính trị, một thủ thuật đơn thuần là h́nh thức để
đối phó.
Dụ triệt thoái quan binh Bắc Ḱ ngay sau khi vua Kiến Phúc lên
ngôi được ban bố trong bối cảnh ngặt nghèo đó. Một nguyên nhân khác, là
để vuốt ve tự ái của thực dân Pháp, sau khi
lực lượng chủ chiến đă tiến hành đảo chính (truất phế, tử h́nh bè lũ
thân Pháp) thành công, Pháp không giở được một động tác nào để cứu được
Hiệp Hoà, Trần Tiễn Thành,
như De Champeaux đă cam kết trước đó!
(Trong thực tế, măi đến những tháng sau, khi t́nh h́nh đă đến mức
Sơn Tây, Bắc Giang, Hưng Hoá thất thủ bởi quân Pháp, các quan ấy mới
thật sự về kinh hoặc nạp ấn, trả chức, nhận ấn quân Thanh, tiếp tục
kháng Pháp, hoặc bỏ đi nơi khác).
3
Không phải trước đây hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết không nắm được t́nh h́nh Bắc Ḱ, nhất là Ninh B́nh, mặc dù “ở
xă Phát Diệm trong hạt ấy có viên giáo mục [linh mục] Trần Lục thông mưu
với sứ Pháp. Y chiêu mộ nhiều giáo dân và hàng ngh́n tên vô lại, nhiều
lần ra chặn bắt dịch phu để cướp lấy công văn. Các quan trú quân tại các
tỉnh đều phải theo đường qua phủ Nho Quan mà đệ công văn về” (25)
.
Hai phụ chính vẫn rất rơ tội ác của Harmand và Trần Lục cùng các tên
công sứ Pháp khác. Đến lúc này, họ càng rơ hơn nhiều chi tiết. Ở Ninh
B́nh, thành mới An Khánh, “thuốc
súng và tiền thóc, vải vóc cùng với sổ sách, giấy tờ đều bị thu hồi. Các
kho tàng của tỉnh ấy đều bị canh giữ nghiêm ngặt, không cho chi phát. [Pháp]
lại sức cho dân phải khai nộp sổ đinh, sổ điền. Nơi nào nộp không kịp
th́ họ bắt viên tri phủ ra đánh, phạt roi, đ̣i thu thuế của dân. Tiền
bạc trong kho đều bị họ thu giữ lấy. Có khi họ lại đem viên bố chính
tỉnh đó ra núi Dục Thuư mà trói, có khi đem viên phó lănh và nhân viên,
lính hầu mà giam lại. Họ [:bọn Pháp] ngày càng thêm ngang ngược. Quan
tuần phủ ở đó (bố chính, hộ lí) là Tôn Thất Uư thấy không thể cộng tác
với họ được, lại nhân v́ đường dịch trạm bị nghẽn tắc [do tên linh mục
Trần Lục], bèn mật tâu, xin cùng với chánh phó lănh binh thừa cơ trốn
ra ngoài [thành] ở với dân, và t́m cách đặt trạm tạm thời để tiện đệ
tŕnh về [triều đ́nh]” (25)
. Thế
rồi, các quan tỉnh phải bỏ đi, đem theo tất cả ấn tín, chỉ một ḿnh án
sát Phạm Hy Lượng bị ốm, c̣n nằm lại trong thành, không có ǵ, kể cả
khuôn dấu án sát (25)!
Sau khi cửa biển Thuận An, cửa ngơ kinh đô Huế thất thủ, hàng
ước Quư mùi (1883) vừa kí kết, lực lượng phản quốc “tả đạo”
lại công khai lộ mặt tiếp tay cho bọn thực dân viễn chinh Pháp, như hồi
Quư dậu 1873!
Ninh B́nh cũng đă mất vào tay giặc Pháp và “tả đạo”!
4
Tháng mười một nguyệt lịch Quư dậu (1883), vẫn đang c̣n trong năm
thứ ba mươi sáu thuộc niên hiệu Tự Đức. Hai quan phụ chính Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết lại bàn với Hồng Hưu, đ́nh thần, và tâu lên vua
về việc Đại Nam vẫn quyết giữ mối quan hệ với nhà Thanh để tạo thế ngoại
giao đối
trọng, để tiếp tục thúc đẩy sự bùng nổ thế trận “toạ sơn quan song hổ
đấu”
, nếu Pháp
không bỏ tham vọng xâm lược Bắc
Ḱ, đ̣i “bảo hộ” cả Trung Ḱ một cách điên cuồng.
“Lấy
viên hộ lí tuần phủ xứ Lạng – B́nh Lă Xuân Oai sung chức hầu mệnh chánh
sứ. Án sát sứ Lạng Sơn Hoàng Xuân Phùng làm phó. Lại xin đợi khi nào
đường thuỷ, đường bộ đều thông mới sai cống sứ sang” (26)
. Nhưng rất tiếc, thực dân Pháp vẫn quyết phá quan hệ ngoại giao của ta.
“Sau đó, v́ quan Pháp đ̣i ta tuyệt giao với nước Thanh nên không sai sứ
đi nữa” (26)
!
Không sai sứ đi nữa th́ lại có cách khác!
Lúc này, tại kinh đô, đại lễ ở Đinh lăng, thượng thư Nguyễn Văn
Tường lưu lại ở triều lo tuần kiểm, thượng thư Tôn Thất Thuyết lên lăng
sung vào việc táng nghi thị hầu (27). Đại lễ vừa xong, tin về Sơn Tây
lại bay trên lưng ngựa trạm vào kinh.
Trước đây, tên toàn quyền Harmand bị tên thiếu tướng Bouet bất
b́nh, v́ Harmand giải tán lính Cờ vàng do Bouet chiêu mộ, lập ra tính
tuần cảnh “khố xanh”. Do việc Harmand xâm lấn quyền hành vào quân đội ấy,
Bouet xin về Pháp, bàn giao lại binh quyền cho tên đại tá Bichot (28).
Chính tên Bichot này đă được tên Trần Lục và giáo dân “tả đạo” phản quốc
hỗ trợ, lại có thêm quân Pháp ở Sài G̣n ra chi viện, y đă đánh chiếm
Ninh B́nh (28). Khoảng ngày hai mươi lăm, cuối tháng chín nguyệt lịch,
Quư mùi (1883), tên thiếu tướng Courbet được bọn cầm quyền ở Pháp chỉ
định làm thống đốc quân vụ, kiêm toàn quyền ở Bắc Ḱ, và Harmand phải về
Pháp (28). Courbet cũng đă phải đương đầu với vụ quân ta về đánh Hải
Dương, đốt cả phố xá ở đấy (28).
Bây giờ, tên thiếu tướng hải quân Courbet này lại rắp tâm đánh
thành Sơn!
Pháp đă nhiều lần tấn công thành Sơn Tây, nhưng lần nào chúng cũng
bị đẩy lùi. Chúng thừa biết đấy là cứ điểm trọng yếu, đánh vào đấy là
rúng động toàn Bắc Ḱ, nhưng lâu nay vẫn chưa một lần đánh thắng mà chỉ
chuốc lấy bại trận. Lần này, Pháp tập trung một lực lượng quân lính và
vũ khí, phương tiện hành quân lớn chưa từng có. Về quân số, chúng tập
trung đến bảy ngàn (7.000) tên (29), trong đó, ngoài số lính Pháp viễn
chinh, c̣n “có lính Ả Rập, tức là nước mỏm đầu châu
Phi, bọn lính thú [gồm] có bọn lính Sài G̣n, tức là giám binh thuộc Nam
Ḱ lục tỉnh [đa số là bị cưỡng bức cầm súng cho Pháp], lại có lính mộ ma
tà, tức là bọn vô lại giáo dân theo mộ” (29)
. Về tàu
thuyền, số lượng đến mười lăm chiếc
(mỗi chiếc đều có thêm lính mới mộ và phu tải), những thuyền buôn chúng
thuê hoặc cưỡng bức áp tải quân nhu, lương thực (29)… Về chiến xa có đại
bác, lên đến vài trăm chiếc (29). Tất cả binh lính của Pháp đều được
trang bị súng đạn, không cầm cờ, không dùng vũ khí thô sơ như giáo nhọn
(29). So với trước đây, quân đội Pháp đă hiện đại hoá hơn một mức.
Bọn Pháp xuất phát từ Hà Nội, tiến lên Sơn Tây bằng hai đường thuỷ
và bộ. Đến ngày mười bốn tháng mười một nguyệt lịch, chúng lên tới, tiến
sát vào thành Sơn Tây.
Đề đốc Tam Tuyên Lưu Vĩnh Phúc, Đoàn Dũng, thống lănh doanh quân
nhà Thanh Đường Cảnh Tùng, đốc đái quân Thanh Trương Vĩnh Thanh ra khỏi
thành nghênh chiến. Quân thuỷ, quân bộ Pháp dựa vào nhau, tiến đến ngoài
đê tỉnh thành Sơn Tây, tại các làng Phù Xa, Phù Nhi (29).
Trận đánh đầu tiên nổ ra từ giờ măo (05 – 07 giờ sáng) đến giờ dậu
(17 – 19 giờ tối). Những đợt tấn công, đẩy lùi dă diễn ra suốt trận đánh
hôm ấy. Quân Thanh thắng nhiều đợt, bắn chết hơn ba trăm (300) tên giặc,
thu được súng cầm tay, cả đại bác. Đến tối, quân Pháp mạo hiểm chiếm
đóng tại hai làng trên, quân Thanh cũng cũng thu quân, giữ chắc La Thành
(29).
Đêm ấy đến sáng, Pháp cố đánh vào cửa bắc La Thành, chỗ giáp sông.
Quân doanh đoàn bắn ra, giặc chết la liệt (29).
Ngày mười sáu nguyệt lịch, hai bên cứ nổ súng giằng co (29).
Ngày mười bảy nguyệt lịch, quân Pháp tập trung binh lực đánh vào
các cửa phía bắc thành. Đại bác thuỷ, đại bác bộ cũng bắn yểm trợ và nă
vào trong thành. Doanh đoàn cùng lính giữ thành bên trong bị thương vong
khá nhiều. Giờ thân, gần hoàng hôn, một đội quân của tướng họ Lưu vượt
thành tiếp chiến. Chạm súng hồi lâu, quân Pháp rút lui vài dặm. Đến giờ
dậu, trời đă tối đen, Pháp lại quyết liệt tấn công mặt bắc thành, quân
lính sợ hăi phá vỡ cửa thành mà thoát ra! Quân doanh bị vỡ! Đường Cảnh
Tùng, Lưu Vĩnh Phúc, và cả các quan ta như tổng đốc Nguyễn Đ́nh Nhuận,
cố ngăn cản quân bên ta lại vẫn không được. Pháp thừa thế trèo lên thành
(29).
Sớm ngày mười tám nguyệt lịch (17.12.1883), Pháp chiếm được thành
Sơn Tây!
Quân Thanh, quân Lưu Vĩnh Phúc và Đoàn Dũng rút về Hưng Hoá (tuần
phủ là Nguyễn Quang Bích). Quân Đại Nam ta dưới quyền thống đốc Hoàng Tá
Viêm và các quan như Lương Tư Thứ phải đóng ngoài La Thành, lại chỉnh
đốn đội ngũ, luyện binh, sau đó về đóng tại Thục Luyện (29).
Quân Thanh đang chờ quân của tuần phủ Quảng Tây nhà Thanh Từ Diên
Húc tăng viện.
Hoàng Tá Viêm cùng các tướng nhà Thanh bàn định lại việc phân bố
chỗ đóng quân. Ông chuyển quân về Bắc Ninh. Tại đấy, ông viết tập tâu đệ
tŕnh vào kinh đô, xin nhận tội. “Vua
[Kiến Phúc] theo lời bàn bạc của Viện Cơ mật [chỉ gồm hai đại thần phụ
chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] mà nghiêm khắc khiển trách, rồi
dụ lệnh [cho thống đốc họ Hoàng] đến sát hạt Sơn Tây tụ tập binh dân sở
thuộc” (29)
, quân
lính triều đ́nh và cả lực lượng dân quân phải được tổ chức, phiên chế
lại và tiếp tục được huấn luyện.
Quân Đại Nam ta, quân chính quy chủ lực và dân quân, hương binh
vẫn tiếp tục pḥng thủ và chiến đấu!
5
Cuối tháng mười một nguyệt lịch Quư dậu (1883), vua Kiến Phúc
“chuẩn cho B́nh Định và Hà Tĩnh đẩy mạnh thi vơ cử và vơ
sinh (hơn 600 tên [:viên danh]), phân chia nuôi dưỡng, tập luyện” (30)
. Đầu
tháng mười hai,
“[[vua
(theo lời bàn của hai phụ chính)]] lại đặt hương binh ở các hạt thuộc
miền Nam và miền Bắc. V́ các hạt phần nhiều đă tụ tập nhau lại, bảo vệ
gia hương, cho nên ra lệnh thiết đặt lại” (30)
.
Đặc biệt, tri huyện Dương Hữu Quang (người Hà Nội), đă ra hịch “người
Pháp bội ước, nên không theo” (32)
, và đă nhận trát dấy binh của quân Thanh, quyết chống Pháp, lập ra Tín
Nghĩa hội
(32). Quân của Dương Hữu Quang lên đến vài trăm
viên, trú đóng tại các hạt thuộc Hà Nội, như Ứng Hoà, Thanh Oai. Bọn phỉ
do tên Sô (hay So) cầm đầu, trước đây, nổi lên làm loạn, không tấn công
trực tiếp vào bọn Pháp, mà chỉ tấn công vào quan quân phủ Ứng Hoà, cướp
ấn phủ, thả tù phạm. Nay số quân do Sô chỉ huy đă đi theo Tín Nghĩa hội,
chống Pháp dưới ngọn cờ quân Thanh! Không biết phải gọi Sô bằng ǵ?
Trước đây, Sô là phỉ hay ít ra có hành tung như phỉ. Nay, Sô đă gia nhập
Tín Nghĩa hội, nhưng đáng tiếc Tín Nghĩa hội cũng chẳng phải độc lập
chiến đấu với danh nghĩa là nghĩa sĩ Đại
Nam yêu nước, chống Pháp, không lệ thuộc triều đ́nh, như
Trương Định chẳng hạn. Do đó, quả thực, không biết định danh nghĩa cho
quân của Sô là ǵ? Dẫu sao, Sô đă chận cướp được voi ngựa khi tên phó
công sứ Pháp ở Ninh B́nh giải giao cho tên công sứ Pháp ở Hà Nội (32).
Thống đốc Hoàng Tá Viêm liền điều tra về hành tung tên Sô. Nay, do Hoàng
Tá Viêm, số voi ngựa ấy được đệ nạp vào kinh.
“Đến
lúc ấy, [Hoàng] Tá Viêm với những điều đă biết, bèn [theo] dụ lệnh, xem
xét, quả là hướng thuận, lập tức thu nhận [vào quân của ḿnh]” (32)
.
Các sơn pḥng đều được tăng cường quân địa phương lưu thủ, đóng
lại để ǵn giữ, đồng thời đưa lên các sơn pḥng ấy những phạm nhân đă
được sàng lọc. Sơn pḥng Quảng Trị được nhận thêm ba trăm tám mươi lăm
(385) phạm nhân, nhằm
“tránh được việc giam giữ lâu mà tăng thêm nhân lực khai khẩn” (33)
.
Đó cũng là cách thức trước đây vua Tự Đức có lần
nói: “Quân
cảm tử phần nhiều ở trong tù phạm. [Nên] chọn lấy kẻ dũng cảm. [Vấn đề]
chỉ ở tướng khéo khuyên dùng mà thôi” (34)
.
Vua Kiến Phúc, với sự cố vấn của hai quan phụ chính Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết, đă thật sự khởi động mạnh mẽ việc chấn chỉnh lại
quân binh sau một thời ḱ ngắn gần như bị tan ră, điêu đứng.
Trong thời điểm này, phong trào “sát tả” lại bùng dậy ở nhiều địa
phương, nhất là ở Thừa Thiên, Quảng Trị. Bởi lẽ, “tả
đạo” đă thật sự lộ mặt công khai tiếp sức cho thực dân Pháp. Tại
Ninh B́nh, sự thật về bản chất linh mục Trần Lục đă quá rơ với lực lượng
phản quốc gồm những giáo dân bị mê muội hoá. Và, quân ma tà “giáo
dân vô lại”
đă gia nhập vào số lượng lớn lính mộ của bọn Pháp cướp nước, hại dân,
để tiến đánh thành Sơn Tây trọng yếu của quan binh nước ta… Để tránh sự
xung đột
lương – giáo mà thực chất là thủ đoạn dùng người Việt đánh người Việt
của thực dân, cố đạo Pháp, nên hai phụ chính
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đă viết một bản dụ thay vua Kiến Phúc
với sự đồng ư của nhà vua và phụ chính thân đại thần Hồng Hưu: “Đạo –
B́nh đều là con đỏ của
triều đ́nh, nên yên phận đợi lệnh của triều đ́nh, chớ nói nhăng, làm bậy”
(35)
. “Đạo”,
chính là giáo dân (dân có đạo lí, có
giáo hoá). “B́nh”, tức là b́nh dân (dân lương thiện, dân có ḷng hoà hảo).
Nhưng phong trào “sát tả” vẫn không ngăn lại được!
“Một thời gian sau th́ có thư của sứ Pháp là Săm Bô [De Champeaux] gửi
đến, xin phái lính phủ đến bảo vệ giáo dân ở hai xă Thanh Tân và Sơn Quả.
[[Triều đ́nh]] chuẩn y, lập tức phái cử (lính phủ [Thừa Thiên]) đến bảo
vệ; lại dụ phủ thần chia nhau đi hiểu tập [[giáo dân]]. Sau đó, công tử
Hồng Thành (là con của Chấn Định quận công Miên Trí) cư tập đảng phái,
thiêu đốt nhà cửa, giết hại giáo dân thuộc huyện Hương Trà: xă Dương Hoà,
thiêu tám mươi chín (89) hộ, giết hơn hai mươi (20) người. Sự việc bị
phát giác, án chưa thi hành, Thành bèn [bị] đổi ra họ mẹ; đợi đến tế
giao đầu năm mới trảm quyết. Đảng ấy gồm bọn Trương Văn Đức, Trương Văn
Định, đều đợi xét đem chém; c̣n ngoài ra, đều phải tội đồ, tội lưu” (35)
.
Triều đ́nh rất ngại bọn Pháp vin vào cớ “sát tả” ấy để đẩy nhân
dân Thừa Thiên, Quảng Trị và các tỉnh khác vào thảm hoạ chiến tranh
lương – giáo như ở Nghệ – Tĩnh hồi năm Bính tuất (1874). Chủ trương của
hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết vẫn là trừng phạt
trọng h́nh những giáo dân đích thực là tay sai, gián điệp cho thực dân
Pháp theo luật pháp. Phản quốc vốn là một án phạm trong thập ác, cho dù
kẻ phạm thuộc tôn giáo nào, thành phần ǵ. V́ thế, triều đ́nh
“lại thông báo cho sĩ dân ở Quảng Trị biết để cảnh giới. Sau đó, lại
báo cho các hạt có nhiều [nguy cơ xung đột] đạo – b́nh từ Nam chí Bắc
đều biết” (35)
.
Một cách rất kịp thời, trong thượng tuần tháng chạp Quư mùi
(1883), một bản dụ thứ hai do hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết đă viết thay vua Kiến Phúc với sự đồng ư của nhà vua và phụ chính
thân đại thần Hồng Hưu lại được công bố rộng khắp:
“VUA LẠI
CHO DỤ ĐẠO – B̀NH Ở HAI MIỀN NAM – BẮC CÙNG YÊN
ỔN” (36)(*):
“Dụ rằng:
Trời ban ân huệ cho dân, vua phụng theo mệnh trời. Những kẻ có tội
hay vô tội, ta nào dám trái [mệnh trời ấy]. Theo trí ấy th́ Đạo – B́nh
nước ta, tuy đi con đường khác, nhưng cũng là dân của trời, cũng ḍng
giống, không có ǵ khác nhau. Xưa nay triều đ́nh vẫn coi trọng người
theo ḷng nhân, mọi người cùng nhau yên ổn. Nhưng gần đây, do sự kiện
Bắc Ḱ, tin tức bay ra ngoài kinh đô, sĩ thứ, dân chúng nói càn, có kẻ
bất b́nh v́ ḥa nghị [[với Pháp]], có kẻ phẫn nộ giết hại đạo Tả [[“tả
đạo”, đạo Gia-tô]], bàn tán khắp đầu đường ngơ hẻm, ồn ào dao động, sao
chẳng biết suy nghĩ sâu xa?
C̣n như Đạo – B́nh là dân nước ta, chiến hay ḥa đă có triều đ́nh
lo toan. C̣n như sĩ dân, nếu như có ḷng trung nghĩa trong trắng, th́
nên yên tĩnh mà đợi lệnh triều đ́nh. Ta đă lấy ḷng trăm họ làm ḷng
ḿnh, các ngươi sao dám đem ḷng ḿnh làm ḷng [căm hận] ấy mà lại càn
rỡ chia rẽ? nhiều lần phân chia ranh giới? Các ngươi dám gây rối loạn,
để tự mau chóng đi đến chỗ vong ơn. Lẽ thường, [[ta]] vỗ kiếm, giận dữ
nh́n mà nói: “Các ngươi [bọn “tả đạo” thật sự theo giặc] sao dám chống
lại ta?”. Nhưng sự dũng cảm của kẻ sất phu [:người quát mắng] này, không
những vô ích mà lại c̣n có hại. Trước đây, cái án đốt nhà, giết người ở
xă Dương Ḥa, phủ Thừa Thiên, qua phân giải, th́ bọn đầu sỏ và ṭng phạm
đều đă chịu tọâi chém và tội lưu. Triều đ́nh sao mà dung tâm được.
Nay nghiêm sức cho bọn bầy tôi ở các phủ, huyện, tỉnh, từ Nam chí
Bắc, lập tức đi xuống các hạt của ḿnh, hiểu tập nhân dân, mọi người đều
phải giữ yên phép tắc, không sai một tấc. Những kẻ ghét đạo tôn vương
[[:Đạo Thiên Chúa]] và những người hiếu đạo tôn vương đều cũng được
hưởng phúc thăng b́nh. Qua huấn sức này, nếu như c̣n chia rẽ, trừ bọn
phạm tội ra, lập tức tăng cường thêm trọng trị. Bầy tôi ở tỉnh, phủ,
huyện ra huấn sức không được nghiêm th́ khó tránh phải tội lỗi, chớ nói
là không bảo”” (36)
.
Khoảng đầu trung tuần tháng chạp này, viên toàn quyền Đức Lư Cố (Lư
Cố, Tricou) vào kinh đô để bàn thảo những sự việc nổi cộm trong thời
gian gần đây và xin triều yết (37)!
Tên toàn quyền Harmand đă bị triệt hồi về Pháp từ tháng trước.
Trong tháng mười một, Harmand cùng khâm sai đại thần Nguyễn Trọng Hợp từ
Bắc Ḱ vào Đà Nẵng trên một chuyến tàu thuỷ. Harmand hẳn vào Gia Định để
về Pháp, c̣n Nguyễn Trọng Hợp ra Huế (37). Nguyễn Trọng Hợp đă biết
Tricou sang thay Harmand, và Tricou sẽ vào kinh đô bàn việc. Ông ta tâu
tŕnh lên vua và các quan phụ chính.
Triều đ́nh được chuẩn để bố trí nhân sự tiếp đón Tricou. Đoàn hộ
tiếp gồm biện lí Bộ Công Trần Doăn Khanh, phủ thừa Thừa Thiên Đinh Viết
Tân và tham biện ti hành nhân (thông dịch viên), linh mục Nguyễn Hữu Cư
(37).
Tricou đến Sứ quán Pháp tại Huế, bên bờ phải sông Hương. Các quan
Thương bạc của Viện Cơ mật được lệnh dụ hội đàm với Tricou, tên toàn
quyền mang hàm tướng. Nội dung đă được hai quan phụ chính Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất
Thuyết bàn định trước trong nội bộ:
“Truất
Mang [Hà A Mang, Harmand] trước nghĩ hoà ước hai mươi bảy (27) khoản. [Trong
đó, có] nhiều điều không [ai] kham nổi. Và [Harmand] kịp về Bắc tranh
trước bờ cơi [với quân Thanh] rồi hoành hành ngang ngược, [cùng] với các
công sứ [:giặc Pháp], đến nỗi sĩ dân không yên với mọi sự!
Đông nam Hà
Nội [Harmand] không giao [lại] cả. [Y] lại gây nên sự biến ở ba tỉnh
Ninh B́nh, Quảng Yên, Hưng Yên. Ba tuần phủ, có kẻ bị bắt, kẻ bị đánh. [Harmand]
cùng với các công sứ [:giặc Pháp] giam quan tỉnh, đánh quan phủ, trách
nă đề đốc, tư sức [:thông tư, ra lệnh] các phủ, huyện đợi chiếu chỉ [của
Hiệp Hoà], phá bỏ khí giới, súng đạn, cướp đi kho bạc, buộc xé bỏ sổ
sách đinh điền. [Tất cả những việc ngang ngược đó] dẫn đến [sự thể] quan
thân, sĩ dân trung nghĩa đều phẫn khích. Có người uống thuốc độc, có kẻ
nhảy xuống sông tự tử, có
kẻ mang ấn ra khỏi thành, nạp ấn rồi bỏ [chức] quan, truyền hịch khởi
binh. Có chỗ đánh sứ Pháp, hoặc có chỗ giết phái đoàn Pháp. Bọn côn đồ [đục
nước béo c̣] nhân đó mà làm nhiều điều xấu xa, tổn hại. Tất cả đều do
quan toàn quyền [Harmand] gây nên” (37).
Văn thư tố
cáo ấy được chuyển “đến chỗ nghị bàn của Lư Cố [Tricou, tại Sứ quán
Pháp ở Huế], đ̣i hợp với công pháp, để làm cho vững vàng sự hoà hảo. Lư
Cố đệ thư xin nhập triều yết, cùng nhau kí tên đóng dấu và nhận thư giao
ước, chỗ cần th́ châm chước sửa đổi. [Y hứa sẽ] xin đệ hồi [:tŕnh lại]
giám quốc [tổng thống Pháp] nghĩ định” (37)
.
Trong việc
bàn bạc này, hai bên c̣n đồng thuận mỗi bên bố trí một toàn quyền đại
thần coi giữ quan ải. Những giao ước tạm thời, sơ bộ ấy đều có văn bản
lưu (37). Sau đó, Tricou vào triều yết vua Kiến Phúc (37).
Đó là cuộc
hội bàn một tạm ước sơ bộ để tiến đến việc sửa đổi lại “hoà” ước Quư mùi
(1883).
Tricou ra
Bắc Ḱ, rồi y mới về Pháp (37).
Không có
những cuộc chiến đấu với việc đồng thời lại chuẩn bị chiến đấu, không có
sựï phản ứng quyết liệt của các quan quân, của nhân dân, th́ bọn Pháp
tham lam, cuồng bạo không bao giờ chùn tay!
Sau khi
Tricou về Pháp, chánh phó khâm sai ra Bắc Ḱ Nguyễn Trọng Hợp, Trần Văn
Chuẩn đều bị giải chức và chờ lệnh v́ thương thuyết không có công trạng
ǵ (38). Đó là nguyên tắc xưa nay.
Cũng trong
tháng chạp Quư mùi (1883) ấy, quan đệ nhị phụ chính Tôn Thất Thuyết
quyết chỉnh đốn, tăng cường Phấn Nghĩa quân (39). Phấn Nghĩa quân là lực
lượng trung kiên, nhưng vẫn có kẻ xấu không thiện cảm, gán cho họ danh
từ bất nhă là “lính chân tay riêng của quyền thần”
!
“Lúc đó
[tháng bảy, tháng tám Quư mùi (1883)], [Tôn Thất]
Thuyết muốn lập lính chân tay riêng ḿnh, bèn thương lượng với Nguyễn
Văn Tường, nói rằng:
“Tiến hành vào ngày 29 tháng 10 là quan trọng nhất [đó là ngày
nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Hiệp Ḥa
cùng những kẻ đồng mưu, câu kết với giặc Pháp]”.
Hai viên quan này [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết]
cùng với những đ́nh thần đă dự biết trước nên ai nấy giao cho những
người thân thuộc tham dự vào việc hiểu dụ các thân hào sĩ dân kết đảng
làm theo. Lần này, qua chọn lọc số người trong đó mà ban thưởng. Ngoài
ra tuy [nhiều người] chưa được dự vào phái cử, nhưng đều vui ḷng đáp
ứng.
Gần đây [tháng chạp Quư mùi (1883)], nhiều người làm theo; nay các
binh ngạch thiếu nhiều, nên nhân t́nh h́nh ấy mà thu dụng họ, xin hội
đồng Binh bộ xét tuyển dụng được bao nhiêu lính (nhưng không được khấu
giản), chia làm vệ đội; lượng mà thiết lập quản suất, tùy số mộ được
nhiều hay ít mà thưởng phẩm hàm; đặt tên là “Phấn Nghĩa quân”. Số quân
đó được khao thưởng và đặt tên riêng; chiểu theo thứ tự, tuyển hai vệ
tiên phong, nhưng vẫn lệ thuộc vào các viên quan mà hai vị thần đó [:hai
đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] ủy nhiệm cho, để luyện tập
và phân phái.
Theo thời ḱ này th́ hữu dụng, nên ([quan đệ nhất phụ chính
Nguyễn Văn] Tường) cho phép.
Sau đó [Tôn Thất] Thuyết cho Trần Xuân Soạn lănh [nhiệm] số quân
ấy” (39)
.
Trong thời điểm ấy, ở Bắc Ḱ, tổng đốc Bắc Ninh Trương
Quang Đản tâu vào triều,
“tàu
thuyền của Pháp hiện đang ḍ xét quấy nhiễu các giang phận hạt này.
Bọn Hán gian thỉnh thoảng ḥ hét tụ tập, xin cho nhiều tốp binh dơng đến
chi viện và phân phái nhau đi trừ dẹp…” (40)
.
Ông c̣n xin cho phép bố trí
thêm một số quan vơ để cùng lo liệu.
“(Tôn
Thất Thuyết) hứa cho, nhưng vẫn lệnh sức các xă dân, ai nấy đem hết
sức lực ra chống cự (với giặc) để tránh khó khăn sau này. Trong đó, có
ai hơn chút ít, th́ đặc cách khen thưởng để khuyến khích họ” (40)
.
Quan phụ chính Tôn Thất Thuyết đă chú trọng đến sức mạnh nhân dân,
hướng đến chiến tranh nhân dân.
Quan phụ chính Tôn Thất Thuyết lại được lănh thượng thư Bộ Lại,
kiêm chưởng sự vụ Bộ Binh, kiêm quản Văn ban pḥ mă
(41).
Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường lúc này lại quay ra Cam Lộ, Quảng
Trị để bắt tay vào việc xây dựng thành Tân Sở
(42). Do đó, việc
triều chính ông giao hết cho đại thần Tôn
Thất Thuyết (giữ cả Bộ Lại lẫn Bộ Binh…), mặc dù ông vẫn vào ra. Huế –
Cam Lộ, chỉ cách nhau khoảng một trăm rưỡi dặm ta (425 m x 150 = khoảng
trên 70 km). Đây là kế hoạch của ông và nguyên án sát Nguyễn Quưnh hồi
ông c̣n làm tri huyện, bang biện khâm phái Thành Hoá, từ hai mươi lăm
năm trước, trong những năm Pháp bắt đầu nổ súng vào Đà Nẵng, xâm lược
nước ta bằng súng đạn của lực lượng viễn chinh
(42).
“DI
CHUYỂN NHA ĐÓNG Ở SƠN PH̉NG QUẢNG TRỊ CÙNG VỚI NHA
Ở PHỦ
CAM
LỘ (43):
Nguyên Nha Sơn pḥng và Phủ Cam Lộ truớc đặt ở địa phận xứ Động
Ngang, huyện Thành Hóa. Quan Cơ mật viện tâu rằng: “Sơn pḥng của Quảng
Trị có thể làm hậu lộ cho kinh đô. [Vua] chuẩn cho quan Sơn pḥng này
xem xét tường tận lại, tăng thêm kinh lí. Quan nối theo [:kế nhiệm] coi
Sơn pḥng này cho rằng, địa thế ở đây chật hẹp; đă khảo xét được nơi
liền với chỗ đất cũ này là ở trên địa phận xă Bảng Sơn. Tương truyền nơi
đây trước kia có con cầu [[:một loại rồng có ngà]] hoạt động, cho nên
tục gọi là Lang Cầu. [Vùng đất ấy], địa thế rộng răi, có thể chứa được
một khu kiến trúc lớn di [dời] về đây. Xin cho di [dời] đến. Phủ [Cam Lộ],
Nha [Sơn pḥng Quảng Trị] cũng xin chuyển đến pḥng nội”. (Vua) chuẩn y.
Đến lúc ấy, bèn chuẩn cho đắp thành, đào hào, xây cất nha thự, kho
súng, nhà lính, cùng với các toà ḱ đài, pháo đài, chọn nơi di chuyển
trấn Lao Bảo. [Đồn] bảo nguyên là nơi giáp giới ba phường Tân Mỹ, An Mỹ,
Linh Xuân ở biên giới Man [biên giới Lào – Việt; dân ngoài biên giới đều
gọi là Man, kể cả Pháp, Hoa], nay chuyển đến châu Na Bôn, cách (Lao) Bảo
hai ngày đường. Thổ chướng (ở đây) hơi nhẹ. [Đồng thời, chuẩn cho] thiết
lập nhà ở và làm việc cho các quan viên văn vơ, đặt ra kho thuốc [súng],
nhà lính, xưởng voi.
Lại đặt ra ḱ hạn mua muối. Sáu châu mua muối trước kia th́ không
có hạn nào, nay lượng xem dân số mua muối là bao nhiêu, đều phải có đầu
mục nhận thực, để phân biệt rơ người lạ, người quen trong đám Man dân. (Lại)
đặt cơ Can Thiện để quản thúc bọn tù khẩn hoang ở đây; quyền suất đội
chia đi đồn trú và đào hố để tránh nạn hổ dữ.
Thiết lập đồn Động Chu. [Đồn] đóng ở thượng du, từ sườn núi lên
đến đỉnh núi phải mất nửa ngày đường, khác nào chiếc thang lên trời. Từ
Sơn pḥng đến đây mất ngày rưỡi đường. Đường đi bằng phẳng, (nhưng) địa
thế hiểm trở, cho nên đóng đồn ở đây.
Khai quặng sắt (gần sở pḥng để tiện việc đúc [khí giới]). (Việc)
kinh lí trước sau, đều chuẩn cho tỉnh thần kiêm coi giữ”
(43)
.
Đó là một công việc do quan phụ chính Nguyễn Văn Tường đích thân
thiết kế, chỉ đạo xây dựng, đích thân chỉ đạo khai thác (42). Nhưng rất
tiếc, công việc ấy phải huy động một số lớn nhân công, dân công và binh
lính, có đến hàng vạn người, trong nhiều tháng. Vả lại, bọn cố đạo Pháp
vốn đă được “hoà” ước Nhâm tuất 1862 cho phép sống và truyền
giảng đạo ở các giáo xứ. Quảng Trị, Quảng B́nh, Thừa Thiên không phải
không có các giáo xứ! Thường là mười tên cố đạo đều là mười tên gián
điệp! Do đó, thực dân Pháp không thể không biết công việc xây dựng Tân
Sở với các công việc khác phục vụ cho Tân Sở. Nhưng bọn Pháp không được
quyền bén mảng đến vùng đất ấy, mặc dù chúng hay tin từ các gián điệp
linh mục, giám mục Pháp. Pháp vẫn t́m cách xem bản đồ! Chúng rất chú
trọng đến quặng mỏ!
“Khi
đó, sứ Pháp phái người đến xem bản đồ, nói là để chuẩn bị bản đồ toàn
cảnh [!]”(43)
.
Tất nhiên, nếu cho Pháp xem bản đồ, th́ đấy là bản đồ giả. Ai
cũng biết thế.
Và công việc vẫn cứ tiến hành, không cách nào khác.
“Lại mở hai thượng lộ, phía nam thông đến kinh phủ [Huế], bắc
thông đến Quảng Trị, sơn pḥng; có lẽ ư ấy là muốn củng cố con đường
phía sau để bảo vệ kinh sư vậy. Tiếp đó, lại đem
thuốc súng, vàng bạc, tiền nong về trữ ở (Sơn) pḥng ấy khá nhiều” (43)
.
Tại sao phải xây dựng Tân Sở, lập các đồn quanh đó và mở hai
thượng lộ? Quan Viện Cơ mật, gồm Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, cho
rằng: “Sơn
pḥng của Quảng Trị có thể làm hậu lộ cho kinh đô” (43)
.
Thật ra, từ trước đến nay, Tôn Thất Thuyết chưa hề biết Thành Hoá hay
Tân Sở cùng thượng đạo là ǵ. Hậu lộ, đó là đường thoát phía sau. Tân Sở
là cơ sở mới, là kinh đô thứ hai, kinh đô kháng chiến, một an toàn khu (ATK.),
rất khó bị Pháp tấn công nhờ địa h́nh, địa thế hiểm trở. Tân Sở là căn
cứ địa xa vùng biển. Tuy Tân Sở cũng chỉ cách sông Hiếu khoảng ba, bốn
dặm (mỗi dạêm ta bằng bốn trăm hai mươi lăm mét Tây), nhưng vẫn là quăng
thượng nguồn sông ấy. Thượng nguồn không thuận lợi đối với tàu binh lớn…
Tân Sở phải cách xa biển và sông, nhất là phải cách xa biển, bởi đường
sông, nhất là đường biển, vốn là thế mạnh của hải quân, thuỷ quân Pháp.
Nếu Tân Sở lại bị thất thủ, nhà vua và triều đ́nh có thể theo
đường núi (thượng đạo xuyên Trường Sơn với hệ thống sơn pḥng các tỉnh)
để ra Bắc hoặc vào Nam, hoặc qua Xiêm (Thái Lan). Tất nhiên hướng ra Bắc
được chú trọng hơn, bởi có thể thoát qua Trung Hoa.
Các phương án đă được vạch ra một cách cẩn trọng. Mỗi phương án
đáp ứng với từng t́nh h́nh, từng mức độ tấn công của giặc Pháp.
Mặt khác, ngoài những công việc đối phó với giặc Pháp, chuẩn bị
kháng chiến chống Pháp, triều đ́nh vẫn có lệnh cấp tiền tuất và cấp
dưỡng cho vợ con của quan quân thuộc quyền Lưu Vĩnh Phúc, để tỏ ḷng
trọng nghĩa, ư hướng vẫn tiếp tục sử dụng lực lượng này (44). Đồng thời,
cũng cấp tiền tử tuất và cấp dưỡng như vậy cho gia đ́nh quan quân ta hi
sinh v́ Tổ quốc ở Thuận An (45)… Các doanh vệ biền binh ở kinh đô đều
được kiểm tra thể lực và tuổi, để kiện toàn lực lượng (45).
Đặc biệt, Nguyễn Xuân Phiếu như một kĩ sư thành thạo, đă nỗ lực
t́m cách chế tạo bằng được súng máy mới nhất của hai nước Hoa Ḱ và Đức
(ngoài ra, các loại vải vóc khác của Tây dương cũng do xưởng của ông thí
nghiệm, giảng dạy, học tập cách dệt) (46).
Đó là những nỗ lực bước đầu của triều đ́nh Kiến Phúc với sự cố vấn
tối cao và quyết định của hai đại thần phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết, có sự giám sát của phụ chính thân đại thần Hồng Hưu.
Hết
tệp 1
(PHÂN
ĐOẠN 1 TRUYỆN KÍ THỨ 11)
Khởi viết từ 07
giờ 30 sáng ngày 06.01.2003
(04.12 Nh. ngọ
HB.3)
Viết
đến ḍng chữ này vào lúc 09 giờ kém 10 phút
ngày 16.01.2003
(14.12 Nh. ngọ HB.3)
tại thành phố Hồ
Chí Minh.
TRẦN
XUÂN AN
(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực
lục, chính biên, tập 36, bản dịch Viện Sử học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1976,
tr. 18.
(2) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 45.
(3) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 18 –
19.
(4) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 20.
(5) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 19 –
20.
(6) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 20 –
23.
(7) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 28 –
30.
(8) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 20 –
28.
(9) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 20.
(10) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 35 –
37.
(11) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 38 –
38.
(12) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 32.
(13) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 32 –
33.
(14) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 33.
(15) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 33 –
35.
(16) GS. Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng (CXL.),
Nxb. Tp.HCM. tái bản, 2001, tr. 367 – 368.
(17) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 59 –
62, 80 – 91, 161 – 162.
(18) Dẫn theo: CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản,
2001, sđd., tr. 387 – 388.
(19) CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001,
tr. 393.
(20) CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001,
tr. 394.
(21) CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001,
tr. 395.
(22) CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001,
tr. 403 – 404.
(23) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 39 –
40.
(24) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 40 –
42.
(25) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 43 –
44.
(26) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 45.
(27) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 47 –
48.
(28) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (VNSL.),
Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 536 – 537.
(29) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 48 –
50.
(30) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 54.
(31) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 57.
(32) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 57.
(33) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 57.
(34) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 191.
(35) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 58.
(36) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 58 –
59.
(37) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 62 –
63.
(38) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 64.
(39) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 63 –
64.
(40) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 64.
(41) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 64.
(42) Xin xem lại chú thích (37), truyện kí
thứ năm, tập I, bộ truyện - sử kí - khảo cứu tư liệu lịch sử này.
(43) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 64 –
66.
(44) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 66.
(45) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 66 –
67.
(46) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 69.
Nguyễn Xuân Phiếu cũng có tài về kĩ thuật rèn đúc súng đạn như Cao Thắng
(thuộc căn cứ kháng chiến Hà Tĩnh) trong những năm Cần vương sau đó.
Chú thích xong vào lúc
10 giờ kém 15 phút,
ngày 19.02.2003 (19.01
Quư mùi HB.3).
TRẦN XUÂN AN
Hết
tệp 1
(PHÂN
ĐOẠN 1 TRUYỆN KÍ THỨ 11)
Xin xem
tiếp tệp 2
(Phân
đoạn 2 truyện kí thứ 11)