Tệp
6
– Tập IV
(phân
đoạn 1, truyện kí thứ 12)
TRẦN XUÂN AN
KINH ĐÔ QUẬT KHỞI
VÀ QUỐC KẾ CHIA
TÁCH – PHỐI HỢP TRIỀU CHÍNH
Truyện kí thứ mười hai
(phân đoạn 1)
7
“[PHỤ
CHÍNH NGUYỄN] VĂN TƯỜNG TÂU XIN VUA VÀ XA GIÁ BA CUNG [:TAM CUNG] ĐI RA
KHIÊM CUNG TẠM THỜI LÁNH LOẠN:
(Khi ấy [Phụ
chính Nguyễn] Văn Tường đă vào bên Tả vu [Điện Cần chánh]. Một lát, [ông]
xin mở cửa Hoà B́nh, đến chỗ [phụ chính Tôn Thất] Thuyết điều khiển. [Phụ
chính Nguyễn Văn Tường] nh́n trông [t́nh h́nh], biết là thất bại rồi, [nên]
lại vào Tả vu, tâu xin vua xuất hành.
Trong khi
vội vă, [ông] chỉ soạn được cái ấn ở ngự tiền, văn lí mật sát, và ấn
kiềm, hai quả, với [vật] hạng để vàng bạc, [bảo] đồ đệ đem theo).
[Phụ chính
Nguyễn Văn Tường] dùng hữu quân đô thống là Hồ Văn Hiển phù xe. Giờ th́n
[07 – 09 giờ sáng] hôm ấy, [xa giá vua Hàm Nghi và xa giá Tam Cung] bắt
đầu từ cửa Tây nam ra”
(50) .
Gần
sát cửa Tây nam, phụ chính Nguyễn Văn Tường nh́n vào bốn chiếc kiệu ngự
giá. Chiếc đầu tiên là của vua Hàm Nghi, ba chiếc kế tiếp phía sau là
của Từ Dũ thái hoàng thái hậu, hoàng thái hậu Vũ thị (trung phi) và
hoàng thái phi Nguyễn Văn thị (học phi). Những chiếc kiệu, vơng khác là
của các hoàng thân, của bà Nguyễn Nhược thị Bích (người vợ giỏi chữ, thơ
hay nhất của vua Tự Đức)… Bấy giờ, tiếng súng tấn công của bọn Pháp,
tiếng súng phản công của ta đang nổ rền. Nhưng tiếng súng giặc vẫn phân
biệt được, quả thật, đang nổ át cả tiếng súng quân ta. Nhân dân dắt díu,
bồng bế nhau, nhờ các viên lính Hữu quân đang làm nhiệm vụ hộ tống xa
giá, tâu xin cho phép họ ra khỏi thành. Trẻ con kêu khóc inh ỏi thật xốn
xang gan ruột. Nhưng các viên lính cầm ngang cây giáo, ngọn thương, tạm
ngăn lại. Không thể chần chừ, phụ chính Nguyễn Văn Tường tâu xin xa giá
tạm ngừng lại trong ḷng cửa thành khá rộng, để tránh rủi ro do đạn đại
bác của giặc Pháp.
Không đợi
ông tâu lần thứ hai, thái hoàng thái hậu Từ Dũ hỏi ngay:
- Quan quận
công phụ chính đó ư? Thế trận có cầm cự được lâu không?
- Tâu, thần
thấy bọn Pháp đă ồ ạt tấn công từ hai phía. H́nh như quân của chưởng vệ
Trần Xuân Soạn đang cố chận giặc ở Anh Danh. C̣n phía Sứ quán, bọn Pháp
đang vượt sông. T́nh thế khó cầm cự được lâu.
- Thế th́
khanh định đưa xa giá và lăo cung cùng Hai Cung đi đâu? Trường thi,
Khiêm lăng hay Tân Sở?
- T́nh thế
này, theo ư thần, Tam Cung vẫn lên Khiêm lăng như dự định, c̣n đức vua
cứ lên Trường thi… Phải chia ra hai cánh, v́ sợ chúng sẽ truy kích. Thần
sẽ hội ư với quan tướng phụ chính sau về địa điểm phải xuất hạnh.
- Khanh nên
v́ đức vua, lăo cung và Hai Cung cũng như hoàng thân, đ́nh thần, lưu lại
đây với chúng để giảng hoà (51).
Sau một
thoáng ngẫm nghĩ, phụ chính Nguyễn Văn Tường liền nói với giọng cương
quyết:
- Thần xin
tuân lệnh. Thần cũng có ư định, nếu chúng truy kích gắt quá, thần sẽ cản
hậu bằng cách đưa thư thương thuyết cho tên tướng De Courcy. Hắn sẽ phải
ngừng động binh cho đến khi đức vua và Tam Cung ra đến Tân Sở. Thần cũng
dám biết vị quốc vong thân. Đức vua và Tam Cung phải được bảo toàn để lo
toan cho mai hậu. – Giọng quan phụ chính Nguyễn Văn Tường bỗng nghẹn
ngào, nhưng ông quyết giữ vẻ b́nh tĩnh –. Thần xin tuân mệnh… Có thể,
thần sẽ không được dịp c̣n sống sót để gặp lại đức vua và Tam Cung… Các
quả ấn “Văn lí mật sát” , ấn kiềm, vàng bạc, thần đă trao cho chưởng vệ
Hữu quân Hồ Văn Hiển, bảo ông ta hết sức chú tâm bảo vệ. Xin xa giá lên
đường lên phía chùa Thiên Mụ, kẻo trễ mất. Hữu quân sẽ đi trước mở đường,
đi sau để hậu vệ. Xin hoàng thượng và Tam Cung yên ḷng.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường nghe có tiếng khóc từ trong các chiếc
ngự giá.
Cố nén ḷng
lại, ông ra lệnh cho chưởng vệ Hồ Văn Hiển phù giá lên đường ngay.
“[PHỤ CHÍNH
NGUYỄN] VĂN TƯỜNG VÂNG Ư CHỈ CỦA TỪ DỤ THÁI HOÀNG THÁI HẬU VÀ LƯU LẠI
GIẢNG H̉A (52).
[Phụ chính
Nguyễn Văn Tường] tức th́ đi tắt [:đi không có nghi trượng theo quy cách
dành cho đại thần] vào nhà thờ đạo Kim Long”
(52) .
Với số quân
khoảng năm chục viên, ông lên kiệu đi tắt đến giáo đường Kim Long để
quyết gặp giám mục Caspar. Trong phương án cản hậu, chặn sự truy kích
của giặc Pháp, ông cũng đă bàn với Tôn Thất Thuyết dự kiến này. Ông cảm
thấy thật xấu hổ, v́ cũng chính giám mục Caspar này đă đón tiếp Trần
Tiễn Thành, Nguyễn Trọng Hợp lúc thất thủ thành luỹ ở Thuận An! Nhưng
ông tự dặn ḷng, ông không bao giờ, không mảy may nào giống với hai tên
quan chủ “hoà”, xu thời một cách vị kỉ đó. Ông không bao giờ đầu hàng.
Nói thẳng ra, lúc này, ông chỉ trá hàng và sẽ chỉ trá hàng mà thôi.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường cố nén cảm giác xấu hổ ấy, để ra hiệu
lệnh cho mấy viên hầu cận chỉ huy đội lính cận vệ. Ông bảo họ, một nửa
phải luôn luôn đi sát ông, một nửa kia lo canh gác các cửa ra vào thuộc
khuôn viên giáo đường. Ngoài ra, thấy những toán lính Phấn nghĩa nào ra
khỏi thành, chạy lên đường này, phải gọi lại để bổ sung quân. Có ǵ bất
trắc, phải kiên cường chiến đấu. Dặn xong, ông ra lệnh cho phu kiệu bước
ngay.
Từ cửa Tây
nam lên đến giáo đường và chủng viện Kim Long chỉ vài dặm ta.
Hai cánh
cửa trước sân rộng thuộc khuôn viên giáo đường mở ra, sau khi một người
lính rung chuông và trao danh thiếp của quan đệ nhất phụ chính. Trong
giáo đường, các cố đạo Pháp lẫn linh mục, thầy giảng người Việt đă biết
sự biến xảy ra từ lúc mới nổ súng. Cố nhiên, họ đă biết kinh thành sẽ
thành trận địa từ rất lâu trước đó!
Nghe lời
bẩm báo có quan đệ nhất phụ chính đại thần đến trong lúc cấp bách này,
giám mục Caspar cảm thấy quá bất ngờ. Sau một thoáng bàng hoàng, y nhếch
môi cười nửa miệng. Giám mục Caspar biết thế nào cũng có một viên quan
đến nhờ y giúp cho việc cầu “hoà”, như Trần Tiễn Thành, Nguyễn Trọng Hợp
trước đây, nhưng y không ngờ đó lại là quan đệ nhất phụ chính Nguyễn Văn
Tường, người đứng đầu phe chủ chiến, vốn cứng rắn, người chưa từng một
lần y được gặp. Giám mục vội ra tận sân đón tiếp.
Vào pḥng
khách, cố giữ vẻ điềm tĩnh, ung dung thường ngày, phụ chính Nguyễn Văn
Tường nói ngay:
- Không
biết giám mục vui ḷng hay phiền ḷng khi tôi đến đây? Hiện tại là sự
biến bất ngờ. Tôi chưa rơ, nhưng thôi th́ cứ tạm cho là do quan tướng
phụ chính nổ súng trước. Dẫu sao, t́nh thế rất cấp bách. Vậy tôi nói
ngay, tôi cũng như đức vua, Tam Cung và hầu hết đ́nh thần, hoàng thân
đều “không biết chi hết” về sự biến đang xảy ra. Cho nên, ư
định của tôi và lệnh dụ của Từ Dũ thái hoàng thái hậu là mong giám mục
sẽ chuyển giúp cho ư kiến của tôi, thay mặt đức vua, Tam Cung, triều
đ́nh, kể cả hoàng tộc, nhắn gửi đến tướng De Courcy, khâm sứ De
Champeaux, là tôi muốn được gặp tướng De Courcy ngay lập tức để chấm dứt
sự nổ súng. – Phụ chính Nguyễn Văn Tường nói tiếp –. Đề nghị giám mục
cho người truyền đạt ư kiến ấy ngay cho. Phải vội, không th́ sẽ muộn mất.
- Vâng,
nhưng quan phụ chính cũng nên viết vài chữ để tôi bảo một giáo sĩ chạy
qua bên Sứ quán trao cho tướng De Courcy?
- Thế th́
nhờ giám mục viết luôn cho tướng De Courcy ấy. Ông ta sẽ tin ở giám mục.
- Vâng, có
lẽ phải như vậy. Và sẽ có người chạy đưa thư của tôi ngay. Xin mời quan
phụ chính ngồi xuống đă.
Phụ chính
Nguyễn Văn Tường sực nhớ ḿnh đang đứng. Ông ngồi xuống. Lát sau, ông
thấy giám mục Caspar viết một bức thư có nội dung như ông vừa nói với ư
định cố giữ sự hoà hảo giữa hai nước trong t́nh h́nh này th́ tốo”hơn. Và
ông c̣n đọc thấy, giám mục đă thể hiện rơ ư tưởng, rằng, sẽ không cản
nổi một vụ tương tự như hai trường hợp Françis Garnier (1873), Henry
Rivière (1883) hoặc cuộc chiến tranh lương – giáo như ở Nghệ – Tĩnh mười
hai năm trước (1873 – 1874); và phụ chính Nguyễn Văn Tường hoàn toàn
không chịu trách nhiệm về sự việc có thể xảy ra, nếu De Courcy tiếp tục
bức bách nhà vua, Tam Cung, triều đ́nh và hoàng thân, bởi nhân dân, sĩ
phu, quan chức đă căm uất quá rồi. Sự căm uất ấy, nếu nh́n nhận một cách
khách quan, là rất chính đáng. Phụ chính Nguyễn Văn Tường cũng đă nói rơ:
Người Pháp và các cố đạo Pháp sẽ bị tấn công, nếu De Courcy tiếp tục gây
chiến, bức hiếp như vậy. Ư của phụ chính Nguyễn Văn Tường là mong De
Courcy không nên kích động giáo dân và bọn “phù Lê” cướp chính quyền
hoặc dẫn quân binh truy kích đoàn ngự giá, dồn triều đ́nh và sĩ dân đến
chỗ phải quyết chiến cho dẫu sự thể sẽ xảy ra như thế nào.
Phụ chính
Nguyễn Văn Tường nhờ viên thông ngôn, phiên dịch của ḿnh đọc lại. Ông
thấy trong bức thư ấy, đă thể hiện được một vài ư tưởng chỉ là hăm doạ
De Courcy để y không truy kích đoàn ngự giá mà thôi. Đó là đ̣n khóa chặn
âm mưu kích động giáo dân “tả đạo” và bọn “phù Lê” cướp chính quyền. Đó
cũng là kế cản hậu và hoăn binh (53). Vả lại, thật ra, hơn ai hết, ông
biết rất rơ toàn bộ binh lực của triều đ́nh đă được phụ chính Tôn Thất
Thuyết dốc hết vào trận tấn kích và cố thủ từ lúc nửa khuya về sáng đến
lúc này. Nếu có tái diễn những trận đánh như hai vụ FranÇis Garnier,
Henry Rivière th́ phải dăm bảy tháng sau, nếu vũ khí, đạn dược của quân
Cần vương c̣n đầy đủ.
Giám mục Caspar viết thêm một vài ḍng tái bút:
“Tôi là giám mục Caspar, tôi chỉ viết lại những ư kiến giảng hoà
của phụ chính Nguyễn Văn Tường, người đang tuân theo sắc văn (lệnh dụ)
của Từ Dũ thái hoàng thái hậu và đại diện cho triều đ́nh Đại Nam. Sở dĩ
tôi viết thay thư này là bởi lí do: Muốn để quư đô thống tướng De Courcy
và khâm sứ De Champeaux tin tưởng” (54).
Phụ chính Nguyễn Văn Tường thúc giục giám mục chuyển ngay đến cho
De Courcy.
Bảo người
thân tín chạy giao thư, ngay trong lúc tiếng súng tuy đă ngớt nhưng vẫn
c̣n nổ, giám mục Caspar tỏ ra nhiệt t́nh. Đúng là y rất nhiệt t́nh, bởi
y chỉ mong nước Pháp và giáo hội của y sẽ “bảo hộ” Đại Nam một cách chặt
chẽ, nghĩa là thắng lợi sắp đến nơi. Y cảm thấy rất khó khăn nếu thực
hiện cho được ước muốn trước đây là lật đổ, tiêu diệt hẳn triều Nguyễn
để lập nên một Nhà nước mới hoàn toàn Thiên Chúa giáo. Từ lâu, y biết
phải theo kế sách “tàm thực” lâu dài, chứ không thể đánh nhanh, ăn nhanh
như dự định ban đầu, ít ra là từ mấy chục năm trước, của các cố đạo, các
quan tướng viễn chinh Pháp được. Và lúc này, dẫu là một tên gián điệp
sừng sỏ, nhưng giám mục Caspar, y cũng chưa biết kế sách của hai phụ
chính như họ đă bàn với nhau.
Chuyện tṛ thêm một lát, giám mục Caspar mời phụ chính Nguyễn Văn
Tường dùng bữa. Quan phụ chính có một thoáng ngần ngại. Thuốc độc, biết
đâu? Nhưng ông vẫn cố bày tỏ sự tín nhiệm xă giao. Vả lại, ông từng có
kinh nghiệm trong các chuyến thương thuyết ngoại giao với người Pháp.
Một cách khôn khéo, ông bảo ông chỉ dùng bữa theo kiểu thân t́nh của
người Việt, chung mâm, chung tô, chung dĩa. Ông quyết mời giám mục cùng
ăn. Ông chỉ ăn món nào giám mục gián điệp Caspar đă xúc, đă gắp vào chén
và đă nuốt. Với kinh nghiệm sẵn có, ông vẫn ứng xử được một cách rất tự
nhiên. Giám mục gián điệp Caspar tinh ư, y cũng liền bày tỏ thiện chí.
Phụ chính
Nguyễn Văn Tường cố giữ vẻ điềm tĩnh, ung dung nhưng thật ra, ông hiểu
ông có thể sẽ bị bắn chết, hoặc chí ít cũng bị bắt làm tù nhân, hoặc làm
con tin, ngay trong ngày hôm nay. Ông biết, trong lịch sử đă có nhiều
người chết trong trường hợp oái oăm, ngặt nghèo như thế này. Nếu ông
chết trong lúc trá hàng này, không ai khác, chính Tôn Thất Thuyết và vua
Hàm Nghi, Tam Cung, đ́nh thần, hoàng thân sẽ thanh minh cho ông. Tôn
Thất Thuyết vẫn là người hiểu rơ ông nhất, kế đó là những viên quan quân
hầu cận của ông từ lâu và hôm nay, lúc này, chỗ này, tại bữa ăn này. Ông
cảm thấy yên ḷng, sẵn sàng đương đầu với cái chết.
8
Sau khi phụ
chính “[Nguyễn] Văn Tường vâng ư chỉ của Từ Dụ thái hoàng thái hậu và
lưu lại giảng ḥa” (55), “[ông] tức th́ đi tắt [:đi không có nghi trượng
theo quy cách dành cho đại thần] vào nhà thờ đạo Kim Long.
[Phụ chính
Tôn Thất] Thuyết ra sau, gặp [xa] giá, bèn một ḿnh hộ chuyển [xa giá]
đến Trường Thi (ở xă La Chử). Nhân [thế, ông] kèm [xa giá] đi ra ngoài [phía]
bắc.
Thự hiệp
biện đại học sĩ là Phạm Thận Duật, thự tham tri Trương Văn Đễ, và Trần
Xuân Soạn, Tôn Thất Lệ đều đi theo xa giá.
(Khi đó, [đoàn]
tùy [tùng và xa] giá, chỉ có xe loan [:xe vua Hàm Nghi, xe Tam Cung] và
lính biền binh lẻ tẻ chầu chực, trên dưới ước một trăm (100) người. C̣n
dư [:số c̣n lại là] các dinh vệ, sau khi thua trận, đều [lập] tức t́m
đường tản về quê quán).
Giờ ngọ [11
– 13 giờ], [đoàn tuỳ tùng, xa giá] mới đến xă Văn Xá [gần Huế]. Nghỉ một
chút, [phụ chính Tôn Thất] Thuyết tức th́ kèm vâng mệnh vua, [tường
thuật] đêm qua, t́nh h́nh vua phải ra đi, thông báo cho thiên hạ cần
vương. [Đây là thông báo cần vương, chưa phải là Dụ Cần vương phát đi
vào ngày mồng 02 tháng 6 Ất dậu (13.7.1885)]. [Ông sai phái lính trạm]
lần lượt [thông] tư cho Nam Bắc tuân làm.
Ngày bính
th́n [hai mươi tư tháng năm (06.07.1885)], vua cùng với xa giá Ba Cung
[Tam Cung] đến tỉnh Quảng Trị; dừng nghỉ ở hành cung” (55)
.
C̣n
các quan ta, một số thoát ra khỏi thành được, liền lẩn tránh vào nhà dân
ở các xă thôn quanh đó, một số khác t́m đường ra Quảng Trị pḥ vua và
Tam Cung.
“(Từ
thự hậu quân chưởng phủ Nguyễn Hanh, thự thống chế Ngô Tất Ninh, thự Tả
quân Đinh Tử Lượng, Công bộ tham tri Tôn Thất Phan, biện lí Trần Khánh
Tiến, thuỷ sư hiệp lí Cao Hữu Sung, phủ doăn Nguyễn Đ́nh Dương, toản tu
Phạm Phú Lâm cũng đều tiếp nối đến hành tại)” (56) .
T́nh
h́nh ở kinh đô Huế và riêng trong kinh thành hết sức bi đát!
“Đương lúc
xa giá nhà vua đă đi rồi, quân Pháp lên ḱ đài treo cờ hiệu tam tài [:cờ
tam sắc, tức là quốc ḱ Pháp]. Súng bắn vẫn c̣n ầm vang. Quan lại, nhân
dân giành nhau t́m cửa chạy ra, rồi tự dày xéo lên nhau. [Quan và dân bị]
chết và bị thương rất nhiều.
[Với ḷng
thù hận hai quan phụ chính], quân Pháp bèn đốt hai bộ Lại và Binh (nguyên
là nơi [hai phụ chính Nguyễn] Văn Tường và [Tôn Thất] Thuyết ở đó). Và
thuốc đạn, khí giới [cũng bị đốt, khói lửa] bốc lên xông trời (hai ngày
đêm không tắt). [Bọn Pháp] chia giữ các cửa thành trong, ngoài, và các
kho tàng, cung điện.
Ngày phát
gạo kho, [bọn Pháp] thuê vát những dân c̣n ở trong thành và những bọn ở
ngoài lẻn vào (đều là đồ vô lại, nḥm vào toan lấy đồ đạc của quan tư
c̣n bỏ sót lại). [Bọn Pháp c̣n sai người] sửa đắp các trại lính làm nơi
trú đóng [của chúng], và [chúng sai người] nhặt chôn, hoả táng các xác
bị chết và bị nạn ở lúc trận vong.
Dưới đô
thành, [nhân dân] nơm nớp sợ, chạy” (57)
…
9
Một
trong những lí do khiến quan đệ nhất phụ chính phải có phương án “kẻ ở”,
“người đi” , và chính vua Hàm Nghi, Tam Cung cũng ra sắc văn dặn ông
phải ở lại “giảng hoà” , là không thể để kinh thành, nhất là hoàng
thành và nhân dân Huế, phải lâm vào t́nh trạng bi đát hơn.
“[Phụ chính
Nguyễn] Văn Tường hôm ấy đă vào nhà thờ đạo Kim Long. [Ông] bèn cùng với
giám mục Lộc [Caspar] thương thuyết, cùng đến Ṭa Sứ trần t́nh, cùng bàn
nỗi khổ với đô thống Pháp [De Courcy], lại xin giảng ḥa” (58)
.
Sự thể thực
hiện phương án “kẻ ở”, “người đi”, “giảng hoà” ấy không thể đơn giản,
ngắn gọn như thế…
Lúc
khoảng chín giờ sáng nay, De Courcy rất bất ngờ khi một giáo sĩ cải
trang làm thường dân xin vào Sứ quán. Bấy giờ, tiếng súng đă hầu như tắt
hẳn ở phía hữu ngạn sông Hương. Chỉ ở tả ngạn, phía trong kinh thành,
tiếng súng vẫn đôi lúc lại vang lên, mặc dù trên ḱ đài, cờ tam khoang
xanh trắng đỏ được kết bằng dây thắt lưng với mấy mảnh vải, nghe đâu là
áo của vợ tên sĩ quan Pháp hoặc Ả Rập nào đó, đă phất phơ bay.
De Courcy
hết sức căm giận khi thấy sĩ quan, quân lính của y có đến hàng trăm tên
bị chết, bị thương, và dinh thự nứt vỡ, đồn trại, quân trang bị thiêu
rụi. Y định bụng sẽ bắn ngay viên đệ nhất phụ chính, “kẻ thù không
đội trời chung” (59) với người Pháp kia. De Courcy đọc bức
thư, hiểu ngay viên phụ chính Nguyễn Văn Tường vừa thuyết phục, vừa hăm
doạ y rằng, ông ta không chịu trách nhiệm nếu người Pháp và các cố đạo
Pháp bị quân binh triều đ́nh hoặc sĩ dân tấn công. De Courcy vừa giận,
vừa âu lo.
De Courcy
hỏi De Champeaux. De Champeaux vốn là một kẻ rất nhiều năm quyết “đập
tan tành” thượng thư, phụ chính Nguyễn Văn Tường. Nhưng De Cham-peaux
vẫn là một gă thực dân khá khôn ngoan một cách thâm độc. Y lại hiểu t́nh
h́nh Đại Nam và uy tín của phụ chính Nguyễn Văn Tường. Giết ông ta lúc
này th́ quá dễ, nhưng tổn thất sẽ rất lớn. Tuy nhiên, việc ông ta quay
lại cầu “hoà” là một điều bất ngờ. Ông ta mà đầu hàng thật sao? Hay ông
ta đang thực hiện một mưu kế nội công ngoại kích ǵ đây?
De Courcy
và De Champeaux bàn bạc với nhau hồi lâu, để rồi chúng quyết định phải
giam giữ phụ chính Nguyễn Văn Tường. Để giam giữ ông ta, phải bố trí ít
ra là một trung đội quân viễn chinh canh gác cẩn mật, do tên đại uư
Schmitz vốn rất thận trọng chỉ huy. Sau đó, cả hai tên đô thống, khâm sứ
liền nói cho viên giáo sĩ cải trang đưa thư đến: “Hăy đợi một chốc”. De
Courcy viết nhanh một lá thư ngắn cho phụ chính Nguyễn Văn Tường, rằng y
đồng ư gặp để bàn chuyện “hoà”!
Gần xế trưa,
phụ chính Nguyễn Văn Tường và giám mục Caspar đi thuyền sang bến Sứ quán.
Họ được mời vào một dinh cơ tiêu điều, đầy vết đạn, mùi thuốc súng và
mùi cháy khét vẫn c̣n vướng vất, khói lửa c̣n ngún toả, trước đây là một
Sứ quán khang trang.
Phụ chính
Nguyễn Văn Tường chợt nhận ra, cả hai viên đô thống, khâm sứ đều có chữ
lót quư tộc là “De” (không biết ḍng họ bỏ tiền ra mua hay có công lao
thật sự). Ông thấy họ, sau một đêm mất ngủ, không thể không căng thẳng,
không thể không mệt mỏi. De Courcy, De Champeaux ngồi đối diện với phụ
chính Nguyễn Văn Tường và giám mục gián điệp Caspar. Những người lính
cận vệ luôn luôn đứng sát sau lưng quan phụ chính.
De Courcy
đă có thời gian để suy nghĩ, bàn bạc với De Champeaux, nên lẽ ra, phần
nào y cũng đă bớt bức xúc. Nhưng lúc này, quả thực, y vẫn không ḱm nổi
sự căm giận. Y nói phủ đầu để hạ nhục:
- Quan đệ nhất phụ chính đă “đem ḷng cự chiến, đến đây làm ǵ?”
(60) . – De Courcy căm giận xen lẫn với bối rối đến run cả
giọng nói –. Ngài đă chống đánh chúng tôi, ngài c̣n đến đây làm ǵ?
Phụ chính Nguyễn Văn Tường vẫn cố giữ vẻ điềm tĩnh, ung dung:
- Tôi rất
tiếc khi phải đến đây trong t́nh huống không vui, không hữu nghị như thế
này. Nhưng, dẫu sao sự biến cũng đă xảy ra. Nguyên nhân xa và gần tôi đă
nói với giám mục Caspar. Nói cụ thể và ngắn gọn thế này, trận chiến xảy
ra là do quan tướng quân phụ chính Tôn Thất Thuyết, nếu không phải quân
Ả Rập bắn trước. Tuy nhiên, điều đó dẫu sao cũng chỉ là nguyên cớ trực
tiếp. Sự thật và nguyên nhân chính như thế nào, phía người Pháp, phía
Đại Nam đă hiểu từ lâu, ít ra là mấy chục năm trước, từ khi người Pháp
bắt đầu nổ súng vào Đà Nẵng. C̣n riêng tôi, tôi không can dự ǵ, tôi
“không biết chi hết” vào sự biến này. Tóm lại, thay mặt cho nhà
vua trẻ và Tam Cung, hoàng thân, triều thần, tôi trần t́nh (trần thuật
t́nh trạng) như vậy. Sự biến đă gây ra bao nhiêu chết chóc, tang thương!
Thật ra, bản chất cuộc chiến tranh người Pháp tiến hành là không văn
minh, là phi nhân. Dẫu các ông căm giận, tôi cũng phải nói thật như vậy.
Mấy chục năm qua, Đại Nam buộc ḷng phải kháng chiến vệ quốc, thế thôi.
Dẫu sao, nỗi khổ cũng đă quá chất chồng rồi! Cuối cùng, tôi mong nên giữ
t́nh “giao hảo” giữa hai nước Pháp – Nam. Như thế hẳn là tốt hơn, nhất
là trong t́nh h́nh hiện giờ.
Thật sự, De
Courcy, De Champeaux lúc này cũng như giám mục Caspar hồi sáng, chúng
đều không tin phụ chính Nguyễn Văn Tường “không biết chi hết” vào sự
biến. Có điều, như đă bàn với De Champeaux lúc gần trưa, khi mới nhận
được bức thư do viên giáo sĩ cải trang mang tới, nên De Courcy vẫn kiên
nhẫn lắng nghe. Y cố gh́m lại cơn tức giận điên cuồng trong ḷng. Y dùng
ngôn từ xă giao:
- Thôi được,
thưa ngài phụ chính. Tôi mong t́nh “giao hảo” sẽ tốt hơn giữa hai nước!
Tôi cũng rất âu lo là nhà vua, Tam Cung, đ́nh thần, hoàng thân sẽ phải
vất vả giữa rừng rú và chiến tranh sẽ vẫn tiếp tục. Do đó, mong ngài hăy
liên lạc để rước nhà vua, Tam Cung, đ́nh thần, hoàng thân về lại hoàng
thành (58).
Như
thế, cuối cùng, theo sự bàn bạc mưu kế với De Champeaux trước đó và sự
thuyết phục của phụ chính Nguyễn Văn Tường lúc này, tên “đô thống
[De Courcy] ấy cũng nghe lời [“giảng hoà”], dặn phải rước ngay vua và
Tam Cung hồi loan về triều” (58) .
Điều phụ
chính Nguyễn Văn Tường vui mừng nhất là ông đă cản được sự truy kích của
quân Pháp đối với xa giá. Nếu chúng truy kích, chắc hẳn sẽ nguy to cho
đoàn ngự giá! Nhưng chúng đă không tiếp tục động binh. Đó là một điều
ông thấy chính ông đă thành công.
C̣n nay mai
sẽ ra sao? Nay mai, chắc hẳn De Courcy sẽ ép buộc ông kí tên vào tuyên
cáo đầu hàng? Ông sẽ tính toán thực hiện kế hoạch viết các tuyên cáo
yết thị tại kinh hay gửi cho các quan tỉnh theo kiểu “b́ lí xuân thu”
(61) (h́nh thức ngôn từ và nội dung lí lẽ khác nhau như mùa xuân với mùa
thu) và phối hợp chiến với đàm như đă bàn với quan tướng quân Tôn Thất
Thuyết. Hơn nữa, trước đây, vua Kiến Phúc, vua Hàm Nghi và hai phụ chính
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đă thông tư cho các quan tỉnh: Mật dụ
mới là văn kiện chính thức, c̣n các dụ “thoả hiệp” với Pháp chỉ có tính
chất đối phó với Pháp mà thôi; phải hiểu theo kiểu “b́ lí xuân thu”
, kiểu viết mà nhà nho uyên thâm đọc vào mới thật sự hiểu. Về phía
Pháp, chúng cũng thừa hiểu tính chất “hai mặt” ấy, nhưng chúng chưa thể
ép buộc triều đ́nh Đại Nam được.
10
Aymonier, một tên Pháp năm ngoái đă nhờ khâm sứ tại Huế xin Viện Cơ mật
cho phép y đi “du khảo bác vật”. Hơp Ai, một ngườiø Chăm (Ninh Thuận),
bị Aymonier buộc phải tháp tùng theo y, nào ngờ để đi khuân vác các bức
tượng, phù điêu, bi kí Chăm và Việt! Ông chính là tác giả bản Ariya Po
Parơng (“Trường ca về quan lớn Pháp”) . Hơp Ai đă viết rơ, chính tác giả
khởi hành từ tháng giêng năm Ất dậu (1885) (62):
… “Ngày hai mươi
tháng giêng năm Dậu
Quan Pháp sai bắt
chúng tôi đi cùng”…
Và trong
chừng mức nào đó, dẫu sao, ông cũng như một nhân chứng về cuộc kinh đô
quật khởi, bốn tháng sau đó:
“… Vào lúc bảy
giờ ngày hai mươi tháng sáu
[theo lịch
Chăm (?)]
Quân Pháp đánh
vào Huế, bắn phá dinh vua
Khói lửa bay tung
mù trời
Quân nhà Nguyễn
chết như kiến,
cả ngựa
lẫn voi
Sau đó, quân Pháp
tiến vào mở cửa thành
Binh lính trong
thành sống sót,
chẳng biết đường
nào mà đi
Măi tới
trưa mới t́m được lối ra
Bụng đói, mắt
thâm quầng, chân run đi không nổi
Hoảng hồn
bước lên rồi té ngă
Thêm choáng váng
bởi thuốc súng,
người họ mệt lả
bơ phờ
Có người
ḅ trườn ra tới cửa thành
Vừa ngóc đầu lên
nh́n
th́ bị một
tên lính Tây đứng gác,
nạt lớn
không cho ra
Khi ấy [[nghe
tin]] Tôn Thất Thuyết pḥ vua
Cùng chạy ra khỏi
thành đi ẩn náu ở xứ khác
Nguyên soái [De
Courcy] cho chạy tin
khắp Đất
nước
Lệnh cho quân nhà
Nguyễn
trong mười
ngày
phải [[nộp
vũ khí]] xin hàng
Tướng [Pháp chiếm
cứ] trong triều [:hoàng
thành]
cũng đă giao thành
Rồi [phụ chính
Nguyễn Văn Tường trá hàng]
kí sắc
lệnh chịu hàng
không
chống Pháp nữa
Ngoài khơi, bảy
chiến hạm chực sẵn
Sáng hôm sau,
quân Pháp ra lệnh truy t́m
nhà vua…”
(62).
Những sử gia đương thời, trong cuộc đă ghi chép rơ:
“Buổi
chiều hôm ấy, [phụ chính Nguyễn] Văn Tường bèn bàn với quan Pháp, [ông]
vào thành tạm đóng (đóng ở trong nhà Bộ Hộ).
Hôm sau (tức
là ngày hai mươi bốn [24 (06.07.1885)]), [phụ chính Nguyễn Văn Tường và
tên tướng Pháp De Cour-cy] bèn hội đồng yết thị cho hai nước ḥa hảo như
cũ.
Nhưng [bọn
Pháp] cho [rằng phụ chính Nguyễn Văn Tường] ở trong thành là không tiện,
lại bàn ra Nha Thương bạc, tạm đóng ở đấy làm việc. [Sau đó, ngày hai
mươi bảy tháng sáu Ất dậu (09.07.1885)], [phụ chính Nguyễn Văn Tường]
bèn đem hiện t́nh giảng ḥa, [cho lính chạy ngựa trạm] phi tấu nơi hành
tại [:nơi vua và Tam Cung ở] và thông báo cho Nam, Bắc biết [phục chức
cho những quan lính Cần vương trở về trong hạn định mười hai ngày, kể từ
ngày ban hành bản tuyên bố]” (63)
.
Đó
là hai văn kiện công khai, có tính chất đối phó, và tất nhiên, phụ chính
Nguyễn Văn Tường đă có mật lệnh kèm theo.
11
“Lúc đó,
trong đô thành, nhân dân hăy c̣n nhốn nháo, sợ hăi. Bọn gian đồ, phần
nhiều đi cướp bóc ở ngoài mặt phố và các nơi làng xóm. [Phụ chính Nguyễn]
Văn Tường nghiêm sức [:nghiêm khẩn ra lệnh] [cho lính] đi tuần ngăn cấm.
Viên huyện Hương Trà tức th́ bắt được vài tên phạm ở hai chợ Nam Phố, An
Ḥa, đem chém đầu bêu ngay để cảnh cáo. Các bọn [trộm cướp, hôi của]
khác nghe tin, đều dẹp cả” (64)
.
Không những phụ chính Nguyễn Văn Tường phải lo toan ổn định kinh đô, ông
c̣n phải lo lắng cử người ra tâu bàn với nhà vua, Tam Cung và đặc biệt
là bàn bạc với quan đệ nhị phụ chính.
“[Phụ
chính Nguyễn] Văn Tường lại ủy [nhiệm cho] Binh Bộ thị lang là Phạm Hữu
Dụng, [đích] thân đến hành tại [ở Quảng Trị], đem hiện t́nh bàn với [phụ
chính Tôn Thất] Thuyết, [và] tâu vua biết, định xin rước xe vua về. [Phạm]
Hữu Dụng đến [nơi], bị [phụ chính Tôn Thất] Thuyết ngăn cản. ([Phụ chính
Tôn Thất] Thuyết không tâu vua, nhưng dặn [Phạm] Hữu Dụng về báo với [phụ
chính Nguyễn] Văn Tường:
+++ Phải nên đoàn
kết với quân Pháp;
+++ [Pháp] không
lại lấn áp như trước, th́ mới đón xe vua về).
[Phạm] Hữu
Dụng sợ [phụ chính Tôn Thất] Thuyết, bèn từ về ngay, không dám tâu vua
biết” (65)
.
Phụ chính
Tôn Thất Thuyết lắng nghe thị lang Bộ Binh Phạm Hữu Dụng tŕnh bày khá
cặn kẽ những ǵ phụ chính Nguyễn Văn Tường đă tiến hành trong “thế hi
sinh” tại Huế. Ông hết sức cảm phục và không khỏi áy náy, ái ngại khi
nghe kể.
Phụ chính
Tôn Thất Thuyết cũng đă có ư định phải giả vờ hoà hảo với Pháp, bởi thật
sự, ông hiểu triều đ́nh Đại Nam bị cô lập và rất bế tắc hiện nay, kể từ
sau khi Pháp và Trung Hoa đă kí kết hiệp ước Thiên Tân hồi cuối tháng tư
nguyệt lịch vừa qua. Hơn nữa, ông lại hiểu hơn ai hết về t́nh trạng quân
binh tan ră sau khi kinh đô quật khởi và bị thất thủ. Ông không phải
không sáng suốt, không phải không nhận thấy rằng, trong t́nh h́nh này,
cần phải hoà hoăn để tranh thủ thêm thời gian, tạo thế và lực mới, đồng
thời thúc đẩy cho sự xuất hiện thời cơ mới, rồi kháng chiến mới có thể
thành công. Nhưng thật ḷng, ông cũng biết bọn Pháp hiện giờ đang lúc
thừa thắng. Chúng đă đánh bại Phúc Châu trong lục địa Trung Hoa, lại
đang vây Đài Loan, phong toả Trường Giang (sông Dương Tử), buộc Trung
Hoa nhà Thanh đầu hàng. Pháp đang thừa thắng như thế, lẽ nào chúng bỏ
mất thời cơ tốt đối với chúng! Cho nên, phụ chính Tôn Thất Thuyết vẫn
phải đưa vua lên kinh đô kháng chiến Tân Sở, phát Dụ Cần vương một cách
hùng tráng và có đủ tư thế uy nghi, như kế hoạch đă bàn với phụ chính
Nguyễn Văn Tường. Sau đó, việc đưa vua về hay không sẽ tính tiếp. Ông
cũng bàn kế hoạch với phụ chính Nguyễn Văn Tường là sẽ đưa vua về, c̣n
ông sẽ tiếp tục kháng chiến như Nguyễn Văn Giáp hoặc như Tạ Hiện, Nguyễn
Thiện Thuật, nhưng không núp dưới bóng cờ quân Thanh như họ, mà phải giữ
cho được tính độc lập, tự chủ, tuy rất cần đến việc thiết cốt là phải
tranh thủ viện trợ của các nước (nhưng đau xót thay, điều này hiện nay
là bế tắc!). Kế sách chia tách triều chính nhưng vẫn phối hợp mật thiết,
chặt chẽ với nhau đă vạch ra. Chính ông sẽ lănh đạo các quan chức, sĩ
dân trung nghĩa kháng chiến, c̣n vua Hàm Nghi và phụ chính Nguyễn Văn
Tường sẽ tiếp tục “hai mặt”, “b́ lí xuân thu” để triều đ́nh Đại Nam có
điều kiện viện trợ vũ khí, đạn dược, quân trang và lương thực cho quân
kháng chiến của ông. Chiến phối hợp với đàm! Có điều, đưa vua Hàm Nghi
về ngay lúc này là chưa tiện. Hẳn phụ chính Nguyễn Văn Tường muốn thúc
hối ông lên Tân Sở ngay để phát Dụ Cần vương.
“[Phụ chính
Tôn Thất] Thuyết tức th́ lấy ngày hai mươi bảy, kỉ mùi [09.07.1885], ép
vua lên xe đi ra [:lên] Sơn pḥng tỉnh Quảng Trị [:Tân Sở].
(Khi ấy [phụ
chính Tôn Thất] Thuyết đă tâu xin Ba Cung cùng đi, nhưng Ba Cung có ư
lần lữa. [Phụ chính Tôn Thất] Thuyết bèn [bí] mật cùng với bọn hỗ ṭng
là Hồ Văn Hiển, Phạm Thận Duật, Trần Xuân Soạn, Tôn Thất Lệ, lấy hôm ấy,
ước [vào khoảng] giờ sửu [01 – 03 giờ khuya về sáng], hộ thánh giá [“thánh
giá” = xe của nhà vua] đi Sơn pḥng [Tân Sở].
Tuần phủ
Quảng Trị là Trương Quang Đản đều hiện tiếp tục đến hành tại. Các quần
thần đều không biết ǵ cả. Sáng ra [họ] mới rơ việc.
[Phụ chính
Tôn Thất] Thuyết [lập] tức phái cho Phấn nghĩa quân về đ̣i Trương Văn Đễ,
Ngô Tất Ninh đều tiếp tục lên [Sơn] pḥng [Tân Sở].
Bọn Tôn
Thất Phan đều lại về kinh. Duy Nguyễn Hanh, Đinh Tử Lượng, Lương Thành,
phủ thần ấy bàn hăy lưu lại ở tỉnh ấy).
Do đó ḷng
người càng thêm ngờ sợ, không biết theo về đâu”
(66) .
12
“Riêng một
hạt phủ Thừa Thiên, v́ có [phụ chính Nguyễn] Văn Tường ở đó giảng ḥa và
[thường] hay [ra] hiệu lệnh ngăn cấm, hơi nhờ được yên. C̣n dư [:ngoài
ra], các hạt Nam, Bắc, th́ bọn côn đồ tụ họp, cướp bóc nổi lên. Lương,
giáo ngày thường thù nhau, sinh ra tàn sát lẫn nhau, nơi nào cũng có.
Đô thống
Pháp lại yêu cầu [phụ chính Nguyễn] Văn Tường để chiêu tập quan lại,
thôi bắt binh dân, hiểu bảo cho lương, giáo Nam, Bắc cùng yên và cấm sự
xảy ra trộm cướp, hạn đến tháng [thứ] hai [:nhị nguyệt = 02 tháng] là
thanh thiếp” (67)
.
Cũng như hai văn kiện trước, lần này De Courcy và De Champeaux lại
ép buộc phụ chính Nguyễn Văn Tường ra tuyên cáo mới. Nội dung của nó là
cả một nỗi đau ḷng, và hạn định De Courcy đưa ra là cả một nỗi nhục nhă:
+++ 1. Triệu tập các quan chức trở về triều đ́nh và nha sở để điều hành
công việc.
+++ 2. Chấm dứt
việc tăng cường lực lượng quân binh của triều đ́nh. Trong khi đó, hiện
tại triều đ́nh do phụ chính Nguyễn Văn Tường lănh đạo tạm thời chỉ c̣n
một số quân binh rất ít ỏi, yếu kém!
+++ 3. Ra lệnh
ngăn cản cuộc chiến tranh lương – giáo đang bùng nổ hầu như khắp Trung
Ḱ, Bắc Ḱ.
+++ 4. Tăng cường
trật tự, trị an xă hội (67).
De Courcy ra hạn định chỉ trong hai tháng! Phụ chính Nguyễn Văn
Tường nhẫn nại trong t́nh thế phải hoà hoăn. Ông tự nhủ với nỗi đau xót
như cứa vào gan ruột:
“Ta đang
ở trong thế vơ thuật được gọi là thế hi sinh. Phải cố nhẫn nhục cho đại
cuộc theo kế sách chia tách triều chính nhưng vẫn phối hợp chặt chẽ, và
phải nhẫn nhục cho chính nghĩa v́ nước, v́ dân. Không c̣n cách nào khác”.
Và
tất cả tấm ḷng son của ông vẫn hướng về vua Hàm Nghi, Sơn pḥng Tân Sở
và Tam Cung ở hành cung Quảng Trị…
“Tháng sáu
[nguyệt lịch, Ất dậu], ngày mồng một quư hợi [12.07.1885], vua [Hàm Nghi]
ở Sơn pḥng tỉnh Quảng Trị [:Tân Sở].
(Khi ấy,
sau [trận chiến], quân Phấn nghĩa bị thua, trốn, tan chạy. Quan Pháp
treo thưởng cho người bắt được quân ấy. Bọn quân ấy bèn đều lục tục đến
Sơn pḥng theo [phụ chính Tôn Thất] Thuyết).
Ba Cung vẫn
nghỉ xe ở hành cung tỉnh ấy. Trước [đó] vài ngày [tức trước ngày mùng
một tháng sáu (tháng năm Ất dậu chỉ có hai mươi chín ngày)], [phụ chính
Tôn Thất] Thuyết lại uỷ [nhiệm] người gửi tâu, xin Ba Cung tiếp tục đi
Sơn pḥng [:Tân Sở]” (68).
“Tuần phủ
Quảng Trị là Trương Quang Đản vẫn bàn cùng [Tôn Thất] Lương Thành, cho [rằng]
thành Quảng Trị là nơi phong trần, nghĩ xin Ba Cung [Tam Cung] hồi loan
[:về lại kinh đô Huế]. [Ông] đă tư cho [phụ chính Nguyễn] Văn Tường biết
[ư kiến của Tam Cung để] làm. [Phụ chính Nguyễn] Văn Tường được tin báo
[như vậy], bèn gửi thư đến khâm sứ Pháp là Tham Bô [De Champeaux] [để De
Champeaux] tŕnh bàn với đô thống Cô Ra Xy [De Courcy] thoả nghĩ phúc
làm [:nghĩ suy cho kĩ, nếu đồng ư, trả lời lại để tiến hành].
Ngày mồng
hai tháng [sáu] ấy (13.07.1885), [phụ chính Nguyễn Văn Tường] tức tâu đệ
trước xin Ba Cung hồi loan ở Khiêm cung, cho yên ḷng dân. [Và ông] tịnh
uỷ cho biện lí là Trương Như Cương, Tôn Thất Niêm kính đến rước” (69).
TẬP
TÂU [CỦA PHỤ CHÍNH NGUYỄN VĂN TƯỜNG]
“Lược
rằng (70):
“[Chúng] thần là Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, vâng di mệnh
tiên đế, cùng sung chức phụ chính. Nay mà hỏng việc, tội thần không nói
sao cho hết. Nhưng thần cũng không tưởng rằng Tôn Thất Thuyết lừa dối
ḿnh như thế. Đến [như] Ba Cung tuổi già, nhà vua c̣n trẻ, lặn lội gió
bụi, chịu làm sao nổi. Huống chi kinh thành, miếu điện, lịch đại, sơn
lăng, một buổi bỏ đi [là] như không. Ḷng thần tử chịu sao được sự chua
xót ấy, nên thần phải tuân theo sắc văn [sắc dụ của vua Hàm Nghi, Tam
Cung], đem thân lăn lộn ở đây, cùng với quan Pháp đi lại, [đồng thời
cũng] v́ bản tâm của thần, nguyền cùng với xă tắc mất c̣n, không dám ĺa
bỏ vậy.
Nay tiếp tờ tư của Trương Quang Đản tỏ bày mọi lẽ, [thần] đă gửi
thư cho khâm sứ Pháp [De Champeaux]. Cứ theo lời phúc tư [:thông tư trả
lời] th́ đô thống đại thần [De Courcy] rất mong rước vua về.
[Thần] cũng mong giữ ǵn [được] cung điện như cũ. Duy trong thành
ấy chửa tĩnh, cũng có người ngầm muốn nổ súng. [Nhược] bằng rước vua vào
thành, sợ có [những nguy cơ] chưa tiện, xin hăy ngừng nghỉ ở Khiêm cung.
Đô thống [De Courcy] ấy xin phái một trăm (100) hay hai trăm (200)
quân ở ngoài canh chực, để giữ khỏi sự quan ngại. Nhưng bọn quân ấy nên
[:cần] dùng thứ ăn như trâu, dê, gà, vịt mọi thứ, ta cũng ưng cho.
Thần trộm chiểu cung điện trong thành dẫu c̣n như cũ, nhưng số quân
Pháp ở đó khá nhiều, chưa được yên lặng, xin [vua và Tam Cung] trú ở
Khiêm cung, tưởng cũng thoả thuận.
Thần
nghiệp dĩ phái người kiểm soát, chỉnh đốn, tịnh uỷ [nhiệm] bọn thần [:bọn
bầy tôi] là Trương Như Cương đi Quảng Trị chực đón, hỗ ṭng [:đi theo xa
giá]. Cúi xin mệnh giá hồi loan, để yên ḷng dân” (70).
[Kí tên:
thần Nguyễn Văn Tường].
“Cuối cùng
[của tập tâu], [phụ chính Nguyễn Văn Tường] viết niên hiệu, mượn dùng ấn
quan pḥng của khâm sứ Pháp)”
(70) .
Viết xong,
phụ chính Nguyễn Văn Tường trao cho De Courcy và De Champeaux xem, theo
yêu cầu của chúng trước khi viết. Cả hai tên hiện đang ngồi ở Nha Thương
bạc. De Champeaux có biết ít nhiều chữ Hán. De Courcy chăm chú theo dơi
gương mặt của viên khâm sứ, kẻ đă luôn luôn quyết “đập tan tành”
phụ chính Nguyễn Văn Tường. Y thấy De Champeaux cau mặt, quắc
mắt lên trong một thoáng rồi vội giấu đi cái quắc mắt ấy. De Courcy muốn
hỏi cho rơ nội dung bức thư.
- Tên phụ
chính quỷ quyệt ấy đă viết cái ǵ thế?
- Lăo già
Đại Nam chết tiệt! Y viết thế này đây, tôi sẽ dịch ngay cho đô thống
nghe. Nhưng quan đô thống đừng vội phẫn nộ. Dẫu sao, ta cũng cần lợi
dụng lăo thêm một, hai tháng nữa mà thôi.
De
Champeaux dịch ra tiếng Pháp bằng giọng nói. De Courcy không thể không
nổi giận. Nhưng ngẫm lại, y thấy lời khuyên của De Champeaux không phải
là sai.
De
Champeaux thưa với tên đô thống:
- Thưa đô
thống, ông thấy có đáng ghét không chứ! Hay ta bảo lăo phụ chính ấy viết
theo dạng bản chúng ta thảo ra trước? Linh mục hành nhân Nguyễn Hữu Cư
sẽ giúp ta việc này.
De Courcy
định tán đồng ngay, v́ y rất muốn giải quyết mọi vấn đề bằng bạo lực, sự
bức hiếp. Nhưng De Champeaux vội nói tiếp:
- Hay ta cứ
để cho lăo tự nhiên. Chắc lăo không ngờ bức thư này lăo viết lại gây cho
ta khó chịu đến thế! Chúng ta quả thật cũng không hiểu tâm lí người Đại
Nam cũng như người Đại Nam khó hiểu hết tâm lí người Pháp.
De
Champeaux nói đúng, hai phía của mọi cuộc chiến tranh, kẻ xâm lược và
người chống xâm lược khó hiểu nổi nhau.
De Courcy
đâm bực ḿnh với cả De Champeaux. Y cảm thấy tên khâm sứ này cũng đa
đoan, nói thế này rồi bảo thế nọ, thật lắm chuyện.
- Thôi, sao
cũng được, cứ đóng khuôn dấu Sứ quán Pháp vào bức thư. Ta chỉ cần nhà
vua tí hon và ba bà lăo Tam Cung ấy về Huế càng sớm càng tốt. Bọn ấy về
đây xong, ta nắm lấy đầu chúng, bắt chúng tuân lệnh. Thế là gần hai chục
triệu người thuộc dân tộc Đại Nam này phải tuân lệnh ta. – De Courcy
chợt cười khoái trá một cách hung ác –.
De
Champeaux gật đầu với cái nhếch mép và tiếng cười gằn. Y nói:
- Vâng, đó
là mục đích của nước Đại Pháp và Hội Truyền giáo Paris. C̣n tên Nguyễn
Văn Tường, lăo ta hận thù chúng ta, thúc giục quân binh chống đánh chúng
ta, lại c̣n xúi Trung Hoa gây chiến tranh với chúng ta mấy năm trời,
nhất là mười mấy tháng gần đây! Lăo ta phải đền tội, nhưng, chưa vội…
De
Champeaux lại đang lo âu về ḷng căm giận của y đối với phụ chính Nguyễn
Văn Tường, bởi y biết, ông ấy là “một người mà mới vài hôm trước, [và
ngay cả hôm nay], cái tên làm rung động cả thành Huế, một người đă ngồi
tới địa vị cao nhất của triều đ́nh; người mà trong mấy năm sau cùng này
đă giữ cả vận mệnh của nước Việt Nam [Đại Nam]. Người ấy là Văn minh [rồi
Cần chánh] điện đại học sĩ kiêm phụ chính đại thần: Nguyễn Văn Tường”
(71) . Uy tín của phụ chính Nguyễn Văn Tường là một sức mạnh
đáng sợ mà chính y, De Champeaux, phải dè chừng, không khéo phong trào
Cần vương sẽ thổi bùng ngọn lửa căm hờn vào người Pháp, bọn viễn chinh
và cố đạo thực dân.
Phụ chính
Nguyễn Văn Tường đang ngồi bên kia pḥng, không hề hay biết hai tên thực
dân đầu sỏ đang bàn với nhau về bức thư ấy và đang toan tính, cân nhắc
âm mưu.
Phụ chính
Nguyễn Văn Tường viết tập tâu này trong hoàn cảnh ông đang bị giam giữ ở
Nha Thương bạc, dưới đôi mắt cú vọ của bọn Pháp và tay sai của chúng
(72). Ngay khuôn dấu, ông cũng phải dùng khuôn dấu của Sứ quán Pháp, mặc
dù vẫn viết niên hiệu Hàm Nghi. Do đó, lời lẽ không thật như ḷng ông
đang sôi sục căm thù bọn xâm lược Pháp. Khi trách móc phụ chính Tôn Thất
Thuyết không cho đưa vua Hàm Nghi về như đă bàn với ông, ông cũng phải
nói một cách kín đáo: “Nhưng thần cũng không tưởng rằng Tôn Thất
Thuyết lừa dối ḿnh như thế [không chịu cho đưa vua Hàm Nghi để lănh đạo
bằng mật dụ như kế hoạch đă bàn]” (70) . Ông không phủ nhận
việc ông cùng Tôn Thất Thuyết bàn bạc và nhất trí tiến hành cuộc kinh đô
quật khởi. Ông cũng tính liệu đến thực tế những con người quen sống
trong hoàng cung: “Đến [như] Ba Cung tuổi già, nhà vua c̣n trẻ, lặn
lội gió bụi, chịu làm sao nổi” (70) . Cũng v́ vậy, tuy là lí do giản
dị, cụ thể đến tầm thường, mà ông phải nghĩ đến kế sách chia tách nhưng
vẫn phối hợp triều chính. Nơi rừng núi ấy, dẫu khí hậu, lam chướng đă
tốt dần, nhưng vẫn c̣n dày dặc sơn lam chướng khí. Nơi đó, ông đă tôi
luyện mười mấy năm làm tri huyện, bang biện (và đấy là chưa kể năm năm
dài tiễu phỉ ở núi rừng biên giới phía bắc). Nhưng thật ra, đó chỉ một
lí do rất thứ yếu, nhưng ông nâng lên thành chính yếu, để bọn Pháp có
thể tin được! Và chỉ một câu “Thần phải tuân theo sắc văn [sắc dụ
của vua Hàm Nghi, Tam Cung], đem thân lăn lộn ở đây, cùng với quan Pháp
đi lại, [đồng thời cũng] v́ bản tâm của thần, nguyền cùng với xă tắc mất
c̣n, không dám ĺa bỏ vậy” (70) cũng đủ cho bọn Pháp cau mày,
khó chịu, thù ghét! Quả thật, De Courcy lẫn De Champeaux, chúng không
hiểu rằng, đối với phụ chính Nguyễn Văn Tường, ông viết như thế là quá
“nhẹ nhàng”, “nhẹ nhàng” đến mức ông rất chua xót, đau đớn, v́ phần
nào trái ḷng. Vả lại, ông cũng không phải không muốn nói thẳng vào mặt
hai tên xâm lược thuộc loại đầu sỏ ấy rằng, ông chỉ tạm thời chấp nhận
“thoả hiệp” với chúng, chứ không đầu hàng, khuất phục chúng bao giờ! Ông
những muốn tấn công chúng cho chúng thật tan tác, quét sạch chúng khỏi
Đất nước ngay tức khắc, chứ đâu phải cam đành “thoả hiệp”, “đem thân
lăn lộn ở đây, cùng với quan Pháp đi lại” (70) như thế!
Nhận
được tập tâu ấy, “Từ Dụ thái hoàng thái hậu và lưỡng cung [hai cung:
hoàng thái hậu Vũ thị, hoàng thái phi Nguyễn Văn thị] chuẩn như lời tâu,
lấy ngày mồng ba, ất sửu [14.07.1885], th́ hồi loan.
(Phủ thần
là Trương Quang Đản đem quan quân binh phu tỉnh ấy theo đi hộ tống).
Ngày mồng
năm, đinh măo [16.07.1885], [Tam Cung] về đến Khiêm cung.
([Trương]
Quang Đản lại trích giải hai trăm (200) thoi bạc kho của tỉnh ấy, [loại]
ăn sáu đồng, tiền đồng, một trăm (100) quan, [mang] theo, đến cung tiến)”
(73)
.
13
“[Phụ
chính] Tôn Thất Thuyết c̣n giữ [xa] giá vua c̣n đóng ở [Sơn] pḥng Quảng
Trị [:Tân Sở], đă kèm vua ra Lệnh dụ Thiên hạ cần vương [đây là Dụ Cần
vương chính thức và duy nhất], lại sẽ dụ bảo Nguyễn Văn Tường và yên ủi
những người họ mạc ở trong kinh. [Mỗi thứ] đều một đạo, do đường dịch lộ
chuyển chạy về kinh.
(Khi ấy tự
[Sơn] pḥng [Tân Sở] đến kinh, ống trạm c̣n chuyển đệ được).
Đó đều là
việc từ mồng bảy tháng này [18.07.1885] trở về trước” (74).
LỆNH DỤ THIÊN HẠ CẦN VƯƠNG
“Từ xưa chính sách chống giặc không ngoài ba điều: đánh [chiến],
giữ [thủ], hoà mà thôi.
Đánh th́ chưa có cơ hội.
Giữ th́ khó chắc đủ sức.
Hoà th́ chúng đ̣i hỏi không chán.
Đang lúc thế sự muôn vàn khó khăn như vậy, bất đắc dĩ phải dùng
QUYỀN [NGHI, QUYỀN BIẾN].
Thái vương dời tới đất Kỳ, Huyền Tông chạy sang đất Thục, người
đời xưa cũng đă có làm như thế.
Nước ta gần đây gặp nhiều biến cố. Trẫm tuổi trẻ nối ngôi, chưa
kịp lo việc tự cường, tự trị. Bọn phái viên của Tây hoành hành áp bức
ngày một thậm tệ. Vừa rồi chúng tăng thêm binh thuyền, buộc ta những
điều không thể làm theo được. Ta theo thường lệ khoản đăi, chúng không
chịu nhận một tí ǵ. Nhân dân kinh đô náo động, kinh sợ nguy biến sắp
tới nơi. Các vị đại
thần mưu quốc t́m kế giữ yên xă tắc, bảo vệ triều đ́nh: [Nếu] cứ
cúi đầu nó bảo ǵ nghe nấy, ngồi yên để mất cơ hội th́ sao bằng ḍ xem ư
chúng muốn hành động mà đối phó trước? Ví thử việc chẳng chịu ḷng, th́
c̣n có thể làm như ngày nay để mưu tính việc về sau cho ổn. Ấy là tuỳ
theo thời thế mà định ư kiến như thế. Phàm những ai biết chia lo việc
nước, tất cũng dự biết như vậy, mà cũng đều nghiến răng căm phẫn. Cái
ḷng giết giặc, giết thù, nào ai chẳng có. Vậy th́ gối đ̣ng, gơ chèo,
cướp giáp, vần chum, há không có người nào hay sao? Kẻ nhân thần ở triều
đ́nh chỉ nên theo nghĩa mà làm, nghĩa ở đâu th́ chết sống cũng ở đấy.
Xưa Hồ Yển và Triệu Thôi nước Tấn, Quách Tử Nghi, Lư Quang Bật đời Đường
là hạng người thế nào?
Trẫm đức mỏng, gặp phải biến cố này, không thể hết sức chống giữ,
để kinh thành bị hăm, Từ Cung phải lên xe lánh nạn. Tội ở ḿnh trẫm tất
cả, hổ thẹn vô cùng. Nhưng mối luân thường quan hệ, trăm quan khanh sĩ
không kể lớn nhỏ, chắc không nỡ xa bỏ trẫm. Người trí giúp mưu, người
dũng giúp sức, người giàu xuất của để giúp quân nhu, cùng nhau đoàn kết,
chẳng ngại nguy hiểm, làm cách ǵ mà có thể cứu nguy, đỡ ngă, gỡ chỗ khó,
giúp khi bí, thảy đều hết ḷng hết sức. May mà trời cũng chiều người,
chuyển loạn làm trị, chuyển nguy làm an, thu lại đất đai, phục lại bờ
cơi, cơ hội này thật phúc cho nước nhà, tức là phúc cho thần dân. Đă
cùng nhau lo lắng được th́ cùng nhau yên vui, há chẳng tốt lắm ru?
Nhược bằng ḷng tiếc chết nặng hơn ḷng thương vua, việc lo cho
nhà chăm hơn việc lo cho nước, quan th́ thác cớ lánh xa, lính th́ bỏ ngũ
lánh trốn, dân th́ không biết v́ nghĩa, hăng hái với việc công, sĩ th́
cam chịu bỏ nơi sáng đi vào nơi tối, như thế dù có sống sót ở đời th́
thân tuy mặc áo đội mũ mà không khác loài chim muông. Sao nỡ làm vậy cho
đành?
Thưởng hậu, phạt cũng nặng, triều đ́nh sẵn có phép thường, không
nên để điều hối hận về sau. Ai nấy nên nghiêm chỉnh tuân theo dụ này.
Khâm thử!
Hàm Nghi năm đầu, tháng sáu, ngày mùng hai (13.07.1885)”
(75).
Tuyên dụ tại Sơn pḥng Tân Sở, Cam Lộ, Quảng Trị.
“NGÀY MỒNG HAI [THÁNG SÁU (13.07. 1885)], [VUA HÀM NGHI VÀ PHỤ
CHÍNH TÔN THẤT THUYẾT VIẾT] DỤ [GỬI PHỤ CHÍNH NGUYỄN] VĂN TƯỜNG” (76):
“Lược nói:
“Y [Cô Ra Xy (De Courcy)] thấy ta càng khuất, y càng ngày càng lấn,
khiến triều đ́nh không c̣n mặt mũi nào, vạn bất đắc dĩ mà ta mới phải
làm cái kế bỏ thành đi ra ngoài. Nay đại thần Tôn Thất Thuyết cùng ta
cùng quanh quẩn, c̣n ngươi là phụ chính đại thần th́ ở lại mà thương đàm,
kẻ ở người đi đều lấy ḷng yêu nước lo dân làm căn bản. Trời đất thực
cũng chứng giám. Ngươi nên khéo thể tấm thịnh t́nh của tiên hoàng đối
với nước láng giềng rất có thuỷ chung và cùng y giảng rơ về lí thế, cân
nhắc về lợi hại, hết ḷng thoả hiệp [:hiệp bàn thỏa măn đôi bên, không
phải “thỏa hiệp vô nguyên tắc”]. Phàm những khoản ǵ bách thiết [:bức
thiết], [th́ ngươi cùng chúng] chung nhau bàn đổi, cốt khiến cho hai
nước như anh em, vinh nhục cùng quan hệ, vui lo cùng chung nhau, mười
phần chân thành, không c̣n dùng đến uy thuật. Lúc này [:lúc đó] ta [sẽ
ban] mệnh [lệnh] cho hồi loan, trên để phụng dưỡng ba cung, dưới để yên
ḷng thần dân, khanh cùng với Tôn Thất Thuyết trung trinh chói lọi, muôn
thuở cùng sáng, những phường nịnh tử gian phu, đều phải lặn h́nh giấu
bóng. Nam triều ta há chẳng hân hạnh ư. Nước Đại Pháp chắc cũng vui vẻ
mà cùng giữ lấy cường thịnh vậy.
Nếu không như thế th́ các miếu xă, lăng tẩm và các vương công không
kịp đi theo ấy th́ hết thảy uỷ [nhiệm] cho khanh. Ta duy có chọn đất
lánh ở, sợ trời vui trời. Rường cột cương thường, cả nước cùng thế,
không đâu không phải là triều đ́nh và không phải là tôi con vậy. Trẫm
quyết không cùng với họ tranh thua vậy.
T́nh thế ví lại không thôi, trẫm nguyện phái thêm cán viên, lấy
đường đi khắp các nơi, nghiêm sắc cho Ninh B́nh trở về phía bắc, bao
nhiêu quan tỉnh, phủ, huyện đều để ấn lại mà đi, người nào như có trung
nghĩa, tài lược, không kể quan hay dân, đều cho được tiện nghi làm việc
[:nhân dân, sĩ phu khởi nghĩa], cốt không phụ tấm ḷng tốt của triều
đ́nh dưỡng dục, tác thành, yên được bóng thiêng liêng ở trời của liệt
thánh, và đáp phó được nguyện vọng [khởi nghĩa chống Pháp] tha thiết của
thần dân trong nước. Khanh nên nghĩ cho kĩ nhé. [Khanh] có muốn nên [:cần
phải] tâu đối, th́ gởi theo đường trạm chờ xét, cũng chẳng hại ǵ””
(76).
“NGÀY MỒNG BẢY [THÁNG SÁU (18.07. 1885)], [VUA HÀM NGHI VÀ PHỤ CHÍNH TÔN
THẤT THUYẾT VIẾT] DỤ [GỬI] CÁC NGƯỜI TRONG HỌ” (77):
“Đại
lược nói:
“Dụ Thọ Xuân vương, phụ chính Hoài Đức công và các bọn hoàng phiên công
chúa, nghĩ coi: Nước Nam ta nhiều lần bị kẻ khác bức hiếp nhiều khoản,
phàm có tai mắt khí huyết không ai là không uất ức buồn rầu, chẳng riêng
người trong họ ta mà thôi. Trẫm vâng di mệnh của tiên quân, và các vương
công phụ thần cùng suy tôn lên quyền giữ việc nước. Phàm có trăm điều
đều duy kiến nghị, phải ấy th́ theo. Trẫm tuổi trẻ, kiến thức chưa rộng,
dám đâu chuyên trái việc ǵ, cho nên hễ khi tiếp được thư của nước Đại
Pháp gửi đến khoản ǵ, nếu quá lăng nhục và yêu sách quá đáng, nhân t́nh
không thể chịu được, mật nghe vương công và các phụ chính khuyên bảo,
không đâu là không cưỡng tự đau đớn nín náu, chịu theo êm việc, v́ muốn
bảo toàn xă tắc, để họ mạc lâu dài hưởng tôn quư giàu sang vậy. Không
ngờ sứ Pháp ngang ngược ngày thêm, không c̣n được chút quốc thể, cúi
xuống đất, ngửa lên trời, xiết bao hổ thẹn, vạn bất đắc dĩ mà phải làm
ra việc này. [Trẫm] quay nh́n nơi lăng miếu và các bậc ư thân, thực
không biết bao nhiêu là tưởng nhớ, chả biết trong tôn tộc từng có tin
đến sự lo xuôi nghĩ ngược của ta không?
Nay đă có phụ chính huân thần là Nguyễn khanh [tức là Nguyễn Văn
Tường] ở lại giảng nói, che chở nhiều việc, hơi được yên ổn. Huân thần
[:Nguyễn Văn Tường] tâm sự như thế, cáng đáng như thế, [huân thần ấy]
thực là đau khổ quá chừng. Nhân vật nước ta, những người trung nghĩa từ
xưa, tưởng không hơn được. Trẫm cũng dụ cho đại thần [Nguyễn Văn Tường]
ấy hết ḷng bàn tính công việc, tâu chờ quyết định.
Vương công đều là cốt nhục chí thân, đều nên thương ta khổ tâm,
thể tất ta vô cùng. Phàm việc ǵ cùng với Nguyễn khanh [:Nguyễn Văn
Tường] châm chước thoả đáng, cốt không trái với cương thường của trời
đất, nên được nền b́nh trị lâu dài của quốc gia, ngơ hầu để được tiếng
thơm muôn đời. Thế là lành lắm, tốt lắm.
Trời đất dài lâu, gặp nhau có hẹn. Nước nhà suy thịnh, gặp hội đổi
thay. [Vậy] càng nên trân trọng di dưỡng, để yên tấm ḷng xa của người
tuổi trẻ.
C̣n ra sẽ uỷ cho Nguyễn khanh [:Nguyễn Văn Tường] sẽ v́ ư thân
điều đ́nh cho thoả đáng, vụ được như thường.
Phàm người họ ta, cần tin lời ta nhé, thế th́ ta mới yên ḷng””
(77) .
Ngoài
“Lệnh dụ Thiên hạ Cần vương” vốn đă được soạn thảo trước, hai bản dụ
ấy do chính Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi cùng viết. Phụ chính Nguyễn
Văn Tường lúc bấy giờ c̣n bị giam giữ ở Nha Thương bạc với sự canh giữ
của một toán lính Pháp và Ả Rập, toán lính này đặt dưới sự chỉ huy của
tên sĩ quan Schmitz (72), nên ông chỉ được nghe hai bản dụ ấy qua một
viên quan tham biện. Hôm ấy, c̣n có mặt tham tri Hoàng Hữu Thường, thị
lang Phạm Hữu Dụng… Viên quan tham biện này học thuộc ḷng rồi đọc nhỏ
lại cho ông nghe, như thể đang tṛ chuyện.
Hơn lúc nào
hết, trong lúc bị giam giữ như một người tù, phải chấp nhận “thế hi
sinh” để chống lại bọn xâm lược Pháp và “tả đạo” này, phụ chính
Nguyễn Văn Tường rất đỗi xúc động, xúc động đến nghẹn ngào khi nghe
đọc hai bản dụ đó trong khi đi dạo quanh trong khuôn viên Nha Thương bạc.
Lúc ấy, bọn lính Pháp và Ả Rập và cả bọn tay sai, mặc dù để mắt theo dơi,
nhưng chúng cũng chả làm ǵ được đối với người tù đầy uy thế mà cả chủ
tướng De Courcy, chính phủ Pháp ở Paris cũng không thể không nể nang.
“Dụ Nguyễn
Văn Tường” và “Dụ người trong hoàng tộc” , phụ chính Nguyễn Văn Tường
vừa nghe, sau khi ông và không một ai không biết “Lệnh dụ Thiên hạ Cần
vương”. “Lệnh dụ Thiên hạ Cần vương” và “Dụ Nguyễn Văn Tường” được
phát đi, gửi về trong cùng một ngày. Đó là ngày mùng hai, tháng sáu, Ất
dậu (13.07. 1885). Điều đó đă xác quyết về quốc kế chia tách nhưng vẫn
phối hợp triều chính, giữa “kẻ ở” với “người đi”, giữa đàm và chiến.
Bọn Pháp,
nhất là những tên trùm gián điệp như giám mục Puginer, măi đến năm năm
sau, càng khẳng định về Lệnh dụ thiên hạ Cần vương :
“Vua
Hàm Nghi đi theo Thuyết c̣n phụ chính Tường ở lại, vẫn giữ nguyên chức
tước, và sau một thời gian trá hàng, lại tiếp tục có những hành động đối
kháng. Chính theo lệnh của y mà khoảng ba chục ngàn (30.000) giáo dân đă
bị hại chỉ trong ṿng hai tháng và hơn một ngàn (1.000) người [Pháp…]
khác cũng chịu chung số phận do các quan lại thi hành mệnh lệnh trên…”
(78) .
Đó
là sự khẳng định trong một bản điều trần gửi các nhà chức trách Pháp,
Puginier viết vào ngày 09.03.1890. Có điều, con số ba mươi ngàn ấy là số
lượng gồm cả những kẻ xu thời lẫn “tả đạo” phản quốc, chứ không phải
giáo dân lương thiện! Tất cả những ai theo giặc Pháp, Puginier đều dán
lên nhăn hiệu “giáo dân”! Thật sự, khá nhiều nơi, linh mục Việt và giáo
dân “tả đạo” đúng nghĩa (bởi đă thực sự phản quốc!), theo lệnh các cố
đạo gián điệp Pháp, hung tợn đánh phá các phủ, huyện để phục thù các
quan lại Đại Nam và để cướp chính quyền! “Tả đạo” phục thù bằng cách tàn
sát nhân dân kinh đô Huế cũng như ở các tỉnh, và “tả đạo” cướp chính
quyền khi kinh thành thất thủ là điều mà phụ chính Nguyễn Văn Tường đă
tiên liệu. Do đó, ông đă chặn trước Caspar, De Courcy, De Champeaux,
ngay vào sáng ngày hai mươi ba tháng năm máu lửa ấy (05.07. 1885). Thật
sự, chiến tranh lương – giáo trên khắp Trung – Bắc Ḱ không thể không
xảy ra, và trong thực tế đă xảy ra!
Những ngày thượng tuần tháng sáu Ất dậu (1885) bừng dậy ngút trời
khí thế Cần vương! Phụ chính Nguyễn Văn Tường cùng Hoàng Hữu Thường,
Phạm Hữu Dụng và vài viên tham biện khác tuy phải “đi dạo” trong sân
vườn Nha Thương bạc, nhưng trong ḷng họ vẫn cháy bùng lên ngọn lửa Cần
vương với niềm cảm xúc hào hùng, bi tráng.
Ngoài kia, không xa lắm, ḍng sông Hương bừng chói trong nắng cuối
mùa hè.
Hết
tệp 6
(PHÂN
ĐOẠN 2 TRUYỆN KÍ THỨ 12)
Khởi viết từ 07
giờ 41
sáng ngày
17.01.2003
(15.12 Nh. ngọ
HB.3)
Viết đến ḍng chữ
này vào lúc 17 giờ 07 phút,
ngày 24.01.2003
(22.12 Nh. ngọ. HB.3).
TRẦN XUÂN AN
(50) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 221.
(51) ĐNTL.CB., tập
35, sđd., 1976, tr. 221, 230 . “Trong khi vội vă, phụ chính đại thần là
Nguyễn Văn Tường đem lăo cung và xe vua ra [khỏi] thành tạm lánh. Ta
nhân dặn thầm đại thần ấy rằng: “Lui cùng quan Pháp ở trong bàn tính;
may được nghe lời và sớm tan quân”” (sđd., tr. 230). Xem thêm: Nguyễn
Nhược Thị Bích, Hạnh Thục ca (HTC.), (Trần Trọng Kim sưu tầm, phiên âm,
chú thích…), Nxb. Tân Việt, 1950, tr. 39 – 40: “Thấy người trước đón lên
đường, Gửi rằng: “Có Nguyễn Văn Tường chực đây”, Phán rằng: “Sự đă dường
này, Ngươi tua [:lo; nên ] ở lại, ngơ rày xử phân”,Vâng lời Tường mới
lui chân, Giá ra khỏi cửa, dân lần dơi theo”. Và ở “Dậu Tuất niên gian
phong hỏa kí sự” (trong “Đặng Đức Tuấn, tinh hoa công giáo ái quốc”[!],
Lam Giang, Vơ Ngọc Nhă sưu tầm, Sài G̣n, 1971, tr. 516 – 517): “Thuyết –
Tường sanh sự sự sanh [?!], Đem Hàm Nghi trốn bôn hành Khiêm Lăng, Cùng
nhau bàn luận rứa răng, Thuyết đi hộ giá, Tường băng về đầu, Khéo làm
chước nhiệm [nhịn?] mưu sâu, Pháp quan mắc mớp tưởng đâu thiệt t́nh”.
Cho dù với cách diễn đạt theo quan điểm thuộc chính kiến nào đi nữa, hai
đoạn thơ trên cũng phản ánh về một sự thật lịch sử!
(52) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 221.
(53) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 230. Xem chú thích (51) của truyện kí thứ mười hai
này.
(54) Tôi hư cấu nội
dung bức thư này xuyên qua các sự kiện lịch sử đă được ghi nhận trong
ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976.
(55) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 221.
(56) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 221 – 222.
(57) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 222.
(58) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 222.
(59) Tập san Những
người bạn cố đô Huế (NNBCĐH.) (Bulletin des amis du vieux Huế, Cadière
làm chủ bút), bài “Vị đại biện đầu tiên của nền bảo hộ đến Huế” của H.
Le Marchant de Trigon, Đặng Như Tùng dịch, Tôn Thất Hanh hiệu đính, Nhị
Xuyên, Lê Văn biên tập, tập IV (1917), Nxb. Thuận Hoá, 1998, tr. 272 –
273: “Than ôi, ngay ngày hôm sau [tức là ngày kế tiếp ngày 29.8.1875],
những thủ đoạn phá rối có hệ thống [:đấu tranh chống Pháp bằng ngọai
giao…] của Nguyễn Văn Tường kéo dài cho đến ngày chiếm cảng Thuận An
[8.1883], và c̣n về sau này, cho đến khi đày kẻ thù không đội trời chung
của chúng ta, và trong thời gian [bị lưu đày] đó, [Nguyễn Văn Tường]
chẳng chịu hiểu biết ǵ cũng chẳng chịu quên ǵ” (lưu ư cách diễn đạt
đậm màu sắc thực dân của H. Le Marchant de Trigon).
(60) Mặc dù vè “Thất
thủ kinh đô” không phải là tư liệu gốc, chỉ là một tác phẩm dân gian hư
cấu với nhiều sai lệch đáng kể, chúng tôi cũng trích một vài đoạn khá
xác thực, chỉ để tham khảo thêm:
“Đô thành, quan Quận
giao ḥa
Lựa chiều hơn thiệt
nói mà với Tây
Tây phiên ngẫm vẫn
giận thay:
“Đem ḷng cự chiến, c̣n đến đây làm ǵ?
May mà Nam Việt buổi
bại suy
Tây mà bại, Đạo phen
ni, cũng không c̣n
Người mà phiêu lạc
núi non
Bao nhiêu nhà cửa
chẳng c̣n ǵ đâu
Tây phiên thúc thủ
thụ đầu
Hàng lai Nam Việt,
mảnh âu chẳng lành
Tây phiên trở lại Tây
thành
Ở đây xấu tiếng bia [bêu?]
danh đă rồi
Họ không cho đâm
nhánh mọc chồi
Trăm dao xẻo thịt thả
trôi giang hà”
Quan Quận khi ấy nói
qua
Nói cùng Đại Pháp chư
nha phiên trào:
“…”
Quan một cho đến quan
ba
Quan năm quan sáu vậy
mà cũng nghe!
Đ̣i triệu các quan
tỉnh trở về
Sự t́nh y ước cho ra
bề đục trong
Tin
th́ tin, dạ c̣n pḥng
Nam
triều tể tướng nó đem ḷng phục binh…”.
Vẫn là vấn
đề “b́nh Tây sát tả”, trá hàng [và có thể nói thêm, là vấn đề “Nam Việt”!
(Bắc Việt đă bị “bảo hộ” theo chính sách thực dân “chia để trị”)].
Chúng vẫn sợ
Nam triều tể tướng Nguyễn Văn Tường làm nội công cho Tôn Thất Thuyết. Về
vấn đề này, xin xem thêm: Tập san Những người bạn cố đô Huế (NNBCĐH.)
(Bulletin des amis du vieux Huế, Cadière làm chủ bút), bài “Phái bộ Pháp
ở Huế và những phái viên đầu tiên” của linh mục Aldophe Del-vaux, Đặng
Như Tùng dịch, Phan Xưng, Bửu Ư, Đỗ Hữu Thạnh, Hà Xuân Liêm hiệu đính,
tập III (1916), Nxb. Thuận Hoá, 1997, tr. 54: “Triều đ́nh thấy nguy cơ
mất độc lập, đă bàn bạc ngầm các phương kế để chận đứng sự lấn chiếm của
Pháp. […] Tôn Thất Thuyết, […] Nguyễn Văn Tường đă lôi kéo Hội đồng Cơ
mật thoả thuận hai vấn đề quyết định như sau: Ra một mật lệnh cho các sĩ
phu định rơ ngày tàn sát cùng lúc tất cả giáo dân trong toàn quốc
[!sic!]. Sau khi loại kẻ tiếp tay cho quân xâm lược sẽ chuyển Triều đ́nh
và Chính phủ đến một pháo đài kiên cố, và đến các vùng hiểm trở bất khả
xâm phạm. Đó chính là Cam Lộ hay đúng hơn là Tân Sở, và đó là trung tâm
liên kết lực lượng ái quốc, là nơi Triều đ́nh sẽ tạm dừng chân. Các
chuẩn bị ḱ quặc để h́nh thành do những kỉ niệm quá khứ [của Nguyễn Văn
Tường với vùng đất Cam Lộ], thảm hại thay, lại đă được thực hiện một
phần lớn”. (Aldophe Delveaux); VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd., tr.
554: “Tôn Thất Thuyết […] làm hịch Cần vương truyền đi khắp nơi […].
Sách tây chép rằng […] dân bên đạo phải tám ông cố và hơn hai vạn người
bị giết” (Trần Trọng Kim). Các cố đạo Pháp thổi phồng quá đáng, chỉ nhằm
mục đích kích động giáo dân ở “mẫu quốc” (!) và biện minh cho sự xâm
lược (cướp nước, bóc lột và nô dịch) của thực dân Pháp!
(61) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 237.
(62) Inrasara (sưu
tầm, phiên dịch, giới thiệu), Văn học Chăm II – Trường ca (VHC.II. TC.),
trong đó có trường ca [ariya] “Po Parơng” (Trường ca “Quan lớn Pháp”) do
Hơp Ai viết, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1996, tr. 171 – 173.
(63) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 222.
(64) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 222 – 223.
(65) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 223.
(66) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 223.
(67) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 223.
(68) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 224.
(68) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 224.
(70) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 224 – 225. Theo nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh (ĐHSP.
Huế), trong các tập châu bản Nguyễn Văn Tường, có một bản sớ phụ chính
họ Nguyễn phân trần với Tam Cung về biện pháp cuối cùng: “… Lấy mặt cười
vui để đối phó bàn tay hung bạo, mở tấm chân chành để thông suốt đá cứng,
tuy [với biện pháp đó] không thể lấy làm mạnh, mà chỉ có thể làm kế lâu
dài…” (Kỉ yếu HNKHLS., ĐHSP. Tp. HCM., 20.06.1996, tr. 41). Nhà nghiên
cứu Trần Viết Ngạc c̣n trích dẫn châu bản: “… Huống nay sức kiệt của ṃn,
hai ḱ rách nát, sau khi đă bôn bá lưu li, mà nói là có thể mưu khôi
phục, như thế khác ǵ kẹp núi mà vượt biển, có lí lẽ đúng chăng?” ; “…
dời kho tàng, đặt pḥng thủ cũng v́ bởi cái lo chưa phát khởi mà dự
pḥng, không phải lấy điều đó mà mưu tính với người [:giặc Pháp]”. Vẫn
theo Trần Viết Ngạc, công việc Cần vương đă chuẩn bị từ 1883, nhưng đến
tháng 07.1885, chưa phải là lúc để nổ ra trận chiến ngay tại kinh đô, mà
thời, thế, cơ bấy giờ bắt buộc phải có thêm một quăng thời gian ḥa hoăn,
cầm cự để tích cực chuẩn bị thời, thế, cơ mới (tập CBCKH., HTKH. tại Huế,
02.07.2002, tr. 56). Phát biểu trong hội thảo 02.07.2002, sau khi dịch
giả Trần Đại Vinh đọc toàn văn bản sớ mà Trần Viết Ngạc trích dẫn nêu
trên (có đoạn Nguyễn Văn Tường phê phán cả sự nóng vội của Tôn Thất
Thuyết…), nhà nghiên cứu Nguyễn Nhă (ĐH. Hùng Vương Tp.HCM.) cho rằng đó
là một cách nói của Nguyễn Văn Tường với mục đích đối phó, tạo sự tin
tưởng ở Pháp, ở phe chủ “ḥa” nhằm củng cố lại triều đ́nh, để thực hiện
sách lược “hai mặt”. Trong tập CBCKH., HTKH. tại Huế, 02.07.2002, tr. 59
– 83, tôi đă có bài “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh
Đô Quật Khởi, 05.7.1885”, viết về vấn đề này. Mong rằng toàn bộ châu bản
liên quan đến Nguyễn Văn Tường sẽ được giám định khoa học thực nghiệm để
chính thức công bố bằng xuất bản. Xin xem lại bản sớ khác trích dẫn từ
ĐNTL.CB. và đoạn truyện kí của tôi theo chú thích này.
(71) VHN., Nxb. Thuận
Hoá tái bản, 1995, sđd., tr. 81.
(72) Tập san Những
người bạn cố đô Huế (NNBCĐH) (Bulletin des amis du vieux Huế, Cadière
làm chủ bút), bài “Phái bộ Pháp ở Huế và những phái viên đầu tiên” của
linh mục Aldophe Delvaux, Đặng Như Tùng dịch, Phan Xưng, Bửu Ư, Đỗ Hữu
Thạnh, Hà Xuân Liêm hiệu đính, tập III (1916), Nxb. Thuận Hoá, 1997, tr.
77; VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd., tr. 552 – 553.
(73) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 225.
(74) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 225.
(75) Phan Canh, Đào
Đức Chương, Thơ ca Việt Nam thời Cần vương (TCVNTCV.), bài Lệnh dụ Thiên
hạ cần vương, bản dịch của Lê Thước, Nxb. Văn Học, 1997, tr. 16. Xem
thêm: Trung – Pháp chiến tranh tư liệu, tập 7; Thơ văn yêu nước nửa sau
thế kỉ XIX, với bản dịch của Chu Thiên Hoàng Minh Giám.
(76) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 225 – 226.
(77) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 226 – 228.
(78) Dẫn theo tư liệu
Hội Truyền giáo Bắc Ḱ (chủ yếu do Puginier viết): Xem chú thích (6) của
truyện kí thứ mười hai này.
Chú thích xong
lúc 18 giờ kém 05 phút,
ngày 20.02.2003
(20.01 Quư mùi HB.3).
TRẦN XUÂN AN
Hết
tệp 6
(PHÂN
ĐOẠN 2 TRUYỆN KÍ THỨ 12)
Xin xem
tiếp tệp 7
(Phân
đoạn 3 truyện kí thứ 12)