Tệp
2
– Tập IV
(phân
đoạn 2, truyện kí thứ 11)
TRẦN XUÂN AN
THẾ TRẬN
“TOẠ SƠN QUAN
SONG HỔ ĐẤU”
Truyện kí thứ mười một
(phân đoạn 2)
6
T́nh h́nh
sau “hoà” ước Quư mùi (1883), có những điều rất đau xót và oái oăm. Bọn
Pháp ở Sứ quán tại Huế, trước đó chỉ một viên khâm sứ và dăm bảy người
phục vụ, kể cả y bác sĩ và thợ làm bánh ḿ, đầu bếp. Nay chúng lại có cả
quân lính, không những dưới cửa Thuận An mà ngay tại Huế. Chúng lại
ngang nhiên đi do thám ngay dưới mũi súng và họng đại bác của tướng quân
Tôn Thất Thuyết, danh tướng Ông Ích Khiêm, của ba viên tướng khác cũng
rất lừng lẫy: Trương Văn Đễ, Trần Xuân Soạn, Vũ Văn Đức… Đúng ra, vừa
đau xót, oái oăm vừa buồn cười.
“Khâm
sứ Săm Bô [De Champeaux] viết thư nói rằng: “Quan Pháp do thám đă bị
dân xă An Truyền, huyện Phú Vinh [:Vang] cười giễu và lính (Pháp) ở đấy
[xă Nhiêu Tập] thổi kèn ở ngoài Sứ quán, đă bị trâu húc bị thương, nên
ra lệnh cấm chỉ”” (47) .
Trước đây,
công sứ (résident, consul) Pháp lại ngang nhiên lên đến Khiêm lăng, nơi
Khiêm hoàng hậu Vũ thị (nay là hoàng thái hậu) cư tang, đến mức quân
lính bảo vệ tại đấy không ngăn cản được (48)! H́nh như y có t́m gặp
Khiêm hoàng hậu, dưỡng mẫu của Dục Đức (Ưng Chân). “Dục Đức ngày
trước, khi vua Dực tông [Tự Đức] hăy c̣n, thường hay đi lại với người
Pháp” (49) , cụ thể là Rheinart và các cố đạo như Caspar ở nhà thờ
Thiên Chúa giáo tại Kim Long, cách bờ kinh thành về phía tây khoảng vài
trăm mét (qua môi giới là thầy dạy tiếng Pháp: linh mục thông ngôn
Nguyễn Hữu Cư) (49). Phải chăng De Champeaux đă t́m gặp Khiêm hoàng hậu
để mưu tính việc đưa Dục Đức trở lại ngai vàng? Không tài nào biết được!
Lúc này, tháng chạp Quư mùi (1883), Dục Đức vẫn cùng con cái, thê thiếp
sống và học hành tại Giảng đường Viện Thái y. Mặc dù hoàng thái hậu Vũ
thị vẫn cư tang tại Khiêm cung, nhưng dĩ nhiên hai mẹ con vẫn thường
thăm viếng nhau. De Champeaux lại đến t́m gặp, chứ y không lạ ǵ Khiêm
lăng mà đến chơi xem! Quả thật, không rơ. Nhưng cảnh giác vẫn hơn. Triều
đ́nh cố nhiên phải rút kinh nghiệm từ vụ Hồng Bảo, Đinh Đạo. Do đó, phải
xây dựng lộ giới bằng trụ gạch để ngăn cách Khiêm cung (48), như một
cách tăng cường giám sát, quản chế. Đó cũng là một bi kịch đau ḷng. Và
sự thể tên khâm sứ ấy, cũng rất đáng căm giận!
Không những
do thám ngay tại kinh đô, thực dân Pháp cùng cố đạo Pháp vẫn âm mưu lũng
đoạn ngai vàng, một âm mưu đă có từ rất lâu và ngay từ thời giám mục
Pellerin (50)… Chẳng những thế, thủ đoạn lợi dụng giáo dân người Việt
ḿnh vẫn tiếp diễn! Giáo dân v́ mê tín, sinh ra dại khờ, mê muội đến mức
phản quốc, chỉ mong thăng thiên về Nước Chúa hoặc mong “nước Cha trị
đến” (51) . V́ sợ sẽ lại có những tên cỡ như linh mục Trần Lục ở
Ninh B́nh vài tháng trước, nên Trương Văn Đễ ra các tỉnh hữu ḱ.
“Biện lí
Bộ Binh Trương Văn Đễ sung khâm phái, ra Quảng B́nh, Hà Tĩnh, Nghệ An,
Thanh Hoá, cáo rơ cho các quan tỉnh biết xét ḍ t́nh thế, để trấn áp
quần chúng nổi lên [gây chiến tranh lương – giáo]. [Ông] bèn lưu ở Thanh
Hoá, điều đ́nh với đạo – b́nh [đạo: giáo – b́nh: lương], làm cho mọi
người yên ổn. Lúc đó, tàu Pháp đến hải phận bốn tỉnh ấy, có chiếc đă bỏ
neo ở Nghệ An, Thanh Hoá, có chiếc đậu ở bến các hạt thuộc Quảng B́nh,
Hà Tĩnh. Giáo mục [:linh mục, giám mục] và giáo dân ngầm đến tàu này xin
viện trợ. Quan tỉnh này sợ rằng lại xảy ra như việc ở Ninh B́nh, ai nấy
đều xin thúc [giục] binh [lính] di chuyển tiền bạc, để trấn tĩnh, hiểu
dụ họ. Nhưng [t́nh h́nh xung đột] đạo – b́nh ở Thanh Hoá không yên (sau
khi cái án thiêu sát giáo dân đă được phát giác rơ). Giáo mục có người
xin phái mộ binh của Pháp đến giữ nhà thờ. Nhân đó (mà) cho phép [biện
lí Trương Văn Đễ] đến điều đ́nh để yên dân” (52) .
Máu cuộc
chiến tranh lương giáo Nghệ – Tĩnh từng lan ra cả B́nh lẫn Thanh mười
năm trước chưa khô, với thù hận dai dẳng đến nay c̣n kêu đ̣i, cả vụ Trần
Lục phối hợp cùng Bouet tại Ninh B́nh vài tháng trước vẫn đang là một
nỗi đau xót, lại thêm vụ “sát tả” (thiêu sát “tả đạo”) mới đây tại Thanh
Hoá, tất cả cũng chỉ máu người Việt đổ, nhà người Việt cháy!
Vị vua trẻ
Kiến Phúc, hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cùng các
tôn nhân, triều thần, quan tỉnh không thể không t́m cách dập tắt ngay từ
đầu mối xung đột lương – giáo do bọn Pháp xúc xiểm để li gián và gây rối,
nhằm tạo cớ xâm lược với chiêu bài “bảo hộ”!
Tiếp theo
chuyến công cán điều đ́nh về xung đột lương – giáo của Trương Văn Đễ,
các quan phụ chính liền bàn việc “trước tiên là chuyển thư của sứ
Pháp [Tricou] nghị xử về sự kiện Bắc Ḱ” (53) , để can thiệp, ngăn
chận sự lộng hành của các tên công sứ Pháp và trấn tĩnh phản ứng của
quan dân ta trước thái độ hống hách, ách bạo quyền của chúng ngoài đó.
Bấy giờ, De Champeaux ở Huế cũng đệ gửi văn thư qua Nha Thương bạc để
nhờ chuyển lên Viện Cơ mật:
“Đờ Li
Cô [:Lư Cố, Tricou] đến Bắc Ḱ bàn bạc với tướng Pháp là Cô Phi [:Cô Bi,
Courbet], nghiệp sức [:đă lo sợ thông tư] cho các công sứ [Pháp] ai nấy
đều phải yên tĩnh, phàm quân sự, dân sự ở các tỉnh đều không dự vào”
(53) .
Đoàn khâm
sai do Nguyễn Trọng Hợp dẫn đầu cũng đă vào Huế, không thể không có đoàn
khâm sai khác ra Bắc Ḱ. Bấy giờ, “quan các tỉnh đều không muốn làm
việc, đến nỗi người ta hết thảy hoài nghi, trộm cướp nổi lên tứ tung; [các
quan tỉnh ngoài ấy] xin cử cán viên đến gấp để xử trí, kịp sớm yên ổn”
(53) .
Trong các
thời đoạn lịch sử gay go, chính quyền không kiểm soát được trật tự, trị
an, thường thấy có nhiều đám trộm cướp nổi lên trấn lột, vơ vét, hôi của.
Trong giai đoạn này, bọn công sứ Pháp lộng hành, Bắc Ḱ đă bị chúng
cưỡng chiếm bằng vũ lực và bằng hàng ước Quư mùi (08.1883), quan triều
đ́nh bất hợp tác, vả lại, quân Thanh kéo sang ngày càng đông, cho nên,
trộm cướp đủ loại (giặc Cờ đă vỗ yên, thảo khấu, thuỷ phỉ, hải tặc, Hán
gian…) không thể không ngóc đầu dậy. Đó là một mặt. Mặt khác, nghĩa quân
đă tự động khởi binh chống Pháp (một số, tiếc thay, theo quân Thanh!).
Ḷng yêu nước truyền thống của nhân dân Bắc Ḱ đến lúc này đă bùng dậy,
tuy vẫn có người “đánh cả triều [đ́nh] lẫn Tây”, một cách tự phát. Đă là
tự phát, lại tự phát trong bối cảnh hỗn mang như thế, nên trong các cuộc
khởi nghĩa của nhân dân, bên cạnh sự sáng suốt, tỉnh táo, c̣n có sự quờ
quạng, nhầm lẫn. Do đó, đoàn khâm sai do thượng thư Bộ Công Đoàn Văn Hội,
sung biện Nội các, tham biện Viện Cơ mật Hoàng Hữu Thường, dẫn đầu, lang
trung Bộ Lại Lê Cơ làm tham biện của đoàn, đă “đi ra Bắc Ḱ để khu xử,
hiểu tập, động viên nghĩa quân” (53) . Đoàn khâm sai và quân binh
tuỳ tùng, hộ tống lên đến năm mươi (50) viên.
Các quan
phụ chính đại thần và thân đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và
cả Hồng Hưu đều chú ư vừa giải quyết t́nh thế vừa “hiểu tập, động
viên nghĩa quân”. Nghĩa quân là lực lượng hương binh, dân
quân (dân được trang bị vũ khí để bảo vệ làng xă) đă khởi nghĩa chống
Pháp. Đó là một lực lượng rất cần sự hướng dẫn, huấn thị và khích lệ,
động viên của triều đ́nh.
Tháng chạp,
thời tiết vẫn mưa và rét buốt. Trời đất đă bắt đầu vào những ngày hạ
tuần, sắp chấm dứt năm Quư mùi (1883, bước sang 1884) nhiều biến động
đau xót.
Tuy nhiên,
vụ thất thủ Ninh B́nh vẫn chưa được ổn định lại, xem ra vẫn c̣n khó khăn,
phức tạp và gay gắt hơn. “Tháng trước, v́ công sứ [Pháp] tỉnh này
ngang ngược, tàn khốc, không thể ở chung được” (54) , nên hộ phủ Ninh
B́nh Tôn Thất Uư “đem dấu tuần phủ cùng ấn triện án sát mà đi
khỏi thành” (54) . Ông đến Nha Sơn pḥng tỉnh, giao ấn triện
án sát cho sơn pḥng sứ Lă Năng Hoằng, để quan họ Lă kiêm giữ (54).
Lúc ấy,
khâm sai Nguyễn Trọng Hợp chưa về lại kinh đô Huế, ông ta bàn với tổng
đốc Hà [Nội] – Ninh [B́nh] đề bạt Phạm Hy Lượng lên chức tuần phủ và đặt
thêm một vài viên chức khác, như tri phủ Thường Tín Hoàng Dụng Tân thăng
lên án sát. Nhưng Tôn Thất Uư không chịu giao ấn triện (54).
“Nguyễn
Hữu Độ lại nói với (viên công) sứ [giặc Pháp] là [Hoàng Dụng Tân] chờ
sau [sứ] sẽ khắc [khuôn] dấu cho. Nhưng [y] sợ! Cơ mật viện [hai đại
thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] tâu lên (vua) rằng: “Hiện nay ở
phủ niết [:án sát] tỉnh Ninh B́nh này, không thiếu nhân viên, mà [Nguyễn]
Trọng Hợp và [Nguyễn] Hữu Độ trước đă sơ suất, muốn mở rộng quyền hành.
[Phạm] Hy Lượng và [Hoàng] Dụng Tân lại không lượng được ḿnh, tuỳ tiện
nghe theo ngay, dẫn đến chỗ không có ấn, gây ra chuyện lôi thôi; lại c̣n
có ư chờ đợi (công) sứ [Pháp] cấp ấn cho. Nói như vậy thật khó nghe”.
Việc xin quyền cấp phủ niết [:án sát] không được phê chuẩn thi hành,
mà việc phân xử [phạt, giáng] mỗi người khác nhau [tuỳ mức lỗi]” (54)
…
“Đến
lúc đó, Săm Bô khâm sứ đóng ở kinh đô viết thư nói rằng: “Công sứ [Pháp]
ở các tỉnh đều không tham dự vào việc này”” (54) .
Nguyễn
Trọng Hợp, Hoàng Dụng Tân, và nhất là Nguyễn Hữu Độ, đă bộc lộ thói cơ
hội xu thời, sự đê tiện thật đáng khinh. Về Tôn Thất Uư, ông vẫn đang
cùng các quan chánh phó lănh binh t́m nơi hẻo lánh, hiểm trở để ẩn núp,
sau khi “trải việc Pháp phái [viên] lại và lính mộ đến đốt phá”
Nha Sơn pḥng và Nha huyện Yên Hoá (54). Ông đă có chỉ dụ từ
kinh đô chuẩn cho về tỉnh, “rốt cục, v́ quan Pháp gây trắc trở, nên
chưa thể về” (54)!
Đó là nỗi
đau xót Ninh B́nh. Từ khi thành Sơn Tây bị thất thủ, t́nh h́nh cũng rất
đáng lo ngại: “Côn đồ khắp nơi nổi lên như ong” (55) .
Đường dịch lộ từ Mỹ Đức thuộc Ninh B́nh đến Sơn Tây không thông, công
văn bị ách tắc. “Các phủ huyện Mỹ Lương, Quốc Oai, Thạch Thất đều
trở thành nơi tấn công và chiếm cứ của bọn phỉ” (55) . Đó là
thời cơ của bọn giặc Cờ, giặc trốn nước Thanh, bọn thổ phỉ, lục lâm thảo
khấu! Hai đại thần Viện Cơ mật Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết tấu
chuẩn, lệnh cho Hoàng Tá Viêm lập tức về đóng quân tại Sơn Tây và đồng
thời chỉ đạo cho các hạt khác tiễu phỉ để ổn định t́nh h́nh.
Cũng tại
Sơn Tây, sau khi thất thủ, các quan tỉnh chuyển đi đóng trụ sở tạm ở Trù
Biện, không về lị sở cũ. Tay sai đă lộ mặt là Nguyễn Hữu Độ lại đang
nịnh bợ tên tướng Pháp toàn quyền Courbet!
“Tướng
Pháp là Cô Bi [Courbet] thúc giục hộ đốc Hà Nội là Nguyễn Hữu Độ chọn
người thay thế! [Nguyễn] Hữu Độ chọn Nguyễn Khuyến (lănh trực học sĩ,
dưỡng bệnh tại quê) quyền lănh tổng đốc, Thành Ngọc Uẩn (thị độc học sĩ
đinh gian trung chế) làm quyền bố chánh sứ. (Hai ông) đều không đến [nhậm
chức]. Thế nên, bèn lấy nguyên tú tài theo đạo (giáo) [Thiên Chúa] là
Nguyễn Trần Cáp, nguyên ngũ phẩm sung thương chính phó quản lí là Nguyễn
Hậu bổ sung vào. Cáp: quyền tổng đốc; Hậu: quyền bố chánh; đều do quan
Pháp [Courbet] cử ra.
Quan Cơ mật
viện [:hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] biết được việc
này, tâu [lên vua Kiến Phúc] rằng: “Trần Cáp tên cũ là Nguyễn Văn, can
ngụy án đang trốn tránh, Hậu là lại điển xuất thân, không có trí thức
nào khác, thỉnh [thị ư vua] không phê chuẩn”.
[Vua] bèn
có lệnh cho Viện thần [hai đại thần Viện Cơ mật Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết] thương lượng với khâm sứ Săm Bô [De Champeaux], viết thư
cho vị tướng ấy [Courbet] ngừng lại việc đó lại. Sau đó, ưng dùng nhân
viên nào th́ do bọn khâm sai Đoàn Văn Hội tiến cử, tâu lên bằng cách
khác.
Lúc đó,
Cáp và Hậu vẫn lưu lại để thi hành. Sau đó, [Đoàn] Văn Hội đến thương
lượng với tướng Pháp [Cour-bet], xin để Nguyễn Trọng Hợp thay thế. Cáp
mới về ngụ ở Hà Nội, Hậu v́ can một khoản nên phải đuổi về” (56)
.
Xét cho cùng, rơ ràng hai đại thần Viện Cơ mật Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết và triều đ́nh vẫn cố gắng nỗ lực đấu tranh với
thực dân Pháp, mặc dù đang kẹt bởi “hoà” ước Quư mùi (1883), phải nhân
nhượng ở hai điều khoản thứ năm (V) và thứ sáu (VI) quá bất lợi về phía
nước ta:
+++ “Điều khoản V: Triều đ́nh nước Nam sẽ ra lệnh cho quan lại
ở Bắc Ḱ trở lại lị sở, bổ nhiệm các quan lại mới để điền vào những nơi
khuyết, và sẽ lâm thời công nhận những sự bổ nhiệm của nhà cầm quyền
Pháp sau khi đă có sự thoả hiệp của đôi bên.
+++ Điều khoản VI: Quan lại các tỉnh từ đường biên phía bắc tỉnh
B́nh Thuận ra đến đường biên Bắc Ḱ, lấy đèo Ngang làm giới hạn, sẽ tiếp
tục do triều đ́nh cai trị như xưa, không có bất cứ một sự kiểm soát nào
của nước Pháp, trừ những công việc thuộc về thương chính hay công chính,
và nói chung là những công việc cần có một sự chủ trương duy nhất và khả
năng của các nhân viên kĩ thuật Âu châu” .
Những ngày cuối năm Quư mùi (1883) vẫn mưa gió, rét buốt, đau đớn
và xót xa, nhưng không phải không có khí thế hào tráng, thái độ kiên
định, vẫn cứng rắn trong vẻ mềm dẻo.
Tuần phủ Từ Diên Húc lại sang vào những ngày cuối năm ấy. Triều
đ́nh Đại Nam vẫn tiếp tục ứng xử rất t́nh cảm và rất láng giềng với Từ
Diên Húc. “Từ Diên Húc đến Lạng Sơn, yết cấm binh dũng các dinh quấy
nhiễu, lệnh [?] cho tỉnh ấy phải cung ứng vật dụng (dầu, than củi, v.v…),
đều có trả tiền. [Nhưng vua] chuẩn lệnh không cho nhận” (57) .
Hai đại thần Viện Cơ mật Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cùng
triều đ́nh, một mặt, vẫn tiếp tục chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến
chống Pháp (xây dựng Tân Sở, tổ chức hương binh…), đồng thời mặt khác,
vẫn đẩy mạnh thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu” (ngồi trên núi xem
hai con cọp đấu nhau) . Dẫu nhà Thanh có ḷng dạ đen tối thế nào đi
nữa (dám lạm quyền ra lệnh cho quan tỉnh ta!…), họ đă và vẫn sẽ đánh bọn
thực dân Pháp những trận ra tṛ…
7
Tháng giêng,
năm mới, Giáp thân (1884). Đây là năm Kiến Phúc thứ nhất, nhà vua đă
tṛn mười lăm tuổi ta.
Sau sinh
nhật vua Kiến Phúc, mùng hai Tết Nguyên đán, không lâu, phái bộ Phạm
Thận Duật và Nguyễn Thuật về đến kinh đô (58). Hơn một năm trời họ ở
Thiên Tân, tỉnh trực lệ của nước Thanh. Quan họ Phạm vẫn được giữ nguyên
chức cũ. Quan họ Nguyễn được thăng thự hữu tham tri Bộ Binh. Các tuỳ
phái cũng được thăng thưởng (58).
Những ngày
đầu năm “các quan trong Chính phủ [:Phủ Phụ chính] [với] ư muốn răn
trị bọn mọt dân” (59) , liền lệnh cho các quan ở Bộ Hộ, Bộ H́nh tra
xét vụ án ở Quảng Điền, thuộc Thừa Thiên, khi vụ ấy được phát hiện (59).
De
Champeaux cũng có lệnh về Pháp, Ba Rô (Pha Rô, Pareau) đến làm khâm sứ (résident)
tại Huế (60).
Ở Bắc Ḱ,
tên tướng Courbet vốn thuộc binh chủng hải quân. Nhưng quân Pháp tăng
cường sang xâm lược nước ta hiện nay không chỉ hải quân của chúng, mà
c̣n có một lực lượng lục quân (bộ binh, lính đánh bộ) lớn hơn cả số hải
quân. Do đó, Courbet được thăng lên một bậc quân hàm, thành trung tướng,
nhưng lại phải nhường chức cho Millot, một trung tướng lục quân vừa
thăng thống tướng (61). Millot đến Bắc Ḱ ngày mười sáu tháng giêng Giáp
thân (1883), giữ chức vụ toàn quyền, thống đốc quân vụ của Courbet trước
đây (61). Courbet chuyên trách tất cả lực lượng hải quân viễn chinh Pháp
ở mặt bể, nên có người ngỡ y đă về nước. Thật sự, Pháp bố trí Courbet ở
chức vụ mới để bí mật chuẩn bị kế hoạch xâm lược và làm áp lực quân sự
mới.
Lực lượng
quân đội Pháp tại Bắc Ḱ đă lên đến một vạn sáu (16.000) tên và mười
(10) đội pháo thủ, chia ra làm hai lữ đoàn. “Một lữ đoàn ở bên hữu
ngạn sông Hồng Hà th́ đóng ở Hà Nội, có thiếu tướng Brière de L’Isle [trông]
coi. Một lữ đoàn ở bên tả ngạn sông Hồng Hà th́ đóng ở Hải Dương, có
thiếu tướng De Négrier [trông] coi” (62) .
Ít ngày sau,
có sự thay đổi về chức vụ trong các quan Viện – Bạc đại thần. Tôn Thất
Thuyết: lănh thượng thư Bộ Binh, Nguyễn Văn Tường: lănh thượng thư Bộ
Lại (63), Phạm Thận Duật: lănh thượng thư Bộ Hộ (sung làm Quốc sử quán
phó tổng tài, kiêm quản Khâm thiên giám). Ngoài ra, Chu Đ́nh Kế: tả tham
tri Bộ Hộ; Nguyễn Thành Ư: thự tham tri Bộ Công. Và khai phục bước đầu
cho các quan khác (63). Vũ Trọng B́nh: thương biện tỉnh vụ Nghệ An;
Nguyễn Chính (Chánh): Sơn pḥng sứ Hà Tĩnh; Nguyễn Trọng Hợp: phó Sơn
pḥng sứ Thanh Hoá; Trần Văn Chuẩn: dinh điền sứ Quảng B́nh; Bùi Ân Niên:
tả tham tri Bộ Lại (63).
Đây là thời điểm khá gay go, nhiều thách thức, do đó, quan chức
triều đ́nh, nhất là ở các tỉnh không ít băn khoăn, dao động. Có nhiều
người t́m cớ ở ẩn, như nhà thơ tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến chẳng hạn.
Ông được cử vào sứ bộ sang Trung Hoa (64), nửa chừng có lệnh phải tạm
dừng lại v́ tại triều đ́nh xảy ra vụ đảo chính Hiệp Hoà, thực dân Pháp
lại làm sức ép về ngoại giao (64). Nguyễn Khuyến về quê ở ẩn với tâm
trạng day dứt, bất lực trước thời cuộc, buông xuôi trước nguy nan, bế
tắc của vận nước, của số phận nhân dân. Ông tự vẽ biếm hoạ về ḿnh. Nói
rơ hơn là Nguyễn Khuyến tự trào, tự khinh chính ḿnh, tự đặt ḿnh thấp
hơn những người quyết không đầu hàng trước nguy nan, bế tắc:
Cũng chẳng
nghèo mà cũng chẳng sang
Chẳng gầy chẳng
béo chỉ làng nhàng
Cờ đương dở cuộc
không c̣n nước
Bạc chửa thâu
canh đă chạy làng
Mở miệng nói ra
gàn bát sách
Mềm môi chén măi
tít cung thang
Nghĩ ḿnh mà gớm
cho ḿnh nhỉ
Thế cũng bia xanh
cũng bảng vàng! (65)
Không làm tay sai cho giặc Pháp xâm lược như Nguyễn Hữu Độ là đúng,
nhưng rất sai khi có nhiều người cũng cùng tâm trạng trốn tránh, đào ngũ
như thế trước vận nước đầy khó khăn, thách thức.
Trước t́nh
h́nh đó, hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết tâu lên vua, và
sau đó có dụ “Triệu dùng các tiến sĩ, phó bảng tại quán và các ấn
quan tại quán” (66) , để tập hợp lại những người đă làm quan,
có tâm huyết, không thiếu nhiệt t́nh với Đất nước, nhân dân, nhưng hoang
mang, chao đảo, buông xuôi, phó mặc, tập hợp những kẻ sĩ chưa được bổ
nhiệm. Đồng thời, theo sự cố vấn của hai quan phụ chính, vua Kiến Phúc
c̣n ban ra sắc dụ “Dạy khuyên các thần, công, trong kinh ngoài tỉnh”
(67). Ở sắc dụ thứ hai, là lời trách cứ bọn cơ hội xu thời theo giặc
Pháp hoặc gặp bối cảnh loạn li, đâm ra tự tác oai, tác quái:
“… Thế
mà gần đây thấy quyền tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Hữu Độ, quyền tổng đốc
Nghệ An là Trần Nhượng thiện quyền tuyển dụng bố chính, tự tiện lưu lănh
binh lại. Tuần phủ Hà Tĩnh Cao Hữu Sung, bố chánh Hải Dương Nguyễn Khắc
Vĩ đặt thêm lănh binh, tự hà chức thủ, hoặc không tâu cho biết, hoặc tâu
mà không đợi báo tin, thậm chí có nơi khắc ấn tỉnh để thi hành. Lấy
những việc làm như thế, rất trái đạo bầy tôi!…” (67) .
Tháng giêng năm Kiến Phúc thứ nhất đâu phải không cam go.
Tháng hai
nguyệt lịch, định lại lệ chọn người làm phó quản đốc tàu thuỷ phải có
đảm lực, dũng khí, chứ không chỉ văn chương, lại là thứ văn chương yếu
ớt (68); nhưng đối với tàu ra nước ngoài, phải là cử nhân, tiến sĩ để đủ
tŕnh độ thu thập, nhận định (68)… Đó là một quan điểm coi trọng kẻ sĩ
không chịu bạc nhược (68)…
Cũng trong
tháng hai nguyệt lịch này, nhà vua, triều đ́nh, hoàng thân thấy cần phải
tăng thêm uy tín và quyền lực cho hai phụ chính đại thần để tiện điều
động các quan tỉnh và quân thứ (70). Ở quan trường, chức tước vốn được
xem là thước đo mức độ quyền lực và uy tín, các quan ứng xử, công tác
cũng phải căn cứ vào đó, chứ không phải dựa vào tuổi tác hay cơ sở nào
khác. Đó là nguyên tắc có hiệu lực, đồng thời là kỉ cương thực sự. Sinh
thời, vua Tự Đức từng nói: “[Việc] triều đ́nh, không ǵ bằng tước.
Nhường nhau ở trong ḷng mà thôi” (69) . Phụ chính thân đại
thần Hồng Hưu, hoàng thân quận công Hoài Đức cũng được tấn phong, thăng
chức ở Tôn nhân phủ để tiện giúp vị vua trẻ Kiến Phúc và hoàng tộc…
Nguyễn Văn Tường được gia hàm thái phó, thăng thụ Cần chánh điện đại học
sĩ, Vĩ quốc huân thần, tấn phong Ḱ Vĩ quận công (70). Tôn Thất Thuyết
được thăng thụ hiệp biện đại học sĩ, Vệ quốc thượng tướng quân, tấn
phong Vệ Chính bá (70). Hai phụ chính tuy được thăng tước vị mới, nhưng
vẫn kiêm sung hàm như cũ.
8
Ngày mười
hai tháng hai nguyệt lịch, Giáp thân (10.03.1884), tên trung tướng mới
thăng hàm Courbet viết văn thư báo cáo về Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp
tại Paris (71):
“Vịnh
Hạ Long, ngày 10 tháng 03 năm 1884.
Kính gửi
ngài bộ trưởng,
Nhằm bổ
sung cho bản báo cáo của tôi đề ngày hôm nay về các hoạt động của sư
đoàn hải quân, tôi trân trọng gửi đến ngài bản tóm tắt những nhận xét
của tôi về các ư đồ của triều đ́nh An Nam và các hoạt động của họ nhằm
chống lại chúng ta.
Những nhận
xét này đă có từ những tuần lễ trước, nay được kiểm chứng bởi các báo
cáo mà tôi đă nhận được trong chuyến công du Quy Nhơn, Hội An và Thuận
An vừa rồi.
Sau cuộc
chính biến ngày 29 tháng 11 [1883] vừa qua, cuộc chính biến đă lật đổ
vua Hiệp Hoà và dẫn đến việc bức tử nhà vua, triều đ́nh mới biểu lộ gần
như công khai thái độ thù nghịch đối với chúng ta. Việc ta chiếm giữ Sơn
Tây, việc tăng viện lực lượng mới đây của ta buộc triều đ́nh An Nam bề
ngoài thay đổi thái độ nhưng bên trong, theo tôi, t́nh cảm cũng như mong
muốn của họ vẫn không có ǵ thay đổi.
Theo ư tôi,
chịu tác động bên ngoài từ các chiến thắng vừa qua của chúng ta ở Bắc
Ninh, vị đệ nhất phụ
chính Nguyễn Văn Tường dường như đang có trong tay các kế hoạch chống
chúng ta. Từ quan
điểm trên, tôi sẽ liệt kê ra đây những khó khăn và những tŕ trệ như
việc ông ta chống đối [sự] phá bỏ đập ngăn trên sông Huế (sông Hương)
theo thoả hiệp ngưng chiến ngày 21 tháng 08 [1883]. Mặc cho những đ̣i
hỏi không ngừng của công sứ và khâm sứ, công việc đó vẫn không tiến
triển chút nào. Mặt khác, những tên chủ mưu sát hại các tín đồ Thiên
Chúa giáo, theo như đ̣i hỏi của chúng ta, đă bị bắt, bị kết án nhưng
chưa được hành quyết [Hồng Thành…]. Trái lại, vị đại diện toàn quyền do
ông Harmand thoả hiệp đă bị ngược đăi và bị bắt giam [Nguyễn Trọng Hợp,
Hồng Ph́…]. Theo lời của viên công sứ ở Huế, viên tổng đốc ở Hà Nội [Nguyễn
Hữu Độ] đă bị giáng một bậc, viên quan ở Sơn Tây [Nguyễn Trần Cáp,
Nguyễn Hậu…] do tôi bổ nhiệm đến nay vẫn chưa được phê chuẩn. Viên quan
ở phủ Ninh B́nh [Phạm Hy Lượng, Hoàng Dụng Tân…] mà tôi bổ nhiệm cũng
vậy.
Về phần vị
đệ nhị phụ chính đại thần, nguyên thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết,
người ta bảo ông không buồn che giấu ḷng thù hận khôn nguôi đối với
chúng ta.
Tôi e ngại
rằng ḷng thù hận đó sẽ dẫn đến ngày mà chúng ta không mong đợi là vua
được đưa đi xa hơn và triều đ́nh được chuyển đến một thị trấn xa bờ biển,
một nơi chúng ta khó gây áp lực hơn là tại Huế. Triều đ́nh An Nam, từ
nơi đó, có thể lănh đạo cuộc nổi dậy chống lại sự bảo hộ của chúng ta.
Chỉ điều đó thôi cũng đủ giải thích các cuộc nhập lậu vũ khí và đạn dược
mà tôi đă biết một cách chắc chắn khi ngang qua Quy Nhơn. Ngoài ra, kế
hoạch từ bỏ Huế đă được triều đ́nh An Nam trù liệu từ lâu mà đối với
chúng ta, sự việc này sẽ làm chúng ta vô cùng bối rối.
Theo ư tôi,
việc chiếm giữ tức th́ và bất ngờ kinh thành Huế là giải pháp tốt nhất
để ngăn chận các sự việc nêu trên. Từ một ngàn đến một ngàn hai [1.000 –
1.200] quân, hai giàn trọng pháo, phối hợp với đội quân đồn trú tại
Thuận An, chúng ta có thể thực hiện tốt việc chiếm đóng này.
Trước
chuyến đi Quy Nhơn, tôi đă thăm ḍ ư kiến của tướng Millot liên quan đến
việc thực hiện dự án này. Ông cho rằng do sự sắp đặt [kế hoạch kháng
chiến]
của viên phụ
chính, [nên] thời điểm hiện nay là chưa thích hợp.
Ngay từ lúc trở về đây (Hạ Long), tôi đă báo cho ông ta biết các
nhận xét của tôi, các nhận xét mà tôi đă hân hạnh tŕnh bày với ngài, và
cách thế mà tôi cho là cần thiết để hoàn thành kế hoạch [đánh chiếm kinh
thành Huế]. Với tư cách đại diện toàn quyền, ông ta cần có một quyết
định hoặc ông ta yêu cầu chính phủ có một quyết định về vấn đề này.
Tôi đang
chờ đợi sự trả lời của ông ta và tôi đă sẵn sàng thực hiện ngay kế hoạch
chiếm đóng” (71).
Kí tên: Courbet.
Tên tướng
Courbet không nêu tên những tên quan ta sớm bộc lộ thái độ cơ hội xu
thời. Những người “sát tả” cũng không thấy nhắc tên. Nhưng văn thư phúc
tŕnh của y, ít ra là ở văn thư này, rất đúng với sự thật.
Về những
người “sát tả”, không thể không kể đến Tôn Thất Trường, quyền tổng đốc
Thanh Hoá, cùng những người khác, “v́ tội đốt nhà giết người của dân
giáo, bị xử án có sai bậc” (72) .
“Năm
ngoái, [Tôn Thất] Trường nghe hơi những dân giáo ở thượng du tụ họp, bèn
phi hội với Sơn pḥng sứ là Hồ Tư Cung, phó sứ Đỗ Huy Toản, phái người
đi thám, có đúng, tức th́ đến trong rừng rậm, làm bí mật cho mất tăm
tích” (72), “giáo mục là Trần Lục hằng tới đến dinh sứ Pháp kêu xin tư
xét…” (72) .
Courbet sao lại không nói đến sự thật này tại những vùng rừng Nghệ An,
Thanh Hoá:
“Vốn có
kinh nghiệm trong việc chinh phục vùng dân cư nghèo đói, lạc hậu, thực
dân Pháp cũng tung các giáo sĩ sang Lào, tiến hành thâm nhập vào quần
chúng. Tháng 01.1873, chúng phái hàng chục giáo sĩ sang Đông bắc Lào.
Năm 1880, giám mục Puginier lại phái thêm ba mươi (30) giáo sĩ nữa. Cho
đến năm 1883, bọn thực dân Pháp vác cây thánh giá đă tổ chức được đến
năm ngàn (5.000) giáo dân ở miền Đông Lào. Những giáo sĩ nhiều khi đi
theo đoàn quân làm sĩ quan tôn giáo, làm tên lính xung kích về tinh thần
để chinh phục những vùng dân cư lạc hậu” (73) .
Thực dân cố
đạo đă bao vây nước ta từ phía Lào một cách thâm độc như thế! Triều đ́nh
thật sự rất khó đặt căn cứ kháng chiến trên đất Lào, mà chỉ trên dăy
Trường Sơn thuộc nước ta với hệ thống sơn pḥng, thượng đạo ra đến Việt
Bắc…
Hẳn sự thật
trên bọn tướng Pháp không thể không ghi lại trong các báo cáo của chúng?
Về những
tên quan ta đă thật sự xu thời, cầu thân với giặc như Phạm Hy Lượng?
Giặc Pháp đưa y lên đến chức quyền tuần phủ (74). Triều đ́nh không đồng
ư, cử Nguyễn Văn Thi đến Ninh B́nh vào tháng hai nguyệt lịch. Pháp lại
không đồng thuận. Ngay lập tức, triều đ́nh cương quyết không đặt tuần
phủ ở đấy, để vô hiệu hoá Phạm Hy Lượng (74)! Phạm Hy Lượng chỉ c̣n cách
ăn lương Tây! Và tất nhiên, y bị dân tỏ thái độ bất hợp tác, bởi y đâu
phải là quan triều đ́nh nữa, chữ kí y nào có giá trị ǵ! Courbet không
viết rơ những chi tiết ấy!
9
Gần đây,
công việc ở thượng du lại thuộc về khâm sai đại thần của triều đ́nh. Tên
tướng thực dân Millot đă đưa binh thuyền về đóng ở Hà Nội, Hải Dương
(75).
Đến thời
điểm này, từ hai chỗ đóng quân trên, Millot quyết đánh tỉnh Bắc Ninh
(75). Y chia quân ra làm vài đạo. Đạo đường thuỷ, Pháp tiến quân qua các
sông Nghĩa Trụ, Lục Đầu, Thiên Đức, Nguyệt Đức. Đạo đường bộ, chúng tiến
theo hướng đến các phủ huyện Siêu Loại, Quế Dương, Gia Lâm, Thuận Thành.
Tàu thuyền lớn nhỏ hơn bốn mươi (40) chiếc. Ngựa của kị binh Pháp cũng
không dưới hai trăm (200) con. Số lính viễn chinh lên đến sáu, bảy ngh́n
(6.000 – 7.000) tên. Ngoài ra, thực dân Pháp c̣n cưỡng bức điều động
hoặc thuê thuyền buôn để chở thuốc đạn. “Lính bản xứ” phản quốc
chúng chiêu mộ được cũng bị điều động đến Bắc Ninh (75).
Phía quân
Thanh, từ nay quân Thanh chiến đấu với ngọn cờ của chính nước Đại Thanh.
“Tổng đốc tỉnh ấy là Trương Quang Đản tuân theo chuẩn định trước,
trung lập, hiện đem quân [t́nh] nguyện đi theo quân thứ cũ, đi ra đóng ở
địa phận xă Nghi Vệ, huyện Tiên Du” (75) .
Quân Thanh gồm sáu mươi (60) doanh (mỗi doanh khoảng ba trăm [300]
viên lính), chia ra khắp bốn mặt thành tỉnh Bắc Ninh để nghiêm cẩn pḥng
thủ. Thống lănh Triệu Ốc ở ngoài thành. Hoàng Quế Lan ở bên trong. Cửa
thành các phía đều khoá bằng ổ khoá để quyết tử, chứ không phải chỉ đóng
then (75).
Ngày mùng mười tháng hai nguyệt lịch, Giáp thân (08.03.1883), quân
Pháp tấn công dinh đồn quân Thanh. Bảy đồn do Trần Đắc Quư chỉ huy, vốn
đóng rải rác ở Mẫn Tuyên (?),Phù Lương, Thuận Lương đều bị Pháp đánh
chiếm (75).
Ba hôm sau, ngày mười ba (11.03.1884), đề đốc tam tuyên Lưu Vĩnh
Phúc cấp tốc đưa quân từ Hưng Hoá về tham chiến. Nhưng chưa kịp đóng
quân ổn định (75)…
Sáng mười lăm (13.03.1884), trận chiến dữ dội giữa Pháp và Thanh
tại Quế Dương chưa phân thắng bại. Trưa hôm ấy, Pháp cho quân đến gần
dinh quân Thanh, thả khinh khí cầu quan sát trận địa. Chúng lập tức thu
quân về. Bất ngờ, vào buổi chiều, chúng lại tấn công, bao vây. Quân
Thanh không chống nổi. Nhiều viên lính bị thương, chết tại trận. Lệnh
rút quân của các tướng Thanh ban ra. Tất cả số quân Thanh ở trong thành,
ngoài thành đều vỡ tan, phải lùi về Thái Nguyên, Lạng Sơn. Quân của đề
đốc họ Lưu cũng rút về Hưng Hoá! Quân Thanh và quân thuộc tướng họ Lưu
chưa kịp bàn định kế hoạch phối hợp, lại chẳng đánh yểm trợ cho nhau,
nên cả hai đều bại trận (75)!
Các quan ta ở trong thành đều tản ra ngoài. Trương Quang Đản tức
tốc đem quân về tỉnh, định vào giữ thành trống, nhưng bị quân Thanh cản
lại. Tổng đốc họ Trương và khâm sai Đoàn Văn Hội ở hai nơi cùng viết hai
bản tập tâu đệ gửi về kinh (75)!
Một điều đáng buồn là Dương Danh Lập yết kiến quan tướng Pháp một
cách xu thời, được chúng trao quyền tổng đốc (75). Nhưng triều đ́nh
không chuẩn cho Dương Danh lập, lại chỉ định Nguyễn Tu làm quyền biện.
Trương Quang Đản có chỉ triệu về kinh đô Huế (75)!
Sau đó, Pháp lại đưa quân lên Thái Nguyên, tiến đánh (76). Năm
doanh quân của quản đốc nhà Thanh Trần Đức Triều cầm cự, không bao lâu
cũng rút. Thủ uư Nguyễn Quang Khoan bị chúng bắn chết. Ngày hai mươi hai
tháng hai Giáp thân (20.03.1884), quân Pháp vào thành Thái Nguyên đốt
phá và vơ vét. Pháp lại quay về tỉnh Bắc Ninh. Từ đó, Thái Nguyên vô chủ,
chỉ do quan đoàn luyện tán dũng cai quản. Đến tháng năm, quân Pháp chiếm
lại Thái Nguyên. Thái Nguyên lại bị giày xéo bởi thực dân cho đến khi
quan tỉnh ta lại đảm nhiệm chức vụ ở đấy nhưng bị công sứ Pháp ḱm kẹp
(76)!
Thế là Bắc Ninh, Thái Nguyên đều thất thủ!
Dẫu sao, hai phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết
vẫn kiên định việc thúc đẩy thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu” ,
Tân Sở và hệ thống sơn pḥng, thượng đạo xuyên Trường Sơn ra Việt
Bắc vẫn được tiếp tục xây dựng để làm hậu lộ cho kinh đô Huế khi cần
thiết, Pháp và Trung Hoa nhà Thanh sẽ vẫn cứ lao vào cuộc chiến tranh…
10
Trong thời
gian thiết kế, chỉ đạo việc xây dựng Tân Sở và thượng đạo, quan phụ
chính Nguyễn Văn Tường hết sức cảm động khi về lại vùng đất Thành Hoá cũ.
Ở đấy, ông đă gặp lại những người đồng bào thiểu số Bru Vân Kiều, Tà Ôi…
ở những buôn làng thân thương ngày đó. Ông ngậm ngùi khi biết một vài
người đă mất đi… Thế mà đă hơn ba mươi năm trôi qua, kể từ ngày ông bắt
đầu được bổ nhiệm tri huyện ở vùng đất trọng yếu, “sinh điểm” cũng là“tử
điểm” của “bộ năo kinh đô” ấy!
Đến đầu
tháng ba nguyệt lịch, Kiến Phúc nguyên niên, Giáp thân (1884), quan đệ
nhất phụ chính Nguyễn Văn Tường lại cảm động biết mấy khi hay tin các tư
mục thổ châu ở Mường Vang, Ná Bồn (Na Bôn), Thượng Kế, Xương Thịnh, Làng
Th́n, rồi kế đến là châu Tá Bang đă đến dinh tuần phủ và hành cung tại
Quảng Trị xin làm lễ tiến hương và lễ khánh hạ với những phẩm nghi vùng
sơn cước (77). Ông và triều đ́nh cũng đă xin nhà vua trẻ chuẩn y các
phẩm vật trang tặng họ (77).
Hơn lúc nào
hết, mối dây liên hệ thắm thiết giữa các châu huyện Thành Hoá (Cam Lộ)
và triều đ́nh được thắt chặt.
Cũng trong
kế hoạch củng cố, chấn chỉnh lại đồn bảo pḥng thủ, đồn Dũng Quyết ở
Nghệ An được thiết lập để đặt những cỗ súng thần công, quá sơn (78).
Đồng thời với việc định lại lệ thi hương văn khoa, cũng định lại lệ thi
hương vơ khoa, thi hội vơ khoa để kén chọn những cử nhân, tiến sĩ về vơ
nghệ, binh pháp, kĩ thuật quân sự (79). Đó cũng là một cách để nâng cao
năng lực cho quân binh vũ trang.
Triều đ́nh
lại định lệ về thi hội, thi đ́nh văn khoa (80). Trong tháng tới, dẫu dập
dồn biến cố, cũng phải tổ chức thi chọn nhân tài cho Đất nước. Thêm vào
đó, lại cho khắc in những cuốn sách Nguyễn Thuật mang từ Trung Hoa về
(81).
Mặt khác,
tại triều đ́nh, để tổ chức cho vị vua trẻ học tập, bồi dưỡng kiến thức
kinh sử và văn chương cũng như chính trị, kinh diên đă được khai giảng
tại Điện Vũ hiển. Đây là một việc hết sức quan trọng.
“… Lễ
tiết theo y như năm Tự Đức. Dùng đại học sĩ Điện Cần chính là Nguyễn Văn
Tường, thượng thư là Phạm Thận Duật sung làm giảng quan ở kinh diên.
Tham tri Bùi Ân Niên, Nguyễn Thuật, Nội các sung biện là Nguyễn Thượng
Phiên, tham biện là Lê Duy Thụy sung làm quan giảng [dạy] hàng ngày.
Nguyễn Hữu Chính, Phan Trọng Mưu [cùng làng với Phan Đ́nh Phùng], Trần
Phát [người Quảng Trị] (đều đỗ tiến sĩ), Nguyễn Trăn (cử nhân) đều sung
chức khởi cư chú” (82) .
Tuy thế,
một sự cố đau ḷng lại xảy ra! Ḱ ngoại hầu Hồng Chuyên, con trai thứ
sáu của Chấn Định quận công Miên Niết, anh ruột Hồng Thành, là một thành
viên đắc lực trong việc chiêu tập, tuyển mộ hương binh, góp phần xây
dựng đội quân Phấn Nghĩa. Nhưng do sục sôi căm uất cố thượng thư Trần
Tiễn Thành, một người đă bị Hồng Hàn, Hồng Tế, Hồng Chức giết chết hồi
tháng mười năm ngoái, nên đến lúc này, sau năm tháng trời, Hồng Chuyên
lại vẫn dẫn quân đi cướp tài sản ở nhà cố thượng thư ấy (83)! Việc bị
phát giác, Bộ H́nh giam xét, và về sau được gia ân hoăn quyết (83). Đó
là một nỗi đau, nhưng triều Nguyễn có lệ “pháp luật bất vị thân” !
Và thêm một
nỗi đau nữa! Lưu Vĩnh Phúc tuy là một dũng tướng nghĩa hiệp, nhưng cũng
có thói hung tàn, một thuộc tính của phỉ! Mới đây, dân ba xă Tiên Canh,
Ngọc Canh, Hoà Canh thuộc huyện Tam Dương, tỉnh Sơn Tây, bị quân của Lưu
Vĩnh Phúc đốt, giết hơn ngh́n nhà (84)! Thật quá mức hung tàn. Triều
đ́nh đă tâu xin ban dụ chẩn cấp cho dân bị hại và lại dụ Hoàng Tá Viêm
nhắc nhở Lưu Vĩnh Phúc phải kiềm thúc quân lính để khỏi ân hận (84).
Trong khi
đó, điều khiến quan phụ chính Nguyễn Văn Tường không thể yên ḷng là bọn
giặc thổ Hán gian và giặc nước Thanh lại thông đồng quấy phá nước ta
(85)…
Tháng ba
Giáp thân (1884) lại bùng ra chiến sự tại Hưng Hoá!
Tên thiếu
tướng Pháp Brière de L’Isle dẫn đến bảy ngh́n (7.000) quân cùng nhiều
thuyền tàu lớn nhỏ chở súng đạn tiến lên Hưng Hoá (86). Chúng tập hợp
quân ở một thành luỹ bên một trái núi. Bấy giờ, tổng đốc Vân – Quư nhà
Thanh Sầm Dục Anh đă cho quân binh dưới quyền hai thống lănh Đinh Hoè,
Mă Trụ về giữ nội địa nước Thanh. Thống đốc Hoàng Tá Viêm cũng cho lính
dỡ đồn Phương Giao, về đóng tại Thục Luyện. Thự tuần phủ Nguyễn Quang
Bích nhờ quân Lưu Vĩnh Phúc yểm trợ, vẫn đóng tại thành (86).
Ngày mười
bốn tháng ba (09.04.1884), Brière de L’Isle thúc quân tấn công. Lưu Vĩnh
Phúc giao chiến. Thắng bại chưa ngă ngũ về bên nào. Đến giờ ngọ (11 – 13
giờ) ngày hôm sau (10.04.1884), trọng pháo của Pháp bắn liên tục. Sức
công phá của những trái đạn trọng pháo rất dữ dội khiến quân Lưu Vĩnh
Phúc không địch nổi. Ngày mười sáu (11.04.1884), quân của tên tướng De
Négrier lại tiến lên tiếp viện. Lưu Vĩnh Phúc cho rút quân theo đường
phủ Lâm Thao. Quan quân Hoàng Tá Viêm rút theo lối tắt, lại chuyển quân
theo đường thượng lộ Thu Cúc, các tỉnh thần cũng tản đi các nơi (86).
Ngày mười
bảy (13.04.1884), quân Pháp chiếm được thành! Hưng Hoá thất thủ (86)!
Tên thiếu
tá Coronat liền đem quân đi đánh đồn Vàng (86)!
Hoàng Tá
Viêm đưa quân thứ về tới Quảng B́nh, tâu về kinh xin nộp trả ấn và cờ
tiết chế (86). Ông đau xót xin được miễn về Huế, chỉ ở tại quê nhà Quảng
B́nh! Ngô Tất Ninh, Lương Tư Thứ phải đem quân về đến kinh thành (86)!
Vận nước đă
đến thế, hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và b́nh
Tây trấn bắc đại tướng quân Hoàng Tá Viêm đành tạm thời ẩn nhẫn để bảo
tồn lực lượng. Việc Pháp đặt người thổ cai trị, đại thần Viện – Bạc tâu
lên vua Kiến Phúc: “Sự thế hiện nay cũng phải quyền nghi như thế.
Nhưng phải xét người thực có văn học, không liên can án kiện ǵ mới được.
Quan Pháp nếu thiên lệch, cũng nên giữ lễ tranh biện, không được khinh
suất nghe lời” (87)! Và Nguyễn Hữu Độ cùng Đoàn Văn Hội cũng được
lệnh chuẩn thi hành như vậy.
Các quan tỉnh và quân thứ tại Hưng Hoá (Nguyễn Quang Bích, Nguyễn
Đ́nh Nhuận), Lạng Sơn (Lă Xuân Uy) và tại Sơn Tây (Nguyễn Văn Giáp,
Nguyễn Thiện Thuật) đều đi biệt sang nước Thanh (86). Có người vẫn quyết
vận động, tập hợp quân binh kháng chiến đến cùng nhưng việc không thành
(86)!
Như thế, từ khi Henry Rivière dẫn quân và tàu binh ra Hà Nội đến
nay, từ tháng hai Nhâm ngọ (1882) đến nay, khoảng một năm hơn, Hà Nội,
Nam Định, Hải Dương, Thuận An, Ninh B́nh, Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên,
Hưng Hoá đều lần lượt thất thủ trước đại binh hung tàn của giặc Pháp!
Thời tiết bắt đầu vào mùa viêm nhiệt, vua Kiến Phúc lại ốm (88)!
Những người đánh Pháp, tiễu phỉ, chết trận, hi sinh v́ Tổ quốc
được thông kê, lập danh sách để cấp tiền tuất và cho con em hoặc cháu
được hưởng lệ nhiêu ấm (89).
Ḱ thi hội năm nay vẫn được tiến hành trong nỗi đau có lẽ chưa bao
giờ đau đến thế! Đại binh ta phải rút khỏi Bắc Ḱ! B́nh Tây trấn bắc đại
tướng quân Hoàng Tá Viêm đă về ẩn nhẫn tại làng quê cũ! Một cuộc rút
quân theo chiến thuật.
Tuy nhiên, thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu” vẫn được
hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết thúc đẩy tiếp diễn!
11
Trong khi
tên tướng Brière de L’Isle đang thăm ḍ thượng nguồn sông Lô, chuẩn bị
tiến đánh Tuyên Quang (90), chính phủ thực dân Pháp tại Paris thấy cần
phải thuyết phục nhà Thanh Trung Hoa bàn định một tạm ước với nội dung
nhà Thanh chấp nhận để Pháp “bảo hộ” Trung, Bắc Ḱ của nước ta (91).
Tên trung
tá Pháp Fournier nhờ một người Đức tên là Détring đang làm quan cho nhà
Thanh, giữ việc thương chính ở Quảng Đông, liên lạc với Lư Hồng Chương
để tính việc nghị hoà (91).
“Khâm
sứ Pháp đóng ở kinh là Lê Na [:Rheinart] cho rằng thuỷ bộ thượng thư [Millot]
của nước ấy [:Pháp] đánh điện báo cho hai nước Thanh – Pháp biết: Hiện
nay ở Thiên Tân nước Thanh, đă giảng hoà rồi, [tuy] ước thư c̣n chưa
trao đổi” (92) .
Quả vậy,
ngay từ ngày mười tám tháng tư Giáp thân (12.05.1884), Lư Hồng Chương và
Fournier đă kí xong tạm ước về việc tranh chấp tại Đại Nam giữa hai nước
Pháp và Trung Hoa (92)!
Không đợi
đến tháng năm Giáp thân, Rheinart thông báo, ḱ thực, hai quan phụ chính
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đă biết được sự thể đó từ khi cuộc hoà
nghị Pháp – Thanh mới bắt đầu…
Trong nước,
từ thượng tuần tháng năm Giáp thân (1884), tên tướng Brière de L’Isle đă
ra lệnh cho tên trung tá Duchesne tiến quân đánh chiếm Tuyên Quang (90)!
Sau khi
thất thủ Hưng Hoá, lănh binh Hoàng Thủ Trung (một vơ quan thuộc quân Lưu
Vĩnh Phúc) đă đem hai ngh́n (2.000) quân về thành của tỉnh Tuyên Quang
(90). Y làm dữ, bắt tuần phủ Hoàng Tướng Hiệp đưa đi an trí ở phủ An
B́nh (rồi lại ép sang Long Châu). Y c̣n cướp hết kho tàng, sổ sách, chở
đi. Thông phán Nguyễn Trung Hội bị bắn chết. Các quan tỉnh đều cáo bệnh
hoặc lẻn về Hà Nội (90).
Mặc dù có
hành vi như phỉ đối với một tên quan như Hoàng Tướng Hiệp, nhưng Hoàng
Thủ Trung rất kiên quyết chống Pháp, có công trong trận phục kích, chém
được đầu Henry Rivière. Phải chăng Hoàng Thủ Trung hành động với ư định
xưng hùng xưng bá một góc trời, như ước nguyện ban đầu, khoảng ba mươi
năm trước, của quân Cờ Đen? Có một điều chắc chắn là Hoàng Tướng Hiệp đă
ngă về phía chủ “hoà”, nên về sau, ngụy triều Đồng Khánh đă truy tặng
hàm thượng thư Bộ Lễ cho tên xu thời Hoàng Tướng Hiệp này (90)!
Lúc này,
dần dần, Hoàng Thủ Trung đă thu tập đến sáu, bảy ngh́n hoặc gần một vạn
(6.000 – 10.000) quân, cố thủ tỉnh Tuyên Quang. Hoàng Thủ Trung chiến
đấu với quân Pháp đến hơn sáu tháng trời, mỗi tháng đều có một, hai lần
giao chiến, có tháng đến bốn, năm lần chạm súng (90)! Quân Pháp cố giữ
để chờ tăng viện quân.
Không những
ở Tuyên Quang, quân Cờ Đen c̣n chiếm đóng ở Lạng Sơn, Cao Bằng và mạn
Lao Kay (93). Đó cũng là một trong những lí do để Pháp cố giải quyết vấn
đề bằng hoà nghị với nhà Thanh… Nhưng mặc dù tạm ước Fournier – Lư Hồng
Chương đă kí kết tại Thiên Tân, quân Tàu và quân Cờ Đen vẫn chưa rút hết
quân!
Dẫu sao,
trong thời điểm đó, triều đ́nh Đại Nam hơi bối rối khi thấy thế trận
“toạ sơn quan song hổ đấu” đă gần như ngă ngũ ở thế thắng của Pháp.
Bấy giờ, Pháp lại quyết buộc triều đ́nh chấp nhận “hoà” ước mười chín
khoản. Theo như cam kết sửa đổi của Tricou, “hoà” ước Quư mùi (1883) gồm
hai mươi bảy khoản trước đây phải sửa đổi lại thành “hoà” ước Giáp thân
(1884) này!
Hai quan
phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đă nghĩ hết mọi sách lược,
mưu kế, cùng triều đ́nh, quân tướng làm hết mọi cách, để nhằm biến đổi
t́nh h́nh theo hướng sáng sủa hơn cho nước ta, nhưng xem ra thành quả
thu lại vẫn chỉ phần nào khả quan hơn so với hàng ước Quư mùi (1883)!
Ngày mùng
bốn tháng tư, công sứ Pháp tại Bắc Kinh Ba Đức Na (Ba Tờ Nô, Patenôtre)
đă xuống tàu tại Pháp, lên đường đến Sài G̣n (94). Rheinart cũng đi cùng
y. Thượng tuần tháng năm Giáp thân (1884), Patenôtre với chức trách toàn
quyền đại thần Pháp đă đến kinh đô Huế để bàn định “hoà” ước mới.
Y và Rheinart ở tại Sứ quán cùng tên khâm sứ đương chức Parreau.
Triều đ́nh đă cử thượng thư Bộ Hộ Phạm Thận Duật sung làm khâm sai
toàn quyền đại thần, tham tri Bộ Công được giữ quyền sung thượng thư là
Tôn Thất Phan, làm phó toàn quyền định ước. Ngoài ra, tham tri Chu Đ́nh
Kế, thị lang Tôn Thất Lương Thành được cử làm hộ tiếp, giao thiệp (94).
Lẽ ra, quan
đệ nhất phụ chính Nguyễn Văn Tường chỉ ở tại triều, chỉ đạo cho cuộc bàn
định và kí kết “hoà” ước này, nhưng Pháp vẫn muốn có chữ kí, ấn triện
của ông để chúng yên tâm. Với yêu sách và áp lực ấy, phụ chính Nguyễn
Văn Tường đành giữ vai tṛ dự thương (94).
Hết
tệp 2
(PHÂN
ĐOẠN 2 TRUYỆN KÍ THỨ 11)
Khởi viết từ 07
giờ 30 sáng ngày 06.01.2003
(04.12 Nh. ngọ
HB.3)
Viết
đến ḍng chữ này vào lúc 09 giờ kém 10 phút
ngày 16.01.2003
(14.12 Nh. ngọ HB.3)
tại thành phố Hồ
Chí Minh.
TRẦN
XUÂN AN
(47) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 69.
(48) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 243;
tập 36, sđd., 1976, tr. 69.
(49) Xin xem lại chú thích (5), truyện kí
thứ mười, tập III, bộ truyện - sử kí - khảo cứu tư liệu lịch sử này.
(50) Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện
với Pháp và Trung Hoa (NĐNĐDVP. & TH.), UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993,
chương hai, mục 1 (Các giáo sĩ thừa sai), tr. 55 – 83, và riêng về
Pellerin, tr. 66 – 68.
(51) Xem Kinh Thánh, Hội thánh Tin Lành Việt
Nam, 1986, phần sách Tân ước, Ma-thi-ơ: 6: 9 – 13, tr. 7. Bản dịch của
Tin Lành giáo: “Nước Cha được đến”, không khác với bản dịch xưa nay của
Thiên Chúa giáo: “Nước Cha trị đến”. Phải chăng đó là cách dịch xuyên
tạc của bọn cố đạo thực dân? Lâu nay, người ta nghĩ các cố đạo Hà Lan,
Tây Ban Nha, Pháp, mục sư Mỹ cố ư dịch như vậy để tạo nghĩa: giáo dân
cầu xin, trông ngóng “Nước thực dân [Hà Lan, Tây Ban Nha, Pháp, Mỹ] đến
nước Đại Nam ta”. Thật ra, với tinh thần nghiên cứu khoa học, tiếp cận
theo góc độ sử học (nghiên cứu lịch sử Do Thái), ai cũng có thể thấy rơ
đây là một bài kinh cổ xưa (thời Chúa Jésus Christ đang sống) của một bộ
phận dân tộc Do Thái cổ đại, và câu ấy có ngụ ư nghĩa cầu mong “Nước do
Thiên Chúa siêu linh cai quản sẽ xuất hiện”. Người Do Thái thể hiện khát
vọng một cách kín đáo rằng nước Do Thái nô lệ dưới ách thống trị của đế
quốc La Mă sẽ là Nước Thiên Đàng (độc lập, tự do, hạnh phúc, theo Ki-tô
giáo) trên mặt đất, thuộc địa cầu trần gian này; nước Do Thái như thế sẽ
xuất hiện như lời kinh cầu nguyện. Xin lưu ư thêm: Trên danh nghĩa,
Jésus Christ là hậu duệ đời thứ hai mươi bảy (27) [!] của vua Đa-vít,
một vị vua anh minh của dân tộc Do Thái. Jésus Christ là một người chủ “ḥa”,
thỏa hiệp với đế quốc La Mă, nhưng có khát vọng phục hồi nước Do Thái
của Đa-vít. Đó là mối liên hệ về cảm thức lịch sử giữa tiểu sử Jésus
Christ với những người “phù Lê” nửa sau thế kỉ XIX ở nước ta, nhưng với
một nhận thức bị nhồi sọ rất lệch lạc (“Nước Cha trị đến”), để cuối cùng
đi đến t́nh trạng phản quốc, làm tay sai cho giặc Pháp, Tây Ban Nha, đế
quốc Mỹ. Xin xem thêm: Trần Xuân An, Mùa hè bên sông, tiểu thuyết, hai
bản in vi tính, 2001 & 2003 (chưa có điều kiện xuất bản rộng răi).
(52) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 70 –
71.
(53) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 71.
(54) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 72 –
73.
(55) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 73.
(56) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 74 –
75.
(57) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 75.
(58) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 76 –
77.
(59) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 77.
(60) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 78.
(61) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd.,
tr. 537 – 538; CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 448 – 449.
(62) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd.,
tr. 538.
(63) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 80 –
81.
(64) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 219.
(65) Xem thêm: Nhiều tác giả (GS. Nguyễn Huệ
Chi chủ biên), Thi hào Nguyễn Khuyến, đời và thơ, Viện Văn học, Nxb.
KHXH., 1992.
(66) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 81 –
82.
(67) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 82 –
83.
(68) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 85;
xem thêm: ĐNTL.CB., tập 27, sđd., 1973, tr. 62 – 63: mục thứ năm tập sớ
tâu mật của Trương Quốc Dụng, “Sửa lại thói quen của nhân sĩ”. Trong đó,
ông phê phán thói học và làm văn chương bạc nhược, yếu đuối, nhất là
trong thời đoạn Pháp và “tả đạo” (không phải Thiên Chúa giáo chân chính)
lăm le xâm lược nước ta.
(69) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 18.
(70) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 88 –
89.
(71) Tư liệu (có phim đèn chiếu chụp lại văn
bản viết tay của Courbet…) do bà Nguyễn Thị Ngọc Oanh và con gái là cô
Trần Nguyễn Từ Vân, hậu duệ của cụ Nguyễn Văn Tường, sưu tầm, dịch thuật,
công bố tại Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824
– 1886), Trung tâm Khoa học xă hội và nhân văn thuộc Đại học Huế, Hội
Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế phối hợp tổ chức, 02.07.2002.; nhà
nghiên cứu Trần Viết Ngạc biên tập, phân tích, bổ sung, soạn lại, đăng
trên bán nguyệt san Xưa & Nay, số 126, tháng 10.2002, tr. 18 – 20.
(72) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 89 –
90.
(73) Vơ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, Vơ Mai
Bạch Tuyết, Lịch sử cận đại thế giới (LSCĐTG.), quyển III, Nxb. ĐH. &
THCN., 1985, tr. 238.
(74) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 44,
72, 90.
(75) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 90 –
93.
(76) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 93.
(77) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 94 –
95.
(78) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 98.
(79) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 95 –
98.
(80) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 101 –
103.
(81) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 101.
(82) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 98 –
99.
(83) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 101.
(84) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 100.
(85) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 99.
(86) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 103 –
105; VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd., tr. 538 – 539; CXL., Nxb.
Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 458 – 459.
(87) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 108 –
109.
(88) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 108.
(89) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 105 –
108.
(90) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 112.
(91) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd.,
tr. 539 – 540.
(92) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 127.
(93) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd.,
tr. 539.
(94) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 113 –
120.
TXA.
Tư liệu bổ sung cho truyện kí thứ mười một:
“…
Kể từ ngày 13.12.1883, một mật lệnh được truyền đi từ các sĩ phu, lănh
tụ đến cho các làng Phật giáo Bắc An Nam với nội dung khích lệ làm vũ
khí chống lại “bọn Pháp nội công”. Cuộc tàn sát công giáo [thật ra, chỉ
riêng bộ phận đích thực là “tả đạo”, theo giặc] sẽ thực hiện từ ngày 02
đến 08 tháng giêng 1884…” (NNBCĐH [BAVH., 1916], bài “Phái bộ
Pháp ở Huế và những phái viên đầu tiên” của linh mục Aldophe Delvaux,
tập III, sđd., 1997, tr. 57).
Chú
thích xong vào lúc 10 giờ kém 15 phút,
ngày
19.02.2003 (19.01 Quư mùi HB.3).
TRẦN
XUÂN AN
Hết
tệp 2
(PHÂN
ĐOẠN 2 TRUYỆN KÍ THỨ 11)
Xin xem
tiếp tệp 3
(Phân
đoạn 3 truyện kí thứ 11)