Tệp
10
– Tập IV
(tư liệu
bổ sung cho truyện kí cuối)
TRẦN XUÂN AN
THÁNG NGÀY BỊ LƯU ĐÀY
VÀ
CÁI CHẾT
Ở
H̉N ĐẢO LAO TÙ BIỆT XỨ
(tư liệu bổ sung
cho truyện kí cuối)
I.
“Năm Hàm
Nghi nguyên niên, tháng năm (05), kinh thành có loạn (“!”), vua Hàm Nghi
dời đi, Hai Cung [Từ Dũ, Vũ thị] đi theo đến Quảng Trị, vua [Đồng Khánh,
bấy giờ là hoàng tử thứ hai] cũng lẻn ra ngoài kinh thành, trốn ẩn ở các
làng bên cạnh. Bấy giờ chỉ c̣n một [phụ chính] Nguyễn Văn Tường lưu lại
ở kinh để bàn bạc cùng quan Đại Pháp, đi đón Hai Cung hồi loan; [ông]
mới phụng ư chỉ Hai Cung chia phái đi đón vua Hàm Nghi, rồi xin cho Thọ
Xuân vương là Miên Định tạm coi việc nước; [ông] lại uỷ người đi t́m vua
[Đồng Khánh, bấy giờ là hoàng tử thứ hai], mời vua về tạm nghỉ ở phủ đệ
Tĩnh Gia quận công. Về sau đón vua Hàm Nghi không được, [phụ chính
Nguyễn] Văn Tường đă có ư dự định đón vua [Đồng Khánh, bấy giờ là hoàng
tử thứ hai], lập lên nối ngôi, vừa gặp lúc [Nguyễn Văn Tường, phụ chính
đệ nhất của] vua Hàm Nghi bị quan Đại Pháp đem về nước ấy…” (ĐNTL. CB.,
tập 37, sđd., tr. 23) .
Thực dân
Pháp đă từng tung tin vua Hàm Nghi đă chết v́ bị ốm, trước khi chúng
quyết định, vào khoảng đầu tháng bảy nguyệt lịch Ất dậu, là sẽ lập Ưng
Kỹ lên ngôi vua (Đồng Khánh)!
II.
Có một giai thoại về phụ chính Nguyễn Văn Tường sau ngày kinh đô
quật khởi và bị thất thủ, đề cập đến tài năng, nhân cách, tư tưởng, thái
độ chính trị kiên cường chống Pháp và ḷng trung nghĩa của ông. Những
đoạn trong giai thoại này, sau khi khảo chứng (đối chiếu tư liệu gốc, bổ
cứu, loại trừ…), xét thấy không đúng với sự thật lịch sử, chúng tôi đă
mạn phép lược bỏ. Mặc dù giai thoại chỉ là chuyện truyền khẩu, chứa đựng
nhiều sai lệch, nhưng ít nhiều vẫn có thể đăi lọc một vài lượng thông
tin nào đó, trên cơ sở khảo chứng khoa học. Xin chép lại ở cuối bộ tiểu
thuyết này để tham khảo thêm như sau:
“… Dưới
thời Tự Đức, [phụ chính Nguyễn Văn] Tường làm quan nổi tiếng là một
người mưu lược, những việc ǵ khó th́ triều đ́nh đều cử [Nguyễn Văn]
Tường đảm nhiệm. Tự Đức mất, để di chiếu lại, cử [Nguyễn Văn] Tường là
một trong ba người trọng thần. (Hai người kia là Trần Tiễn Thành và Tôn
Thất Thuyết). Lúc Pháp xâm chiếm Việt Nam, [Nguyễn Văn] Tường và [Tôn
Thất] Thuyết là hai người đứng đầu phe chủ chiến quyết tâm đánh Pháp.
Sau sự kiện thất thủ kinh đô (07.1885) [đệ nhị phụ chính Tôn Thất]
Thuyết đưa vua Hàm Nghi xuất bôn, tiếp tục cuộc kháng chiến lâu dài, [đệ
nhất phụ chính Nguyễn Văn] Tường là người mưu lược, được cử ở lại để t́m
mọi cách hạn chế bớt sự thiệt hại. V́ “nhiệm vụ lịch sử”, [phụ chính
Nguyễn Văn] Tường đă bị mang tiếng phản bội, cộng tác với giặc.
[Phụ chính
Nguyễn Văn] Tường là một đối thủ đáng gờm của Pháp từ mấy mươi năm. Cho
nên khi [phụ chính Nguyễn Văn] Tường đă “về hàng” mà Pháp vẫn sợ và cho
một đơn vị quân đội luôn canh chừng [Nguyễn Văn] Tường. Mặt khác, Pháp
muốn dùng
“tên” của [phụ
chính Nguyễn Văn] Tường để làm “tay sai” cho chúng, nên chúng đă t́m mọi
cách để lôi kéo [Nguyễn Văn] Tường.
Khi được linh [giám] mục Caspard cho biết [phụ chính Nguyễn Văn]
Tường chính là con vua Thiệu Trị và em vua Tự Đức, Pháp đă gạ [Nguyễn
Văn] Tường:
- Ông là người có ḍng máu nhà vua, lại có tài, vậy ông có muốn
làm vua không?
[Phụ chính Nguyễn Văn] Tường lắc đầu. Pháp lại hỏi:
- Nghe ông có một người con cũng giỏi lắm. Ông có muốn cho con ông
làm vua không?
[Phụ chính Nguyễn Văn] Tường cũng lắc đầu.
Tên đầu sỏ thực dân Pháp ở Huế [De Champeaux] cũng lắc đầu:
- Con vua mà không muốn làm vua… Thật là một chuyện lạ! Phải chăng
ḷng ông c̣n đang mơ tưởng đến Hàm Nghi, phải không?
Sự nghi ngờ [phụ chính Nguyễn Văn] Tường trong ḷng bọn thực dân
lại chồng chất thêm. Cuối cùng, khi thấy không thể tin được, bọn
Pháp đă đưa [phụ chính Nguyễn Văn] Tường đi đày và ông đă chết…”.
(Nguyễn Đắc Xuân viết theo Phan Văn Dật [thi sĩ tiền chiến, người
Quảng Trị] và nhiều tư liệu khác, “Con vua mà không chịu làm vua”,
trong cuốn Hương giang cố sự, Tủ sách Sông Hương xuất bản, 1986, tr. 47
– 48. Xem thêm: Nguyễn Đắc Xuân, Chuyện các quan triều Nguyễn,
Nxb. Thuận Hoá, (?)…).
Chúng tôi đă viết rơ ở truyện kí thứ nhất, tập I, bộ truyện - sử
kí – khảo cứu tư liệu lịch sử này: phụ chính Nguyễn Văn Tường không phải
là con rơi của vua Thiệu Trị.
III.
“Sai làm
hai ấn: “ngự tiền chi bảo” và “văn lí mật sát”; cùng là ấn, pḥng, kiềm,
bài ở các nha có bỏ mất, đều cho làm ra để dùng.
(Ấn “ngự
tiền chi bảo”, trước đúc bằng vàng, h́nh tṛn, nay vua [ngụy Đồng Khánh]
cho là ấn ấy đă bị Tôn Thất Thuyết mang đi, nếu lại theo mẫu cũ, e có sự
ngại khác)”
(ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 24).
Khi chuẩn
bị đưa xa giá vua Hàm Nghi và xa giá Tam Cung ra khỏi kinh thành, phụ
chính Nguyễn Văn Tường đă vội vă lục t́m các quả ấn này cùng một ít vàng
bạc để mang theo. Đến lúc vâng lệnh ở lại thương thuyết, ông đă trao lại
cho Hồ Văn Hiển tất cả. Sau đó, trên đường ra Tân Sở (Cam Lộ) Tôn Thất
Thuyết cất giữ.
IV.
+++
“Chuẩn cho đội hộ vệ ở Bộ Hộ đều vẫn theo danh hiệu như cũ. Năm trước
chính phủ [:Phủ Phụ chính đại thần] nghĩ hai chữ ấy cùng với tên huư [Ưng
Hỗ] của nhà vua [Kiến Phúc] đồng âm (tả chữ thị, hữu chữ cỗ, nên đổi chữ
hộ [Bộ Hộ] làm chữ hội [Bộ Hội], chữ hộ [hộ vệ] làm chữ cận [cận vệ]).
Đến nay Bộ Hộ tâu xin: “Chữ hộ khi làm giấy tờ, cho được cứ dùng; v́ lần
trước câu nệ quá, nên đổi tránh ra như thế th́ chữ và nghĩa chưa ổn, xin
nên theo như cũ”.
Vua [ngụy
Đồng Khánh] bảo: “Sự ngu của Tường, Thuyết kể làm ǵ! (!). “Hộ vệ” cũng
thế, đổi rất vô lí, cho nên cũng chuẩn cho cả””
(ĐNTL. CB., tập 37, sđd., tr. 36).
Xem lại:
theo chú thích (102), truyện kí thứ mười một, tập IV, bộ truyện - sử kí
- khảo cứu tư liệu lịch sử này. Tôi đă viết: “Bộ Hộ […] cũng đă đổi
thành Bộ Hội v́ kiêng huư (trường hợp gần đồng âm: [Ưng] Hỗ # Hộ). Vả
lại, về mặt chiết tự chữ Hán và về ngữ nghĩa, chữ Hội (tụ họp [thị
trường, kinh tế xă hội]) hay hơn, phù hợp với mức độ phát triển của thời
đại hơn chữ Hộ (cái cửa [gia đ́nh, kinh tế tự cung tự cấp])”. Xin xem
tiếp hai đoạn trích dưới đây:
+++ “Bộ
Lễ phụng mệnh đem những chữ huư [của ngụy vương Đồng Khánh] phải đổi
tránh tiến tŕnh:
Xin ba chữ
khi đọc phải tránh âm, giấy tờ th́ đổi dùng chữ khác (một chữ: đầu là
chữ nhật, giữa chữ mỗ, dưới chữ chấp [[là chữ biện (Ưng Biện)]]; một chữ:
bên trái chữ đậu, bên phải chữ chi [[là chữ kỹ (Ưng Kỹ)]]; một chữ: bên
trái chữ thị, bên phải chữ đường [[là chữ đường (Ưng Đường)]]).
Bốn chữ
đồng âm, một bên [chữ] giống chữ huư th́ khi đọc tránh âm; [viết trên]
giấy tờ phải bỏ bớt một nét (biền, biện, kiện, kỹ).
Ba mươi chữ
cùng âm khác chữ, và giống cả ba chữ hoặc [giống] nửa chữ, th́ khi đọc
phải tránh âm; [viết trên] giấy tờ cho phép được dùng, tên người và tên
đất không được dùng liều (như các chữ biện, chữ sí, chữ đường)”
(ĐNTL. CB., tập 37, sđd., tr. 81).
+++ Việc
lập Đồng Khánh là chẳng đặng đừng, trái với di chúc của Tự Đức. Di chúc
đă ghi rơ: “Ưng Kỹ người yếu hay ốm, có tâm tật, chưa học thông mà
kiêu ngạo, hay bới việc riêng của người khác cho lạm thẳng; đều không
phải là tư chất thuần lương, theo lời phải; sợ bọn ngươi khó lấy lời nói
can được” (trích di chúc của vua Tự Đức, ĐNTL.CB., tập 35, sđd.,
tr. 200 – 201). “Lạm thẳng” là vi phạm tính trung trực, hay bẻ cong sự
thật! Một tác giả thực dân Pháp đă viết: “Chưa hề ở xứ sở nào, thời
nào có ông vua bị thần dân oán ghét như vua bù nh́n Đồng Khánh”
(Charles Gosselin, L’Empire d’Annam, Paris, 1904, tr. 267; dẫn
theo Dương Kinh Quốc, Phan Canh, Đào Đức Chương, Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng…).
Đó là nhận định của một viên sĩ quan Pháp hộ tống ngụy vương Đồng Khánh
trong chuyến công du của y và Nguyễn Hữu Độ ra các tỉnh hữu trực ḱ, hữu
ḱ phía bắc, với mục đích phủ dụ, trấn áp phong trào Cần vương, trong
khoảng thời gian từ cuối tháng tư đến giữa tháng sáu nguyệt lịch, năm
Bính tuất (1886). Đi đến đâu, Đồng Khánh và Nguyễn Hữu Độ cũng bị sĩ dân
căm ghét, đến mức Đồng Khánh phải bỏ nửa chừng lộ tŕnh, đi tàu thuỷ của
Pháp để về lại Huế với lí do bị bệnh cảm! (ĐNTL. CB., tập 37, sđd., tr.
162 – 164, 176 – 177, 178 – 180, 186, 192 – 193).
Với bài “Giải
triều…”, Nguyễn Văn Tường khẳng định ḷng ḿnh chỉ hướng đến vua Hàm
Nghi.
V.
+++
“Chuẩn cho đ́nh huy hiệu hoàng thái phi, c̣n bổng lộc chiếu vị thứ học
phi chi cấp; tiết Diên Xuân và tên huư đều đ́nh cả. Đ́nh thần cho việc
tấn tôn ấy là tự quyền thần, không phải di mệnh của tiền triều” (ĐNTL.
CB., tập 37, sđd., tr. 39).
+++ “Gia cấp
lương hàng năm và y phục mùa xuân, mùa đông cho thiện phi:
Khi trước, lúc vua [ngụy Đồng Khánh] c̣n thơ ấu, đă được tiên đế [Tự
Đức] sắc cho làm con thiện phi, tấm ḷng báo nghĩa không thể coi nhẹ,
muốn tấn phong hơn bậc thiện phi, và truy tặng tước hàm cho cha của
thiện phi là Nguyễn Đ́nh Tân, để đền ơn, mới đem việc ấy tâu lên Từ Dụ
bác huệ thái hoàng thái hậu; kinh phụng ư chỉ giao đ́nh thần bàn lại.
Đ́nh thần nói: Nước không bao giờ có hai chính thống, tôn không bao giờ
có hai bậc tôn, là phép thường xưa nay. Trước đây, Giản tông Nghị hoàng
đế nối ngôi, tấn phong học phi làm hoàng thái phi, là chỉ do quyền thần
bàn định, nên phải chuẩn cho đ́nh chỉ. Nay, một là theo vị thứ cũ; một
là nghĩ gia tấn phong, tưởng có điều chưa thoả đáng.
Vả lại,
mẫu hậu đă vâng theo thánh dụ rơ ràng; nay thiện phi lại được gia phong,
xét đến ư nghĩa “lễ thống vụ tôn”, e có chưa hợp, huống chi huy hiệu của
thiện phi, là được tiên hoàng đế phong cho, đă có mệnh trước, tưởng ở
trên hai chữ thiện phi không dám thêm chữ ào nữa, và cha của phi ấy là
Nguyễn Đ́nh Tân [một vị quan tổng đốc “sát tả” nổi tiếng ở Nam Định],
trước được truy phục chức thượng thư, cũng là v́ cớ thiện phi ở cấp bậc
hàng phi. Việc gia phong thiện phi và tặng tước cho người cha, xin nên
đ́nh chỉ. Duy đă vâng theo tờ dụ của thái hoàng thái hậu, và ḷng báo
nghĩa của hoàng thượng, th́ bổng lệ của thiện phi (đồng niên gạo 300
phương, tiền 700 quan) nghĩ nên gia thêm gấp rưỡi, và y phục mùa xuân,
mùa đông, kính xin hậu cấp, khiến cho hợp t́nh nghĩa mà tỏ đạo hậu.
Vua [ngụy
Đồng Khánh] bảo rằng: Đầy đủ thay lời bàn luận, dù đời xưa cũng không
hơn được. Chuẩn cho theo nghĩ thi hành”
(ĐNTL. CB., tập 37, sđd., tr. 108 – 109).
Xin xem
thêm: ĐNTL. CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 216 – 217, đă trích dẫn ở chú
thích (29) về thân mẫu vua Hiệp Ḥa (hoàng thái phi Trương thị), cuối
truyện kí thứ mười, tập III, bộ truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu
lịch sử này.
+++ “Tấn
phong cho họ Nguyễn Hữu làm hoàng quư phi, và ban cho kim bài (khắc
ngang chữ “Đồng Khánh sắc tứ”, khắc dọc các chữ “kiêm nhiếp lục viện”).
Nguyễn Hữu Độ dâng sớ từ chối […].
[…] Đ́nh
thần tâu nói: […] Hữu Độ thân mang trọng trách của Nhà nước, ḷng công
trung [!!!] vốn đă xét biết, sợ không nên lấy tư t́nh mà bỏ phép công.
Về việc tấn phong xin theo chỉ [dụ] chuẩn cho thi hành”
… (ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 108 – 110).
Xin lưu ư:
Hoàng quư phi là chức danh cao nhất trong hàng thê thiếp thuộc nội cung
vua nhà Nguyễn, v́ nhà Nguyễn không có lệ lập hoàng hậu cho vị vua đang
c̣n sống (trừ trường hợp ngoại lệ dưới triều vua Bảo Đại về sau).
Xem thêm:
Bức thư Nguyễn Hữu Độ gửi tướng Pháp Prudhomme, ngày 24 tháng tư năm
Đồng Khánh Ất dậu (1885) về cuộc hôn nhân này: “Kính gửi tướng, Tôi
hân hạnh gửi bức thư này để ông xem xét [!?!]… V́ vậy mà tôi tuân theo
mệnh lệnh [Hai Cung], và đă xin tiến cử con gái tôi vào ngày 13 tháng
giêng âm lịch năm [Bính tuất 1886] sắp đến (16.02 dương lịch)…” (dẫn
theo H. Cosserat, NNBCĐH. [BAVH.], tập VII [1920], Nxb. Thuận Hoá, bộ
sđd., tr. 581 – 582).
Trước nhăn
quan của các thế hệ trước đây (nửa sau thế kỉ XIX, trọn thế kỉ XX) và
của chúng ta hiện nay (đang sống đến đầu thế kỉ hai mươi mốt [XXI]), tự
thân các đoạn tư liệu trích dẫn trên đă phê phán tên ngụy quan Nguyễn
Hữu Độ!…
VI.
“Puginier,
giám mục ở Bắc Ḱ, và Camelbeck, giám mục ở Quy Nhơn, đă mở một chiến
dịch điên cuồng tấn công chống Nguyễn Văn Tường mà theo họ là kẻ thù lớn
nhất của người Pháp và đồng thời cũng là người An Nam điêu toa [!] nhất
mà người ta có thể gặp… Sự hợp tác của ông ta và De Courcy là một mưu mô
[của ông ta] nhằm đánh lừa người Pháp” (Cao Huy Thuần, “Đạo Thiên Chúa
và chủ nghĩa thực dân Pháp tại Việt Nam [1957 – 1914]”, luận án tiến sĩ
tại Pháp, bản dịch, in ronéo của Đại học Vạn Hạnh, Sài G̣n, 1973, tr.
319).
+++ “Than
ôi, ngay ngày hôm sau [tức là ngày kế tiếp ngày 29.8.1875],
những thủ đoạn phá rối có hệ thống của Nguyễn Văn Tường kéo dài cho đến
ngày chiếm cảng Thuận An [8.1883], và c̣n về sau này, cho đến khi đày
kẻ thù không đội trời chung của chúng ta, và trong thời gian [bị lưu đày]
đó, [Nguyễn Văn Tường] chẳng chịu hiểu biết ǵ cũng chẳng chịu quên ǵ”
(H. Le Marchant de Trigon, NNBCĐH. [BAVH., 1917], tập IV (1917),
Nxb. TH., 1998, sđd., tr. 272 - 273).
Đoạn trích
trên đây đă khẳng định không hề có bức thư “Gửi thống đốc Tahiti”
trong Lô Giang tiểu sử của Nguyễn Văn Mại (Nguyễn Huy Xước dịch, bản in
ronéo, 1961).
Ngoài ra, ở
đoạn trích dẫn trên, từ văn bản của phía đối phương (phía giặc Pháp: H.
Le Marchant de Trigon), ta chỉ nên thu nhặt lượng thông tin, c̣n cách
diễn đạt với quan điểm đánh giá theo tiêu chí ngược của chúng, th́ phải
hiểu ngược lại, theo quan điểm của công lí, đạo lí dân tộc và nhân loại.
Ngữ danh – động từ “Những thủ đoạn phá rối có hệ thống của Nguyễn
Văn Tường” phải hiểu là: Những biện pháp chống Pháp, đấu
tranh với Pháp có hệ thống, suốt cả quá tŕnh lâu dài của Nguyễn Văn
Tường.
VII.
Những tư
liệu sau đây khớp với tư liệu chuẩn cứ (Đại Nam thực lục chính biên,
tập 36, và có thể kể cả tập 37, bộ sđd.) cũng như các tư liệu khác,
chúng tôi đă có dịp trưng dẫn trong bài viết “Nguyễn Văn Tường với
nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi 05.07.1885” (đă in
trong tập Các báo cáo khoa học, tư liệu Hội thảo khoa học về nhân vật
lịch sử Nguyễn Văn Tường, do Trung tâm KHXH. & NV. thuộc Viện Đại học
Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế, Tạp chí Huế Xưa và Nay tổ
chức, in ấn, 02.07.2002, tr. 59 – 83):
+++ Tài liệu 1: Bài báo “Những biến cố ở Huế” (Les
événemenes de Huế), đăng trên tờ nhật báo L’Unité – Indochinoise
(cơ quan của quyền lợi chính trị, thương mại, canh nông, kĩ nghệ của Nam
Ḱ, Cam Bốt, Bắc Ḱ và Trung Ḱ), số 70, năm thứ hai, ra ngày thứ sáu,
07.08.1885.
Đoạn mở đầu, tác giả khẳng định: “Cách đây vài ngày, chúng tôi
đă viết là [Nguyễn Văn] Tường chẳng bao giờ là đồng minh của chúng ta.
Nay, cần thêm rằng, chúng ta chẳng hề tin tưởng một tí ǵ về những lời
hứa hẹn chính thức nhất của ông ta, và rằng, sau chuyến bôn tẩu của nhà
vua An Nam cùng với vị thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết, ông ta ở lại
kinh thành chỉ nhằm mục đích phục vụ cho những người nói trên (vua và
Tôn Thất Thuyết) mà thôi” .
+++ Tài liệu 2: Bài báo “Vụ bắt giữ viên quan Tường” (L’arrestation
du mandarin Tường), đăng trên tờ báo Avenir militaire (Tương lai quân
đội), số ra ngày 26.09.1885. Đây là một bài báo đă được t́m thấy trong
t́nh trạng đă được cắt rời khỏi tờ báo.
Nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc lược dịch như sau: “Chúng ta đă
t́m thấy những thông tin sau trong một bức thư đề ngày 11 tháng 09 gửi
cho Hăng Thông tấn Havas: Tôi đă gửi cho ông chiều hôm qua một điện tín
để báo cho ông biết việc vị đệ nhất phụ chính Nguyễn Văn Tường bị bắt.
Bằng cách nào và tại sao người ta bắt ông?
Sau biến cố 05 tháng 07, [Nguyễn Văn] Tường t́m gặp thống tướng
[[De Courcy]], ông ta bị bắt cầm tù và buộc phục vụ cho nước Pháp. Thoạt
tiên, tướng tổng tham mưu định xử bắn ông, nhưng nghĩ lại, tốt hơn là
giao cho ông ta tái lập guồng máy hành chính An Nam nhưng ông vẫn là tù
nhân chừng nào những xáo động chưa được xếp đặt yên ổn, người ta uỷ thác
cho ông ta tái lập niềm tin trong dân chúng và giúp chúng ta theo dơi
tất cả hoạt động của giới quan lại. Ông ta có nhiệm vụ đưa vua hồi loan
và không được phản bội lại chúng ta. Tất cả những điều kiện ấy đang được
thực thi hay ít ra chúng ta tưởng như vậy cho đến những ngày gần đây,
chúng ta biết rằng [Nguyễn Văn] Tường liên lạc bí mật với thân phụ [nhạc
phụ?] ông ta ở bên ngoài. Người ta không t́m thấy ǵ khi bắt giữ những
người chuyển văn thư. Nhưng, vào chiều ngày thứ hai vừa qua, t́nh cờ ta
bắt giữ được một tên trong bọn chúng. Khám xét khắp người, người ta
chẳng t́m thấy ǵ. Khi lột trần tên mật sứ kia, khám kĩ y, người ta đă
t́m thấy một mảnh giấy nhỏ, nội dung được dịch ngay tại chỗ, và quyết
định bắt giữ [Nguyễn Văn] Tường ngay tức th́.
Nội dung mảnh giấy là ǵ, chỉ có thống tướng biết…”.
+++ Tài
liệu bổ cứu cho bài báo trên: “Ngày 05 tháng 09 là hạn chót hai
tháng mà ông thống tướng De Courcy quy định cho [Nguyễn Văn] Tường phải
ổn định An
Nam. [Nguyễn Văn]
Tường, như người ta nhận biết, đă cung cấp cho chúng ta những nguồn tin
thất thiệt; mặc dù
chúng ta đă giám sát chặt chẽ, ông ta vẫn liên lạc với những nhân vật
đáng ngờ ở bên ngoài. Thống tướng quyết định cho bắt giữ ông
ta”
.
(Trích
Gosselin, L’Empire d’Annam, Perrin et Cie, Librairies – éditeurs,
Paris, 1904, tr. 219).
Sau khi
giới thiệu các tài liệu trên, nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc kết luận:
“Vậy là,
các nguồn tư liệu đều cho chúng ta biết rằng trong thế bị cầm tù ở
Thương bạc, và dù bị giám sát chặt chẽ, Nguyễn Văn Tường vẫn liên lạc
với bên ngoài cho đến khi bị phát giác và bị bắt. Cho nên những việc ông
công khai làm dưới sự ép buộc của người Pháp trong t́nh thế bị giam hăm
là những hành động bất đắc dĩ, không thật tâm, c̣n những liên lạc bí mật
với bên ngoài, chính là những cố gắng cuối cùng của ông nhằm phục vụ Đất
nước, bày tỏ trung thành với vua Hàm Nghi. Đó là lí do chính yếu mà De
Courcy quyết định bắt và lưu đày ông…”.
(Trần thuật
và dẫn theo bài báo của Trần Viết Ngạc, “Những tư liệu mới về Nguyễn
Văn Tường” [giới thiệu, phân tích, bổ sung tư liệu sưu tầm, dịch
thuật của bà Nguyễn Thị Ngọc Oanh, hậu duệ thế hệ thứ tư của cụ Nguyễn
Văn Tường, và con gái bà là Trần Nguyễn Từ Vân], bns. Xưa & Nay, số 126
(174) tháng 10.2002, tr. 18 – 20).
Chú thích xong
lúc 09 giờ kém 12 phút,
ngày 22.02.2003
(22.01 Quư mùi HB.3)
.
TXA.
(*) Để tiện việc lưu ư, lưu ư một cách đặc
biệt, mạn phép được viết hoa toàn bộ đoạn trích này.
MỤC LỤC
(tập IV)
1.Truyện kí thứ
mười một: Thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu”.
2.Truyện kí thứ
mười hai: Kinh đô quật khởi và
quốc kế chia tách – phối hợp triều chính.
3.Truyện kí cuối:
Tháng ngày bị lưu đày và cái
chết ở ḥn đảo lao tù biệt xứ.
Bị chú quan trọng
cuối bộ tiểu thuyết.
Mục lục.
Danh mục
sách của tác giả.
Ghi chú:
+++ Thay v́ viết
tay trên giấy rồi mới xếp chữ như các cuốn trước, đây là lần đầu tiên
tôi thử viết trên bàn phím và màn h́nh máy vi tính. Ba tập trước đă viết
xong, tập IV này cũng được tiếp tục với cách thức như vậy.
Khởi viết từ
07 giờ 30 phút, ngày 06.01.2003
(04.12 Nhâm ngọ, năm thứ hai công nguyên Hoà B́nh).
+++ Bản tự nhuận
sắc (02.2004, font VNI-Centur) này, có thể nói là hoàn toàn không khác
ǵ bản sơ thảo hoàn chỉnh (2002 – 2003, font VNI-Times), trừ một vài câu
chữ được trau chuốt lại và dăm chi tiết nhỏ cần chỉnh lí.
18 giờ 10 phút
ngày 23.02.HB.4
(04.02 Giáp thân
HB.4) .
+++ Đổi
font, sửa lỗi sắp chữ và bổ sung một vài chi tiết (như vượt thành…):
13.02.HB.4 (23.01. Giáp thân HB.4)
TXA.
Trân trọng và
cảm ơn.
TXA.
In ở b́a 4:
“… Bộ
truyện kí – khảo cứu tư liệu lịch sử này cũng thể hiện ước mong: Mỗi
người chúng ta tự đối diện với chính ḿnh. H́nh như đấy là nỗi ước mong
của lịch sử với biết bao xương máu! Tôi cảm nhận nỗi ước mong ấy khi
nghiên cứu và trong quá tŕnh viết.
Điều cuối cùng cũng là đầu tiên trong cuốn truyện kí tư liệu lịch
sử này vẫn là: Đoàn kết dân tộc và đoàn kết nhân loại.
Nếu bộ truyện kí – khảo cứu tư liệu lịch sử này t́nh cờ được để
mắt đến, hi vọng người đọc, gồm cả những người Pháp, người Hoa, người Âu
Mỹ nói chung, gồm cả những tu sĩ, giáo dân Thiên Chúa giáo tại Việt Nam
và trên mọi đất nước, sẽ không trút giận vào tác giả, do sự thật lịch sử
được cố gắng tái hiện một cách trung thực nhất…”.
(trích
”Vài
lời thưa trước” của tác giả).
TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN
TỪNG CHỮ, TỪNG Ư TƯỞNG CỦA M̀NH.
TRÂN TRỌNG VÀ THÀNH THẬT BIẾT ƠN.
HẾT
TẬP IV
(TRỌN
BỘ)
Đọc
bộ truyện - sử kí - khảo cứu tư liệu lịch sử này, có thể đối
chiếu với
TIỂU
SƯ BIÊN NIÊN KỲ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 - 1886)
http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/tieu_sbnpcdtnvtuong.htm