Tệp
5
– Tập IV
(phân
đoạn 1, truyện kí thứ 12)
TRẦN XUÂN AN
KINH ĐÔ QUẬT KHỞI
VÀ QUỐC KẾ CHIA
TÁCH – PHỐI HỢP TRIỀU CHÍNH
Truyện kí thứ mười hai
(phân đoạn 1)
1
Triều đ́nh
càng nhân nhượng, giặc Pháp càng lấn tới!
Trong vài
năm gần đây, sách lược “toạ sơn quan song hổ đấu”
đă được phụ chính Nguyễn Văn Tường vạch ra và thúc đẩy để h́nh
thành thế trận. Thế trận đă nổ bùng với cuộc chiến tranh Trung – Pháp.
Căn cứ địa Tân Sở cùng hệ thống sơn pḥng, thượng đạo đă được xây dựng,
tăng cường, củng cố. Nhưng đến cuối tháng tư nguyệt lịch Ất dậu (1885),
khi hiệp ước Pháp – Trung do Patenôtre và Lư Hồng Chương kí kết, triều
đ́nh Đại Nam và dân tộc ta hoàn toàn bị cắt đứt tất cả mọi mối liên hệ
với Trung Hoa (1). Pháp cũng c̣n ép triều đ́nh tự cắt đứt liên hệ máu
thịt với các đội quân kháng chiến do các quan ta lănh đạo (2). Và những
con đường thông với Xiêm La cũng bị vây bủa bởi “hàng rào “tả đạo”” do
giám mục Puginier, một tên trùm gián điệp, tung các giáo sĩ sang mạn
đông bắc Lào và hẳn cả Hạ Lào để gầy dựng trong mấy năm trước.
Thật ra,
không chỉ Trung Hoa, cả Xiêm La (Thái Lan) lẫn Miến Điện (Myanmar) đều
bị bọn Anh, Pháp, Đức, Mỹ và cả Nga… xâu xé từ lâu (3). Trung Hoa là chỗ
dựa vốn đă rất tàn yếu, nhưng dẫu sao cũng c̣n khá hơn Xiêm La, Miến
Điện. Cao Mên đă bị Pháp cột chặt, hết giẫy giụa. Lào lại bị đến hai
tầng áp bức. Bọn Âu Mĩ ngồi trên thân thể mục nát Xiêm La, Xiêm La nằm
trên thân phận Lào với hai bàn tay ră rời c̣n cố sức bấu chặt. Triều
Tiên, Lữ Tống (Philipines), Hạ Châu (Mă Lai), Nam Dương (Indo-nésia)…
cũng bị bọn Âu Mĩ đè nặng không khác ǵ! Ấn Độ khổng lồ cũng từ rất lâu
rơi vào vực nô lệ! C̣n Nhật Bản hùa theo bọn Âu Mỹ để vừa làm nô lệ cho
bọn chúng vừa cướp bóc đồng chủng láng giềng (3)!
Sách lược
“toạ sơn quan song hổ đấu” là một nỗ lực không phải không hiệu quả.
Triều đ́nh nhờ thế, đă tạo được một quăng thời gian hơn một năm để xây
dựng, tăng cường, củng cố căn cứ địa Tân Sở cùng hệ thống sơn pḥng,
thượng đạo và chấn chỉnh binh lực, tuy vẫn bị Pháp và bọn cố đạo gián
điệp phá rối, ngăn trở. Đôi khi, cũng đành phải nhân nhượng các yêu sách
của chúng.
Triều đ́nh càng nhân nhượng, giặc Pháp càng lấn tới!
Dẫu sao,
vẫn c̣n dăy Trường Sơn và núi rừng Việt Bắc ngay chính trong lănh thổ
của Đại Nam ta.
Trong những
ngày thượng tuần tháng năm nguyệt lịch Ất dậu (1885), hai quan phụ chính
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đă nhiều lần bàn thảo với nhau về t́nh
h́nh mới và kế sách mới.
Một hôm,
vào cuối chiều, khi ánh nắng đă dịu bớt, hai quan phụ chính đứng bên hồ
Thái Dịch trước Điện Thái hoà, nh́n những đoá sen đang giữa mùa hạ, nở
bừng sắc hồng, sắc trắng với làn hương ngan ngát.
- T́nh h́nh
đă rất căng thẳng. Trước sau rồi bọn Pháp cũng tấn công vào kinh thành.
Tin thám báo đă tâu vào, tên tướng Pháp De Courcy đă nhiều lần họp bàn
với gă Nguyễn Hữu Độ và tên cố đạo Puginier. Có vài lần, y họp với khá
nhiều quan chức ngoài Bắc Ḱ (4). Ngoài ra, một con đàn bà nghe đâu là
hậu duệ nhà Lê vẫn được bọn chúng nuôi dưỡng ở hành cung Hà Nội. Hẳn
chúng muốn lập nữ hoàng để dễ thao túng, ḱm kẹp (5). – Quan phụ chính
Nguyễn Văn Tường vẫn cố giữ sự điềm tĩnh vốn có để nói –. Những tin thám
báo ấy, cái đă có từ trước khi Dực tông Anh tiên đế c̣n chưa khuất núi,
cái mới đây. Tôi đă phối kiểm và thấy đều xác thực. Như vậy, quan tướng
phụ chính nghĩ thế nào?
- Ăn cơm
vua, trả nợ nước, tôi nào sá ǵ cái chết. Gia trang tôi hầu hết ở Thanh
Hoá. Một số ư kiến gần đây cho rằng, nếu chúng bức bách ta quá, th́ cứ
đánh, quyết không hàng. Đầu hàng là một sỉ nhục lớn. Năm kia, thất thủ
Thuận An, triều đ́nh do hai tên chó chết Hồng Dật và Trần Tiễn Thành
khuynh loát đă một lần đầu hàng, nhục nhă quá sức. Cái nhục ấy c̣n ập
trên đầu tôi. Đến bây giờ tôi vẫn c̣n nhục. Bấy giờ, sĩ dân, quan lính
chửi Tôn Thất Thuyết này như thế nào, tôi làm sao quên. Ban đầu chúng
bảo tôi “nực cười châu chấu đá xe” với chút hi vọng “tưởng rằng chấu ngă
ai dè xe nghiêng”, rồi lại bảo tôi chỉ là thứ “miệng hùm gan sứa”… –
Quan phụ chính Tôn Thất Thuyết nghiến răng, nói như rít –. Rất tiếc là
lúc này ta chưa chuẩn bị thật chu đáo! Tôi quyết rửa hận! C̣n bản dụ hôm
cuối tháng tư nguyệt lịch vừa rồi, vua Hàm Nghi “chuẩn sai [thông]
tư đi cho [các tỉnh] biết và xét việc Nguyễn Văn Giáp như quả có thực,
th́ xét trị tội, cho khỏi tiếng phao đồn” (2)
, mặc dù nhà vua cũng như chúng ta đều đoán biết “[nguyên
bố chánh sứ] Nguyễn Văn Giáp sau đó lánh trú chẳng biết ở đâu” (2)
, chúng ta đă có mật dụ đính chính rồi. Các tỉnh đều phân
biệt loại chỉ dụ đối phó, gọi là hư dụ, với loại chỉ dụ chính thức, gọi
là thực dụ. Như quan quận công phụ chính nói, không đời nào ta chịu cho
chúng cắt ĺa ta với các quan kháng chiến. Tôi thành thật khâm phục sách
lược hai mặt với hư chiêu và thực chiêu này (6).
- Đó là tôi
vận dụng kế lưỡng toàn trong bối cảnh hiện nay của chúng ta. Phải có
thật nhiều Trương Định như gần hai mươi năm trước (7). – Quan phụ chính
Nguyễn Văn Tường nói –.
- Vâng,
đúng vậy. Nhưng lần này chúng ta không rơi vào sự đoạn tuyệt như Dực
tông Anh tiên đế hồi đó đă đoạn tuyệt với nghĩa sĩ Nam Ḱ (7). – Quan
phụ chính Tôn Thất Thuyết gật đầu –. Vả lại, chính tiên đế Tự Đức, sau
khi buộc phải đoạn tuyệt như thế, rồi cũng quay lại với kế lưỡng
toàn (7) .
- Đoạn
tuyệt với các quan kháng chiến như Nguyễn Văn Giáp có nghĩa là chúng ta
cũng tự sát, hết đường thoát! – Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường mỉm cười
nhưng không khỏi nghĩ ngợi về bối cảnh bế tắc hiện thời –. Chúng ta đang
ở thế cưỡi hổ. Chúng ta có đầu hàng th́ bọn Pháp cũng giết chúng
ta mà thôi. Làm sao tự cắt đứt với các quan kháng chiến như Nguyễn Văn
Giáp được!
Tôn Thất
Thuyết quắc mắt nh́n xuống những đoá sen giữa màu xanh lá khoả đầy mặt
nước. Ông nuốt nước bọt như nuốt vào ḷng cả nỗi căm uất.
- Nhà Thanh
đă đầu hàng bọn Pháp. Sách lược “toạ sơn quan song hổ đấu”, thúc đẩy sự
bùng nổ thế trận chiến tranh Trung – Pháp, nay đă hoàn toàn bị phá sản;
ta chỉ c̣n được một cái là hệ thống sơn pḥng, thượng đạo. Nhưng, t́nh
h́nh này, ta không c̣n nguồn viện trợ nào về quân số là đă đành, khó
thay là về vũ khí cũng thế. – Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường chậm răi,
từ tốn nói –. Liệu chúng tấn công kinh thành, ta có phản công nổi không,
một khi chúng đă hầu như hoàn toàn rảnh tay ở Nam Ḱ, Bắc Ḱ nước ta và
ở Phúc Châu, Đài Loan, Dương Tử giang bên Tàu? Theo kế hoạch, nếu thất
thủ, tôi sẽ đưa vua và Tam Cung, hoàng thân ra Thanh Hoá, quan tướng phụ
chính cầm cự ở Tân Sở, Vạn Xuân để cản hậu, các quan khác lo pḥng thủ
mặt biển, các tuyến sông Nghệ An, Hà Tĩnh, không cho chúng đổ bộ… Có
điều, chỉ để cản đường cho đức vua và Tam Cung, hoàng thân thoát được
bọn chúng mà thôi! Ta không qua Tàu, qua Xiêm được! C̣n kháng chiến trên
Trường Sơn, Việt Bắc? Thuốc đạn tích trữ trong các kho, ở các đồn, giỏi
lắm chỉ c̣n đủ để kháng chiến một năm. Sau đó, lấy ǵ để tiếp tục kháng
chiến? Triều đ́nh rút lên rừng, thuế má vào tay bọn Pháp và bọn ngụy,
th́ ngân sách đâu để bí mật nhập lậu súng ống, đạn dược? Vả lại, mua số
lượng ít c̣n lọt, chứ với số lượng nhiều, khó lọt lắm. Bọn Pháp tuần
tiễu bằng tàu chiến của chúng khắp bờ biển, cửa sông, cho nên, thực
trạng ấy cũng cần phải đặt thành vấn đề. Đây không phải là thời Trần
Hưng Đạo chống quân Nguyên – Mông, Lê Lợi chống quân Minh, chỉ bằng gươm
đao cung nỏ tự chế tạo. Làm sao ta tự chế tạo súng, đạn tối tân? Nguyễn
Xuân Phiếu đang ṃ mẫm chế được vài khẩu theo kiểu Hoa Ḱ, kiểu Đức… Ta
chế tạo đang hoàn toàn thủ công, bọn Pháp chế tạo bằng cơ giới! – Quan
phụ chính Nguyễn Văn Tường cảm thấy thật chua xót, ông nói tiếp –. Ta
phải đặt hoàn cảnh nước ta vào bối cảnh chung các nước châu Á Tế Á
(Asia), để trả lời những vấn nạn ấy. Từ đó, mới có thể đề ra quyết sách
đối phó trước mắt và kháng chiến lâu dài. Chúng ta không thể vô trách
nhiệm với tiền đồ nhà Nguyễn và vận mệnh nhân dân, Đất nước! Phải suy
sâu nghĩ xa, ấy là trí. Đánh giặc, quét sạch bọn cướp nước, bán nước, để
cứu nước, cứu dân là nhân. Quyết không đầu hàng giặc là khí tiết kẻ sĩ,
là truyền thống anh hùng của dân tộc, ấy là dũng. Nhưng không thể manh
động, liều lĩnh, để mang tiếng với muôn sau là bất trí… Tôi mong quan
tướng phụ chính tự trả lời những vấn nạn ấy giúp tôi, để rồi đề ra quyết
sách trong t́nh h́nh mới!
Quan đệ nhị
phụ chính lặp lại những câu hỏi như tự hỏi chính ḿnh:
- Bọn Pháp
tấn công kinh thành, liệu ta có phản công đánh đuổi nổi chúng hay không?
Nếu thắng, phải làm ǵ? Nếu bại, sẽ làm ǵ? Triều đ́nh rút vào rừng với
hệ thống sơn pḥng, thượng đạo, liệu chúng có dựng nên nhà Lê với nữ
hoàng, hay chúng sẽ dựng lên một tên vua như Dục Đức, như Hiệp Hoà, như
Hồng Hưu hay c̣n tồi tệ hơn thế? Thuế má bọn Pháp và ngụy thu hết, thu
với mức độ bóc lột tận xương tuỷ, dân c̣n ǵ để đóng góp? Vũ khí, thuốc
đạn ở đâu để tiếp tục kháng chiến? Mặt biển, bọn Pháp không để lọt chiếc
thuyền nào? Ta bị bao vây bốn phía, không sang Xiêm, sang Lào, sang
Trung Hoa được? Trung Hoa c̣n mạnh hơn Xiêm, hơn Lào, nhưng cũng đă kí
hiệp ước với Pháp là sẽ không giúp ta, vậy làm sao?
Ngẫm nghĩ
một lúc, quan đệ nhị phụ chính Tôn Thất Thuyết lại chợt hỏi tiếp:
- Sao quan
quận công phụ chính không đề cập đến bọn “tả đạo”? Chúng đă và đang là
tai mắt khắp nơi của bọn Pháp!
- Tôi đặt
những vấn nạn ấy là để t́m cách trả lời cho những ǵ c̣n chưa trả lời
được… Vấn nạn “tả đạo”, câu trả lời đă có từ rất lâu, ngay cả quân Thanh
vừa rồi cũng trả lời như thế (8). Nhưng thật rất đau ḷng… Đó là “b́nh
Tây” phải đi đôi với “sát tả”! Thật vô vàn đau xót, khi ta lại giết dân
ta. Lương hay giáo đều là con đỏ của triều đ́nh, nhưng chúng không chịu
theo ta, phần lớn “dân giáo” chỉ ngoan cố theo cố đạo Pháp! Đă mấy chục
năm trừng trị, thuyết phục, rồi lại khoan hồng, thuyết phục… Vậy mà mới
năm kia, năm ngoái đây, tên linh mục Trần Lục vẫn sách động, xúi giục
dân giáo Ninh B́nh được! Quái tặc đến thế! May là ta chặn được ở Thừa
Thiên và Thanh Hoá, không th́ chiến tranh lương – giáo bùng nổ!
- Thế th́
phải giết sạch, phá sạch! – Quan tướng phụ chính Tôn Thất Thuyết rít lên
–.
- Phá sạch
nhà thờ Chúa của bọn Tây Âu ư? Giết sạch bọn giáo dân phản quốc ư? Làm
sao giết hết được! Giết hết được th́ đâu đến nỗi này! Bọn Pháp lại mượn
cớ ấy để kích động giáo dân ở nước Pháp, ở các nước Âu Mĩ khác! Ta làm
sao chống được cả Pháp lẫn Tây Ban Nha, Mỹ, Đức, kể cả bọn Anh theo Anh
giáo, bọn Nga theo Chính thống giáo, bọn Mỹ và một bộ phận nhân dân các
nước châu Âu theo Tin Lành giáo, thực chất đều thờ Nhi Nhu (Giê Su,
Jésus) (9)! Tôi nghĩ, nếu cơ sự xảy ra, chỉ nên hạ lệnh giết ngay bọn cố
đạo Tây, linh mục Việt và bọn trùm đạo, cho giáo dân như rắn không đầu,
với bản án có cáo trạng, được tuyên xử hẳn hoi! Chúng không nói vào đâu
được! Quan tướng phụ chính thấy tạm ổn chưa? Thật ra, tôi rất ngại phải
gây sự với tất cả các nước Âu Mĩ. Nhân dân bạch chủng theo Thiên Chúa
giáo ở Âu Mỹ vốn có thiên lương, họ cũng có lương tâm, lương tri, lương
năng, nhưng trước sự tuyên truyền xuyên tạc, họ cũng ngu muội như dân
hoàng chủng ta. Hễ cố đạo kích động là họ ủng hộ việc xâm lược của bọn
thực dân chóp bu cầm quyền tại nước họ ngay. Cho nên chỉ tử h́nh bọn cố
đạo Tây Âu làm gián điệp, cướp nước, bọn linh mục, bọn trùm xứ Việt bán
nước đích thực thôi! – Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường nói nhỏ giọng lại
–. Quan tướng phụ chính thừa biết, Dực tông Anh tiên đế đă bị dồn vào
thế phải hạ mật dụ cho các quan tỉnh “làm ngầm” (10)
khá nhiều bọn “tả tặc” ấy. “Làm ngầm”, tức là thủ tiêu,
tử h́nh không có cáo trạng và cũng không ai biết do ai giết. Như thế,
không ai có thể vin cớ “sát tả” để lật đổ triều Nguyễn ta, cướp nước ta!
- Chính tôi
cũng đă thừa lệnh “làm ngầm” không ít tên “tả tặc”! Nay vẫn phải thế
thôi! – Quan tướng phụ chính Tôn Thất Thuyết nói –.
- “Cây muốn
lặng, gió chẳng [chịu] ngừng” cho! Biết làm sao được! Nhưng phải đích
xác là “tả tặc”! Không thể tử h́nh oan dân giáo lương thiện! – Quan phụ
chính Nguyễn Văn Tường nói như nghẹn ngào –. Tội nghiệp dân ta, một số
ngu muội quá, mà lại cứ ngoan cố theo giặc Pháp! Ta chỉ tử h́nh có cáo
trạng và “làm ngầm” những tên giặc, đúng là những tên cướp nước, bán
nước đích thực! Lương tâm ta không cắn rứt ta, nhân dân ta không thể
nguyền rủa ta! Ta đâu phải là kẻ khát máu, cuồng sát! Đó là đối với giáo
dân thuộc loại “tả đạo”. Nhưng với dân lương mà phản quốc th́ cũng phải
tử h́nh như thế. Phản quốc, phải bị tử h́nh, ấy là điều tất nhiên. Công
lí nhân loại chẳng lẽ không phải thế! Thần Công lí của Âu Mỹ chẳng lẽ
đui mù, không thấy sự thật? Có điều, với dân lương, chúng ta không phải
“làm ngầm” (thủ tiêu bí mật). Công lí bao đời nay đều yêu cầu phải được
thực hiện một cách công khai, minh bạch. Pháp đ́nh phải là nơi sáng tỏ
hơn cả ánh sáng ban ngày. Đối với dân giáo theo “tả tặc”, bán nước, phản
bội Tổ quốc, chúng ta bất đắc dĩ phải “làm ngầm”. Chúng ta bất đắc dĩ
phải đau ḷng “làm ngầm” như vậy, bởi nhân dân Âu Mĩ không hiểu sự thật,
họ hoàn toàn bị bọn thực dân chóp bu và Toà thánh La Mă, cố đạo bưng bít,
xuyên tạc. Chúng bưng bít, xuyên tạc để kích động họ, nhằm lôi cuốn họ
ủng hộ chúng đi xâm lược các nước thuộc Á Tế Á (Asia), A Phi Lị Gia
(Africa), Mỹ Lợi Kiên (America), Úc Đại Lợi (châu Đại Dương, Australia).
Thần Công lí của Âu Mỹ chẳng lẽ đui mù, không thấy sự thật?
Nắng chiều
đă tắt hẳn, hai quan phụ chính vẫn c̣n bàn luận hồi lâu. Hương sen cuối
chiều ngào ngạt thơm hơn bao giờ hết.
Sau đó, mỗi
vị lên kiệu của ḿnh. Trước, sau và hai bên mỗi chiếc kiệu đều có dăm
lính cận vệ theo hầu. Hai chiếc kiệu ra cửa Hiển Nhân, về khu vực Lục Bộ.
Chiếc kiệu của phụ chính Nguyễn Văn Tường dừng lại trên sân thuộc khuôn
viên Bộ Lại. Chiếc kia của phụ chính Tôn Thất Thuyết vẫn tiếp tục đi đến
dinh cơ Bộ Binh.
Cả hai vị
phụ chính đang suy nghĩ t́m cách đối phó thật hiệu quả, trước t́nh h́nh
vừa gay go, vừa cấp bách. Có lẽ nào cứ để diễn ra t́nh trạng triều đ́nh
càng nhân nhượng, giặc Pháp càng lấn tới! Giữa ta và Pháp, đă đến mức
một sống, một chết!
2
Roussel de
Courcy đă đến vịnh Hạ Long hôm mười tám tháng tư Ất dậu (31.05.1885). Y
hiện được giữ chức đô thống, kiêm quản các đạo quân Pháp hiện đang đóng
tại miền Nam lẫn tại miền Bắc, đồng thời là toàn quyền đại thần của
chính phủ Pháp tại Đại Nam. De Courcy có quyền hạn rất lớn, cả về quân
sự lẫn chính trị, ngoại giao. “Khâm sứ đóng ở kinh [đô Huế] là Tham
Bô [De Champeaux] cũng [phải] theo lệnh của đô thống [De Courcy] ấy”
(11) .
Qua tên tướng Brière de L’Isle, cố đạo Puginier và Nguyễn Hữu Độ cũng
như Nguyễn Trọng Hợp, cả Phan Đ́nh B́nh, cùng nhiều tên quan chức khác
do Nguyễn Hữu Độ đưa lên, De Courcy hiểu rơ t́nh h́nh ở Huế.
Chưa bao
giờ Nguyễn Hữu Độ ton hót nhiều hơn, trong việc bẩm báo của riêng y!
Nguyễn Hữu Độ c̣n biết De Courcy vốn là một tay bảo hoàng hạng nặng (12)
nên với sự tức giận sẵn có, y đơm đặt, xuyên tạc, bôi nhọ hai quan phụ
chính thật thậm tệ, thậm chí y c̣n giả bộ khóc thương hai tên vua thân
Pháp, là Dục Đức, Hiệp Hoà như phường tuồng lành nghề nữa (13)! Dẫu vậy,
De Courcy vẫn tin ở các cố đạo, nhất là Puginier, và vẫn tin tên tướng
Brière de L’Isle hơn. Puginier ở Đại Nam này hàng chục năm, Brière de
L’Isle cũng ba năm ở xứ này, hằng ngày phải đối phó với hai phụ chính
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, đâu ít ỏi ǵ!
Giám mục
gián điệp Puginier c̣n viết điều trần gửi các nhà chức trách Pháp (ở
thời điểm năm năm sau, vào ngày 09.03.1890):
“Vào
cuối tháng tư năm 1885 [khoảng giữa tháng ba Ất dậu], hai quan phụ chính
Tường và Thuyết đă viết cho ngài đại diện Pháp ở Huế một bức thư mà nội
dung chủ yếu là sự khước từ công khai việc thi hành điều ước [Patenôtre].
Bức thư này đă được gửi cho quan lại các tỉnh kèm theo một bức thư mà
nội dung là kêu gọi tiến hành một cuộc kháng chiến chống Pháp. Một bản
sao của bức thư này đă được một nhân vật thân Pháp trong chính quyền [hàng
tỉnh của]
Nam triều gửi cho
tôi, và tôi đă nhanh chóng gửi nó cho ngài đô đốc De Courcy” (14)
.
De Courcy
cũng đă đọc bức thư Puginier gửi cho tên tướng Millot, ngày 08 tháng
08.1884 trước đây, về căn cứ kháng chiến (sơn pḥng) tại Thanh Hoá:
“… Đó
chẳng qua chỉ là sự thực thi kế hoạch đă được vạch ra trong bản điều
trần của các quan chức Thanh Hoá mà tôi đă có vinh dự gửi cho ngài bản
dịch. Tôi cũng biết rằng bản điều trần đó đă được triều đ́nh Huế chuẩn
y. Tôi biết chắc chắn rằng trong tỉnh Thanh Hoá người ta đang mộ quân
sơn cước với số lượng rất đông và đang có những sự chuẩn bị đặc biệt.
Các quan chức ở tỉnh này muốn che giấu kế hoạch kháng chiến, đă giả vờ
cử quân đi đánh dẹp, nhưng thật ra họ đă bí mật thông cánh với nhau”
(14) .
De Courcy
cũng đă nghe câu Brière de L’Isle thường nói: “Muốn giải quyết việc
Đông Dương [Đại
Nam, Lào, Cao Mên
(Campuchia)], chỉ có một cách là bắt hai viên phụ chính” (15) [:“Tôi
luôn luôn nghĩ rằng cái cách duy nhất để giải quyết hiện t́nh là phải
bắt cóc hai người quan phụ chính”] (15)
.
Đô thống,
hay có kẻ c̣n gọi là thống soái ấy, cố nắm thật chắc t́nh h́nh theo kinh
nghiệm cáo già của y. “Thống soái hiểu rằng nếu triều đ́nh Huế c̣n
đứng vững, nếu Nam triều c̣n có hi vọng thoát li những điều bắt buộc
trong hiệp ước mồng sáu tháng sáu 1884, nếu nước Việt Nam c̣n có chí
muốn khôi phục chủ quyền ở Đất nước ḿnh, là nhờ ở hai người: Tôn Thất
Thuyết và Nguyễn Văn Tường” (16) . De
Courcy đă đi đến kết luận là sẽ thực hiện theo ư định bắt cóc hai quan
phụ chính của tên tướng Brière de L’Isle: “Đoạn chót này là ở Huế”
[:“Phải giải quyết cả vấn đề này tại Huế”] (17)
!
Ngày mười
bốn tháng năm Ất dậu (26.06.1885), De Courcy gửi một bức điện về Paris:
“[Tôi]
sẽ mang một lữ đoàn lính Ả Rập vào Huế. Mồng một tháng bảy, tới Thuận
An. Mồng ba tháng bảy, tôi vào bệ kiến vua Việt
Nam” (18)
.
“Tôi
mang trong ḷng những nỗi căm hờn đối với các vị phụ
chánh. Tôi sẽ hành động thận trọng nhưng cương quyết. Đánh điện về Huế
cho biết, nêu Bộ chống lại việc dùng vơ lực” (19) .
Về việc De
Courcy lên tàu vào Huế, chiếc tàu mang tên gă “anh hùng thực dân”
Henry Rivière, có một tên sĩ quan Pháp viết thư gửi cho người thân ở
Paris:
“Sáng
27.06 [1885], thống soái De Courcy cùng với đại tá Crétin và các quan
hầu đă xuống Hải Pḥng đáp tàu “Henry Rivière” đi Huế. Đi theo tàu này
có tàu
Brandon chở đoàn
quân Ả rập số 3 và năm trăm [500] bộ binh. Lính Ả Rập sẽ đóng tại Huế.
Chuyến này có lẽ thống soái sẽ đối phó một cách quyết liệt. Chậm c̣n hơn
không. Rồi đây chẳng biết thống soái có bắt
Tường và
Thuyết không, hay chỉ bẻ găy sức hoạt động của hai người? Người ta đồn
rằng những vàng bạc, châu báu của nhà Nguyễn chuyển cả sang Lào. Biết
đâu nay mai triều đ́nh chẳng theo sang để giữ cái kho bảo vật ấy” (20)
[:“Nếu một hôm nào đó, triều đ́nh sẽ đi theo số của cải ấy, th́ không có
ǵ là lạ cả”] (20)
.
Thật ra, số
vàng bạc ấy đă được vị quan thanh liêm, thẳng tính nhất là Vũ Trọng B́nh
chở vào Dương Hoà (hay Dương Yên, thuộc Quảng Nam) và chở ra Tân Sở (thuộc
Quảng Trị) (21)…
De Courcy
khi mới đến Bắc Ḱ, y đă “tức th́ gửi thư báo cho khâm sứ [De
Champeaux] đóng ở kinh biết” (22). “Đến đây, [De Courcy] dắt đem binh
thuyền số nhiều, từ Bắc Ḱ đến cửa biển Thuận An” (22)
. Đúng như dự tính, De Courcy và quân lính đă tới Huế vào ngày
02.07.1885 (hai mươi, tháng năm, năm Ất dậu), sau ngày Tết Đoan ngọ đúng
mười lăm ngày. “[Nhà vua] sai hộ tiếp đô thống ấy đến Sứ quán” (22)
.
3
Sau Tết
Đoan ngọ, mùng năm tháng năm nguyệt lịch (17.06.1885), trong cuộc họp ở
Viện Cơ mật – Thương bạc với sự có mặt của ba đại thần Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật, vấn đề Pháp bắt buộc triều đ́nh và nhân
dân ta phải thực thi những điều khoản của “hoà” ước thực chất là cưỡng
ước Giáp thân 1884 đă được bàn luận lại. Trong t́nh h́nh sau khi “hiệp”
ước Thiên Tân Pháp – Trung 1885 mới vừa ráo mực, De Champeaux lại
bắt ép triều đ́nh quá đáng. Quả thật, không thể nào chấp nhận như vậy.
Ba đại thần đều nhất trí tâu lên vua Hàm Nghi trong một buổi thiết triều.
Hôm ấy, như thường lệ, có hai phụ chính thân thần Lạc quốc công Miên Lâm,
Thịnh quốc công Miên Tuấn cùng đ́nh thần.
Đại diện
Viện – Bạc, quan phụ chính Nguyễn Văn Tường tâu:
- “Hiện
nay nước ta với nước Pháp, công việc giao thiệp, [thấy] nên phải bàn bạc
nhiều. [Viện – Bạc] chúng tôi nghĩ làm quốc thư cho sứ [thần] đi sang
kinh đô [Paris]
nước đó, thăm hỏi Giám quốc [:tổng thống Pháp]. Nhân tiện đem các việc
làm của phái viên [Pháp] nhiều lần không đúng [như ở kinh thành Huế, các
nha hải pḥng Đà Nẵng, B́nh Định…] và các điều khoản trong tờ “hoà” ước
[Giáp thân 1884] không thể chịu được. Xin phải [đề nghị Pháp cùng ta]
bàn định châm chước
lại cho [phải]. Nhưng chưa biết nước [Pháp] ấy có thuận nghe hay
không. Xin [nhà vua có ư kiến để] sửa lại bức thư, nhờ quan khâm sứ gửi
về giám quốc [Pháp], [xem] ư nghĩ [họ] thế nào. [Họ] phúc [đáp] đến, [Viện
– Bạc] sẽ làm [:tiến hành việc cử sứ bộ] và sẽ nghĩ thư đệ tŕnh” (23)
.
Bức quốc
thư ấy vẫn kiên định đấu tranh trong hoà dịu. Trước mặt nhà vua, các phụ
chính thân thần, phụ chính đại thần, các quan chính khanh, á khanh, một
vị quan của Nha Thương bạc dùng quả ấn truyền quốc “Đại Nam thụ thiên
vĩnh mệnh” để
đóng chỗ giáp lai các tờ của bức quốc thư, đóng vào chỗ giáp ngoài bao
b́, tất thảy sáu lần đóng dấu (23).
Vua Hàm
Nghi “chuẩn cho theo lời tâu, thi hành” (23)
.
Sau đó, bắt
đầu từ ngày rằm tháng năm nguyệt lịch là dịp thi điện, khảo hạch lại các
sĩ tử thi hội ḱ tháng tư vừa rồi đă đạt hạng trúng cách hoặc thứ trúng
cách (24). Quan vơ Hữu quân đô thống Hồ Văn Hiển làm giám thí. Thượng
thư Phạm Thận Duật (người Ninh B́nh) và các quan văn Hoàng Hữu Thường (người
Thừa Thiên), Vũ Tử Văn (người Quảng Trị), Đỗ Huy Liệu (người Nam Định)
những hôm này phải làm giám khảo. Họ đang rất bận. Và kết quả ḱ thi
điện này dự định sẽ truyền lô, phát bảng vào cuối tháng năm hoặc đầu
tháng sáu tới (24).
Trong ḱ
thi đ́nh này, có một chàng trai xuất sắc mới mười bảy tuổi: Nguyễn
Thượng Hiền (25). Người thanh niên ấy là con trai của quan biện lí Bộ Hộ
Nguyễn Thượng Phiên, một nhà ngoại giao từng lưu trú để làm công tác ở
Quảng Đông và từng đi vận động các nước châu Á ủng hộ Đại Nam chống Pháp
mấy năm trước. Nguyễn Thượng Hiền thừa hiểu t́nh h́nh chưa bao giờ gay
gắt, căng thẳng đến thế!
Đề đốc B́nh
Định mới, được sắp xếp bổ sung nhân lực cho tổng đốc B́nh – Phú Lê Thận,
vừa có lệnh điều bổ vào (26). Cách đây chưa bao lâu, B́nh Định là nơi
bọn Pháp ức hiếp quan ta, đóng đinh bịt lỗ châu mai gần bảy chục khẩu
đại bác tại Nha Hải pḥng! Nha Dinh điền Quảng Trị cũng vừa được chuẩn y
lời tâu để thành lập, hỗ trợ cho Tân Sở và Sơn pḥng Cam Lộ (27).
Dẫu t́nh
h́nh đă rất căng thẳng, không khí chuẩn bị chiến tranh đă bao trùm khắp
kinh đô Huế, nhưng đồng thời với việc sắp đặt thế trận, bố trí lực lượng
quân binh và dự bị hậu lộ, th́ các công việc b́nh thường vẫn phải tiến
hành, tiến hành trong t́nh trạng khẩn trương…
T́nh h́nh
căng thẳng hầu như đă đến cực điểm!
Đúng như dự
định của De Courcy, y và tàu chiến cùng quân lính đă tới Huế vào ngày
02.07.1885 (hai mươi, tháng năm, năm Ất dậu) (28)! De Courcy đi tŕnh
quốc thư của tổng thống Pháp mà hung hăng, dữ dằn, hùng hổ thế ư! Tuy
vậy, theo phép lịch sự ngoại giao, hôm qua, khi Roussel de Courcy và
tiểu đoàn trưởng Metzinger dẫn quân lính đến cửa biển Thuận An, triều
đ́nh đă cử hai vị quan Bộ Lễ cùng đi với khâm sứ De Champeaux về đến đó
để đón tiếp. Tại Huế, sau khi cử nhạc tiếp tân, bên phía Pháp, hai mươi
mốt tiếng súng đại bác nổ rền trời, bên phía ta, mười chín phát thần
công cũng vang trời nổ, theo đúng nghi thức đón chào (28).
4
Khoảng vào
giờ tị (10 – 11 giờ sáng), ngày hai mươi mốt nguyệt lịch, quan phụ chính
Tôn Thất Thuyết cho dừng kiệu tại sân dinh thự Bộ Lại. Theo như thiệp
báo đă được quân hầu cận thuộc Bộ Binh đệ trao trước đó, quan phụ chính
Nguyễn Văn Tường cũng đang chờ ông. Sau khi thi lễ chào nhau, hai người
bắt đầu đi vào câu chuyện.
Nét mặt hai
quan phụ chính không thể không biểu lộ sự căng thẳng. Họ nhận định t́nh
h́nh không đơn giản chút nào. Họ lại được nhận một trọng trách phải
quyết đoán mọi việc, v́ dẫu sao, vua Hàm Nghi mới mười lăm tuổi, c̣n phụ
chính thân thần, đ́nh thần và cả Tam Cung đều để họ định đoạt tất cả.
Quan tướng
phụ chính nói:
- Tôi vừa
nhận được tin mật, rằng bọn De Courcy, De Champeaux đang bày mưu bắt cóc
tôi (29). Chúng chỉ nhắm đến một ḿnh tôi thôi, bởi binh quyền ở trong
tay Tôn Thất Thuyết này. Quan quận công phụ chính đă hay tin chưa?
- Ai đă báo
lại cho quan tướng phụ chính tin đó? Tôi cũng mới vừa được báo cách đây
một lúc không lâu.
- Chúng mới
họp ở bên Sứ quán xong. Tin ấy là do một người nấu ăn ở Sứ quán tiết lộ
(29).
- Phải phối
kiểm lại tin thám báo ấy. Chắc ǵ tên đầu bếp lại báo một cách xác thực
cho lính thám báo của ta? Nhưng dẫu sao, so với tin thám báo từ Hà Nội
gửi vào, tin này chỉ đúng một nửa. Khi c̣n ở Hà Nội, tên De Courcy,
Brière de L’Isle, Puginier, Nguyễn Hữu Độ đều đồng ư với nhau là sẽ bắt
cả hai chúng ta. Lúc này, y chỉ muốn bắt mỗi một ḿnh quan tướng phụ
chính. Tại sao như vậy?
- Do tên
khâm sứ De Champeaux, giám mục Caspar bàn lại chăng? Có thể như thế!
Quan phụ
chính Nguyễn Văn Tường ngẫm nghĩ. Một lúc, ông nói:
- Bọn này
thật táo gan! Nhưng quan tướng không nghĩ rằng mưu kế của bọn chúng là,
chính chúng nó chủ động bắn tin cho ta sao? Nói cách khác, chúng chỉ giả
vờ bị ṛ rỉ tin tối mật ấy. Đó là một cái mưu rất vặt nhưng rất nguy
hiểm. Người xưa gọi là kế li gián và ngầm ư khích tướng. Chúng muốn li
gián giữa tôi với quan tướng.– Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường ngừng lại,
rồi nói tiếp –. Trước đây chúng định chỉ bắt hai chúng ta, khiến cả
triều đ́nh, hoàng tộc dao động. Đa số triều thần, hoàng thân vốn chủ “hoà”,
họ bỗng yên tâm khi hay tin chỉ hai chúng ta là mục tiêu phải bắt giữ
hoặc tiêu diệt mà thôi. Lúc này, chúng bắn tin ra như thế, để tranh thủ
tôi và cô lập quan tướng. Quan tướng phụ chính không nghĩ thế sao?
Quan tướng
phụ chính Tôn Thất Thuyết hơi giật ḿnh. Ông nói:
- Có lẽ như thế
thật!
- Chắc quan
tướng phụ chính c̣n nhớ kế li gián do Nguyễn Huệ sử dụng, khi quân Tây
Sơn đánh chiếm thành Phú Xuân cách đây khoảng một trăm năm?
- Quan quận
phụ chính có thể kể cho tôi thật ngắn gọn không? – Phụ chính Tôn thất
Thuyết sốt ruột đề nghị –.
Phụ chính
Nguyễn Văn Tường thấy th́ giờ đang cấp bách, nhưng không thể không kể.
Ông hơi phân vân, rồi quyết định chỉ kể vài nét chính:
- Bấy giờ,
thành Phú Xuân ở xứ Thuận Hoá này, quân Trịnh (Đàng Ngoài) đă chiếm đóng
từ lâu trước đó. Chính hai viên tướng Lê – Trịnh là Phạm Ngô Cầu và
Hoàng Đ́nh Thể đă mắc mưu, trúng kế li gián của Nguyễn Huệ (30)… Chuyện
kể như thế này: “Phạm Ngô Cầu lại nhút nhát, hay ngờ vực, không hợp
với phó tướng Hoàng Đ́nh Thể. [Nguyễn] Nhạc và [Nguyễn] Huệ nḥm ngó [thành
Phú Xuân] đă lâu, đến đây biết là có thể lấy được. Trước hết, [Nguyễn
Huệ] sai thuật sĩ đem việc hoạ phúc làm cho [Phạm Ngô] Cầu mê hoặc. [Phạm
Ngô Cầu] sai tướng sĩ đặt đàn chay lớn, ngày đêm không nghỉ. Quân bộ của
[Nguyễn] Huệ qua núi Hải Vân, thủ tướng của họ Trịnh [Đàng Ngoài] là
Hoàng Nghĩa Quyền đánh nhau [với quân Tây Sơn], bị chết. Quân thuỷ của [Nguyễn]
Huệ từ cửa biển vào. Hai đường đều tiến lại. Cầu nghe tin báo, vội vàng
từ đàn [chay tế] chạy về, mưu đem quân để chống. Nhưng quân lính [v́ tế
đàn dài ngày, thức suốt nhiều đêm,] mỏi mệt đă lâu, đều không có ḷng
chiến đấu. [Nguyễn] Huệ mật sai [Nguyễn] Hữu Chỉnh đem thư bóc nến [:sáp
nến], [mật] ước với [Hoàng] Đ́nh Thể, [rằng Thể] làm nội ứng [cho quân
Tây Sơn], mà giả cách đưa lầm đến cho Cầu. Cầu cho Thể với Chỉnh cùng là
môn hạ của [Hoàng] Ngũ Phúc [tướng của họ Trịnh], [nay Chỉnh đă theo
hàng Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, nhưng hẳn giữa Thể với Chỉnh vẫn c̣n t́nh
cố cựu, đồng môn thuộc, biết đâu đă móc nối với nhau để cùng quy hàng
quân Tây Sơn]. [Như thế, Cầu nghĩ], tất không lợi cho ḿnh. Trong ḷng [Phạm
Ngô Cầu] ngờ vực, sợ hăi, riêng tính kế đón hàng [quân Tây Sơn] để mong
được khỏi chết” .– Phụ chính
Nguyễn Văn Tường mỉm cười, chua chát –. “Rồi th́ quân Huệ chợt đến,
quân thuỷ, quân bộ đánh giáp lại. Cầu sai Thể ra khỏi thành đón đánh.
Thành gần bờ sông. Quân ở thuyền của [Nguyễn] Huệ ngửa trông lên chân
thành, [thấy thành] cao hơn hai trượng, không thể ngửa lên bắn được. Thể
bắn súng lớn ch́m một chiếc thuyền. Quân [Nguyễn] Huệ hơi lùi. Chợt khi
nước sông lên mạnh, thuyền sát đến thành, [quân Nguyễn Huệ] chiếu vào
thành mà bắn. Rồi [Nguyễn Huệ] cho quân bộ vây các cửa thành. Thể cùng
hai con [trai] hết sức đánh, chém giết được vài trăm người. Thuốc đạn
đều hết, [Thể] sai người xin ở Cầu. Cầu không cho. Thể cả giận, muốn vào
thành giết Cầu trước rồi sau mới ra đánh, th́ đă thấy trên thành [chính
Phạm Ngô Cầu đă cho lính] dựng cờ trắng [đầu hàng quân Tây Sơn] rồi. Thể
lại vây quân, đem dao ngắn đánh tiếp, giết được vài mươi người. [Cuối
cùng] hai con [trai Thể] đều chết trận. Thể sức kém, cũng tự đâm cổ,
chết trên bành voi. [Nguyễn] Huệ đem quân vào thành [Phú Xuân], giết rất
dữ. Quân miền Bắc [của họ Trịnh] ở trong thành vài vạn người đều [bị]
giết hết cả. Người nào chạy ra ngoài thành, th́ dân [Thuận Hoá] tranh
nhau giết chết. Đốc thị là Nguyễn Trọng Đương cũng chết trong đám loạn
quân. [Phạm Ngô] Cầu [tự] trói tay về sau lưng, xin hàng [Nguyễn Huệ]. [Nguyễn
Huệ] đem [Phạm Ngô Cầu] về Quy Nhơn, giết đi” (30)
.– Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường kể thật ngắn gọn v́
thời giờ đang rất khẩn cấp, và ông nói tiếp –. Kế li gián thâm độc thế
đó. Chúng ta ở ngay trên đất Phú Xuân của xứ Thuận Hoá này, lại có bài
học lịch sử về kế li gián cách đây khoảng một trăm năm như thế! Quan
tướng phụ chính và chính tôi đây đều phải cảnh giác mưu kế li gián của
bọn De Courcy, De Champeaux và của cố đạo Caspar!
Quan phụ
chính Tôn Thất Thuyết ngẫm nghĩ. Ông thấy rơ ràng là bọn De Courcy đang
bày mưu khích tướng và li gián. Lúc này, chúng giả vờ tranh thủ quan phụ
chính Nguyễn Văn Tường, muốn ông bị cô lập, và đang bức bách kinh thành.
Ông thật sự căm giận, nhưng cố gắng nói vừa đủ hai người nghe:
- Chúng
muốn ép tôi đến cùng, buộc tôi vào thế bí. Nhưng, tôi cũng không chịu
đầu hàng chúng, không bao giờ đầu hàng chúng cả! Đến đâu th́ đến. Bên
cạnh tôi, ngày đêm luôn có quân Phấn Nghĩa túc trực để bảo vệ. Tôi không
sợ. Nếu chúng làm tàng, phách lối, tôi sẽ cho chúng biết tay.
- Quan
tướng phụ chính định tấn công chúng trước?
- “Tiên hạ
thủ vi thượng sách” , tấn công trước là
tốt nhất!
- Như thế
sẽ rơi vào mưu kế khích tướng của chúng. Chúng chỉ mong có thế, để phản
công, và cuối cùng là chiếm đóng cả kinh thành, hoàng cung. Như thế là
không ai có thể trách cứ chúng vi phạm hiệp ước cả, bởi chúng sẽ đổ lỗi
ta tấn công chúng trước! Dân ta và dư luận các nước không có lí do nào
để căm phẫn, hoặc nếu có căm phẫn chăng th́ cũng đă bớt cường độ nhiều
rồi. Bọn De Courcy vừa đánh chiếm được kinh thành vừa không mất ḷng dân
hay ít mất ḷng dân, c̣n dư luận các nước không nói vào đâu được. Trái
lại, nếu cứ để chúng tấn công ta trước, ta mới có cớ để trách chúng vi
phạm hiệp ước. Chỉ cần để chúng bắn trước vài phát, ta liền cho lính hô
hoán lên, sau đó ta phản công mănh liệt th́ tốt hơn.
- Cái đó
cũng dễ thôi. Nếu tối mai chúng tiệc tùng với nhau như tên đầu bếp nói,
tôi sẽ cho thực hiện ở cống Thanh Long, buộc chúng phải nổ súng trước.
- Như thế
là đỡ phải mắc mưu bọn Pháp. Rất hay. Nhưng đó là chúng ta lo xa, nghĩ
sâu vậy thôi, chứ ai cũng biết, cho dù ta tấn công trước hay chúng tấn
công trước th́ cũng đều do chúng bức bách ta mà ra. Nhưng cẩn trọng
trước dư luận vẫn hơn. Đó là bàn cho tận cùng ḱ lí. Và một điều nữa,
tôi muốn quan tướng phụ chính trả lời những câu hỏi mươi hôm trước tôi
và quan tướng đă nêu ra.
Quan tướng
đă suy nghĩ rất kĩ về những vấn nạn đó. Từ hôm hai vị phụ chính bàn luận
bên hồ Thái Dịch ngát hương sen ấy đến nay, ông đă không ngớt thao thức
trước những câu hỏi: Bọn Pháp tấn công kinh thành, liệu ta có phản
công đánh đuổi nổi chúng hay không? Nếu thắng, phải làm ǵ? Nếu bại, sẽ
làm ǵ? Triều đ́nh rút vào rừng với hệ thống sơn pḥng, thượng đạo, liệu
chúng có dựng lại nhà Lê với nữ hoàng, hay chúng sẽ dựng lên một tên vua
như Dục Đức, như Hiệp Hoà, như Hồng Hưu hay c̣n tồi tệ hơn thế? Thuế má
bọn Pháp và ngụy thu hết, thu với mức thuế bóc lột tận xương tuỷ, dân
c̣n ǵ để đóng góp? Vũ khí, thuốc đạn ở đâu để tiếp tục kháng chiến? Mặt
biển, bọn Pháp không để lọt chiếc thuyền nào? Ta bị bao vây bốn phía,
không sang Xiêm, sang Lào, sang Trung Hoa được? Trung Hoa c̣n mạnh hơn
Xiêm, hơn Lào, nhưng cũng đă kí hiệp ước với Pháp là sẽ không giúp ta,
vậy làm sao?
Quan tướng
Tôn Thất Thuyết bỗng quyết tâm hơn bao giờ hết. Ông liền nói:
- Xưa nay
chưa có ai khen người đầu hàng. “Thà chết vinh c̣n hơn sống nhục”
! Có lẽ cơ đồ triều Nguyễn đến đây là hết. Tôi với quan
quận công phụ chính cũng đă gắng gỏi đến cùng. Không c̣n cách nào nữa.
Ta chỉ biết làm trọn trách nhiệm ta mà thôi. Đó là phải chiến đấu đến
cùng để giữ danh dự cho triều Nguyễn, như quan quận công thường nói. “Chớ
đem thành bại luận anh hùng” ! Xưa
nay có ai chê trách An Dương vương khi mất thành mà tự sát đâu, mặc dù
ông vua ấy chủ quan, mắc mưu gián điệp là rất đáng trách. Ông ta không
bị chê trách ở chỗ ông ta không đầu hàng và biết tự sát để giữ khí tiết.
Ai trách Hai Bà Trưng mất thành, nhảy xuống sông Hát tử tiết đâu. Ai
trách Mai Hắc đế không đầu hàng đâu, mà c̣n khen ngợi nữa. Ai trách vua
Trần Trùng Quang và Đặng Dung đâu, cho dù họ bại trận, bị giặc bắt, phải
nhảy xuống biển tự vẫn. Quan quận công phụ chính thường hay nói chuyện
kinh sử nước ta với tôi mà!
- Không sai
chút nào hết. Không ai khen ngợi kẻ đầu hàng trước giặc ngoại xâm hay
trước giặc nội loạn phi nghĩa. Rơ ràng triều Nguyễn ta là chính nghĩa,
bọn Pháp và “tả đạo” là phi nghĩa. Ta đầu hàng bọn Pháp và “tả đạo”, tất
nhiên hậu thế muôn đời sẽ nguyền rủa ta. – Quan phụ chính Nguyễn Văn
Tường nói rơ hơn, và nói tiếp –. “Thà chết vinh hơn sống nhục” trong
trường hợp triều Nguyễn ta là sao đây? Ấy là phải chiến đấu đến giọt máu
cuối cùng để tṛn sứ mệnh của một triều đại lănh đạo cả dân tộc, và cho
dẫu triều Nguyễn ta sụp đổ th́ triều Nguyễn ta vẫn vinh quang đến muôn
đời. Như thế, tất nhiên c̣n hơn là cả vua lẫn quan triều Nguyễn ta chịu
làm tôi tớ cho bọn Pháp và “tả đạo” dưới chiêu bài mị dân của chúng, để
muôn đời hậu thế nguyền rủa. Chúng ta sôi kinh nấu sử một đời cũng chỉ
học có mỗi một bài học đó thôi. Không ai không biết. Ngay cả người
thường dân lê thứ, cũng hiểu truyền thống đó, nữa là kẻ sĩ, quan chức
chúng ta. – Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường mỉm cười, bỗng rất đỗi điềm
tĩnh –. Tuy nhiên, vẫn c̣n một kế sách cuối cùng, tôi sẽ bàn với quan
tướng phụ chính. Thật ra, hôm trước tôi đă nói đến kế sách của đức Dực
tông Anh tiên đế, ấy là kế lưỡng toàn và quyết không đoạn tuyệt với
phong trào nghĩa sĩ (nhưng rất tiếc là đức Dực tông Anh tiên đế đă trót
lỡ mà đoạn tuyệt!) (7). Phục vụ cho kế sách lưỡng toàn và không bao giờ
đoạn tuyệt với phong trào nghĩa sĩ ấy là “hư chiêu”
và “thực chiêu” (nói theo danh
từ vơ thuật). “Hư chiêu” và “thực
chiêu” có nghĩa là sắc dụ giả vờ, nhưng
công khai và sắc dụ chính thức, lại bí mật (14). – Quan phụ chính Nguyễn
Văn Tường chậm răi và khe khẽ nói kề bên tai quan tướng Tôn Thất Thuyết
–. Nếu giả định kinh thành sau khi quật khởi mà bị thất thủ, một nửa sẽ
lên sơn pḥng, thượng đạo tiếp tục kháng chiến, c̣n một nửa ở lại cứ giả
vờ chấp nhận chịu “bảo hộ”. Tức là “nửa bí mật, nửa công khai”
. Nhà vua sẽ lănh đạo bằng mật dụ. Tất cả các quan phải thi hành
theo sắc dụ bí mật (mật dụ). C̣n sắc dụ giả vờ, công khai (hư dụ) chỉ là
h́nh thức đối phó với bọn Pháp, “tả đạo”. Có như vậy, các quan binh
kháng chiến mới có thể có vũ khí, đạn dược, quân trang, lương thực được
tiếp viện từ triều đ́nh một cách bí mật. Nếu không th́ đào đâu ra? Nước
nào viện trợ?… Tóm lại, cụ thể là đêm nay hoặc đêm mai, tôi hoặc quan
tướng, sẽ có một người chỉ huy tấn công bọn Pháp ở Mang Cá và ở Sứ quán,
c̣n một người giả vờ không biết ǵ cả để có thể ở lại, củng cố lại triều
đ́nh và hệ thống quan các tỉnh, phủ, huyện. Như thế là lưỡng toàn. Quốc
kế này chỉ tôi và quan tướng biết mà thôi, không tiết lộ cho ai biết nữa.
– Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường lại nói –. Nếu thắng trận này, ta cứ
phải đổ lỗi cho De Courcy bức bách ta (sự thật đúng như vậy!) hoặc đổ
lỗi chúng nổ súng bắn ta trước. Bởi thắng trận đánh danh dự, trận đánh
quốc thể này, c̣n nhiều trận sau nữa, chứ đă hết đâu, ta đâu đă hoàn
toàn thắng lợi, đuổi sạch bọn Pháp và các tên cố đạo gián điệp đâu! Ta
c̣n phải có cớ để đấu tranh trước công luận, cho dù công luận hiện nay
của các nước thực dân là công luận hàm hồ, già mồm và ỷ mạnh.
Hai vị phụ
chánh bàn bạc rất cụ thể, vạch ra từng phương án một, trong đó có phương
án rất quan trọng là ban bố “Dụ Cần vương”
tại Tân Sở (31). Cả hai vị đều hiểu rằng: “người đi” (32)
cho dù gian khổ ở rừng thiêng nước độc, thậm chí phải làm người
thượng, th́ vẫn hiên ngang và tự do, tự chủ, c̣n “kẻ ở” (32)
có thể sẽ bị De Courcy bắn chết ngay sau khi kinh đô, hoàng
thành bị bọn Pháp chiếm được. Đó là chưa nói về danh dự, khí tiết!
Ai là “kẻ
ở”? Ai là “người đi”? Hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết trầm ngâm nghĩ ngợi.
Gần đúng
ngọ (11 – 13 giờ trưa), nắng chói rực bên ngoài vuông sân rộng của dinh
cơ Bộ Lại. T́nh thế và thời giờ cấp bách lắm rồi. Phải nhờ quan lăo
thành nổi tiếng thanh liêm, trực tính Vũ Trọng B́nh cắt cử người đưa ra
Tân Sở thêm những bảo vật và xem xét cẩn trọng việc bảo quản các bảo vật
đó. Phải kiểm tra, đôn đốc lại quân binh pḥng thủ. Trận địa sẽ là kinh
thành, hoàng thành này! Không thể muộn hơn được nữa! Trận đánh v́ quốc
thể và v́ danh dự triều Nguyễn!
Trong tất
cả vua quan, triều thần, hoàng thân, và đặc biệt là hai quan phụ chính,
ai mất, ai c̣n trong những giờ khắc sắp điểm?
5
Hôm sau, ngày hai mươi mốt tháng năm Ất dậu (03.07.1885), Viện Cơ
mật quyết định sang Sứ quán theo như giấy mời của De Courcy để bàn về
thể thức triều yết và tŕnh quốc thư của chính phủ Pháp (33) do tên thực
dân Brisson làm thủ tướng. Không thể không đi, nhưng thật sự quan phụ
chính Nguyễn Văn Tường rất ngại thủ đoạn của tên đô thống De Courcy. Nhỡ
y bắt ông và các quan khác vào Gia Định như đă từng bắt tổng đốc Hà Văn
Quan và một số quan khác ở Bắc Ḱ th́ làm sao! Thế th́ thật mất mặt, rất
nhục nhă. Chính quan tướng phụ chính Tôn Thất Thuyết cũng không chịu đi
(33)!
Tối hôm qua, quan phụ chính Nguyễn Văn Tường đă suy nghĩ nhiều để
t́m cách ứng xử trong trường hợp này. Sáng nay, ông vẫn điềm tĩnh đến
Viện Cơ mật – Thương bạc. Tại đó, hiện diện gần như đủ mặt các quan từ
đại thần đến tham biện, tư vụ, tất nhiên không thể thiếu quan tướng Tôn
Thất Thuyết.
Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường bảo:
- Thế này, bây giờ đi tất cả, nhỡ tên De Courcy làm ẩu, th́ lấy ai
bảo vệ kinh thành, đức vua và Tam Cung cùng đ́nh thần, hoàng thân. Cho
nên, tôi đồng ư là chỉ tôi và đại thần Phạm Thận Duật cùng năm vị nữa,
gồm hai phụ chính thân thần Miên Tuấn, Miên Lâm và ba tham biện, tư vụ
của Viện. Nhưng phái đoàn ta đi, không theo nghi thức vốn có với cờ lọng
kèn trống, mà đi có nhiều lính hộ tống với vũ trang. Ta đi tắt, khá lặng
lẽ, đừng để nhân dân chú ư nhiều, gây kinh động. Chúng ta có lính hộ
tống vào tận cửa pḥng họp, nếu bọn Pháp làm ẩu, ta lệnh cho lính hộ
tống chận cửa pḥng họp lại. Ngoài số lính hộ tống, c̣n có một đội mai
phục sẵn ở gần Sứ quán để yểm trợ, một cơ khác mai phục trên sông để
chặn tàu thuyền của chúng. Bên này sông, số quân mai phục sẵn sẽ vượt
nhanh qua sông, phối hợp ứng cứu.
- Tôi xin cắt cử đủ quân như quan quận công phụ chính bàn. – Quan
tướng phụ chính Tôn Thất Thuyết hết sức vui mừng tán thành –.
Phái đoàn lặng lẽ đi tắt sang sông, không có nghi thức long trọng
như mọi lần.
Đến Sứ quán,
phái đoàn được mời vào pḥng họp. Quân cận vệ khá đông cũng vào theo và
đứng chặn trước cửa. De Courcy, De Champeaux hơi bất ngờ nhưng chúng
hiểu ra ngay. Chúng biết mưu kế bắt cóc của chúng đă đến tai hai quan
phụ chính. Thật ra, đó cũng là lời tuyên chiến của chúng mà thôi, nhằm
mục đích khích tướng để quan Bộ Binh Tôn Thất Thuyết nổ súng trước.
Chúng thấy đánh chiếm kinh thành th́ công to và thu lợi nhiều hơn là chỉ
bắt cóc hai phụ chính. Trước sau ǵ, hai phụ chính vẫn bị chúng bắt,
thoát đi đâu được, nhất là sau khi kinh thành thất thủ! De Courcy rất tự
tin vào lữ đoàn lính Ả Rập cùng số quân ở cửa Thuận, ở Sứ quán, và y rất
khinh thường quân binh của ta! De Courcy là một tay cực ḱ tham công,
hám của. Y quyết phải đánh bại kinh thành, chiếm hẳn hoàng cung. Danh
tiếng y sẽ lừng lẫy khắp nước Đại Nam, khắp nước Pháp cũng như ở nhiều
nước khác nhờ chiến công này. Và chiếm được hoàng cung, dẫu sao ở đấy
cũng c̣n khối của quư, bảo vật lẫn vàng bạc. Y sẽ giàu to, ngoài số
chiến lợi phẩm phải chở về cho chính phủ Pháp. Như thế, ngon ăn hơn là
chỉ âm thầm bắt cóc hai phụ chính. Vào đến Huế, quan sát địa h́nh, cách
bố pḥng kĩ lưỡng nhưng thiếu hiện đại ở kinh thành, y liền thay đổi ư
định là không chỉ bắt cóc hai phụ chính một cách giản dị! Đời làm tướng,
mấy ai có dịp may đánh chiếm kinh đô một nước! Đây sẽ là chiến công làm
nên sự nghiệp lớn! Thật uổng và thật ngu nếu bỏ lỡ dịp may hiếm có này!
V́ suy nghĩ
như thế, nên y quyết định chỉ khiêu khích là chính, chứ chẳng bàn thảo
ǵ!
- Các quan làm ǵ mà đề pḥng quá thế? – De Courcy hỏi, nhếch bộ
râu mép đỏ quạch và cười –.
- Quan đô thống có thể tự trả lời! Nhân dân Huế và chúng tôi cũng
không hiểu tại sao phái đoàn Pháp tŕnh quốc thư lần này mà lại lắm quân
binh, súng đạn, tàu chiến đến thế? – Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường hỏi
ngược lại –. Tục ngữ Đại Nam có câu “bánh ít trao đi, bánh ch́ trao lại”.
Bản chức vẫn ước ao rằng sự giao hảo giữa hai nước không cần tới quân
đội, tàu chiến, đại bác và lưỡi lê! Đấy là câu trả lời!
- Danh tiếng của ngài đệ nhất phụ chính quả là không sai lệch với
sự thật. Ngài trách chúng tôi khá đau đấy! Nhưng thôi, bây giờ cho tôi
hỏi: Ai đây là quan đệ nhị phụ chính Tôn Thất Thuyết?
Đại thần Phạm Thận Duật thấy quan phụ chính Nguyễn Văn Tường
nhường lời, nên vội đáp:
- Quan đệ nhị phụ chính bị ốm, không thể có mặt hôm nay.
De Courcy cười nhạt, và bỗng cau có:
- Bệnh cũng phải vơng sang! Tôi những muốn cho lính qua vơng Tôn
Thất Thuyết sang đây kia (34)! – De Courcy bỗng thấy ḿnh bất nhă quá
đáng, ngay cả những tên Pháp bên cạnh y cũng giật ḿnh, nên y vội nói
chữa –. Ở đây có bác sĩ Mangin. Hay tôi sẽ cho Mangin sang chữa cho đức
ông Tôn Thất Thuyết (34)?
Đại thần Phạm Thận Duật nói:
- Quan đệ nhị phụ chính nhiều lần từ chối thuốc Tây và bác sĩ Tây
y! Xin cảm ơn. Để khi phái đoàn về triều, tôi sẽ hỏi lại quan lớn Tôn
Thất Thuyết.
- Thế th́ xin thôi. Bây giờ tôi xin phái đoàn Đại Nam bàn định cho
nghi thức để tôi tŕnh quốc thư trong ngày mai. – De Courcy chuyển vấn
đề –.
Các quan tham biện tŕnh bày rơ nghi thức:
1.
Đi cửa giữa Ngọ môn, chỉ có quan đô thống;
2.
Quân lính và các quan khác đi vào theo hai cửa hai bên, không được mang
vũ khí (34);
3.
Quan đô thống khi vào tŕnh quốc thư ở Điện Thái hoà, phải đứng lại tại
hàng cột thứ nh́, bên phải. Ở đấy, sẽ có một quan đại thần nhận quốc thư
của chính phủ Nước Cộng hoà Pháp. Sau đó chính đại thần ấy sẽ đặt trên
ngự án trước ngai vàng.
De Courcy tỏ vẻ không bằng ḷng:
- Sứ Trung Hoa ngày trước sao, sứ Pháp bây giờ vậy. Không thể coi
thường tôi như thế (34)!
Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường mỉm cười nhă nhặn:
- Quan đô thống ứng xử như sứ thần Trung Hoa đối với chúng tôi th́
đâu có mấy chục năm chiến tranh như vừa rồi. Mấy trăm năm qua ở kinh đô
Huế làm ǵ có khâm sứ nhà Thanh thường trực! Nhà Thanh nào “bảo hộ” được
Đại Nam! Nhưng thôi, vấn đề này nói măi cũng nhàm. Về nghi thức tŕnh
quốc thư, bản triều nhân nhượng, nể nang lắm mới thế. Mong quan đô thống
và phái đoàn Pháp đừng quá câu nệ!
Vốn muốn khiêu khích để gây chiến, với mục đích lập công to, cướp
của nhiều, De Courcy vẫn ngang ngược yêu sách này nọ một cách vô lí.
Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường hiểu rơ tim đen của y ngay tức khắc. Ông
đă cố nhẫn nhịn, nhưng thấy De Courcy cứ cố t́nh xúc phạm; vả lại, không
thể không đi nước cờ chót, nên ông tỏ ư cho các quan mang lễ vật ngoại
giao của chính Từ Dũ thái hoàng thái hậu trao tặng cho De Courcy (35).
De Courcy thừa biết Từ Dũ thái hoàng thái hậu là bậc đệ nhất mẫu nghi
thiên hạ tại nước Đại Nam này, nhưng y vẫn phách lối từ chối! De Courcy
chỉ mơ ước đánh chiếm kinh thành Huế và hốt sạch của cải, báu vật trong
cung cấm, nội đ́nh! Đúng là món quà Thiên Chúa sắp tặng y lớn lao, lẫy
lừng, kếch sù biết chừng nào! Một đời làm tướng, c̣n mơ tưởng ǵ hơn! Sá
ǵ chút quà mọn của bậc đệ nhất mẫu nghi thiên hạ tại nước Đại Nam cơi
Viễn Đông! Y tự nhủ, De Courcy này sẽ chiếm trọn cả Đại Nam này cơ! Chưa
bao giờ y khoái trá đến thế! Ngay chỉ việc tưởng tượng sau khi chiếm
được kinh thành, y đă quá khoái trá rồi!
Sự từ chối quà tặng của Từ Dũ thái hoàng thái hậu với thái độ
phách lối đầy khiêu khích của De Courcy là xưa nay chưa từng có đối với
một tên người Pháp thực dân nào! Philastre đă xúc động như thế nào khi
nhận được tấm lụa có thủ bút vua Tự Đức. Philastre đă xem đó như bảo vật
muôn đời của ḍng họ y
(36). Thế mà, De
Courcy dám khinh cả quà của Từ Dũ thái hoàng
thái hậu!
Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường nói từ tốn:
- Như thế, bản chức không hiểu quan đô thống đến đây để làm ǵ.
Hay là triều đ́nh Đại Nam phải nhờ khâm sứ De Champeaux điện về Paris,
để giám quốc Pháp cử đại quan khác thay đô thống De Courcy đây? Chẳng lẽ
chỉ v́ cá nhân quan đô thống De Courcy mà quan hệ ngoại giao Pháp – Nam
trở nên hỏng đi, xấu đi?
De Courcy tái mặt, rồi đỏ lựng. Chiếc cổ của y phập phồng như cổ
một chú gà cồ. Y cảm thấy hơi run trong ḷng. Y chợt nhớ, chính Bộ Chiến
tranh Pháp cũng không tán đồng lắm việc dùng vũ lực súng đạn tại kinh đô
Huế. Y bỗng thấy viên đệ nhất phụ chính Nguyễn Văn Tường kia thật đáng
sợ.
De Courcy im lặng một lát, liền quyết định làm liều một phen, và
muốn thế th́ phải làm nhanh, kẻo trễ mất. Y nói:
- Tôi nói thật, đă đến lúc không thể không nổ ra chiến sự. Tôi
thừa biết quan đệ nhị phụ chính ở nhà để chuẩn bị tấn công chúng tôi.
Cũng chưa bao giờ quan đệ nhất phụ chính Nguyễn Văn Tường cùng phái đoàn
sang Sứ quán này với quân binh hộ tống có đầy đủ vũ trang như vậy. Chính
khâm sứ De Champeaux hồi năy có nhận xét thế! Và mọi nội dung bàn định
sáng nay đều không đi tới đâu! Thế th́ chỉ có thể giải quyết vấn đề bằng
súng đại bác mà thôi. Ngoài ra, tôi yêu cầu thêm, tôi chả cần ǵ thứ
danh hăo là quà của Từ Dũ thái hoàng thái hậu, bậc đệ nhất mẫu nghi
thiên hạ tại nước Đại Nam này! Tôi chỉ cần một món quà có giá trị ở bất
ḱ thị trường nào, đó là ba chục ngàn (30.000) thỏi vàng, hai trăm ngàn
(200.000) thỏi bạc, hai trăm ngàn (200.000) quan tiền [Mễ Tây Cơ (?)].
Nếu chỉ trong ba ngày, nộp đủ số tiền ấy, có lẽ sẽ yên cả đôi bên. Đó là
tiền chiến phí phải bồi thường trước, hoặc chỉ là quà tặng, đó là c̣n
tuỳ các ngài!
Phạm thượng, ngạo ngược, phách lối đến thế là cùng! Thật không c̣n
ǵ để nói!
Đứng dậy, quan phụ chính Nguyễn Văn Tường nói lời cuối cùng:
- Tất cả các vấn đề sáng hôm nay đă nêu ra, bản chức sẽ về bàn lại
với đức vua, triều thần và hoàng thân. Đề nghị vấn đề tạm gác lại. –
Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường cố gắng giấu nỗi căm giận, lại mỉm cười
tỏ vẻ thân thiện và điềm tĩnh, cái mỉm cười vốn rất nổi tiếng của ông về
ngoại giao. Ông nói –. Cuối cùng, bản chức chỉ có một đề nghị cụ thể,
thiết thực, có thể làm ngay được, chỉ v́ lịch sự, vâng, chỉ v́ lịch sự,
rằng quan đô thống vui ḷng nghiêm cấm quân lính của ngài vào trong kinh
thành, gây xáo trộn nhân tâm, nhất là các phủ đệ có công chúa, tôn nữ
(38). Cũng xin nói rơ, các công chúa, tôn nữ nước Đại Nam không có lệ
cấm cung, nhưng cũng không hẳn không cấm cung… Tôi mong rằng nền văn
minh Pháp nên được thể hiện ở khía cạnh lịch sự này. Và chỉ thế thôi.
Phái đoàn Đại Nam liền chào ra về.
Khi đă về đến Nha Thương bạc một cách an toàn, phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường và đ́nh thần thấy việc quân binh được chỉnh đốn, chuẩn
bị vũ khí, sẵn sàng chiến đấu, giải cứu của ông và phụ chính Tôn Thất
Thuyết là rất hiệu quả. Hơn nữa, trong trường hợp đối phó với mưu kế
“mời đến để bắt giam”, đó cũng là cách thị uy, tạo thanh thế để De
Courcy phải chùn tay, không thể làm càn. Và đâu chỉ thế, ta phải thị uy,
tạo thanh thế bởi c̣n nhằm đối phó với âm mưu đánh chiếm kinh thành,
chúng đang khích tướng để thực hiện! Cho nên, rất đúng khi Tôn Thất
Thuyết phải cho Quân Phấn nghĩa bảo vệ ḿnh, “lại nghiêm sức các
quân dinh kiểm soát, chỉnh đốn những đồ khí giới” (39)
. Một lần nữa, [phụ chính Nguyễn] Văn Tường với đ́nh thần cho rằng:
“Đó cũng là thanh thế để pḥng bị vậy”” (39)
.
Tiếng ve
vẫn đang sôi lên trong nắng tháng năm mùa hè.
Về sau, sự kiện buổi sáng hôm ấy được ghi chép vào sách sử một
cách hết sức ngắn gọn:
“NGÀY ẤT MĂO, KINH THÀNH CÓ VIỆC” (39).
“TÔN THẤT THUYẾT KÈM VUA, VÂNG MỆNH BA CUNG [:TAM CUNG], NGỰ
GIÁ CHẠY RA MIỀN BẮC” (39).
“Trước đây, đô thống tướng Pháp là Cô Ra Xy [De Courcy] đến Ṭa Sứ
xin dâng quốc thư làm lễ vào chầu yết, nhưng tức [:thông tư] trước, [mời
hai phụ chính] Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cùng tắt sang Sứ quán
hội thương. [Phụ chính Tôn Thất] Thuyết thác cớ không đi. [Phụ chính
Nguyễn] Văn Tường một ḿnh cùng [thượng thư Bộ Hộ] Phạm Thận Duật đi.
Tướng [De Courcy] ấy không nghe, cố mời [phụ chính Tôn Thất] Thuyết. [Phụ
chính Tôn Thất] Thuyết sợ đi, hoặc có việc ǵ xảy ra chăng; sau bèn
không đi.
Ngày thường [phụ chính Tôn Thất Thuyết] cho Quân Phấn nghĩa làm tự
vệ cho ḿnh, lại nghiêm sức các quân dinh kiểm soát chỉnh đốn những đồ
khí giới. [Phụ chính Nguyễn] Văn Tường với đ́nh thần cho rằng: Đó cũng
là thanh thế để pḥng bị vậy” (39)
…
6
Trận chiến không thể không xảy ra ngay tại kinh đô Huế! Đó
là điều phụ chính Nguyễn Văn Tường và hoàng thân, đ́nh thần đều thấy rơ.
Có nhiều người cảm thấy lo âu, nhưng không thiếu những người cố giữ b́nh
tâm để dũng cảm đương đầu.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường về đến Nha Thương bạc, liền từ giă
nhưng thành viên của phái đoàn, lên kiệu đến ngay dinh thự của phụ chính
Tôn Thất Thuyết. Đi cùng ông, có các viên tuỳ tùng.
Để ứng cứu
phái đoàn ta sang Sứ quán, phụ chính Tôn Thất Thuyết đă đích thân nai
nịt ra tận chốt chặn, tuy có cải trang thành một viên quản cơ. Ông cũng
mới từ một chiến thuyền ở ngă ba sông Hương – sông Đông Ba, lên ngựa trở
về Bộ Binh. Ông hết sức mừng rỡ khi trông thấy vị đệ nhất phụ chính
Nguyễn Văn Tường. Sau khi thi lễ chào nhau, hai quan phụ chính vào ngồi
kề nhau trên chiếc trường kỉ, để tiện bàn việc với giọng khe khẽ, đủ hai
người nghe. Phụ chính Nguyễn Văn Tường kể những ǵ đă diễn ra ở Sứ quán
lúc năy. Ông kết luận:
- “Đến nước này, chúng ta không sao chịu nổi, thôi đành liều
may rủi với trời” (40)
.
Phụ chính
Tôn Thất thuyết không ḱm nổi niềm phẫn uất từ bao năm chất chứa nhưng
phải tự đè nén trong tim. Tuy vậy, giọng ông vẫn phải giữ lễ với vẻ từ
tốn:
- “Binh lính của chúng ta đều đă sẵn sàng, chỉ cần hành động
gấp để bọn chúng không kịp trở tay. Ngoài Bắc chúng đă chiếm cứ Tuyên
Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, [rồi gần hai năm] nay, đến cửa Thuận! Nếu
ta bó tay ngồi nh́n giặc
Tây
hoành hành th́ c̣n ǵ là cơ nghiệp nữa! Tôi sắp đặt thế này: Mặt tiền
quan hệ hơn cả th́ đă có lính Long Thuyền, Vơ Sinh, đều tinh thông vơ
nghệ. Trong hoàng thành do lính Cẩm Y và Kim Ngô chống giữ. Bọn mới
tuyển cho đóng ở phía sau. Cửa Đông Ba có năm (5) vệ, đóng dọc về thẳng
Trường Định. Tại cửa An Hoà có năm (5) vệ, cửa Hậu, năm (5) vệ. Cửa Tả
có vệ Hổ Oai, chọn lựa những đứa thiện chiến. Cửa Chính Tây đă có đội
Hùng Nhuệ giữ. Trong và ngoài thành đều có voi, mỗi con hai nài, súng
đại bác bố trí khắp nơi. Bên kia sông, phía trước lầu sứ, lính Long
Thuyền, Phấn Nghĩa chuẩn bị sẵn, hễ nghe hiệu lệnh là xung phong vào các
trại để tàn sát lính Pháp”
(40).
“Hai quan phụ chánh mật đàm mọi việc ổn thoả, chỉ chờ cơ hội
là thực hiện” (40)
.
“Cuộc bang giao Việt – Pháp đi lần đến chỗ sụp đổ. Về phía Đại
Nam, như [quan dân] ta thấy, chuẩn bị chiến cuộc từ lâu. Triều đ́nh
cũng như sĩ phu, dân chúng đều muốn đánh đuổi quân Pháp ra khỏi Đất nước,
nhưng tự liệu lực lượng, thấy khó địch nổi nên phải ẩn nhẫn để chờ thời.
Nay như thuốc nổ bị châm ng̣i, tức ḷng nên phải nổ. [Phụ chính] Tôn
Thất Thuyết lo sợ, chưa biết quân Pháp đến bắt ḿnh lúc nào! Nên suốt cả
ngày hai mươi mốt và hai mươi hai tháng năm, năm Ất dậu (03 –
04.7.1883), hai quan phụ chánh chuẩn bị công việc hoàn tất. Muốn tăng
gia sức lực chiến đấu, [phụ chính]
Tôn Thất Thuyết ra lệnh mở rộng cửa nhà lao,
chặt xiềng, tháo gông, tha tội cho các phạm nhân, cho bọn chúng tiền bạc,
cơm rượu và [khuyến] dụ bọn chúng cầm khí giới quyết tâm giết giặc.
Công cuộc sửa soạn nằm trong ṿng quân cơ bí mật. Tuy thế, giám
mục Caspar vẫn biết được và tin báo cho tướng De Courcy hay. De Courcy
tự phụ ở binh sĩ, ở súng ống của ḿnh nên xem thường, không buồn lưu ư”
(40)
.
Caspar (41) là một tên gián điệp đội lốt thầy tu? Có lẽ chính xác
hơn, y là một tu sĩ đă được phong đến chức giám mục, nhưng bản chất thực
dân của y cũng đă tu luyện đến mức cáo già. Caspar thường trú tại chủng
viện và giáo đường Kim Long, chỉ cách góc bờ kinh thành phía tây nam
khoảng trên hai dặm ta (hơn một km). Y có một mạng lưới t́nh báo viên
trung kiên là những giáo dân tại Huế và tại các nơi khác chuyển đến Huế,
thường xuyên báo cáo cho y tin tức ḍ thám, nhưng ít khi trực tiếp tại
nhà riêng trong khuôn viên thuộc giáo đường, mà chủ yếu là qua các buổi
xưng tội tại nhà thờ. Lúc có tin khẩn cấp, kẻ giáo dân phản quốc làm
t́nh báo nào đó liền vờ phạm tội trọng, đến xin được xưng tội ngay, kẻo
nhỡ chết bất ngờ, chưa kịp được giải tội, sẽ bị sa hoả ngục. Hai hôm vừa
rồi, giám mục Caspar cũng ngồi toà nghe xưng tội kiểu đó đến ba lần cho
ba tên t́nh báo viên cốt cán. Sau đó, y cho một vài linh mục của y sang
Sứ quán gặp De Courcy, De Champeaux với h́nh thức là đi tuyên uư, với
cuốn Thánh kinh và tràng chuỗi Mân côi trên tay, cũng ngồi toà “dă chiến”
để “giải tội” cho hai tên Pháp ấy.
Bọn thực dân cố đạo, viễn chinh ấy đă lợi dụng và làm hoen ố tôn
giáo, đức tin tôn giáo ngây ngô đến mức ấy!
De Courcy thu thập hết mọi tin t́nh báo từ Caspar, và y không thể
không cảm thấy tự phụ, chủ quan về súng ống tối tân nhất nh́ Âu Mỹ của
quân lính do y thống lĩnh. De Courcy vẫn phần nào không tin hai phụ
chính sẽ dám chủ động tấn công. Y đang mải mê nghĩ cách nào để y ra lệnh
tấn công trước, buộc quân triều đ́nh Đại Nam sẽ phản công, nhưng rồi y
sẽ đổ ngược lỗi cho quân Đại Nam gây hấn trước, và không ai có thể trách
cứ ǵ y được.
Chiều ngày
hai mươi hai tháng năm Ất Dậu (04.07.1885), De Courcy vẫn tiếp tục theo
dự định, như lời mời đă nhắn gửi cho các sĩ quan ở Mang Cá (Trấn B́nh
đài) và ở ngay sau Sứ quán, là vẫn tổ chức một bữa tiệc ngay tại Sứ quán
này. Dĩ nhiên y vẫn thừa khôn ngoan để bố trí một số tên sĩ quan khác
túc trực ở các đơn vị quân lính.
Đêm ấy, sân Sứ quán sáng rực đèn. De Courcy nâng li rượu vang sóng
sánh hơi men, nhếch bộ râu mép đỏ quạch, cố cười thật tươi và đầy tự
tin:
- “Trong cái sự nghiệp vơ bị, xưa nay tôi vẫn được rạng rỡ luôn.
Dù đi đến đâu, ngôi sao của tôi cũng không mờ. Hôm nay nó càng rạng hơn
nữa!…” (42)
. Nào, xin mời tất cả nâng li!
De Courcy
và đám sĩ quan đều uống ực một hơi, cạn li.
Suốt buổi tiệc không kéo dài, De Courcy và De Cham-peaux thật ra
đang cố giấu nỗi âu lo bị tấn công bất ngờ, và lạnh người khi tự nhận
thấy chính bản thân y quá chủ quan khinh địch, nhưng vẫn gắng làm ra vẻ
tự phụ. Hai tên thực dân này hẳn không thể không tưởng tượng ra cảnh
những trái đạn đại bác sẽ bất thần rơi xuống bàn tiệc hoặc trúng ngay
đầu chúng. Đạn đại bác Đại Nam không nổ văng miểng, nhưng không thể
không vỡ đầu, sụm vai, nát đùi nếu trúng phải! Do đó, hai tên De Courcy,
De Champeaux cố ư lựa chỗ ngồi an toàn nhất, ấy là dưới mái hiên đúc. Và
cả hai nhanh chóng rút vào nhà, sau khi chúc đám sĩ quan cứ vui vẻ với
rượu thịt.
Khoảng hơn mười một giờ khuya (đầu giờ tí, canh ba), số sĩ quan
đóng tại Mang Cá ra về. Theo quân luật lúc này của triều đ́nh Đại Nam,
về ban đêm, tàu thuyền không được đi dọc các sông hộ thành. Bọn sĩ quan
Pháp, Ả Rập này chỉ được đi thuyền ngang sông Hương, rồi sau đó, phải đi
bộ về Mang Cá. Khi ngang qua cầu Thanh Long, dọc đường song song với
sông đào Đông Ba, phía trái kinh thành, chúng nghe tiếng súng nổ sau
tiếng hỏi lớn: “Ai? Đi đâu vào giờ khuya?”, và tiếng trả lời là những
tiếng chửi thề, như trỏ cái tục tĩu chẳng hạn, cất lên từ trong số sĩ
quan ấy. Chúng liền nhoài người lao sang hai vệ đường, có tên xuống tận
mép nước bờ sông. Có tên rút súng bắn trả. Nhưng lại có lệnh hô cấm bắn
giả vờ của một tên sĩ quan Pháp, sau tiếng hô cấm bắn giả vờ của viên
suất đội Đại Nam, lẫn tiếng hô hoán rằng bọn Pháp tấn công kinh thành,
rằng quân Đại Nam tấn công quân Pháp trước… Ngẫu nhiên lại trùng kế! Cả
hai bên đều giả vờ cấm bắn để giành lấy lợi thế về sau, ấy là có cớ để
đổ tội “gây hấn trước”
(vi phạm “hiệp” ước trước) cho đối phương!
Súng nổ vang một hồi rồi im bặt, sau hai tiếng hô cấm bắn ấy, v́
không thấy đại quân Pháp ứng cứu để nổ ra trận chiến lớn, và cũng v́ đại
quân của chưởng vệ Trần Xuân Soạn, tham biện Tôn Thất Lệ chưa kịp chuẩn
bị xong. Hai vị này không ngờ bọn Pháp ở Sứ quán lại băi tiệc sớm đến
thế! Toán lính Đại Nam đành hậm hực cho bọn Pháp đi. Sự thể như thế cũng
lại v́ một lẽ khác, bọn Pháp này, sau khi không thấy đại quân ứng cứu,
tấn công, chúng đă xưng rơ quốc tịch, danh hiệu đơn vị.
Bọn Pháp liền đi rải ra, từng nhóm hai, ba người, cách quăng nhau.
Chúng hiểu De Courcy chỉ muốn quân Đại Nam thật sự “gây hấn trước” một
cách rơ ràng hơn!
Thế là kế “quy lỗi ai bắn trước” đă hỏng! Bọn Pháp gọi cầu Thanh
Long là cầu mưu sát (Pont de L’Attentat), khởi từ việc ấy
(43).
Từ lúc đó cho đến hơn hai tiếng đồng hồ sau, kinh thành Huế vẫn
ch́m trong đêm yên tĩnh.
Cho đến nửa khuya về sáng…
“Đêm ngày hai mươi hai (22) tháng [năm (5)] ấy, [phụ chính Tôn
Thất] Thuyết ngầm chia quân các dinh vệ làm hai đạo: Một đạo sai em là [Quảng]
Trị [Sơn] pḥng tham biện Tôn Thất Lệ cai quản. (Tôn Thất Lệ nguyên ở [Sơn]
pḥng, [phụ chính Tôn Thất] Thuyết sức về). Nửa đêm, [đạo quân ấy] sang
đ̣ sông Hương, hợp cùng với bọn thủy sư đề đốc [Lưu Cung] và hiệp lí [thuỷ
sư Cao Hữu Sung] đánh úp Ṭa Sứ.
[Phụ chính Tôn Thất] Thuyết cùng với bọn Phấn Nghĩa chưởng vệ là
Trần Xuân Soạn làm một đạo đánh úp Trấn B́nh đài, doanh nam Pháp [:Mang
Cá].
[Phụ chính] Nguyễn Văn Tường không biết chi hết.
[Phụ chính Tôn Thất] Thuyết phân bổ [các cánh quân] xong, bèn ở
lúc đầu trống canh tư [:00 giờ 45 phút] (tức ngày hai mươi ba [23]) bắt
đầu nổ súng ở đài Trấn B́nh, tiếng kêu vang động.
(Khi ấy [phụ chính Nguyễn] Văn Tường ở Bộ Lại, đương ngủ. Binh Bộ
thự tham tri là bọn Hoàng Hữu Thường nghe tiếng súng nổ, tức th́ đến gơ
cửa báo [tin cho phụ chính Nguyễn] Văn Tường biết. [Phụ chính Nguyễn Văn]
Tường [thức] dậy, [tỏ vẻ lo] sợ nói: “Nguy rồi!”. [Ông] bèn vội vàng gửi
tâu xin mở cửa Hiển Nhân [của hoàng thành] và cửa Đại Cung [của Tử Cấm
thành], chạy vào Tả vu, nhưng không biết làm thế nào)” (44)
.
Thật ra, phụ chính Nguyễn Văn Tường cảm thấy ḿnh thật vụng về
trong vai tṛ một đại thần “không biết chi hết” (44)
về
cuộc tấn công Sứ quán và Mang Cá. Nhưng đây là chiến trận, không chỉ nổ
súng vung gươm mà c̣n là mưu trí với những mưu kế. Trận chiến không phải
là sân cỏ chơi cầu, đấu vật với tinh thần thượng vơ, v́ mục đích giáo
dục đạo đức, trước hàng vạn đôi mắt khán giả. Ông và phụ chính Tôn Thất
Thuyết đă bàn tính với nhau, dù chưa hết lẽ, nhưng vẫn xác quyết kế sách
đối phó. De Courcy, De Champeaux và Caspar muốn dùng kế li gián để chia
rẽ hai vị phụ chính, dẫu chúng không dám trắng trợn như tên vua Hiệp Hoà
gần đây (45), không tinh vi như Quang Trung Nguyễn Huệ một trăm năm
trước (40). Những tên Pháp thực dân mấy hôm rày chỉ cố quyết đ̣i bắt mỗi
một Tôn Thất Thuyết là nhằm kế li gián ấy. Bọn Pháp cố li gián th́ hai
phụ chính phải tương kế tựu kế, vờ như mắc mưu trúng kế chúng: [Phụ
chính] Nguyễn Văn Tường không biết chi hết !
Thật ḷng, phụ chính Nguyễn Văn Tường vẫn âu lo có kẻ tố giác. Hơn
nữa, đây chỉ là nước cờ liều, khi bị chiếu tướng. Đây là “thế hi sinh”
trong
môn đấu vật, có nguy cơ bị phá thế, và không tránh khỏi phải hi sinh
thật, mất tất cả, từ khí tiết, danh dự đến tính mạng. Nếu không bị giặc
Pháp và “tả đạo” phá thế, ông sẽ cùng quân Cần vương hất ngược chúng ra
biển Đông, hay ít ra cũng khiến cho chúng dập mặt… Nhưng nguy cơ bị phá
thế là rất rơ! Ông cũng ư thức rất sâu sắc, cả ông lẫn phụ chính Tôn
Thất Thuyết đă ở vào thế cưỡi trên lưng hổ, tên đă ở trên cung! Nhưng
t́nh thế quá cấp bách, cho nên biết rằng dẫu c̣n sơ hở, xác suất thất
thế, rủi ro c̣n khá cao, cũng phải đành chấp nhận.
Vào Tả vu Điện Cần chánh, ông liền được vua Hàm Nghi và Tam Cung
triệu vào nội cung. Ông cũng lúng túng khi bất đắc dĩ phải nói dối, và
cố giấu vẻ lúng túng, kính cẩn tâu bày, chính ông cũng “không biết ǵ
hết” về trận chiến đang xảy ra. Ông chỉ xin nhà vua và Tam Cung b́nh tâm,
cố gắng ẩn núp thật cẩn trọng theo sự hướng dẫn của các viên thái giám
và chưởng vệ Hữu quân Hồ Văn Hiển. Phụ chính Nguyễn Văn Tường lại tâu:
- Thưa Tam Cung và muôn tâu hoàng thượng, dẫu sao, sĩ dân,
quan chức cả nước, nhất là ở kinh thành, chứ không phải riêng thần và
quan tướng quân phụ chính, đều thấy rằng bọn Pháp lần này cố quyết bức
bách triều đ́nh ta. Chúng bức bách bằng cách đem quân binh vào với số
lượng khá nhiều, vũ khí mới nhất của Âu Mỹ, và bằng cách ngạo mạn, phách
lối đến mức phạm thượng, dám từ chối cả tặng phẩm của đức thái hoàng
thái hậu, dám ngang ngược đ̣i chiến phí trước khi đánh chiếm kinh thành.
Như thế, không thể không xảy ra chiến trận ngay tại kinh đô được. Thần
vẫn nhớ bài dụ cuối cùng của đức Dực tông Anh tiên đế: “Vả
lại, thế cưỡi hổ đă thành. Ta không
tính [:đánh] chúng, chúng cũng tính [:đánh] ta. [Ai] tính [:đánh] trước
được th́ thắng. Nên cùng ḷng, hợp sức tính [:đánh] ngay, khỏi đến nỗi
đắp núi c̣n thiếu một sọt đất. Trẫm hàng ngày mong mỏi các ngươi nên hết
ḷng tính [:đánh] ngay mới được” (46)
. Thần xin mạo muội tâu rằng,
chiến trận không khỏi xảy ra, th́ ta nên đánh trước để chiếm thế thượng
phong. Nhưng dẫu quan tướng quân phụ chính đánh trước th́ cũng do chúng
bức bách ta trước mà thôi.
Và rất chân
thành, phụ chính Nguyễn Văn Tường khiêm tốn nhưng rất cương quyết xác
định ư thức trung quân của một đại thần phải như thế nào trong sự biến
hiện đang xảy ra. Sau đó, ông xin được phép ra phía sau cửa Hoà B́nh,
đến khu vườn sau khuôn viên Đại nội để hỏi xem t́nh h́nh chiến trận ở đệ
nhị phụ chính, thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết.
Hai phụ chính đă gặp nhau. Bấy giờ tướng quân Tôn Thất Thuyết đang
điều khiển hai mũi tấn công, Sứ quán và Mang Cá. Các viên giao liên giữa
hai mặt trận với bản doanh tổng chỉ huy cứ theo đường đi dây chuyền của
những con thoi chạy qua chạy lại ở các cung trạm. Từ Mang Cá về đến khu
vườn sau cửa Hoà B́nh này cũng có đến năm, bảy trạm chuyển tin như thế.
Từ Sứ quán về đến đây tuy gần hơn, nhưng phải qua một con sông Hương khá
rộng, cũng đă có các trạm chuyển tin tương tự.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường không muốn để một vài viên quan và số
lính cùng các thị vệ ở gần đấy hiểu rơ, nên ông không nói ǵ nhiều, ông
chỉ cần biết t́nh h́nh chiến trận diễn biến như thế nào, thắng hay bại,
để thực hiện phương án thích hợp mà ông đă bí mật bàn với phụ chính Tôn
Thất Thuyết.
Trong khi đó…
“Quân Pháp đóng cửa chặt, lẻn nấp đợi sáng, nhưng [chúng vẫn] từ
từ nổ một, hai tiếng súng lớn.
([Phụ chính Tôn Thất] Thuyết khi ấy ở vườn sau điều khiển.
[Chưởng vệ Trần] Xuân Soạn ủy [nhiệm] người báo cho [bọn Pháp ở]
Đài Trấn b́nh biết quân Pháp [ở Sứ quán] đă bị súng ta bắn chết hết rồi.
Tiếng súng lớn [ở Sứ quán] bắn, [bọn Pháp ở Đài Trấn b́nh] tưởng là súng
quân Pháp ở ngoài sông Đài Trấn b́nh bắn vậy).
[Phụ chính Tôn Thất] Thuyết lại sai vần súng lớn lên thành, chỉ [ṇng
súng] bắn Ṭa Sứ. ([Toà Sứ] cũng bị phá vỡ hai nơi). Đạo quân Tôn Thất
Lệ cũng phóng súng bắn cháy các nhà tranh gần Ṭa Sứ.
Tới lúc sáng rơ [khoảng năm giờ sáng], quân thủy lục của Pháp đều
họp súng lớn, xe máy để ở trên đài [tàu] và trên [bệ] cột buồm tàu, bắn
liền mấy tiếng, ầm ầm như sấm. Và đạn bay rơi xuống, [khiến quan ta] bị
thương, trúng [miểng] chết khá nhiều. Và [đạn] rơi vào các cung điện,
nhà cửa ở trong hoàng thành và cung thành, gián hoặc [:cách quăng, đạn]
có xuyên hoại.
Bọn lính Pháp lại chia nhau từng toán, đem súng tay ngang ngược
bắn phá.
Hai đạo quân ở trong và ở ngoài của ta bị tan vỡ cả.
Trong thành rối loạn)” (47)
.
Trận chiến đó c̣n được ghi nhận lại bởi một sử gia hoàng tộc
về sau một cách tỉ mỉ hơn qua nhiều thao tác, công đoạn khảo chứng…
“Tại Mang Cá, hai đại đội bộ binh của người Phi châu, ba trung
đội thuỷ quân lục chiến; tại khu đất nhượng địa trong thành gần Mang Cá:
hai đội lính Phi châu, một trung đội thuỷ quân lục chiến và pháo đội;
tại Ṭa Khâm: hai đại đội thủy quân lục chiến; phía bắc Mang Cá có hai
pháo hạm Javơlin (Javeline) và Briônvan (Brionval) và một chiếc tàu nhỏ.
Tổng cộng cả thảy ba mươi mốt (31) sĩ quan, một ngàn ba trăm tám mươi
bảy (1.387) binh sĩ và mười bảy (17) cỗ đại bác.
Sau buổi dạ hội náo nhiệt, quang cảnh lần lần trở lại yên tĩnh. 11
giờ 30 ai nấy đều ra về.
Toà Khâm và Mang Cá đang ch́m đắm trong giấc ngủ. Bỗng nhiên vang
lên tiếng đại bác và tiếng reo ḥ vang dậy. Những trại lợp tranh của
lính ở bị những bó đuốc của quân ta xung phong vào đốt, bốc cháy dữ dội.
Hăng hái nhất là lính Phấn Nghĩa, tức là lính của [phụ chính] Tôn Thất
Thuyết mộ làm tay chân, cùng những phạm nhân ở lao Thừa Thiên và lao
Trấn Phủ được thả ra để đái công chuộc tội. Họ mang súng hoặc đại đao,
mă tấu, ḿnh trần trùng trục, tóc bỏ xoă xuống ngang gối. Đạo quân đánh
vào Ṭa Khâm do Tôn Thất Liệt [:Lệ], em của [phụ chính Tôn Thất] Thuyết,
cùng quan thủy sư đô đốc [Lưu Cung], thuỷ sư hiệp lí [Cao Hữu Sung] chỉ
huy; c̣n cánh quân đánh vào Mang Cá th́ đề đốc [đă được thăng chưởng vệ]
Trần Xuân Soạn và [phụ chính] Tôn Thất Thuyết tự thân hành đốc suất. Một
viên đại bác từ pháo đài ta trên cửa thành bắn sang làm thủng một lỗ lớn
trên nóc Ṭa Khâm. Tường và mái đều bị xuyên đạn. Nhà kho, nhà vệ sinh
sụp đổ và bốc lửa. Đại uư Bruynô (Bruneau), pháo binh hải quân, bị một
viên đạn xuyên qua ngực, ngă ra chết, đại uư Bruanh (Brouin) của đội
binh châu Phi găy mất hai ống chân, tử trận. Hai sĩ quan Hétsen (Heitschell)
và Lacơroa (Lacroix) bị thương nặng.
Quân Pháp đă bảo vệ được kho khí giới, đạn dược và lương thực.
Nhưng quân trang th́ bị cháy sạch đến nỗi viên tiểu đoàn trưởng Métdingê
(Metzinger) suốt cả ngày 05.07 [1885], chỉ mặc có một cái quần đùi, măi
đến tối mới kiếm được một cái quần dài, nhưng lại thiếu kéo, phải dùng
đến dao để hớt bớt cho vừa.
Do một cái cửa ăn thông qua trại, một trăm sáu mươi (160) binh sĩ
của Pháp kéo vào Ṭa Khâm. Chính tướng [giặc] Cuốcxy đă điều khiển toán
quân này, đăït mỗi cửa sổ hai người bắn ra để chặn đứng những đợt xung
phong của lính Việt.
Một điều may mắn cho Pháp là Nhà Bưu điện cách Toà Khâm vào lối ba
trăm (300) thước không bị hư hại ǵ cả, nên tướng [giặc] Cuốcxy (De
Courcy) cho đánh điện gọi lính ở Hải Pḥng cấp tốc vào Huế và gọi lính ở
Thuận An kéo lên” (48)
.
Do sự cẩn trọng của tên tướng De Courcy, Nhà Bưu điện hẳn được y
bố trí một số lượng quân khá lớn để bảo đảm đường dây điện báo liên lạc.
Tướng quân phụ chính Tôn Thất Thuyết hẳn quyết cắt đứt, phá tan ổ liên
lạc điện báo ấy để bọn Pháp không thể gọi quân tiếp viện, nhưng dĩ nhiên
ông lại phải tập trung binh lực vào mũi tập kích Sứ quán, do đó đội quân
với số lượng không nhiều tấn công quyết phá huỷ Nhà Bưu điện đă bị bọn
Pháp đông hơn, hoả lực mạnh hơn, đánh bật ngay từ ṿng ngoài.
Ở Sứ quán, tất cả quân binh của tham biện Tôn Thất Lệ, hiệp lí
thuỷ sư Cao Hữu sung và thuỷ sư đô đốc Lưu Cung ào ào tiến công như vũ
băo giữa những đợt đại bác dập xuống.
“Ban đầu súng đại bác của ta bắùn không lấy ǵ làm trúng đích,
nhưng về sau đă tàn phá được nhiều nơi, làm thủng trần, sập vách. Cả Ṭa
Khâm rộng lớn chỉ c̣n lại một gian pḥng chính là đứng vững.
Tại Mang Cá, sau những phút kinh hoàng đă qua, trung tá Pécnô (Pernot)
và thiếu tá Métdingê chia quân phản công đánh chiếm kinh thành. Súng đại
bác [giặc] Pháp chĩa bắn vào các ổ súng của ta. Hai pháo hạm, nhờ có ánh
lửa của những túp nhà bị cháy nên đă bắn trúng vào mặt đông bắc của kinh
thành. Quân Pháp ở Mang Cá, kéo vào tập trung ở khu đất mà ta đă nhượng
cho Pháp từ một năm nay, rồi chia thành ba toán kéo đi tấn công các ngă,
tiến vào Thành Nội. Quân ta kháng cự rất hăng nhưng sau một tiếng đồng
hồ th́ rút lui và tan ră hàng ngũ. Pháp chiếm được sáu cỗ đại bác hạng
lớn đặt trên mặt thành rồi dùng lại những khẩu súng này để bắn lại quân
ta.
Trời gần sáng, chiến cuộc vẫn tiếp diễn dữ dội nhưng quân ta thế
yếu cứ lùi dần. Pháp đốt hai bộ, Lại và Binh, là chỗ ở của [hai phụ
chính Nguyễn Văn] Tường và [Tôn Thất] Thuyết và các công thự, các trại
lính. Gặp dân chúng chạy loạn, không phân biệt già trẻ trai gái, [giặc
Pháp] đều tàn sát một cách rùng rợn, tiếng la khóc vang trời dậy đất.
Tám (08) giờ ba mươi (30) sáng, trên ḱ đài ta đă phất phơ lá cờ
Pháp. Tiếng gọi là cờ nhưng ḱ thật là sợi dây thắt lưng của một tên
lính Phi châu kết với hai mảnh vải.
Chín (09) giờ th́ quân Pháp vào Đại nội, quân ta rút ra khỏi hoàng
thành.
Pécnô phải dùng đến một tiểu đoàn canh gác cung điện, để khỏi bị
cướp phá. Tuy thế, các điện đài, dinh thự khác trong hoàng thành, suốt
bốn mươi tám (48) tiếng đồng hồ bị quân Pháp ra tay vơ vét. Phần nhiều
trong túi tên lính Pháp nào cũng có những nén bạc cướp được của kho ta.
Một phóng viên của Hăng Ava (Havas) đă nói rằng chính ông đă mua được
của các tên lính ấy tám (08) kilô bạc nén cả thảy. Ông lại c̣n cho biết
suốt trong năm ngày, năm mươi (50) người chuyên việc sắp xếp các bảo vật
có giá trị không thể tưởng được để đưa về Pháp.
Theo sự ước lượng của Pháp th́ quân số của ta trong trận chiến gồm
hai chục ngàn (20.000) người, tử trận một ngàn hai trăm (1.200) đến một
ngàn rưỡi (1.500) người.
Về phía Pháp: hai (02) sĩ quan và chín (09) binh sĩ chết; hai (02)
sĩ quan và bốn (04) binh sĩ bị tử thương; năm (05) sĩ quan và bảy mươi
mốt (71) binh sĩ bị thương.
Pháp c̣n lấy của ta được số vơ khí quan trọng: tám trăm mười hai
(812) khẩu đại bác, một vạn sáu (16.000) [khẩu] súng tại vơ khố, vô số
súng trường, gươm giáo trong Nội.
Công cuộc sửa soạn chiến tranh, hai quan phụ chánh giấu kín, không
để cho vua Hàm Nghi và Tam Cung biết. Tới khi thấy rơ sự thất bại, lúc
ấy mới tâu với vua và Tam Cung hay” (49)
.
Hết
tệp 5
(PHÂN
ĐOẠN 1 TRUYỆN KÍ THỨ 12)
Khởi viết từ 07
giờ 41
sáng ngày
17.01.2003
(15.12 Nh. ngọ
HB.3)
Viết đến ḍng chữ
này vào lúc 17 giờ 07 phút,
ngày 24.01.2003
(22.12 Nh. ngọ. HB.3).
TRẦN XUÂN AN
(1) Quốc sử quán
triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.), tập 36, bản dịch
Viện Sử học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1976, tr. 214 – 215; Dương Kinh Quốc,
Việt Nam, những sự kiện lịch sử (VN.NSKLS), tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr.
253 – 254.
(2) ĐNTL.CB., tập 36,
sđd., 1976, tr. 215.
(3) Vơ Dương Ninh,
Nguyễn Văn Hồng, Vơ Mai Bạch Tuyết, Lịch sử cận đại thế giới (LSCĐTG.),
quyển 3, Nxb. ĐH. & THCN., 1985.
(4) Trần Trọng Kim,
Việt Nam sử lược (VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 550.
(5) GS. Trần Văn Giàu,
Chống xâm lăng (CXL.), Nxb. Tp. HCM. tái bản, 2001, tr. 533.
(6) Dẫn theo tư liệu
Hội Truyền giáo Bắc Ḱ (chủ yếu do Puginier viết) trong: Nhóm chủ chiến
triều đ́nh Huế và Nguyễn Văn Tường, bài “Cuộc kháng chiến chống Pháp
tiếp tục của nhà nước phong kiến Việt Nam những năm 80 thế kỉ XIX”, tham
luận của GS. Nguyễn Văn Kiệm, kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử, ĐHSP. TP.
HCM., 20.6.1996, tr. 11, 14. Xin xem trích dẫn theo chú thích (14) của
truyện kí thứ mười hai này.
(7) ĐNTL.CB., tập 30,
sđd., 1974, tr. 162 – 163 (tháng giêng nguyệt lịch, Ất sửu, 1865); tập
31, sđd., 1974, tr. 49 (tháng bảy nguyệt lịch, Bính dần, 1866).
(8) VN.NSKLS, tập 1,
Nxb. KHXH., sđd., 1981, tr. 203.
(9) Xem: Trần Xuân
An, Mùa hè bên sông, tiểu thuyết, bản in vi tính, 2001 (chưa có điều
kiện xuất bản rộng răi).
(10) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 28. Cần khẳng định thật rơ ràng và mạnh mẽ: “làm
ngầm” (thủ tiêu) là một việc làm cho dẫu với mục đích chính nghĩa th́
cũng mờ ám. Đó là biện pháp đối phó ở thời đại thế giới bị bưng bít
thông tin, bọn thực dân, “tả đạo” phi nghĩa cầm quyền ở các nước Âu Mỹ
đang thắng thế trên toàn cầu, hoàn toàn thao túng sách báo tuyên truyền,
kích động giáo dân ở chính quốc. Trong giai đoạn diễn ra cuộc bùng nổ
thông tin hiện nay, nhân dân các nước trên thế giới không c̣n bị “bưng
tai, bịt mắt”, bị tuyên truyền theo luận điệu kích động, nên việc nhận
định, đánh giá biện pháp “làm ngầm” (thủ tiêu) thực hiện trong thời điểm
hiện tại phải được căn cứ trên một tiêu chí khác hẳn. Nói rơ hơn, nếu
hiện nay, chế độ nhà nước nào c̣n thực hiện biện pháp “làm ngầm” (thủ
tiêu), phải bị cực lực lên án! Không thể biện minh!
(11) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 216.
(12) CXL., Nxb. Tp.
HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 545.
(13) Tập san Những
người bạn cố đô Huế (NNBCĐH) (Bulletin des amis du vieux Huế, Cadière
làm chủ bút.), bài “Các gia đ́nh thế gia vọng tộc ở nước Nam: ngài
Nguyễn Hữu Độ” của L. Sogny, Phan Xưng dịch, Nguyễn Vy hiệu đính, tập XI
(1924), Nxb. Thuận Hoá, 2002, tr. 262 – 263.
(14) Xem chú thích
(6) của truyện kí thứ mười hai này.
(15) Gosselin,
L’Empire d’Annam, dẫn theo: Phan Trần Chúc, Vua Hàm Nghi (VHN.), Nxb.
Chính Kư, Hà Nội, 1951, Nxb. Thuận Hóa tái bản, 1995, tr. 59; CXL., Nxb.
Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 549. Về ba cuốn sách này, cũng như các
cuốn sách tham khảo khác, tôi đă có dịp phê phán trong khi tiếp thu (theo
tinh thần nghiên cứu khoa học).
(16) Trích nguyên văn
Phan Trần Chúc, VHN., Nxb. Thuận Hóa tái bản, 1995, sđd., tr. 58.
(17) Gosselin,
L’Empire d’Annam, dẫn theo: VHN., Nxb. Thuận Hóa tái bản, 1995, sđd.,
tr. 58; CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 549.
(18) Dẫn theo: VHN.,
Nxb. Thuận Hóa tái bản, 1995, sđd., tr. 58.
(19) Dẫn theo: Bửu Kế,
Chuyện triều Nguyễn (CTN.), Nxb. Thuận Hoá, 1990, tr. 95.
(20) Dẫn theo: VHN.,
Nxb. Thuận Hóa tái bản, 1995, sđd., tr. 59; CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản,
sđd., 2001, tr. 549.
(21) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 171 – 172.
(22) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 216.
(23) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 217.
(24) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 218.
(25) Quốc sử quán
triều Nguyễn và Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục (QTHKL.), bản
dịch: Nguyễn Thuư Nga, Nguyễn Thị Lâm, hiệu đính: Cao Tự Thanh, Nxb.
Tp.HCM., 1993, tr. 480 – 481.
(26) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 209.
(27) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 219.
(28) VHN., Nxb. Thuận
Hóa tái bản, 1995, sđd., tr. 62; VN.NSKLS, tập 1, Nxb. KHXH., sđd.,
1981, tr. 255.
(29) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 95 – 96.
(30) Quốc sử quán
triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 2,
Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 504 – 505. Về vua Quang Trung (Nguyễn Huệ), ở
tập I, bộ truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử này, tôi đă minh
định: Quang Trung và phong trào Tây Sơn là lực lượng đă đáp ứng được yêu
cầu lịch sử rất bức thiết của dân tộc ta thuở bấy giờ (thống nhất Đàng
Trong – Đàng Ngoài, đánh đổ cả Nguyễn lẫn Trịnh). Có một điểm rất tiếc
là về gốc gác xa đời (gốc Tàu) của Quang Trung. V́ lí do đó, trong nhân
dân ta bấy giờ, có nhiều người không ủng hộ. Mặt khác, lại có một bộ
phận nhân dân nhớ ơn chúa Nguyễn về công lao khai hoang, mở đất. Ca dao
Nam Bộ có hai câu hầu như ai cũng biết: “Lạy trời cho cả gió nồm, cho
thuyền chúa Nguyễn dong buồm thẳng ra”. Xin nêu ra để tham khảo thêm.
(31) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 225.
(32) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 225 – 226.
(33) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 219 – 220. Xin xem đoạn trích theo kí hiệu chú thích
(39) của truyện kí thứ mười hai này.
(34) CTN., Nxb. Thuận
Hoá, 1990, sđd., tr. 96 – 97.
(35) VNSL., Nxb. Tân
Việt, bản 1964, sđd., tr. 551: Việc Bà Từ Dũ cử người tặng quà cho De
Courcy, y không nhận, là diễn ra sau cuộc hội đàm này, chứ không phải
cùng một lúc.
(36) ĐNTL.CB., tập
33, sđd., 1975, tr. 8.
(37) CTN., Nxb. Thuận
Hoá, 1990, sđd., tr. 96.
(38) CTN., Nxb. Thuận
Hoá, 1990, sđd., tr. 97.
(39) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 219 – 220.
(40) CTN., Nxb. Thuận
Hoá, 1990, sđd., tr. 97 – 98.
(41) Trần Quang Chu,
Hành hương La Vang, tập 1, sách in vi tính, 247 – 248, 282 – 283: Sau
khi về châu Âu, vào năm 1907, giám mục Caspar liền sang yết kiến giáo
hoàng La Mă Piô X [năm ở ngôi: 1903 – 1914] (hẳn để báo cáo quá tŕnh
công tác!), rồi mới về nghỉ hưu tại quê quán (Obernai, miền Alsace) ở
Pháp. Ông ta chết vào năm 1917, thọ 75 tuổi (có 27 năm lănh đạo giáo
phận Huế).
(42) Dẫn theo: VHN.,
Nxb. Thuận Hóa tái bản, 1995, sđd., tr. 65; CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản,
sđd., 2001, tr. 552.
(43) CTN., Nxb. Thuận
Hoá, 1990, sđd., tr. 98.
(44) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 220.
(45) ĐNTL.CB., tập
35, sđd., 1976, tr. 256.
(46) ĐNTL.CB., tập
35, sđd., 1976, tr. 197.
(47) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 220 – 221.
(48) CTN., Nxb. Thuận
Hoá, 1990, sđd., tr. 99 – 100.
(49) CTN., Nxb. Thuận
Hoá, 1990, sđd., tr. 100 – 101.
Chú thích xong
lúc 18 giờ kém 05 phút,
ngày 20.02.2003
(20.01 Quư mùi HB.3).
TRẦN XUÂN AN
Hết
tệp 5
(PHÂN
ĐOẠN 1 TRUYỆN KÍ THỨ 12)
Xin xem
tiếp tệp 6
(Phân
đoạn 2 truyện kí thứ 12)