Tệp
7
– Tập IV
(phân
đoạn 3, truyện kí thứ 12)
TRẦN XUÂN AN
KINH ĐÔ QUẬT KHỞI
VÀ QUỐC KẾ CHIA
TÁCH – PHỐI HỢP TRIỀU CHÍNH
Truyện kí thứ mười hai
(phân đoạn 3)
14
“Ba Cung
[Tam Cung: Từ Dũ thái hoàng thái hậu, hoàng thái hậu Vũ thị (trung phi),
hoàng thái phi Nguyễn Văn thị (học phi)] [ra] dụ chỉ, chuẩn phái người
đến hành tại [ở Tân Sở] tâu xin ngự giá [:xe vua] hồi loan [về Huế]”
(79) …
Lúc Tam
Cung về đến Huế, De Courcy, De Champeaux và cả cố đạo Caspar hết sức âu
lo và cũng rất đỗi vui mừng. Chúng âu lo là biết đâu, Tam Cung, trong đó
đứng đầu là Từ Dũ, bị bức quá hoá liều, bỗng chốc lại cương quyết th́
thật mệt cho chúng. Chúng mừng vui v́ không thể không hi vọng thái hoàng
thái hậu Từ Dũ ấy sẽ “khôn ra mà ngoan ngoăn nghe lời (!)” chúng. Trong
dự định, chúng sẽ gợi ư để bà nhờ ai đó viết các bản dụ, hoặc nếu cần,
chúng sẽ nhờ linh mục hành nhân Nguyễn Hữu Cư viết thay, thái hoàng thái
hậu Từ Dũ chỉ cần đứng tên là đủ.
Hôm chuẩn
bị lên Khiêm lăng yết kiến Tam Cung, De Champeaux thưa với tên đô thống
của y:
- Trong
những người vợ của vua Tự Đức, vị vua đă quá cố, tôi có biết danh một
người từ hai năm nay thường viết các bản dụ thay cho thái hoàng thái hậu
Từ Dũ, bà mẹ của ông vua ấy. Người đó là bà Nguyễn Nhược thị Bích (80),
con gái của một viên quan tên là Nguyễn Nhược Sơn hay Nguyễn Nhược Sâm
ǵ đấy. Bà ta người Ninh Thuận, thuộc tỉnh B́nh Thuận. Ta có thể sẽ buộc
cả bà Từ Dũ lẫn bà Nguyễn Nhược thị này phải theo ư ta.
- Đúng vậy! Tôi đă bảo rồi cơ mà! Phải nắm cho được Tam Cung, và
nếu quả là có một bà Nguyễn Nhược thị như vậy, th́ cũng nắm luôn. Thế là
nắm được nước Đại Nam này. Vấn đề là ép buộc, thuyết phục họ như thế nào!
De
Champeaux đă làm khâm sứ tại kinh đô Huế mấy lần, nên y rất rành rơi, ít
ra cũng như một người dân Huế lâu năm sống tại đây.
“Năm
[Tự Đức] ba mươi sáu [1883], Dực Tông Anh hoàng đế lên chầu trời, vâng
ư chỉ Hai Cung, sắc dụ đều cho tay [Nguyễn Nhược] thị ấy làm. Năm
Hàm Nghi thứ nhất, tháng năm [Ất dậu, 1885], kinh thành có việc, [Nguyễn
Nhược thị Bích] đi theo Hai Cung đi Quảng Trị, có [viết] bài hát
quốc âm “Xe vua vào đất Thục” [“Hạnh Thục ca”, nhan đề mượn điển tích
Đường Minh Hoàng tránh loạn đi vào Thục]. Ngày hai xe [của Hai Cung]
cùng về, các sắc phụng chiếu thư, [Nguyễn Nhược thị Bích] cầm bút
viết xong ngay, việc ǵ cũng xứng chỉ” (80) (*).
Từ hai năm trước và đặc biệt là từ ngày này, tất thảy mọi bản dụ
của Tam Cung, hay chỉ riêng Từ Dũ thái hoàng thái hậu, đều do một tay bà
Nguyễn Nhược thị Bích viết sau khi nhận khẩu dụ của ba bậc mẫu nghi
thiên hạ ấy. Cũng từ ngày này, nhất là hôm sau, khi Thọ Xuân vương Miên
Định được thái hoàng thái hậu Từ Dũ chuẩn làm nhiếp chính, quyền giữ
việc nước như một nguyên thủ giám quốc, phụ chính Nguyễn Văn Tường chỉ
c̣n ngồi lặng lẽ lắng nghe những thông tin từ các tỉnh dội về Nha Thương
bạc. Công việc chính của ông là bí mật liên hệ với phong trào Cần vương,
mỗi khi tránh được những đôi mắt cú vọ của bọn Pháp, tuy mặt khác, ông
vẫn làm việc như một đại thần đầu triều.
Thật ra, trong thực tế, những bản dụ của thái hoàng thái hậu Từ Dũ,
Tam Cung, nhiếp chính Thọ Xuân vương Miên Định đều không tác động ǵ.
Tất cả sĩ phu, hầu hết các quan chức ở các tỉnh, phủ, huyện đều bí mật
hành động theo mật dụ, nhất là Lệnh dụ Thiên hạ Cần vương mà vua Hàm
Nghi và phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết đă tuyên cáo.
Phong trào Cần vương đă vang động trên khắp Đất nước, từ
B́nh Thuận đến Cao Bằng!
“Con tin”
hay “người tù” Nguyễn Văn Tường đă chấp nhận “thế hi sinh” để cứu văn
triều đ́nh nhà Nguyễn, vẫn cố gắng bí mật tiến hành kế sách chia tách
nhưng vẫn phối hợp triều chính với phụ chính Tôn Thất Thuyết. Do đó,
“hiệu lệnh chưa thống nhất” (81), không khỏi bị chuệch choạc, thậm
chí phủ định lẫn nhau.
Trong tâm
trạng khắc khoải với nỗi đau ḷng, phụ chính Nguyễn Văn Tường vẫn không
khỏi buồn cười khi biết chính thái hoàng thái hậu Từ Dũ và nhiếp chính
Miên Định ra các bản dụ trừng phạt, theo kiểu để đối phó một cách “qua
loa, chiếu lệ”, cả vợ con Tôn Thất Thuyết và vợ con các quan theo phù
ngự giá khác, trong khi những người thân yêu ấy của vị đệ nhị phụ chính
và của họ đă lên rừng, sống chết với ông và với họ! Phụ chính Nguyễn Văn
Tường lẫn phụ chính Tôn Thất Thuyết cũng đều thừa biết rằng, bọn Pháp
đang làm sức ép, buộc phải ra những bản dụ trừng trị Tôn Thất Thuyết và
các vị cùng pḥ giá như thế, bởi lẽ, không ai khác hơn, chính Tam Cung
đă ra lệnh dụ cho đại thần Tôn Thất Thuyết: “Ngày Ất măo [hai mươi
ba, tháng năm, Ất dậu], kinh thành có việc. Tôn Thất Thuyết kèm vua,
vâng mệnh Ba Cung, ngự giá chạy ra miền Bắc” (39) . Bản thân phụ
chính Tôn Thất Thuyết hồi c̣n ở tại triều đ́nh Huế, trước cuộc kinh đô
quật khởi và bị thất thủ, đă thừa biết sự thể như thế và cách đối phó
bằng “mật dụ chính thức” kèm với “hư dụ công khai” , chẳng hạn như vụ
bố chánh Sơn Tây Nguyễn Văn Giáp cuối tháng tư vừa rồi!
Phụ chính
Nguyễn Văn Tường rất thấu hiểu t́nh trạng không thể không phần nào hỗn
loạn, hoang mang, quờ quạng bên cạnh tính tích cực, hữu hiệu là chủ yếu
của quốc kế chia tách nhưng phối hợp triều chính hiện tại. Đó là t́nh
trạng tạm thời một khi “hiệu lệnh chưa thống nhất”. Đây quả là một thời
điểm lịch sử quá đặc biệt, xưa nay chưa từng có, bởi các sách lược cổ
điển là chiến, hoà, thủ đều không thể thực hiện được mà phải quyền (quyền
biến, quyền nghi)! Quyền biến, quyền nghi là sự linh hoạt “dĩ bất biến
ứng vạn biến”, thể hiện cụ thể bằng quốc kế chia tách nhưng vẫn phối hợp
triều chính một cách mật thiết. Sự linh hoạt ấy không phải là vô nguyên
tắc, mà phải lấy cái bất biến (thân dân, ái quốc, trung quân, ư chí quét
sạch quân xâm lược, bọn bán nước) để ứng xử với vạn sự biến hoá, vạn sự
chuyển biến của t́nh h́nh Đất nước, mà chủ yếu là do tương quan lực
lượng giữa ta (Đại Nam) với địch (Pháp, “tả đạo”), trong điều kiện lịch
sử – cụ thể (không thể chiến, không thể hoà, không thể thủ).
“Các
vị đại thần mưu quốc t́m kế giữ yên xă tắc, bảo vệ triều đ́nh: [Nếu]
cứ cúi đầu nó bảo ǵ nghe nấy, ngồi yên để mất cơ hội th́ sao bằng ḍ
xem ư chúng muốn hành động mà đối phó trước? Ví thử việc chẳng chịu ḷng,
th́ c̣n có thể làm như ngày nay để mưu tính việc về sau cho ổn” (75).
“Nay đại
thần Tôn Thất Thuyết cùng ta cùng quanh quẩn, c̣n ngươi là phụ chính đại
thần th́ ở lại mà thương đàm, kẻ ở người đi đều lấy ḷng yêu nước lo dân
làm căn bản. Trời đất thực cũng chứng giám” (76).
“Huân thần [:Nguyễn Văn Tường] tâm sự như thế, cáng đáng
như thế, [huân thần ấy] thực là đau khổ quá chừng. Nhân vật nước ta,
những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được” (77) .
Nhưng đâu
phải những tên thực dân quân phiệt De Courcy, Prudhomme, thực dân cáo
già De Champeaux, Caspar, Hamelin không biết làm sức ép!
Sức ép của
bọn giặc càng lúc càng tăng là đằng khác! Tất cả mọi cái đều quyết định
bởi bạo lực quân sự, ai mạnh hơn ai! Sức ép của chúng càng tăng th́ nỗi
khổ tâm của phụ chính Nguyễn Văn Tường càng lớn. Là một đại thần đầu
triều, ông không thể đổ tội cho Tam Cung, ba bà lăo vốn chỉ suốt đời
sống trong cung cấm, không thể đổ tội cho Thọ Xuân vương Miên Định, một
cụ già tám mươi tuổi! Vinh quang và tủi nhục, ông xin nhận hết. Có điều,
ai cũng hiểu rằng, chính Tam Cung và Miên Định đôi khi nhân nhượng giặc
mà ép buộc cả phụ chính Nguyễn Văn Tường!
Phụ chính
Nguyễn Văn Tường như một người được chủ nhà quá cố (vua Tự Đức), khi hấp
hối giao cho ông trọng trách chống đỡ giúp ngôi nhà ba gian (Bắc, Trung,
Nam), một gian (Nam Ḱ) đă bị cướp đứt, hai gian c̣n lại (đang thuộc
triều đ́nh nhà Nguyễn) cũng sắp sụp đổ; và ông đă nỗ lực hết ḿnh để
chống đỡ, nhưng không đủ tư cách như một người có chủ quyền sở hữu ngôi
nhà ấy, để có thể quyết định phá đổ nó đi (tiêu thổ), rồi vào rừng (kháng
chiến), t́m gỗ quư (chiến sĩ đă qua thử thách) về dựng lại ngôi nhà mới.
Ông chỉ đủ tư cách để duy tŕ ngôi nhà sắp sụp đổ ấy cho đến lúc sức
cùng lực kiệt trong tinh thần phụ trách của ḿnh, ít ra là cố giữ được
nguyên trạng (1874 – 1883). Đó cũng là tâm trạng của ông trước những
người có tư cách thừa kế quyền sở hữu phong kiến về ngôi nhà (Đại Nam)
ấy: vua Hàm Nghi, thái hoàng thái hậu Từ Dũ, hoàng thái hậu Vũ thị (Trung
phi), hoàng thái phi Nguyễn Văn thị (Học phi) và Thọ Xuân vương Miên
Định.
15
“Ư chỉ
Ba Cung [Tam Cung: Từ Dũ thái hoàng thái hậu, hoàng thái hậu Vũ thị (trung
phi), hoàng thái phi Nguyễn Văn thị (học phi)] chuẩn cho Thọ Xuân vương
là Miên Định quyền coi việc nước; phàm [mọi] việc [phải] tâu suốt Ba
Cung, xin chỉ tuân hành”.
[Như thế] thời [:th́] tôn nhân, đ́nh thần cùng với khâm sứ Pháp
bàn lại hoà hảo như cũ. Duy chưa rước được vua về, ḷng dân không biết [hệ]
thuộc vào đâu, cho nên vâng mệnh tâu chuẩn cho thân vương [Miên Định] ấy
nhiếp quyền coi việc nước, [để] khiến cho thần dân thiên hạ có sự thống
thuộc. Đợi ngày nào xe vua về, thân vương [Miên Định] ấy sẽ vẫn sung làm
phụ chính” (82) .
+++
“Ngày tân
mùi [mùng chín, tháng sáu, Ất dậu (20.07 .1885)], xe vua ra chơi Bảo Đài,
đừng đóng ở đấy:
([Bảo Đài
thuộc Quảng Trị] giáp hạt Quảng B́nh.
Ngày mồng
năm [tháng sáu nguyệt lịch (16.07.1885)], án sát Quảng Trị là Tôn Thất
Nam đi [Sơn] pḥng [Tân Sở], cùng với [phụ chính Tôn Thất] Thuyết họp.
Ngày mồng
bảy [tháng sáu nguyệt lịch (18.07.1885)], [phụ chính Tôn Thất] Thuyết
lại kèm xe vua [từ một ngôi làng gần đó] đến Sơn pḥng [Tân Sở], [lại]
do [:theo] [đường] xă Thuỷ Ba đến Quảng B́nh [tức là đi theo hướng từ
Quảng Trị] trở về phía bắc.
Ngày mồng
chín [tháng sáu nguyệt lịch (20.07.1885)], đêm, dừng xe đỗ ở xă [Thuỷ Ba]
ấy.
Đi lần này,
bao nhiêu vàng bạc hiện trữ ở [Sơn] pḥng, [phụ chính Tôn Thất Thuyết]
đều cho gánh đi hết.
Sau, có tin
[thám] báo nói: “Lúc bắt đầu đi, vua bèn khóc. Các người đi theo cũng
lau nước mắt, rồi theo đi””) (83)
.
+++
“Ư chỉ Từ
Dụ thái hoàng thái hậu lại xuống dụ cho các địa phương rước xe vua về và
trị tội Tôn Thất Thuyết chuyên quyền làm bậy [!] (84):
“Dụ rằng:
“… Mới đây
đô thống Pháp [De Courcy] đến nước ta, xin dâng quốc thư, làm lễ triều
yết, yêu cầu Cơ mật viện đại thần cùng đi đến Sứ quán, muốn v́ cho mặt
ngoài [Bắc Ḱ] [được] bàn bạc để được cùng ḷng lo tính chung nhau.
Nhưng Tôn Thất Thuyết ngờ sợ không tới họp. Sau cùng bọn ấy lập mưu ngầm,
không tâu vua biết và không bàn với đ́nh thần, tự tiện dấy quân, trong
thành náo loạn. Trong khi vội vă,
phụ chính đại thần là Nguyễn Văn Tường, tức th́ đem lăo cung [Từ Dụ thái
hoàng thái hậu] và xe vua [Hàm Nghi] ra [khỏi] thành tạm lánh. Ta
nhân dặn thầm đại thần ấy rằng: “Lui cùng với quan Pháp ở trong bàn
tính; may được nghe lời và sớm tan quân”. Không ngờ Tôn Thất Thuyết
không chống được một cuộc thua, dám lại đón đường rước xe vua đi thành
Quảng Trị. Kịp [Tôn Thất Thuyết] tiếp phái [viên Phạm Hữu Dụng] báo
Nguyễn Văn Tường, nghiệp [dĩ] đă về thành, đă thương lượng với quan Pháp
hoà hảo như cũ. Lăo cung nghe tin rất mừng, tức th́ ngày mồng năm tháng
[sáu nguyệt lịch (16.07.1885)] ấy cùng với Hai Cung [hoàng thái hậu Vũ
thị (trung phi), hoàng thái phi Nguyễn Văn thị (học phi)] trở về Khiêm
cung yên đỗ. Quan Pháp cũng v́ đó mà vui mừng. Và [lăo cung] đă chuẩn
cho Thọ Xuân vương [Miên Định] quyền giữ việc nước để đợi hoàng đế hồi
loan. Nguyễn Văn Tường vẫn sung coi sự vụ ở Cơ mật viện, và lục bộ,
đường thuộc ở các bộ, cũng đều làm việc như cũ. Nhiều lần uỷ phái người
đi rước xe vua. Tôn Thất Thuyết lại ép cơng vua do đường núi đi Quảng
B́nh ra Bắc. Vua khóc lóc phải theo, rất điều đau xót. Vả miếu xă tôn
trọng, trong thuở Dực tông Anh hoàng đế [Tự Đức] hấp hối, cũng lấy sự
đừng nên, kinh động làm lo. Tôn Thất Thuyết là người trong khánh phổ, ơn
sủng sâu dày, không hay thể theo lời dặn, càng động ḷng riêng, tự làm
cho ḿnh thoát hoạ, mà không nghĩ đến tôn xă trăm năm và ức vạn sinh
linh, tự dám bỏ đi, lại lấy tiền bạc của Nhà nước. Như thế là làm nhầm
cho nước, là người ác nhất thiên hạ vậy. Ai cũng có thể giết được… […]
…””
(84).
“[…] Dụ
đem niêm yết khiến đều chu tri [:biết rơ, biết trọn] (84) .
+++
“[Tam Cung,
nhiếp chính lại ra lệnh dụ] tịch thu hết gia sản nhà Tôn Thất Thuyết,
nhà Phạm Thận Duật và bắt cả gia thuộc (cha con, anh em, vợ con), giao
giam chờ xét.
(Khi ấy mẹ,
vợ, và con của [phụ chính Tôn Thất] Thuyết là [Tôn Thất] Đàm, [Tôn Thất]
Hước, đều đă theo [phụ chính Tôn Thất] Thuyết đi rồi)” (85)
.
+++
“Ngày
mậu dần, lễ đại tường Điện Hoà khiêm [lăng Tự Đức]. […] Khi ấy [phụ
chính Nguyễn] Văn Tường quyền sức cho Thừa Thiên phủ kính biện xôi thịt,
lễ phẩm dâng tiến […]. [Từ Dũ thái hoàng thái hậu] dụ sai nhiếp chính
Thọ Xuân vương, phủ thần tôn nhân cùng phụ [giúp] Nguyễn Văn Tường, khéo
nói, bàn giảng [với bọn Pháp canh giữ ông, cả với bọn Pháp chiếm đóng
tại lăng], đi tới kính xem, và nghiêm cấm phong toả, không cho ra vào [lăng],
tiết độc [:gây ô nhiễm nơi lăng mộ]” (86) .
16
“Từ Dụ
thái hoàng thái hậu dụ hỏi [phụ chính] Nguyễn Văn
Tường về hiện t́nh phủ hạt Thừa Thiên và các địa phương Nam – Bắc, và [về]
quân dân gặp nạn, ai đă chôn cất, [về] hoà nghị đă bàn định xong chửa
(87).
[Từ Dụ thái
hoàng thái hậu] lại dụ sai [bảo]: “Trong [triều], từ thượng thư, ngoài [tỉnh],
từ [tổng] đốc, [tuần] phủ trở xuống, ai là người yếu nhát, kém cỏi, [hăy]
tâu lên [để] trọng trị. Nên khởi dụng những người ḱ cựu như Trần Đ́nh
Túc, cho cùng làm việc”.
Tức th́ [Từ
Dụ thái hoàng thái hậu] duyệt xét những lời phúc [tâu] của [phụ chính
Nguyễn] Văn Tường (87):
[LỜI
PHÚC TÂU CỦA PHỤ CHÍNH NGUYỄN VĂN TƯỜNG]
[Tập tâu
lược] nói:
“Ngày hai mươi ba, tháng [năm] trước [05.07.1885], có việc xảy ra.
Chiều hôm ấy, thần [:Nguyễn Văn Tường] bàn với quân Pháp vào thành tạm
đóng. Ngày hai mươi bốn [06.07.1885], hội đồng quan Pháp, yết thị hai
nước đă ḥa hảo như xưa, quan lại binh dân đều về như cũ.
Từ sau [kể] đi, thần hỏi các nơi ở ngoài: Từ ngày hai mươi ba, hai
mươi bốn [05 – 06.07.1885] trở đi, những xă ở gần kinh thành, gián hoặc
có bọn cướp bóc nổi lên. Đến ngày hai mươi sáu [08.07.1885], thần sức
cho các viên huyện, rọâng đi tuần trập, bắt được hai, ba tên phạm, đem
chính pháp ngay. Từ đấy đi, bọn côn đồ sợ có uy lẹânh của triều đ́nh,
dần phải liễm chấp. Hiện nay, [t́nh h́nh] dần được ninh thiếp, dân được
yên ở. Tin tức các tỉnh Nam, Bắc, gần đây đều được cùng thông, cũng
không có việc ǵ khác. Duy [:chỉ mỗi một, chỉ riêng một] có Lê Trung
Đ́nh [ở] tỉnh Quảng Ngăi nổi loạn, rồi cũng yên tĩnh.
Binh dân trong ngoài kinh thành bị thương, [bị] chết rất nhiều.
Người bị thương đều đă lục tục về quê, c̣n người chết th́ quan binh Pháp
hoặc đốt đi, hoặc chôn cất, nay đă sạch sẽ.
Đến như điều khoản nghị hoà, quan Pháp bàn nói: “Chờ khi rước
hoàng thượng hồi loan, giao trả thành tŕ, mới có thể bàn định được”.
Lại như quan viên trong ngoài, gián hoặc có người tài, có người
không tài, vốn nên cất, bỏ. Nhưng nay ngôi lớn trong kinh chưa định,
hiệu lệnh chưa thống nhất, sự thưởng phạt chưa nên vội ra, xin chờ sau
sẽ làm. Và khởi dùng người cũ là việc cần kíp hiện nay, là duy Đ́nh Túc,
tuổi gần tám mươi, đi đứng thế khó khoẻ mạnh, Hoàng Tá Viêm, Vũ Trọng
B́nh lại bị bọn kia [:bọn Pháp] ngờ ghét, cũng khó giảng giải. Việc
nhiều người ít, không biết làm sao, thần chỉ biết hết ḷng, hết sức thôi.
(Việc Lê Trung Đ́nh chép ở dưới)” (87) .
17
“Hà – Ninh
quyền tổng đốc Nguyễn Hữu Độ về kinh, bàn bạc:
Thượng thư
Pháp đóng ở Hà Nội là Sinh Bích [Silvestre] gửi thư cho quyền tổng đốc
An – Định [Quảng Yên – Nam Định] là Phan Đ́nh B́nh, nên đi ra sung thay
chức ấy [hiện của Nguyễn Hữu Độ]. [Phan] Đ́nh B́nh tiếp thư, đi Hà Nội
họp, nói: “Đem việc xin tâu chờ mệnh [lệnh chuyển bổ]” (88)
.
Vào ngày mười chín tháng sáu nguyệt lịch Ất dậu
(30.07.1885), một bên là De Courcy, De Champeaux, Sil-vestre, Nguyễn Hữu
Độ, một bên gồm mười lắm người, đó là Thọ Xuân vương Miên Định, Nguyễn
Văn Tường và các quan tham biện, tư vụ trong Viện Cơ mật – Thương bạc,
hai bên đă họp để thông qua phụ ước của “hoà” ước Giáp thân 1884. Phụ
ước gồm sáu khoản, Pháp ép buộc triều đ́nh Đại Nam chiến bại phải chấp
nhận. Đó là chính sách “bảo hộ” của thực dân Pháp tại Tunysie (89):
+++ 1. Trung Ḱ và Bắc Ḱ có một chế độ “bảo hộ” gần giống nhau.
+++ 2. Lập một đạo quân do quan chức Pháp chỉ huy, nhưng do triều đ́nh
chịu tổn phí.
+++ 3. Lập ngân sách duy nhất cho cả Trung Ḱ – Bắc Ḱ.
+++ 4. Lập một Hội đồng Nội các (như Hội đồng Bộ trưởng, khác với Nội
các của triều đ́nh Đại Nam), trong đó, hễ bộ nào quan trọng th́ có người
Pháp tham dự cạnh thượng thư Đại Nam.
+++ 5. Triều đ́nh Huế tuỳ theo sự đề nghị của quan kinh lược mà cử các
quan hàng tỉnh (tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát) ở Bắc Ḱ, c̣n quan
kinh lược th́ tự ḿnh cử quan phủ, huyện (tri phủ, tri huyện).
+++ 6. Pháp vẫn nắm quyền thương chính (hải quan), tạo tác (xây dựng,
giao thông – công chánh), quân sự, ngoại giao (89).
Tên bộ trưởng Bộ Chiến tranh Pháp tại Paris vẫn muốn chia cắt
Trung Ḱ với Bắc Ḱ theo chủ trương “chia rẽ để dễ cai trị” , như “hoà”
ước Giáp thân 1884, nhưng ở mức độ “bảo hộ” khủng khiếp hơn rất nhiều.
Chính phủ Pháp, do tên thủ tướng Brisson cầm đầu, đồng ư theo tên bộ
trưởng Bộ Chiến tranh ấy, liền điện tín qua cho De Courcy, vào ngày
13.08.1885 (ngày bốn tháng bảy Ất dậu):
+++ 1. Khâm sứ Pháp chủ toạ Hội đồng Nội các (Hội đồng Bộ trưởng) của
triều đ́nh Đại Nam.
+++ 2. Phụ chính, thượng thư Đại Nam muốn được cử ra th́ phải được khâm
sứ Pháp chuẩn y. Khâm sứ Pháp có quyền cách chức vô luận đại thần phụ
chính hay thượng thư Đại Nam nào.
+++ 3. Chế độ “bảo hộ” ở Bắc Ḱ có thể được thực hiện ở những tỉnh Trung
Ḱ, nếu khâm sứ Pháp thấy cần.
+++ 4. Triều đ́nh Đại Nam phải chấp nhận và trả lương cho một phái bộ
quân sự Pháp. Quân Nam triều sẽ không quá mười ngàn (10.000) người, và
phải do người Pháp chỉ huy. Quân đội người Việt ở Bắc Ḱ phải biệt lập,
triều đ́nh Đại Nam ở Huế không có quyền hạn ǵ đối với số quân ấy (89).
Nhưng thực dân Pháp không thể áp đặt phụ ước bốn điểm đó của tên
bộ trưởng Bộ Chiến tranh! Bởi ngay phụ ước sáu điểm (kiểu “bảo hộ”
ở Tunysie) cũng đă khiến phong trào Cần vương bùng nổ mạnh hơn. Phụ
chính Nguyễn Văn Tường phải đấu tranh trong việc đàm phán, song hành với
phụ chính Tôn Thất Thuyết đang đẩy mạnh công cuộc kháng chiến: Đàm đi
đôi với chiến trong sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau. Kháng chiến mà không
đàm phán, sẽ tổn thương nhiều xương máu. Kháng chiến thất bại, sẽ dẫn
đến đàm phán bất lợi. Không kháng chiến th́ không đàm phán có hiệu quả.
Đó là quy luật.
Chính nhờ phong trào kháng chiến Cần vương ngày càng mạnh mẽ, nên
về sau, vào khoảng trung tuần tháng sáu Bính tuất (1886), ngay cả phụ
ước sáu điểm ấy, tên thực dân toàn quyền Paul Bert cũng phải băi bỏ,
mặc dù triều Đồng Khánh chỉ là bù nh́n, tay sai:
“[Đồng Khánh] chuẩn cho xây dựng Nha thự Kinh lược Bắc Ḱ (ở
Trường thi [Hương] Hà Nội).
Toàn quyền đại thần Bôn Be [Paul Bert] [thông] tư nói: Ngày tháng
bảy [nguyệt lịch] năm ngoái [Ất dậu], đô thống Cô Suy [Cô Ra Xi, De
Courcy] định ra sáu khoản điều ước mới, nước ta phần nhiều có thua thiệt.
Nay đă đem bỏ bản ước ấy rồi”
(90) .
Như thế, tuy phụ ước sáu điểm phải bị băi bỏ, nhưng Nha Kinh lược
sứ Bắc Ḱ vẫn c̣n hoạt động!
“[Phụ chính] Nguyễn Văn Tường tâu [với Từ Dũ thái hoàng thái
hậu], nói: “Trước đây [khâm] sứ Pháp Tham Bô bàn nói: “Hiện nay sự t́nh
đă khác. [Nguyễn] Hữu Độ làm việc ở Bắc đă lâu, nên sung kinh lược Bắc
Ḱ, nhưng [Nguyễn Hữu Độ] hăy về kinh cùng bọn tôi cùng bàn, cùng giúp
việc. Dăm ba ngày việc xong, [Nguyễn Hữu Độ] lại về Hà Nội làm việc, [c̣n
Phan] Đ́nh B́nh sẽ về kinh nhận chức”. Nay [Nguyễn] Hữu Độ vào ngày mười
bảy tháng [sáu nguyệt lịch (28.07.1885)] này, hiện [y] đă về [Bắc] rồi
[về Bắc vào ngày mười chín tháng sáu Ất dậu (30. 07.1885)]. [Phan] Đ́nh
B́nh đi Hà [Nội] cũng chỉ quyền tạm một thời [gian] thôi” (88) …
Nhức nhối nhất là Nha Kinh lược sứ Bắc Ḱ ấy đă bắt đầu hoạt động,
ngay từ ngày mười chín tháng sáu nguyệt lịch Ất dậu (30.07.1885) này! Kẻ
đứng đầu Nha Kinh lược Bắc Ḱ ấy là tên tay sai, xu thời, cơ hội chủ
nghĩa, “xem gió chuyển buồm” Nguyễn Hữu Độ!
Phụ chính Nguyễn Văn Tường không thể chỉ chống cự lại bọn Pháp,
như De Courcy, De Champeaux, Caspar, không thể chỉ đấu tranh trong
thuyết phục với Từ Dũ thái hoàng thái hậu, nhiếp chính giám quốc Miên
Định, ông c̣n phải quyết liệt vạch trần bản chất bọn tay sai, xu thời, “xem
gió chuyển buồm” , “bán nước cầu vinh” như Nguyễn Hữu Độ!
18
“Ngày nhâm ngọ [hai mươi tháng sáu Ất dậu (31.07. 1885)], xa
giá vua [Hàm Nghi] đi đến sách [:buôn làng] Bờ Cạn:
([Phụ chính Tôn Thất] Thuyết lại kèm xe vua từ đồn Chấn Lào [:Trấn
Lao] [khởi] đi. Ngày hai mươi tháng này th́ đến sách [:bản làng]; đi một
ngày nữa [th́] đến xă Mă Hạc; tới đồn [ấy] mất ba ngày đường).
Đinh Tử Lượng vâng mệnh [Từ Dũ, Miên Định] đi rước xa [giá] vua về,
hiện [ông] theo kịp [đến] đó.
(Khi ấy Trương Văn Đễ cũng cùng [Đinh] Tử Lượng cùng sung phái
đi đón xe vua, nhưng [Trương] Văn Đễ đi đường khác, cho nên không gặp).
Quan quân trông thấy xe vua ([bấy giờ, phụ chính Tôn Thất] Thuyết
phụng xe vua, [bị] lộ ra). [Quan quân] không dám bắn súng. Chợt bị đạo
quân Trần Xuân Soạn chắn ngang. [Quan quân] tản đi” (91)
.
+++
“Khi ấy đạo quân [phụ chính Tôn Thất] Thuyết gián hữu có quân
tỉnh Hà Tĩnh và lính thổ Ninh B́nh do tiền thứ Phạm Thận Duật mộ đến lần
trước được năm trăm (500) tên. Phủ thần Quảng Trị là Trương Quang Đản [thông]
tư xin phái viên đi các tỉnh hiểu [bảo] [thông] sức khẩn [cấp] làm cho
khỏi quan ngại. [Triều đ́nh] bèn vâng ư chỉ [Từ Dũ, Miên Định], lấy thự
H́nh bộ hữu tham tri là Nguyễn Thành Ư, Công bộ tham tri Tôn Thất Phan,
biện lí Hộ bộ Vơ [:Vũ] Khoa sung làm khâm sai, chia [nhau] đi các tỉnh
Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Nghệ An, họp cùng với quân của nhiều phái viên chia
đường ḍ đón, để rước xe vua [Hàm Nghi] trở về” (92) .
19
Trong thực tế, bọn thực dân Pháp đă hoàn toàn khuynh loát, lũng
đoạn triều đ́nh. “Đ́nh thần nghị xử” hay “triều nghị” thực chất cũng
do bọn Pháp như tên vơ biền, bảo hoàng hạng nặng De Courcy, tên khâm sứ
đầy thù hận và thâm độc De Champeaux, các cố đạo gián điệp cáo già như
Caspar quyết định.
Quyền lực của triều đ́nh Đại Nam chỉ c̣n từ B́nh Thuận đến Cao Bằng,
làm sao có thể lưu đày cựu đề đốc Tôn Thất Đính tận Gia Định? Cụ ông Tôn
Thất Đính là người đă già nua nhưng vẫn “đi đóng ở sơn lăng [đồi núi,
núi rừng], cư suất giúp tiễu” (93) (ở đấy để thúc đẩy, động viên kháng
chiến diệt ngoại xâm viễn chinh và “tả đạo”) .
“[Hạ tuần tháng sáu nguyệt lịch năm Ất dậu,] an trí Tôn Thất
Đính (cha Tôn Thất Thuyết, bảy mươi bốn tuổi) ở Côn Lôn [:Côn Đảo; quần
đảo này đă là thuộc địa của Pháp].
([Cựu đề đốc Tôn Thất] Đính cùng với [phụ chính Tôn Thất] Thuyết
đi theo xe vua, rồi do [viên] tỉnh phái bắt giải về kinh. Triều nghị [!]
cho [rằng: Tôn Thất] Đính lúc b́nh nhật đă chẳng hay biết trước con [trai],
đă không hay giới trập [:trấp]; lần này lại theo [Tôn Thất] Thuyết đi
đóng ở sơn lăng, cư suất giúp tiễu [trừ giặc Pháp…]. [Vậy là] chung một
tội ác, nên xử tử h́nh. Duy tuổi già, chuẩn theo họ mẹ làm Lê Đính, giảm
xuống tội lưu, cho đi an trí)” (93)
.
Ngày cựu đề đốc Tôn Thất Đính bị chính thực dân Pháp lưu đày là
khoảng trong mấy hôm từ sau hai mươi tháng sáu nguyệt lịch và trước hai
mươi lăm tháng ấy (từ 31.07.1885 đến 05.08.1885). Ông bị chúng áp giải
xuống tàu thuỷ, chở vào Côn Đảo.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường đă rơi nước mắt, h́nh dung một ngày
không lâu nữa, chính ông cũng sẽ bị lưu đày như thế, nếu không bị bọn
Pháp xử tử h́nh.
Và một mảng sự thật lịch sử đau ḷng khác trong thời điểm bấy giờ,
về sau đă được ghi chép lại với nhăn quan bảo hoàng và chủ “hoà”, với
cách đánh giá theo tiêu chí ngược (nghịch lí):
“Tịch thu gia sản của Hồ Văn Hiển và Trần Xuân Soạn, Phan Văn
Mỹ, bắt cả gia thuộc giao giam chờ xét:
([Hồ] Văn Hiển tháng [năm nguyệt lịch] trước phụng giá ra [khỏi
kinh] thành. [Phụ chính] Nguyễn Văn Tường phân phó cho đi hộ [tống xa]
giá đến Khiêm cung tạm lánh ở đó. Rồi y lại theo [phụ chính Tôn Thất]
Thuyết hộ [tống xa] giá đi Quảng Trị. [Sau đó] lại đi Sơn pḥng [Tân Sở].
[Phụ chính] Nguyễn Văn Tường và phủ thần [Quảng Trị] Trương Quang Đản đă
bốn lần viết thư dặn: “Hễ gặp quan binh, tức th́ làm nội ứng, rước xe
vua về”. Y bèn không nghe [theo lệnh dặn ấy].
[Trần] Xuân Soạn a dua [!]. [Phụ chính Tôn Thất] Thuyết khuyên [viên
quan ấy] nên gây hấn [:nên chiến đấu].
[Phan] Văn Mỹ [vốn] đem tỉnh binh [:lính tỉnh] Hà Tĩnh theo [phụ
chính Tôn Thất] Thuyết.
Cho nên gồm trị [cả ba viên ấy] về tội theo nghịch [nghịch thần!])”
(94)
.
Người chép sử không phải không biết đến nỗi khổ tâm của phụ chính
Nguyễn Văn Tường. Nỗi khổ tâm ấy chính vua Hàm Nghi và phụ chính Tôn
Thất Thuyết cũng thấu rơ: “Huân thần [:Nguyễn Văn Tường] tâm
sự như thế, cáng đáng như thế, [huân thần ấy] thực là đau khổ quá chừng.
Nhân vật nước ta, những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”
(77) …
20
Có một lần, sau khi vua Hàm Nghi đă được phụ chính Tôn Thất Thuyết
đưa lên Tân Sở đă được hai hôm. Bấy giờ, ở Huế, phụ chính Nguyễn Văn
Tường chỉ mong vua Hàm Nghi tuyên cáo xong “Lệnh dụ Thiên hạ Cần vương”
theo như kế hoạch hai phụ chính đă bàn. Tuy nhiên, với sức ép của Pháp
một phần, một phần khác, cũng theo như kế hoạch của hai phụ chính, phụ
chính Nguyễn Văn Tường cũng mong nhà vua sẽ trở về Huế để tiếp tục lănh
đạo bằng mật dụ. Sự việc tuyên cáo “Lệnh dụ Thiên hạ Cần vương” sẽ
được xem như đặt bọn Pháp trước một sự đă rồi. Chúng vẫn không làm ǵ
được, và phong trào Cần vương vẫn tiếp tục bùng nổ sau ng̣i nổ chính
thức ấy. Ở Huế, phụ chính Nguyễn Văn Tường không thể xác định được ngày
nào vua Hàm Nghi tuyên cáo “Lệnh dụ Thiên hạ Cần vương” . Ông viết sớ
đệ tŕnh ra nhà vua vào ngày hai mươi chín, cuối tháng năm thiếu, Ất dậu
(11.07.1885):
“Thần vừa [nhận] được bức điện văn của Trương Quang Đản, cho
biết rằng ba ngài hoàng thái hậu đang ngự trong hành cung tỉnh Quảng Trị.
Thần đă thỉnh ba ngài về nghỉ tạm ở Khiêm cung. Quan Tổng tư lệnh Pháp
[De Courcy] muốn mời bệ hạ cùng trở về một lượt với ba ngài” (95)
.
Có một lần khác, khi tuần vũ Trương Quang Đản phóng ngựa vào Nha
Thương bạc để xin yết kiến phụ chính đang là tù nhân Nguyễn Văn Tường.
Họ cũng đi dạo trong sân vườn thuộc khuôn viên, dẫu chung quanh là những
đôi mắt cú vọ của tên đại uư Schmitz và quân lính viễn chinh Pháp.
Sau một hồi thăm hỏi và bàn thảo về t́nh h́nh Đất nước hiện thời,
phụ chính Nguyễn Văn Tường nói:
- Bọn De Courcy luôn hối thúc Tam Cung, Thọ Xuân vương và cả tôi
viết sớ thỉnh mời đức vua Hàm Nghi về triều. Chúng bảo, nhà vua phải về
mới trao trả hoàng thành. Chính phủ Brisson bên Paris cũng yêu cầu nằng
nặc như thế. Theo quan tuần vũ, ta phải làm như thế nào?
Im lặng ngẫm nghĩ, một lát tuần vũ Trương Quang Đản thưa:
- Bẩm, theo tôi, ta cứ viết thêm một lần nữa sau ba lần kia. Nhưng
phụ chính Tôn Thất Thuyết không muốn đưa vua về. Án sát Tôn Thất Nam khi
lên Sơn pḥng Quảng Trị họp, có nói điều này, tuy không nhấn mạnh, nhưng
phụ chính Tôn Thất Thuyết chỉ lắc đầu. Kế sách chia tách, phối hợp vẫn
được ông ấy duy tŕ, thực hiện, trừ điều đó.
- Cũng đúng thôi. Nếu có nhà vua ở Sơn pḥng, những bản dụ sẽ có
trọng lượng hơn. Sĩ dân, quan chức sẽ không c̣n ngại ǵ mà không khởi
nghĩa. Nhưng tôi đă bàn với phụ chính Tôn Thất Thuyết từ lâu, là vua chỉ
cần tuyên cáo “Lệnh dụ Thiên hạ Cần vương” xong là đủ để sĩ dân, quan
chức vin tựa vào đó, để thu lương, tuyển binh. Sau đó, là sẽ lănh đạo
bằng mật dụ. Thế mới là lưỡng toàn. Triều đ́nh không thể rời Huế tất cả,
kinh thành không thể bỏ trống, bởi lẽ bọn Pháp không lập vua Lê hậu duệ
th́ cũng dựng lên vua quan thuộc nhà Nguyễn nhưng chỉ là bù nh́n, do
chúng hoàn toàn tuyển lựa. Tên De Champeaux, Caspar định lập Kiên Giang
hầu Ưng Kỹ (hoàng tử thứ hai của tiên đế Tự Đức)! Quốc kế chia tách
nhưng vẫn phối hợp triều chính không thể vi phạm luật cổ điển truyền
thống là một bầu trời không thể có hai mặt trời, một nước không thể có
hai vua! Tóm lại, quan điểm của tôi là vẫn phải rước vua Hàm Nghi về,
triều đ́nh tạm thời chịu “thoả hiệp” với Pháp, c̣n lực lượng kháng chiến
vẫn do phụ chính Tôn Thất Thuyết lănh đạo. Chức năng, nhiệm vụ của phụ
chính Tôn Thất Thuyết cũng như b́nh Tây đại nguyên soái Trương Định ở
Nam Ḱ trước đây vậy, nhưng ở quy mô lớn hơn, trường ḱ bền bỉ hơn, với
sự chi viện bí mật, thường xuyên, liên tục về vũ khí, quân nhu. T́nh
h́nh hiện nay phải đi đến quyết sách như thế. Không chiến th́ không đàm
được. Không chiến th́ triều đ́nh tồn tại chỉ như lũ bù nh́n h́nh rơm mà
thôi. Phải chiến cho bọn thực dân viễn chinh, thực dân cố đạo mỏi mệt,
hao tổn các mặt, để trước mắt chúng chùn tay, không dám lấn ép, rồi rốt
cuộc chúng phải buông bỏ mà về nước… Tất nhiên phải chiến nhưng không
cậy thành cao hào sâu. Với súng đạn của chúng, thành cao hào sâu cũng
thật khó giữ. Trước đây, Tân Sở chỉ là tị địa của hoàng cung… Các sơn
pḥng là trại đóng quân… Chiến thuật, chiến lược vẫn là lấy ít đánh
nhiều, lấy yếu thắng mạnh, đoản binh chống trường trận… Tôi đă nói với
phụ chính Tôn Thất Thuyết nhiều lần, ông ấy đă đồng ư, không hiểu v́ sao
như thế…
Tuần vũ Trương Quang Đản nói nhanh với âm lượng nhỏ, vừa đủ hai
người nghe:
- Tôi nghe tin phụ chính Tôn Thất Thuyết đă sang Trung Hoa cầu
viện rồi. C̣n vua Hàm Nghi do hai người con của phụ chính ấy chăm lo,
phụng sự. Nhưng hẳn là tin thất thiệt… Để dập tắt phong trào Cần vương,
bọn Pháp c̣n tung tin đức vua Hàm Nghi đă băng hà v́ sốt rét rừng nữa
kia…
- Tôi và Tam Cung có biết. Bọn Pháp tung tin thất thiệt đó, gây
rúng động trong sĩ dân, cũng khiến tôi và Tam Cung choáng váng. May mắn
thay là long thể vua Hàm Nghi vẫn an khang. Nhưng tin quan tướng phụ
chính Tôn Thất Thuyết sang Trung Hoa, quả thật tôi chưa nhận được tin ấy.
Hẳn chưa đúng đâu. Có thể nói chắc chắn là sai. Nhưng nếu có như thế th́
cũng có điểm hợp lí, bởi phụ chính Tôn thất Thuyết có đưa vua Hàm Nghi
sang Tàu, th́ bọn Pháp cũng bắt đưa về nước ta mà thôi! Thậm chí, theo
hiệp ước Thiên Tân, chính nhà Thanh lại bắt giúp cho bọn Pháp nữa là
đằng khác! – Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường cố nén lại nỗi đau xót, ông
không thể nói được nữa v́ uất nghẹn –.
Một lúc khá lâu, phụ chính Nguyễn Văn Tường lại bảo:
- Quan tuần vũ thử suy nghĩ về kế sách tôi vừa nói xem sao, và
phải đặt trong t́nh thế nước ta, bối cảnh chung của các châu Á Tế Á, Mỹ
Lợi Kiên, Úc Đại Lợi, A Phi Lị Gia hiện nay, nhất là khi Trung Hoa nhà
Thanh đă đầu hàng, kí kết hiệp ước Thiên Tân hồi cuối tháng tư Ất dậu
vừa rồi, c̣n phía Xiêm, Lào, cũng đă bí đường!
- Lâu nay tôi đă có ít nhiều suy nghĩ về quốc kế đó. Về việc phụ
chính Tôn Thất Thuyết sang Trung Hoa nhà Thanh, quả thật tôi có nghe nói
phong thanh. Nhưng bây giờ mới biết là ông ấy vẫn c̣n quanh quẩn trên
sơn pḥng, thượng đạo Quảng Trị, Quảng B́nh và vùng giáp giới Lào.
Hai người im lặng bước trong sân vườn khá râm mát. Cả hai người đều
suy nghĩ, không nói ǵ.
Tiếng quan phụ chính Nguyễn Văn Tường lại khẽ cất lên:
- Điều phấn khởi nhất là vua Hàm Nghi, phụ chính Tôn Thất Thuyết
phát động được phong trào Cần vương một cách rất khí thế và rộng khắp.
- Ai cũng biết là, trên Tân Sở ấy, quyết định cuối cùng chỉ do phụ
chính Tôn Thất Thuyết mà thôi, mặc dù vua Hàm Nghi cũng chan chứa ḷng
yêu nước. – Tuần vũ Trương Quang Đản lại nói như tự nhủ –. Vâng, một
nước không thể có hai vua… Bọn Pháp định sẽ đưa Kiên Giang quận công Ưng
Kỹ lên ngôi!
Phụ chính Nguyễn Văn Tường chợt tắt nụ cười, thở dài:
- T́nh h́nh bi đát quá th́ cũng phải đành thế! Chính lúc bọn Pháp
tung tin thất thiệt, rằng vua Hàm Nghi bị sốt rét rừng và đă băng hà,
tôi và Tam Cung cũng suưt chấp nhận tôn lập hoàng tử Ưng Kỹ, v́ không
c̣n ai trong diện có thể tôn lập. Tuy nhiên, đến giờ khắc này, mọi người
đều biết chắc vua Hàn Nghi vẫn c̣n khoẻ mạnh. Đó là cả một niềm vui mừng
lớn! Và dĩ nhiên, một nước không thể có hai vua. Đúng như quan tuần vũ
nói… Một nước có hai vua, t́nh h́nh sẽ khốc liệt, như Lê – Mạc, thời Nam
– Bắc triều, như họ Trịnh ở Đàng Ngoài – nhà Nguyễn bản triều ở Đàng
Trong, những thuở phân tranh… Rất đau ḷng! Nhưng… Bọn Pháp cứ thúc ép
tôi và Tam Cung tôn lập Ưng Kỹ! Ưng Kỹ là người như thế nào, tiên đế Tự
Đức đă nhận xét một cách xác đáng. Không thể theo ư đồ tôn lập Ưng Kỹ
của bọn Pháp được! Mặc chúng thúc ép! Chẳng lẽ ta thúc thủ sao?(*)…
Quyết không đầu hàng giặc, không bó tay trước t́nh huống gay go, bế tắc…
Lúc này, phải làm sao đập tan những cuộc phục thù, cướp chính quyền của
bọn “tả đạo” ở các tỉnh, phủ, huyện. Những nơi nào lực lượng Cần vương
mạnh, các quan chức của triều đ́nh nên giả vờ bắn chỉ thiên qua loa rồi
trao thành tŕ cho họ, c̣n các quan ấy tạm ẩn trú. Như thế, có nghĩa là,
để trao toàn quyền cho lực lượng Cần vương “sát tả”, nếu chúng lộng hành…
Bằng bất cứ giá nào cũng phải đập tan những cuộc phục thù, cướp chính
quyền do “tả đạo” tổ chức! Phải cố gắng ra sức… Chắc cũng chẳng c̣n bao
nhiêu ngày nữa, bọn Pháp sẽ lưu đày tôi như cụ cựu đề đốc Tôn Thất Đính
mà thôi! Bọn Pháp đang canh gác quanh đây dày đặc… Không thoát được…
- Vâng, tôi sẽ cố sức… Quan phụ chính yên tâm.
Hai vị quan, phụ chính và tuần vũ, ngồi trên băng ghế đá, thứ đá
lấy từ Thanh Hoá, quen gọi tắt là đá Thanh, giữa sân vườn rợp hoa lá của
Nha Thương bạc, lặng nh́n ḍng sông Hương lấp lánh sáng qua các kẽ lá
trên hàng giậu chè tàu.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường khẽ bảo tuần vũ Quảng Trị Trương Quang
Đản:
- Những ngày gần đây, sau cuộc kinh đô quật khởi, tôi có viết một
bài thơ, lấy tên là “Giải triều” (chia tách triều chính) .
Tôi đọc để quan tuần vũ nghe, xem ra sao.
“Tam thập niên lai phí kỉ kinh
Vô đoan dạ bán bách sầu sinh
Ḱ khai tam sắc, vân lôi biến
Già thính song xuy, kê khuyển kinh
Sơn kính vạn trùng thương thuư liễn
Thần tâm nhất dạng luyến đan đ́nh
Thị phi nhiên phó thiên thu hậu
Xă tắc quân vương, thục trọng khinh?” (96)
Ba chục năm qua phí trí ḿnh!
Nửa đêm, gian tả ép buồn sinh
Cờ chia ra khoảnh; mây giông nổ
Kẹp xiết theo roi; gà chó kinh
Núi biếc vạn trùng thương kiệu Ngự
Ḷng son một thể luyến sân Đ́nh
Phải, chăng, xin gửi ngh́n thu luận
Theo nước – pḥ vua, đâu trọng, khinh? (96)
Gươm phí bao năm,
mấy bút ṃn
Nửa khuya, vô cớ
ép bùng hờn
“Tam tài”, cờ xổ;
giông quyền sấm
Roi cặp, kẹp tra;
chó rủn hồn
Đường núi vạn
trùng lo kiệu biếc
Ḷng tôi một dạng
giữ sân son
Đúng, sai, ấy gửi
ngh́n sau luận
Nhẹ? Nặng? Pḥ vua? Luyến nước non? (96)
Nha Thương bạc đă thành chốn lao tù cho một tù nhân vốn đang là
phụ chính đại thần. Nơi đây, không thể chuyển trao giấy bút, nên không
c̣n cách nào khác, tuần vũ Trương Quang Đản phải học thuộc ḷng bài thơ
ấy. Bài thơ đầy tâm trạng ấy như khắc vào tâm hồn ông, nhưng quan tuần
vũ vẫn lo âu có một vài chữ hoặc một câu nào ông lỡ quên mất.
Nắng tháng sáu vẫn chang chang trên kinh đô Huế tan nát, đau thương
như một niềm bi tráng.
21
Ngày hai mươi lăm tháng sáu nguyệt lịch, Hàm Nghi nguyên
niên, Ất dậu (05.08.1885), “[Thọ Xuân vương Miên Định] sai đ́nh thần
kiểm soạn thư tịch, dời đóng ở vương phủ Gia Hưng cũ làm việc. […]. Duy
Nguyễn Văn Tường và những viên dự sung vào Viện Cơ mật, đều lưu ở Nha
Thương bạc” (97) .
Ngày
mười chín tháng sáu nguyệt lịch Ất dậu (30.07.1885), De Courcy, De
Champeaux, Silvestre và Nguyễn Hữu Độ đă ép triều đ́nh Đại Nam kí phụ
ước sáu điểm. Hơn sáu ngày trôi qua, De Courcy, De Champeaux không thấy
phụ chính đại thần lănh thượng thư Bộ Lại Nguyễn Văn Tường viết và kí
văn bản thăng chức, bổ nhiệm Nguyễn Hữu Độ làm kinh lược sứ Bắc Ḱ theo
dụ của Từ Dũ thái hoàng thái hậu và nhiếp chính Thọ Xuân vương, như
chúng đă ép buộc họ chấp nhận theo phụ ước sáu điểm. Cả hai tên “De” này
cảm thấy rất bực bội, chúng liền hối thúc thượng thư Bộ Lại Nguyễn Văn
Tường. Hôm nay, ông đă phụng dụ với một thủ thuật “b́ lí xuân thu” khiến
Nguyễn Hữu Độ, lúc này y đă ra Hà Nội, rất căm giận.
“Lấy quyền
tổng đốc Hà – Ninh là Nguyễn Hữu Độ thăng thự Vũ Hiển điện đại học sĩ,
sung Cơ mật viện đại thần, vẫn sung Bắc Ḱ kinh lược đại sứ (98):
“Khi ấy [Nguyễn]
Hữu Độ đă trở về Hà Nội, đô thống Pháp là Cô Ra Xy [De Courcy], khâm sứ
là Tham Bô [De Champeaux] bàn nói:
“Hiện nay
Bắc Ḱ lắm việc, [Nguyễn] Hữu Độ ở đấy hiểu nhiều, nên trao cho điện hàm
[Vũ hiển], sung viện chức [Viện Cơ mật], và vẫn sung chức sứ ấy. Phàm [tổng]
đốc, [tuần] phủ, bố [chánh], án [sát], ở các tỉnh Bắc Ḱ, cho đến các
phủ, huyện [ngoài đó], nếu nơi nào có khuyết, cho do Nha Kinh lược sứ [Bắc
Ḱ] chọn tâu, chờ chỉ định đoạt”.
Nhiếp chính
Miên Định, phụ chính Nguyễn Văn Tường phúc tâu [:tâu lại lên Từ Dũ và
Hai Cung]: “Việc đó là TẠM THỜI, nghĩ nên tạm nghe ư đó mà làm”.
[Phụ chính
Nguyễn] Văn Tường nhân phụng dụ [của Từ Dũ] nói: “TRẢI BÀY LÍ DO” [chứ
không phải tuỳ tiện, muốn truất giáng, thăng bổ ai cũng được!]. Lại nói:
“Do ngươi, tuy việc
thoả bàn vụ hợp thời nghi, để xứng với lời khen của người mới được”.
V́ ư ám chỉ chê [Nguyễn] Hữu Độ nương tựa vào thế quan Pháp, để được
ngôi cao, mà không phải tự bản ư do mệnh lệnh của triều đ́nh vậy.
(Trước đây, [hai vị phụ chính] Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất
Thuyết cho rằng [Nguyễn] Hữu Độ ở Hà Nội phần
nhiều hay nịnh hót, quan Pháp rất được vui ḷng. Cơ mật viện nhiều lần
đem việc tâu lên, [xin nhà vua] chuẩn cho khiển giáng hay triệu về, [Nguyễn]
Hữu Độ đều được quan Pháp che chở, rất là đáng ghét.
Ngày tháng
bảy năm ngoái [Giáp thân, 1884], [hai phụ chính và đ́nh thần] khuyên Bùi
Hữu Tạo lấy việc xây sinh từ [của Nguyễn Hữu Độ] để tâu hặc, v́ muốn
nhân đó để đẩy [Nguyễn] Hữu Độ đến tội. [Nguyễn] Hữu Độ chứa sự bất b́nh
đă lâu.
Gần đây, đô
thống Pháp [De Courcy] từ Bắc về Sứ quán, tức th́ trước mời [phụ chính
Nguyễn] Văn Tường và [phụ chính Tôn Thất] Thuyết đến họp. [Phụ chính Tôn
Thất] Thuyết ngờ sợ cho là hẳn [Nguyễn] Hữu Độ đă có ngầm chỉ thế nào,
nên mới như thế, cho nên sau không chịu đi; bèn gây hận [!].
Đến đây [Nguyễn
Hữu Độ] về kinh. [Nguyễn Hữu Độ] lại đến Sứ quán, rồi về nhà riêng [của
y tại Huế], uỷ [nhiệm người] đón nhiếp chính Thọ Xuân vương Miên Định
tới bàn với [phụ chính Nguyễn] Văn Tường. Và [Nguyễn Hữu Độ] gièm
[trước rằng], không bàn với Thọ Xuân vương th́ đừng đi.
Kịp khi [Nguyễn]
Hữu Độ tới Sở Thương bạc mà [phụ chính Nguyễn] Văn Tường ở đó, hai người
nói chuyện với nhau, đă hơi có ư khiếm ḥa [:thiếu ḥa khí].
[Phụ chính
Nguyễn] Văn Tường phụng dụ này [thăng chức, bổ nhiệm cho Nguyễn Hữu Độ],
lời lẽ lại có ư chê ngầm theo kiểu
b́ lí xuân thu [:bề ngoài với lí lẽ khác nhau như mùa xuân với
mùa thu]. [Nguyễn] Hữu Độ tiếp dụ, giận lắm, nhân đó càng thêm để ḷng)”
(98).
Phụ chính
Nguyễn Văn Tường đă xác định rơ, việc chấp nhận phụ ước sáu điểm chỉ là
TẠM THỜI, mọi việc truất giáng, thăng bổ quan chức Bắc Ḱ đều phải TRẢI
BÀY LÍ DO. Ông kiên quyết động viên, thúc đẩy phong trào Cần vương để
giúp triều đ́nh c̣n giữ được chủ quyền ít nhiều cũng như “hoà” ước
Patenôtre – Phạm Thận Duật (Giáp thân 1884) , và nếu có thể, phải buộc
chúng chấp nhận trở lại “hoà” ước Giáp tuất 1874. Việc thăng chức và bổ
nhiệm cho Nguyễn Hữu Độ cũng chỉ là tạm thời như thế, thậm chí là không
có giá trị ǵ cả. Ông đă viết vào bản dụ trước đây, khi phải nhân nhượng
tên tướng Millot, vẫn để Nguyễn Hữu Độ giữ chức tổng đốc Hà – Ninh,
nhưng vẫn phải giáng y xuống hàm cửu phẩm, hàm thấp nhất trong ngạch hàm
quan chức: “Phù phi nhạn tập, vô quan tổn ích ư giang hà; mă lăo
ngưu ph́, bất ngoại sinh thành ư thiên địa” (con le le bay đi, con nhạn
đậu lại, không thêm bớt ǵ bên sông; con ngựa già, con trâu mập, không
ngoài sự sinh thành trong trời đất) (99) . Hai phụ chính
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết bấy giờ gần như nói thẳng với tên tay
sai, xu thời, “xem gió chuyển buồm” Nguyễn Hữu Độ rằng: Nguyễn
Hữu Độ có giữ chức tổng đốc th́ cũng không có ǵ thay đổi, v́ đă bị vô
hiệu hoá (như viên lính mới nhập ngũ lại giữ chức tướng!); tất cả mọi
việc giáng chức, thăng chức đều thuộc quyền thiên tử nước Đại Nam (chứ
không phải dựa hơi bọn Pháp xâm lược mà được, v́ nhân dân hiện thời hoặc
hậu thế sẽ phỉ nhổ). Lần này, bọn Pháp muốn thăng bổ Nguyễn Hữu Độ điện
hàm Vũ hiển, sung viện chức đại thần Viện Cơ mật, lại là kinh lược sứ
Bắc Ḱ với quyền lực như một “phó vương”. Thực chất, qua đó, chúng muốn
cắt đứt Bắc Ḱ ra khỏi triều đ́nh Đại Nam. Đất đai núi sông Bắc Ḱ vẫn
c̣n thuộc Nam triều, nhưng nhân sự hoàn toàn của Pháp! Như thế là gần
như mất đứt Bắc Ḱ, chỉ thiếu nỗi biến Bắc Ḱ thành thuộc địa như Nam Ḱ!
Do đó, hôm mười chín tháng sáu nguyệt lịch vừa rồi, phụ chính Nguyễn Văn
Tường nói như quát vào mặt tên tay sai Nguyễn Hữu Độ ấy, y chỉ là một
thứ “bán nước cầu vinh” mà thôi! Bốn chữ “bán nước cầu vinh” thật đích
đáng! Và với thủ thuật “b́ lí xuân thu” , ông cho Nguyễn Hữu Độ hiểu,
tuy vẫn thăng bổ như thế nhưng y sẽ chẳng có quyền hạn ǵ trong thực tế.
Thật sự, đó
là một cuộc đấu tranh trong điều kiện hạn chế với t́nh thế lúc ấy để
chống bọn cơ hội chủ nghĩa, xu thời, tay sai của thực dân Pháp, nhằm góp
phần giữ vững triều Nguyễn. Đó hoàn toàn không phải là sự hiềm khích cá
nhân tầm thường.
22
Đầu thượng
tuần tháng bảy lại nổ ra một sự kiện đau ḷng. Mặc dù quyền lực ở triều
đ́nh, ngay ở Viện Cơ mật, đă bị Pháp chi phối, lũng đoạn (đến mức De
Champeaux đă giữ chức thượng thư Bộ Binh sung Cơ mật viện đại thần!),
phụ chính Nguyễn Văn Tường vẫn gắng gỏi trong chừng mức có thể để dập
tắt chiến tranh lương – giáo, và tôn phù bọn chủ “hoà” như Tuy Lư vương
Miên Trinh (100).
“… B́nh
Sơn tả vệ hương binh chánh quản là cử nhân Lê Trung Đ́nh, hữu phó quản
là bọn tú tài Nguyễn Tự Tân, Vũ Hội [thuộc vơ hội hương binh?], và
thương biện Nguyễn Văn Hoành cho rằng, xe vua đă ra, lại nghe có Dụ Cần
vương, muốn nhân đó dấy quân, tức th́ tới tỉnh xin cấp khí giới lương
xướng. Tỉnh thần cho rằng lính hương binh chỉ canh giữ nơi làng xóm,
không ví với lính tỉnh được, không dám tự tiện cấp, đợi chạy giấy mời
những quan viên tại quán [:quan hưu trí] bàn nghĩ, sẽ làm. Bọn [Lê Trung]
Đ́nh, [Nguyễn Tự] Tân bèn chia phát binh phu làm ba đạo, tất cả hơn ba
ngàn (3.000) tên. Trước ngày mồng hai tháng [bảy] này [11.08.1885], [quân
Cần vương] tiến đến tỉnh thành. Hiệp quản Trần Tu, thành thủ úy là
Nguyễn Côn mở cửa nội ứng. Bọn ấy sấn vào tỉnh thành, đem hai viên bố [chánh],
án [sát] ra thành giam trói, thu lấy ấn triện, binh trượng, tiền lương,
[và] buông tha tù phạm, [đồng thời] trước chém một tên suất đội, hai tên
dân đạo, [lại] cất nguyên Tuy Lư vương Miên Trinh (nguyên được giáng
tước công, an trí ở trong tỉnh thành này) làm phụ chính quốc vương. Miên
Trinh không theo, giả làm có bệnh nằm ĺ không dậy. Bọn ấy [:quân Cần
vương] bèn đặt những danh chức ngụy là thống đốc, tham tán, đề đốc, lănh
binh, đốt nhà và giết chết dân giáo, làm việc ngang ngược không kiêng nể
ai. Quyền tiễu phủ sứ ở Sơn pḥng Nghĩa Định là Nguyễn Thân báo với tổng
đốc B́nh – Phú là Lê Thận ([Lê] Thận đă ủy [nhiệm] cho án sát B́nh Định
là Lê Duy Cung đi cùng Sơn pḥng [Ngăi – Định] họp làm), ủy [nhiệm] cho
Đinh Hội đem hơn chín trăm (900) biền binh tiến tiễu.
Ngày mồng
năm tháng [bảy] ấy [14.08.1885], [quân Sơn pḥng Ngăi – Định] đến tỉnh [lị
Quảng Ngăi], chia quân sấn vào thu phục tỉnh thành, và [thu lại] ấn
triện bố [chánh], án [sát], bắt sống được [Lê] Trung Đ́nh, và giết được
bọn [Nguyễn] Tự Tân tất cả bảy tên. C̣n dư [quân Cần vương] đều trốn
chạy. [Nguyễn Thân, Đinh Hội] bèn đưa hai viên phiên [:bố chánh], niết
[:án sát] về dinh. Tiễu phủ sứ [Nguyễn Thân] ấy tức th́ ủy cho mời các
quan viên ở quán họp bàn.([Đó là các quan hưu trí:] nguyên Lễ bộ thượng
thư là Đỗ Đệ, thự đốc B́nh – Phú là Nguyễn Trọng Biện [ Nguyễn Hiệp],
tuần phủ Nam – Ngăi là Đoàn Nhượng, biện lí Công bộ là Vũ Duy Tĩnh (nguyên
[tên] cũ là Văn Thanh)). Và [Nguyễn Thân] tư bàn với tuần phủ Nam – Ngăi
là Nguyễn Ngoạn, quyền lưu hai phiên, niết, [cho họ] nhận ấn làm việc,
để chờ mẹânh triều đ́nh.
Và [đối với
Lê] Trung Đ́nh, [Nguyễn Thân ra lệnh] chém
ngay. [Chém xong,] rồi người ta báo cho Hộ bộ lang trung [Hồ Ngọc Hào]
biết.
Khi nhân
việc tản về, Nguyễn Hữu Tạo cũng mưu khởi binh. Nguyễn Thân lại [lập]
tức phái viên biền [binh] đến thẳng nhà bắt giết ngay, thu cả đồ binh
trượng.
(Viên huyện
Mộ Đức nói: “Do Sơn pḥng thần [:quan Sơn pḥng] báo, nói phong văn [:nghe
phong thanh], nghe [Nguyễn] Hữu Tạo ngày hai mươi lăm tháng sáu [06.08.
1885] âm mưu họp đảng, kiểm xét, sửa sang các đồ binh trượng đi B́nh
Định để giết giáo dân).
[Đinh Hội,
Nguyễn Thân] đều đem việc báo lên, hạt Quảng Ngăi nhân được yên ổn.
Đến đây Cơ
mật viện cho rằng Sơn pḥng ấy sớm hay làm tắt được ng̣i cơ biến, [Thọ
Xuân vương Miên Định] nghĩ chuẩn theo đặc cách thưởng cất cho Đinh Hội,
Nguyễn Thân để tỏ sự khuyến khích. C̣n bọn dư đảng nguyên đi theo [Lê]
Trung Đ́nh đă tan về th́ miễn khỏi cứu xét” (100)
.
Phụ chính
Nguyễn Văn Tường lâu nay vẫn biết lăo tướng Đinh Hội là một quan vơ tốt.
Ngoài ra, đến bấy giờ, quả thực, ông mới bắt đầu hé thấy bản chất gian
ác và xu thời của Nguyễn Thân. Nguyễn Thân lần này giải quyết vụ Lê
Trung Đ́nh như thế xem ra cũng “tạm ổn” (!), nhưng dẫu sao, qua vụ việc
đó, Nguyễn Thân cũng đă bắt đầu hé lộ, tuy chưa thật lộ rơ bản chất gian
ác và xu thời ấy. Nguyễn Thân đă lộng quyền, chém Lê Trung Đ́nh trước,
mới báo cáo cho lang trung Bộ Hộ Hồ Ngọc Hào biết (100)! Y được De
Champeaux khen thưởng! Sự nhập nhằng trong vụ việc phản ánh quan điểm
không thể thống nhất, thậm chí phủ định nhau trong các thành viên Viện
Cơ mật, bởi lúc này, oái oăm thay, De Champeaux lại là thượng thư Bộ
Binh kiêm Cơ mật viện đại thần của triều Nguyễn!
Chống việc
tôn phù bọn chủ “hoà”, như Lê Trung Đ́nh yêu nước, nhưng quờ quạng tôn
phù Tuy Lư vương Miên Trinh là không thể sai lầm… Trong chính trị, thậm
chí có những sai lầm đáng tiếc và những nỗi khổ tâm phải đành ngậm đắng
nuốt cay…
C̣n chiến
tranh lương – giáo? Hai phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đă
phân biệt rơ bọn cố đạo cướp nước, bọn giáo dân phản quốc, đích thực là
“tả đạo” với bao tu sĩ Thiên Chúa giáo, giáo dân lương thiện khác trên
thế giới. Hai phụ chính và bao quan chức, sĩ dân yêu nước chỉ “sát tả”
khi cố đạo, giáo dân có hành vi cướp nước, bán nước thực sự.
Hiện thực
máu lửa ở B́nh Định và khắp cả nước bấy giờ là có thật. Chính nhiều
người Pháp cũng viết rơ, tuy với sự thổi phồng sự thật, trong một mức độ
không ít, để kích động giáo dân ở Pháp và ở các nước Âu Mỹ, nhằm biện hộ
cho sự xâm lược, “bảo hộ” của chúng!
“Các người
chống Pháp nói rằng: “Những người Thiên Chúa
[giáo] phản bội Tổ quốc để làm lợi cho nước Pháp. Chúng ta chỉ ḥa b́nh
khi nào người Pháp không có sự ủng hộ trong nước…”” […]. “Việc đánh lấy
Thuận An, và buộc chấp nhận đô hộ làm cho ông phụ chính [Nguyễn Văn]
Tường tức giận tột độ; nhưng ông Tường âm thầm, cẩn thận đè nén sự tức
giận để dùng nó vào một dịp thuận lợi” (101).
“Bấy giờ
mới nổi cơn băo táp rất dữ dội quá sức; từ khi nước Nam có đạo chẳng hề
bao giờ bổn đạo phải cực khốn cực nạn bằng bấy giờ; v́ trước kia, khi
cấm đạo, chỉ có quan quân đi bắt bớ mà thôi, c̣n dân ngoại th́ chẳng lo
việc ấy, lại cũng thương kẻ bị bắt bớ. C̣n lần này quan và dân ngoại đều
đồng tâm hiệp lực mà quyết tận diệt kẻ có đạo” (102).
“… Các
quan chức không muốn dính líu vào, sợ có sự không may về sau [cách diễn
đạt của Delvaux!], nên để việc đó cho các sĩ phu đảm nhận, c̣n riêng họ
vẫn ở trong bóng tối.
Trong các
tỉnh, trong khi các sĩ phu chuẩn bị chiến đấu, th́ các vị quan lớn lo
trấn an các công chức của chính quyền bảo hộ cũng như các vị linh mục và
giáo dân. Khi mọi việc chuẩn bị đă
xong xuôi rồi, các sĩ phu tiến chiếm thành tŕ của các tỉnh, và các quan
tỉnh th́ nhanh tay giao nạp các thành tŕ ấy, sau một vài sự phản kháng
qua loa; và như thế là những cuộc
cắt cổ [!sic !] bắt đầu” (103)
.
Hết
tệp 4
(PHÂN
ĐOẠN 2)
– trọn
TRUYỆN KÍ THỨ 12 –
Khởi viết từ 07 giờ 41
sáng ngày
17.01.2003
(15.12 Nh. ngọ
HB.3)
Viết đến ḍng chữ
này vào lúc 17 giờ 07 phút,
ngày 24.01.2003
(22.12 Nh. ngọ. HB.3).
TRẦN XUÂN AN
(79) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 228.
(80) ĐNLT., bản dịch
Viện Sử học, tập 3, Nxb. Thuận Hoá, sđd., 1993, tr. 77 – 78. Như thông
lệ, những câu văn không có bộ phận chủ ngữ (hoặc chủ từ: subject) mà vị
từ (verb) của bộ phận vị ngữ (verb + object) là chuẩn, dụ, sai, tịch thu…
th́ bắt buộc phải hiểu ngầm chủ ngữ là vua, nhiếp chính, hoặc thái hậu,
tam cung (thuỳ liêm thính chính [:buông rèm xử lí chính sự] ở trường hợp
ngoại lệ). Nói một cách đơn giản, dưới chế độ phong kiến trung ương tập
quyền cao độ như nhà Nguyễn (và hầu như chế độ phong kiến tập quyền nào
cũng vậy), chỉ có vua, nhiếp chính, (hoặc ngoại lệ, thái hậu, tam cung)
mới có quyền chuẩn định, ban sắc dụ, sai phái, tịch thu (khâm sai, khâm
phái; tịch thu thi hành án với các viên đại quan…).
(81) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 233.
(82) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 229.
(83) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 229.
(84) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 229 – 231.
(85) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 231.
(86) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 232.
(87) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 233 – 234.
(88) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 234.
(89) CXL., Nxb.
Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 531 – 532.
(90) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 177.
(91) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 234.
(92) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 234 – 235.
(93) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 235.
(94) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 235.
(95) Dẫn theo: Phạm
Văn Sơn, Việt Nam cách mạng cận sử (VNCMCS.), Nxb. Khai Trí, Sài G̣n,
1963, tr. 41 – 42. Về cuốn sách này, cũng như các cuốn sách tham khảo
khác, tôi đă có dịp phê phán trong khi tiếp thu (theo tinh thần nghiên
cứu khoa học). Xem thêm: Nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế và Nguyễn Văn
Tường, bài tham luận của Nguyễn Hữu Thông và Nguyễn Quang Trung Tiến, kỉ
yếu Hội nghị Khoa học lịch sử, ĐHSP. Tp.HCM., 20.6.1996, tr. 105 – 107.
(96) Xem đoạn trích
bốn câu cuối trong VHN., Nxb. Thuận Hóa tái bản, 1995, sđd., tr. 83 –
84; CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 561; tư liệu sưu tầm của
nhà nghiên cứu Lê Quang Thái, nhà thơ Lương An… Xem: Trần Xuân An (biên
soạn), Ḱ Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ, vài nét về con
người, tâm hồn và tư tưởng, bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất
bản).
(97) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 236.
(98) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 236 – 237.
(99) Nguyễn Văn Mại,
Lô Giang tiểu sử (LGTS.), Nguyễn Huy Xước dịch, bản in ronéo, 1961, tr.
38; tư liệu của Lương An… Về cuốn LGTS. này, chúng tôi đă tiếp thu và đă
phê phán (một thao tác khoa học cần thiết trong việc tham khảo bất ḱ tư
liệu nào, cuốn sách nào); xin xem: Trần Xuân An, Nguyễn Văn Tường,
“những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê
b́nh sử học, sắp xuất bản (2002).
(100) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 237 – 239.
(101) NNBCĐH. [BAVH.,
1923], bài “Một trang sử tỉnh Quảng Trị, tháng 09.1885” của Jabouille,
phụ trách Tổ chức công vụ Pháp, công sứ Pháp tại Quảng Trị, Phan Xưng
dịch, Nguyễn Vy hiệu đính, tập X (1923), Nxb. TH., 2002, tr. 439.
(102) H. Ravier,
Compendium historicoe Ecclesiasticoe, dẫn theo GS. Trần Văn Giàu, “Hệ ư
thức phong kiến và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử” (tập I của
bộ sách SPTTTVN. TTK.XIX. ĐCTT.), Nxb. Tp.HCM., 1993, tr. 368, 370.
(103) NNBCĐH. [BAVH.,
1916], bài “Phái bộ Pháp ở Huế và những phái viên đầu tiên” của linh mục
Aldophe Delvaux, Đặng Như Tùng dịch, Phan Xưng, Bửu Ư, Đỗ Hữu Thạnh, Hà
Xuân Liêm hiệu đính, tập III (1916), Nxb. Thuận Hoá, 1997, tr. 78 – 79.
Chú thích xong
lúc 18 giờ kém 05 phút,
ngày 20.02.2003
(20.01 Quư mùi HB.3).
TRẦN
XUÂN AN
Hết
tệp 7
(PHÂN
ĐOẠN 3 TRUYỆN KÍ THỨ 12)
Xin xem
tiếp tệp 8
(phân
đoạn 4 truyện kí 12)