Tệp
8
– Tập IV
(phân
đoạn 4, truyện kí thứ 12)
TRẦN XUÂN AN
KINH ĐÔ QUẬT KHỞI
VÀ QUỐC KẾ CHIA
TÁCH – PHỐI HỢP TRIỀU CHÍNH
Truyện kí thứ mười hai
(phân
đoạn 4)
23
“Ư chỉ
Từ Dụ thái hoàng thái hậu, ra ơn chuẩn cho Tuy Lư huyện công Miên Trinh,
Hoằng Hoá hương công Miện Duyện, Hải Ninh ḱ ngoại hầu Miên Tằng và con
phế đế [Hiệp Hoà] là Ưng Hiệp, Ưng Bác, con của nguyên Gia Hưng vương (đă
chết bệnh) là Ưng Huy, Ưng Chân, Ưng Dũng, Ưng Linh, Ưng Suất, Ưng Vệ, (trừ
Ưng diễn bị bệnh chết), trước đă an trí ở các tỉnh: Tuy Lư ở Quảng Ngăi,
Hải Ninh ([ở] B́nh Định), Hoằng Hoá ([ở] Phú An [:Yên]); Ưng Hiệp, Bác
và Huy đều ở Quảng Trị, Cam Lộ; Chân, Dũng ở Nghệ An; Linh, Suất, Vệ ở
Hà Tĩnh; nay đều tha về kinh [đô] ở. Nhưng do ba công ấy xem xét con
cháu theo đi an trí, hạnh kiểm thuần cẩn ấy, có một, hai người cùng về,
cùng nhau sáng chiều ăn ở với nhau. Dư [:số c̣n lại] đều vẫn như cũ. (Đến
đời Đồng Khánh năm đầu, các công tử cũng đều chuẩn cho về, các vương
công cũng đều lục tục [được] khai phục và truy phục)” (104) .
+++
“Thị độc ở quê là Đặng Hữu Phổ v́ có tội bị chém đem rao:
[Đặng] Hữu
Phổ, người ở Đông giáp, Bác Vọng, con pḥ mă Đặng [Huy] Cát (ấm thụ hàm
ấy). Khi ấy phủ Thừa Thiên sức huyện Quảng Điền đ̣i bắt lính. [Đặng Huy]
Cát cùng [Đặng] Hữu Bác ngăn gạt đi, bắt giam huyện phái. [Đặng] Hữu Phổ
lại đem dân quân hơn ba mươi (30) tên đến huyện nha, buông thả tù phạm,
nă bắt viên bang biện huyện ấy, đem về đ́nh [của] giáp ấy canh giam, cầm
súng doạ bắn.
Việc ấy đă
phái cho nă xét.
[Từ Dũ thái
hoàng thái hậu, Thọ Xuân vương Miên Định]
chuẩn cho [Đặng]
Hữu Bác [Phổ?(*)], chiểu lệ côn quang, [phải bị] xử trảm; [Đặng Hữu]
Cát v́ cha con cùng can [án],
[được] giảm đẳng [:giảm mức] xuống tội trảm giam hậu [:chém, nhưng giam
chờ xét lại]; bọn hiệp quản Lê Văn Ngăi, ấm sinh Nguyễn Tán, cộng năm
người, là ṭng phạm, đều kết án đi đày” (105)
.
24
“[Đầu trung tuần tháng bảy nguyệt lịch năm Ất dậu,] phái viên
Pháp bắt thượng thư Bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần là Phạm Thận Duật
về Sở Thương bạc, rồi ép xuống tàu thuỷ, chạy đi Gia Định:
([Phạm]
Thận Duật nguyên theo [xa] giá vua, rồi khi [ông] về đến Quảng Trị, bị
phái viên của Pháp bắt được)” (106)
.
Khi thượng
thư Bộ Hộ Phạm Thận Duật bị bọn Pháp đẩy xuống chiếc tàu thuỷ nhỏ để đưa
xuống chiếc thuyền buôn lớn hơn, tên tàu là Calais, chở ông vào Gia Định,
phụ chính Nguyễn Văn Tường lại một lần nữa h́nh dung ra cảnh ấy vào một
ngày không c̣n lâu nữa, và người bị lưu đày lại là chính ông. Phụ chính
Nguyễn Văn Tường lại một lần nữa suưt phải rơi nước mắt thương cảm cho
đồng sự, đồng chí, may là c̣n nén ḷng để giữ được vẻ b́nh tĩnh, điềm
đạm trước cảnh tượng hôm nay, một ngày trung tuần tháng bảy nguyệt lịch.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường c̣n nhớ, ngày mười tám tháng sáu
(29.07.1885), Phạm Thận Duật bị bắt “khi [ông] về đến Quảng Trị”
(106) . Hôm Pháp giải ông vào Nha Thương bạc, Phạm Thận Duật vốn đă
ốm yếu lại càng ốm yếu. Tên Schmitz hỏi cung Phạm Thận Duật về
hành tŕnh phụ chính Tôn Thất Thuyết đă đi và nguyên nhân nào ông rời
khỏi đoàn xa giá để về Quảng Trị, ghé vào nhà cựu thượng thư Trần Đ́nh
Túc ở huyện Gio Linh (Quảng Trị). Sự thật không cần nói cũng biết phụ
chính Tôn Thất Thuyết và đoàn ngự giá chỉ quanh quẩn ở các sơn pḥng,
thượng đạo Quảng Trị, Quảng B́nh. Số lượng người cứ hao ṃn dần v́ sốt
rét rừng… Và Phạm Thận Duật bị bệnh tiểu đường, không thể tiếp tục cuộc
chạy trốn khỏi sự săn đuổi của Pháp và cả quan quân triều đ́nh muốn đón
rước vua Hàm Nghi về Huế.
Khi được gặp phụ chính Nguyễn Văn Tường, thượng thư Phạm Thận Duật
có một thoáng vui mừng trong sự mệt mỏi.
Không c̣n cách nào khác để tránh sự theo dơi của bọn Pháp, các
cuộc chuyện tṛ giữa hai người tù đại thần vẫn phải diễn ra trong những
lần “đi dạo” ở khuôn viên sân vườn Nha Thương bạc. Phụ chính Nguyễn Văn
Tường nói một cách thân t́nh:
- Quan Bộ Hộ sao lại về Gio Linh làm ǵ? Đă như thế, hăy sang lưu
trú tại Trung Hoa luôn. Bệnh tật vậy, ở rừng làm sao có thuốc thang…
Thượng thư Bộ Hộ Phạm Thận Duật mỉm cười héo hắt:
- Không đi đường thượng đạo nổi, nên tôi xuôi sông ở Quảng Trị…
Tôi định ra đường biển, qua biển Bắc (Trung Hoa). Dẫu hiệp ước Thiên Tân
Pháp – Trung đă kí, nhưng thế nào mà chẳng c̣n một nơi cho người bệnh
như tôi tá túc. Nếu đi đường rừng, hẳn an toàn hơn, nhưng không thể đi
nổi…
Phụ chính Nguyễn Văn Tường thở dài:
- T́nh h́nh triều đ́nh bây giờ rất căng thẳng và đau đớn hơn bao
giờ hết. Nhưng phong trào Cần vương lên mạnh, rất khí thế.
- Nhưng rồi cũng tuyệt vọng thôi. – Thượng thư Bộ Hộ Phạm Thận
Duật nói –. Ở ngoài Bắc, hầu như Nguyễn Hữu Độ đă nịnh hót Pháp mà xiết
chặt từ tỉnh đến làng xă. Chỉ có một số nơi hưởng ứng Lệnh dụ Thiên hạ
Cần vương nhưng rất lẻ tẻ…
- Dẫu sao cũng là những nỗ lực đáng quư. Nhưng t́nh trạng lúc này
tranh tối tranh sáng rất đau ḷng, như vụ con trai của pḥ mă Đặng Huy
Cát và công chúa Tĩnh Hoà (nữ sĩ Huệ Phổ, con gái tiên đế Minh Mạng).
- Vụ Đặng Hữu Phổ phải không?
- Đúng, chính chú ruột của Phổ là Đặng Huy Xán đă bắt cả Phổ và
pḥ mă Đặng Huy Cát nộp cho giặc Pháp (107). Nghe đâu bọn Pháp sẽ xử
chém Đặng Hữu Phổ vào ngày áp cuối tháng tám dương lịch (29.08.1885)
ngay tại bến đ̣ làng Bác Vọng, huyện Hương Điền.
- Đúng là “nồi da xáo thịt”, trách ai được!
- Chính Từ Dũ thái hoàng thái hậu và nhiếp chính Thọ Xuân vương
Miên Định đă cắn răng, rơi nước mắt phê chuẩn! T́nh cảnh bất lực và đau
đớn của triều đ́nh hiện nay là thế.
Cả hai đại thần đều im lặng thở dài.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường cố giữ vẻ điềm tĩnh của một người không
mất nghị lực:
- Nhưng tôi quyết tiếp tục đấu tranh, cho đến lúc nào c̣n đấu
tranh được. Như vụ Nguyễn Hữu Độ chẳng hạn. Ngoài những nhiệm vụ lớn,
tôi cũng không xem nhẹ việc đấu tranh chống những tên cơ hội, xu thời,
“xem gió chuyển buồm” như Nguyễn Hữu Độ. Nhưng nói cho đúng, đấu tranh
chống lại việc giao quyền lực kinh lược sứ tại Bắc Ḱ cho Nguyễn Hữu Độ,
thực chất là đấu tranh để khỏi mất hẳn Bắc Ḱ vào tay giặc Pháp. Ngày
mười chín tháng sáu nguyệt lịch Ất dậu (30.07.1885) và mới cách đây mấy
hôm, khoảng ngày hai mươi lăm tháng sáu (05.08.1885), tôi đă cho Nguyễn
Hữu Độ và bọn De Courcy, De Champeaux biết thế nào là phải phép!
Có Phạm Thận Duật tại nhà tù Nha Thương bạc này, phụ chính Nguyễn
Văn Tường cũng thật sự cảm thấy đỡ buồn, v́ có một đại thần đă từng
chung nhau nhiều công việc để chuyện tṛ.
Nhưng bọn Pháp không thể không chở thượng thư Phạm Thận Duật vào
khám lớn tại Sài G̣n để khai thác thêm những thông tin về vua Hàm Nghi
và phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết cùng kế hoạch của Viện Cơ mật
trước ngày kinh đô quật khởi và thất thủ (05.07.1885).
Mười một ngày sau, mùng một tháng bảy (10.08.1885), thượng thư
Phạm Thận Duật bị bọn Pháp ép xuống tàu buôn Calais. Phụ chính Nguyễn
Văn Tường biết bọn Pháp chở dần từng người vào nhà lao của chúng để khảo
cung. Nghe đâu, đến ngày hai mươi (29.08.1885), thượng thư họ Phạm bị kí
giam vào khám đường La Grandière (*) tại Gia Định. Liệu thượng thư Phạm
Thận Duật có biết im lặng hoặc biết nói sai sự thật?
Có một điều khác với cựu đề đốc Tôn Thất Đính là Phạm Thận Duật
không bị kết án ǵ và cũng không có cáo trạng nào cả! Người ta không
hiểu v́ sao như vậy…
25
“… Tháng
trước [tức là tháng sáu nguyệt lịch, Ất dậu], thân hào tỉnh ấy cũng nghe
hành tại có Dụ Cần vương, mưu dấy quân, bèn họp đem những lính kinh tan
về và lính dơng ở dân, [đi] đốt phá nhà [thờ] đạo [Thiên Chúa], d́m giết
giáo dân, rồi đem binh dân ước hơn vạn người, [đi] quanh tới tỉnh thành,
yêu cầu cấp cho khí giới (đă [ép] bách giám đốc thần là Lê Thận lại cho
về dinh), ngụy đặt những danh mục đề đốc, tham tán, lại đi khắp trong
hạt giết dân giáo, mộ lính dơng, nói phao lên tiến đánh quân Pháp ở cửa
Thi Nại.
Khâm sứ
Pháp là Tham Bô [De Champeaux] bàn phái: Cho khâm sai đă [nhận] mẹânh [lệnh],
cho Binh bộ tham tri Hoàng Hữu Thường sung phái ngồi tầu thủy Pháp chạy
đi.
Lúc đó v́
đường ngăn trở, phải trở về.
Khâm sứ
Pháp [De Champeaux] lại bàn tục phái [:phái tiếp]: Đổi sai thị lang Bộ
Lễ là Ngô Trọng Tố (lănh bố chính sứ tỉnh ấy về trước, t́nh thế đă am
hiểu).
Rồi v́
đường dịch lộ Quảng Ngăi không đi được, [De Champeaux] lại [bàn]: Sai
lănh bố chánh sứ Quảng Nam là Bùi Tiến Tiên (nhưng lấy án sát Hà Thúc
Quán quyền sung bố chánh sứ Quảng Nam, [và] Hồng lô tự khanh về nuôi cha
mẹ, là Nguyễn Duy Hiệu sung làm án sát sứ); thự thống chế Ngô Tất Ninh
sung chánh, phó khâm sai, [cai] quản [và] đem quan binh hai tỉnh Nam –
Ngăi bảy trăm (700) tên đi ngay đến, họp làm.
[Tất cả]
đều nhân đường ngăn trở chưa đi được.
Đến đây
thự tổng đốc là Lê Thận tâu nói: “Đă họp văn thân quan viên trong hạt ấy
hiểu dụ. Bọn ấy đă tản về, xin nên
rộng tha, cho yên sự phản trắc…” […]
“… […]
Nếu c̣n giữ thói mê, do các quan đô thống [Pháp De Courcy], khâm sai [của
triều đ́nh?] đem đại đội quan binh, không kể lương hay giáo, cũng phải
đau ḷng đánh dẹp…””
(108)
.
26
“Thống chế thự đô thống Tả quân là Đinh Tử Lượng chết (109):
[Đinh] Tử
Lượng trước đến hành tại Quảng Trị. Từ khi xe vua đi Sơn pḥng [Tân Sở],
[ông] vẫn lưu lại ở tỉnh ấy, vâng lệnh khâm cấp [:lệnh do thái hậu,
nhiếp chính ban ra] để đi về miền Bắc đón rước xe vua [Hàm Nghi]. [Ông]
cùng [tham tri Bộ Binh] Trương Văn Đễ cùng đi. Đến cửa quan Quảng B́nh,
[ông] ốm chết, [thái hậu, nhiếp chính] chuẩn cho chiểu hàm cấp tuất.
([Tham
tri Bộ Binh Trương] Văn Đễ sau về [tới] tỉnh Quảng Trị ốm, [rồi] mất.
Nguyên hàm thự tham tri đă chuẩn cho truy trao, cấp tuất)” (109) .
Tham tri
Trương Văn Đễ cũng như thự đô thống Đinh Tử Lượng, một người nhận lệnh
bí mật lẻn về sau khi lên Tân Sở (110), một người vẫn đóng quân tại
thành Quảng Trị, đều để cản hậu, làm nút chặn sự truy kích của giặc Pháp.
Sau đó, cả hai vị quan tướng này lại nhận lệnh t́m vua Hàm Nghi để rước
về kinh đô. Rất nhiều sĩ dân bấy giờ không thể không hiểu quốc kế chia
tách – phối hợp triều chính với luật cổ điển “một nước không thể hai
vua” và tính giai đoạn của nhiệm vụ họ được giao phó. Nhưng thật
ḷng vẫn có người ngờ rằng cả hai vị không phải đơn giản là ốm bệnh mà
chết! Cho dù quả thật do bệnh ốm mà chết, bọn Pháp vẫn truy tội cố tham
tri Trương Văn Đễ ngay trong tháng sau…
27
“Ư chỉ
Ba Cung [thái hoàng thái hậu Từ Dũ, hoàng thái hậu Vũ thị (trung phi),
hoàng thái phi Nguyễn Văn thị (học phi)], lại xuống dụ cho thân hào,
giám linh mục ở các địa phương trong [kinh], ngoài [tỉnh] và các dân
lương, giáo: […] (111)
“… TỪ ĐIỀU
ƯỚC TÁI ĐỊNH [PATENÔTRE, 1884] ĐĂ ĐƯỢC PHÂN MINH, KHIẾN NƯỚC PHÁP TRƯỚC
TỰ BẠI H̉A GÂY BIẾN, TH̀ PHÀM AI Ở ĐẤT VUA, CŨNG ĐỀU THÙ GHÉT
[GIẶC PHÁP],
AI BẢO LÀ KHÔNG NÊN. KHÔNG G̀ BẰNG CUỘC NGHĨA CỬ ĐÊM HAI MƯƠI HAI THÁNG
NĂM [22 THÁNG 5 ẤT DẬU (05.07.1885)] NĂM NAY…” (*) (111) .
Cuộc kinh
đô quật khởi được Tam Cung đánh giá cao như một loé sáng bi tráng trong
các bản dụ! Bà Nguyễn Nhược thị Bích và Tam Cung vốn khá chủ “hoà”, vẫn
viết và tuyên cáo được những ḍng chữ bi tráng tuyệt vời chính xác, măi
măi loé sáng đến thiên thu như thế! Phải chăng do tác động bừng bừng khí
thế v́ quốc thể và danh dự một triều đại trong cuộc kinh đô quật khởi,
mặc dù thất thủ một cách đau thương? Nếu đúng như thông lệ, các bản dụ
đều có sự tham gia ư kiến của Viện Cơ mật, th́ rơ là, có sự nhập nhằng
trong sự chỉ đạo, vốn phản ánh quan điểm không thể thống nhất, thậm chí
phủ định nhau trong các thành viên Viện Cơ mật. Ngoài ra, các bản dụ c̣n
thể hiện sự nhập nhằng, lẫn xanh với đỏ, lẫn nếp với đậu, trong nhận
định t́nh h́nh như thế (bởi lúc này, oái oăm thay, De Champeaux lại là
thượng thư Bộ Binh kiêm Cơ mật viện đại thần của triều Nguyễn!).
Và cũng là
ánh sáng độc lập, tự chủ bừng lên, với tư thế đă khiến kẻ thù đă phải sợ
hăi, khi bản dụ xử lí minh bạch cuộc chiến tranh lương – giáo, thực chất
là trấn áp bọn “tả đạo” cướp chính quyền, được viết và tuyên cáo (112):
“… Đến đây
lại lấy hai bên b́nh, giáo c̣n chưa yên, [Ba Cung: thái hoàng thái hậu
Từ Dũ, hoàng thái hậu Vũ thị (trung phi), hoàng thái phi Nguyễn Văn thị
(học phi)] lại dụ thêm rằng:
“B́nh, giáo
dù có khác lỗi, nhưng đều là con đỏ của Triều đ́nh, không nên chia rẽ
khác nhau. Gần đây, có nhiều việc giống nhau và khác nhau. Người làm dân
lương ghét v́ không đồng đạo [không cùng đạo thờ kính anh hùng dân tộc,
thờ kính tổ tiên lâu đời của người Việt Nam] mà trong ḷng sinh nóng
lạnh. Người làm dân giáo, cậy thế [thực dân Pháp, cố đạo Pháp] lấn át,
mà t́nh ruột thịt đem đặt ra ngoài da. Hai đằng ghét nhau th́ hai đằng
hẳn thù nhau, th́ thế cố nhiên như thế. Nhưng xét kĩ ra th́ đầu đuôi
cũng tự người đầu mục không khéo xử trí cho nên nỗi ấy.
Ôi! Nhà
nước dựng nên quan tư mục, cốt để trị dân. Làm sư đạo [giám mục, linh
mục] của dân một địa phương, phải nên giữ ḷng minh chính. Hoặc có kẻ bị
ghét quá đáng, một khi kiện cáo, gia thêm nạt nộ mà dân giáo uất ức
không bày tỏ được. Hoặc sợ hơi nóng bốc lên, gặp có sự lăng ngược, một
chiều nín náu, mà ẩn t́nh của người dân lương không bày được. Làm giám
linh mục ấy, trách nhiệm giảng giáo, phải nên giữ ḷng công b́nh. B́nh
dân [:dân lương] hoặc có kẻ trốn tránh dao thuế, mà chạy vào nhà [Thiên
Chúa] giáo ấy, hoặc có kẻ tranh chiếm ruộng đất mà nhờ thế [Thiên Chúa
giáo] ấy, [th́] đều bao dung cả. Đến nỗi, có kẻ cậy thế mà bức bách
người, hoặc có kẻ khinh thường pháp luật mà không đoái, đều không phải
là sở ư của Thiên Chúa dạy dân. Kẻ b́nh dân kia sao không nghĩ cùng ở
đất vua, đều là dân vua, giáo dân b́nh nhật binh đao thuế khóa cùng với
lương dân cùng thế. Gián hoặc bức hiếp b́nh dân v́ lẽ ǵ, sao không tới
địa phương quan mà tố cáo, mà dám hại nhau, ngược đăi nhau ngang trái
như thế, đối với pháp luật thực khó dung. Giáo dân ấy sao chẳng nghĩ
sinh ở đời này, tam giáo cửu lưu, đều có đạo cả, nào ai có cấm đâu mà
bèn mượn thế lấn người, đến nỗi chứa bao thù oán, ḷng sao nỡ thế. Ôi!
Giáo đă không dung được lương, th́ lương cũng không cam tâm chịu thua
giáo, phải đến tranh nhau, khiến cho trong chốn làng xóm, không lấy ơn
lễ ở với nhau mà lại trông nhau như thù nghịch. Giết người, đốt nhà, tội
có nhỏ đâu, mà lại đem thêm thử pháp luật như việc gần đây xảy ra ở B́nh
Định và Quảng Ngăi, rất là quái gở, đáng giận, cần nên tỏ rơ điển h́nh
để răn bảo. Nhưng nghĩ bọn ngươi một khi giận dỗi, dám làm điều trái đạo,
rồi hay cải hối được. Nếu chẳng uốn nắn cầu toàn, hẳn đến ngọc đá
đều cháy. Trong ḷng ta thực không nỡ thế, [nên] đă chuẩn gia ơn cho
miễn sự tra xét một lần.
Từ nay nên
hậu t́nh ḥa hảo, không nên ghen ghét lẫn nhau. Làm người coi địa phương
phải ngay sáng để xướng xuất, mà sự oan uổng cần được thân lí. Làm giám
linh mục phải công bằng để dạy dỗ, mà sự ghen ghét phải bỏ đi. [Phải như
thế] khiến cho cùng thuận, cùng giúp, cùng phù tŕ nhau, hai bên hoà
thuận th́ c̣n ǵ vui bằng. Nếu không khéo khu xử, đều tự thù hằn nhau,
th́ đều có tội để xử. Địa phương quan, [th́ triều đ́nh] chiếu theo lệ
nịch chức nghiêm trị. Giám linh mục, [th́ triều đ́nh] tư sang nước Pháp
nghĩ xử.
Đều nên
kính cẩn nhé! Thông lục đều tuân”.…” (112)
.
Về cuộc
chiến tranh lương – giáo, nhất là tại B́nh Định, giữa lương dân bảo vệ
chính quyền với “tả đạo” cướp chính quyền, các cố đạo Puginier và Van
Camelbeck không tiếc lời nguyền rủa phụ chính Nguyễn Văn Tường, người đă
cam kết với chúng thế này nhưng lại ra mật lệnh thế kia:
- Nguyễn
Văn Tường ấy, lăo già quỷ quyệt ấy là “KẺ THÙ LỚN NHẤT CỦA NƯỚC PHÁP”
(113) !
- Lăo phụ
chính Nguyễn Văn Tường ư? “Nguyễn Văn Tường là một người An
Nam
điêu toa nhất mà người ta đă gặp”
(113) !
Về sau, tên
cố đạo Aldophe Delvaux làm ra vẻ khách quan:
“Tướng De
Courcy lấy tin tức [ở] ông Tường, ông này đều bảo đảm rằng sự trật tự an
ninh đang h́nh thành khắp nơi. [Trong
khi đó], các tin tức báo động dồn dập từ miền nam [tả ḱ] được gửi
đến. Tướng Prudhomme muốn biết tường tận t́nh h́nh thật sự các việc, đă
được ông De Courcy chấp thuận và cho phép đến các nơi ấy. Ông đi cùng
ông De Champeaux trên chiếc tàu “Le Lutin” và đến Quy Nhơn ngày 18.8, và
ông đă mục kích toàn là máu lửa” [!sic !] (114) .
Lời cáo
buộc và nguyền rủa ấy của những kẻ không phải là tu sĩ chân chính, mà là
tu sĩ mang bản chất thực dân thâm ác và cuồng bạo, khiến người ta không
tin vào sự thổi phồng quá đáng về hậu quả chiến tranh lương – giáo,
nhưng vẫn thấy rơ sự thù hận của chúng đối với phụ chính Nguyễn Văn
Tường.
Nhưng cái
chính khiến các tên thực dân Pháp âu lo là mối liên lạc thường xuyên
giữa hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết trong kế sách
chia tách – phối hợp triều chính:
“Một sự
mâu thuẫn sâu xa chia rẽ tướng De Courcy và ông De Champeaux, nhất là
đối với vấn đề ông phụ chánh Tường. Vị tướng th́ quả quyết là ông Tường
luôn luôn liên lạc với ông Thuyết và [trước đó] lại nhúng tay vào
mọi cuộc âm mưu lật đổ, và [v́ thế,] đem [ông Tường] xuống tàu, đày
đi Côn Đảo ngày 06.09 [1885]… […] lại chuyển đến
Tahiti […]. Ông
De Champeaux lại cho rằng ảnh hưởng của ông Tường là rất lớn… […]”
(115)
.
28
[TƯỚNG
GIẶC DE COURCY BẮT GIAM, KẾT ÁN, LƯU ĐÀY PHỤ CHÍNH NGUYỄN VĂN TƯỜNG; VÀ
KHÂM SỨ GIẶC DE CHAMPEAUX CÁO THỊ RỘNG KHẮP VỀ VỤ VIỆC:]
“ĐÔ THỐNG
ĐẠI PHÁP LÀ CÔ RA XY [DE COURCY] BẮT THÁI PHÓ, CẦN CHÁNH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ,
LĂNH LẠI BỘ THƯỢNG THƯ, KIÊM SUNG CƠ MẬT VIỆN ĐẠI THẦN, K̀ VĨ QUẬN CÔNG,
LÀ NGUYỄN VĂN TƯỜNG XUỐNG TÀU THỦY CHẠY ĐI GIA ĐỊNH (116):
CỨ THEO LỜI
CÁO THỊ CỦA KHÂM SỨ THAM BÔ [DE CHAMPEAUX] NÓI: “[VIÊN QUAN HUẤN ĐẠO,
TRI HUYỆN, TÁN LÍ, THƯỢNG THƯ NGUYỄN] VĂN TƯỜNG TỪNG ĐĂ
CHỐNG CỰ NƯỚC [NƯỚC PHÁP] ẤY THỰC ĐĂ NHIỀU NĂM. TỪ KHI CÙNG TÔN THẤT
THUYẾT SUNG LÀM PHỤ CHÁNH, [NGUYỄN VĂN TƯỜNG] CHỈN [:VỐN] LẠI ĐỔNG SUẤT
QUAN QUÂN NỔI DẬY CÔNG KÍCH QUAN BINH NƯỚC [NƯỚC PHÁP] ẤY; VÀ [PHỤ CHÍNH
NGUYỄN] VĂN TƯỜNG DO ĐÔ THỐNG ẤY XIN [CHÍNH PHỦ PHÁP] CHO HAI THÁNG [NHẰM
ĐỂ] LO LIỆU VIỆC NƯỚC CÙNG BẮC K̀ CÙNG ĐƯỢC LẶNG YÊN VÔ SỰ; [K̀ THỰC]
ĐẾN NGÀY HAI MƯƠI BẢY (27) THÁNG [BẢY] ẤY [05.09.1885] HẾT HẠN, MÀ CÁC
TỈNH TẢ K̀ VỀ PHÍA NAM, CÓ NHIỀU NƠI NỔI QUÂN CHÉM GIẾT DÂN GIÁO.
ĐẾN ĐÂY ĐÔ
THỐNG [DE COURCY] ẤY ĐỊNH ÁN, ƯNG [:NÊN / PHẢI] KẾT [PHỤ CHÍNH NGUYỄN
VĂN TƯỜNG] TỘI LƯU”.
HÔM ẤY, [BỌN PHÁP] CHỞ ĐEM [PHỤ CHÍNH NGUYỄN] VĂN TƯỜNG ĐẾN CỬA
BIỂN THUẬN AN. BUỔI CHIỀU NGUYỄN HỮU ĐỘ, PHAN Đ̀NH B̀NH ĐI TÀU THỦY PHÁP
CŨNG VỀ ĐẾN CỬA BIỂN ẤY.
(THUYỀN PHÁP CHỞ [PHỤ CHÍNH NGUYỄN] VĂN TƯỜNG ĐẾN GIA ĐỊNH, SAU
CHỞ GỒM CẢ [THƯỢNG THƯ BỘ HỘ] PHẠM THẬN DUẬT, [CỰU ĐỀ ĐỐC] LÊ ĐÍNH [:TÔN
THẤT ĐÍNH] ĐEM VỀ NƯỚC ẤY [THUỘC ĐỊA TAHITI CỦA PHÁP]. [PHẠM] THẬN DUẬT
TRONG KHI ĐI ĐƯỜNG, BỊ ỐM, CHẾT Ở TRONG TẦU, [PHẢI BỊ] BUÔNG XÁC XUỐNG
BIỂN)” (*) (116) .
Ngay sau khi phụ chính Nguyễn Văn Tường bị Pháp bắt đưa xuống tàu
thuỷ, sáng hai mươi tám tháng bảy Ất dậu (06.09.1885), tại Quảng Trị,
các sĩ phu Văn thân đă lănh đạo nhân dân, phát động một cuộc “b́nh Tây
sát tả”
thật dữ dội. Những tên cố đạo Pháp, thực chất là gián điệp, như Mathey
(117) (tên tiếng Việt là Thiện) chẳng hạn, đă bị lùng bắt, nhưng vẫn có
tên thoát được. Sĩ dân đă đập tan âm mưu cướp chính quyền của bọn Tây
“tả đạo” đó, và cũng để phục hận cho thái phó phụ chính Nguyễn Văn Tường.
“Một vài nhà truyền giáo trong tỉnh và một vài ông quan cho biết rằng
năm 1885 [Ất dậu], nhất là vào tháng chín (9), tỉnh Quảng Trị đă là hiện
trường của một cuộc tiêu diệt có phương pháp, được tiên liệu, có tổ chức,
để loại trừ các người theo đạo Chúa, gây ra bởi đảng của Văn thân, có sự
ủng hộ tinh thần của ít nhất là hai quan phụ chính…” (118) .
Chính tên Mathey, cố đạo gián điệp người Pháp này, sau đó, đă dẫn
đường cho bọn Pháp viễn chinh mang súng đạn lên đánh phá Tân Sở và đốt
cháy các làng Bảng Sơn, Mai Đàn gần đó (117)!
29
“Đô thống Pháp là Cô Ra Xi [De Courcy], khâm sứ Tham Bô [De Champeaux]
đưa thư nói giao trả thành tŕ, yêu cầu rước Ba Cung đều [từ Khiêm lăng]
trở về cung điện [trong hoàng thành]; quan lại các nha ở sáu bộ vào
thành đóng ở, làm việc như cũ; phàm các [vật] hạng ở trong kinh thành
đều giao trả cả. Và [hai tên đô thống Pháp là Cô Ra Xi [De Courcy], khâm
sứ Tham Bô [De Champeaux]] cáo thị cho trong kingh [đô], ngoài tỉnh rằng:
“Trước đây,
Nguyễn Văn Tường đă giảng hoà. Đô thống Pháp [De Courcy] đă đánh điện về
triều Pháp biết. Gần đây, mới điện [qua,] phục lại ngôi hoàng đế nước
Đại Nam như trước, Nhà nước Đại Nam cũng y như cũ. Cho nên, tới đây mới
nói rơ sự giao trả thành tŕ” (119)…
“Mậu th́n (tức
ngày mồng bốn tháng [tám] [12.09. 1885] này),
chỉ dụ chuẩn rước Kiên Giang quận công [Ưng Kỹ] vào nối ngôi hoàng đế”
(120).
“… Lấy ngày
mồng sáu [14.09.1885] kính rước vào thành, ngày mười một [19.09. 1885]
làm lễ tấn quang [vua bù nh́n, ngụy vương đầu tiên: Đồng Khánh]…” (120)
.
Ở phiến
tấu về lễ đăng quang, cái tên tiếng Pháp của thượng thư Bộ Binh sung Cơ
mật viện đại thần Đại Nam là De Champeaux đứng đầu danh sách triều thần,
trên cả nhiếp chính Thọ Xuân vương Miên Định và hai tên đại thần tay sai
Nguyễn Hữu Độ, Phan Đ́nh B́nh, đă nói lên thực trạng bi thảm của triều
đ́nh nhà Nguyễn!
Chính triều
nhà Nguyễn hầu như hoàn toàn cáo chung từ đấy. Đồng Khánh là tên vua
khởi đầu cho giai đoạn ngụy triều ô nhục.
30
Sau hai
tháng vùng quẫy trong những sợi dây càng ngày càng thít chặt của thực
dân Pháp, triều đ́nh nhà Nguyễn đă hoàn toàn chịu trói.
Quốc kế
chia tách – phối hợp triều chính không thể thực hiện được một khi triều
đ́nh vắng bóng những đại thần như phụ chính Nguyễn Văn Tường, thậm chí
c̣n bị phản tác dụng một cách đau ḷng nữa là đằng khác (một nước lại có
hai vua, huynh đệ tương tàn!).
Thế là
triều đ́nh hoàn toàn mất vào tay giặc Pháp, kể từ ngày hai mươi bảy
tháng bảy (05.09.1885), ngày phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường bị giặc
Pháp bắt xuống tàu thuỷ. Chuyến tàu lưu đày hôm ấy có lộ tŕnh là chở
ông vào Côn Đảo, sau khi ghé Gia Định để chở thượng thư Phạm Thận Duật
và cựu đề đốc Tôn Thất Đính!
Khi tàu thuỷ cập bến Thủ Ngữ tại Sài G̣n, phụ chính Nguyễn Văn
Tường vẫn không muốn nguôi quên cuộc kinh đô quật khởi bi tráng, những
tên trư tử người Pháp lao đầu vào chỗ chết và vị vua trẻ Hàm Nghi ông đă
hết ḷng vun xới, phù tá, đang trên các nẻo đường thượng đạo, sơn pḥng.
Ông cảm khái đọc hai câu song thất:
“Tây trư tựu trở
b́ do xích
Nam giáng li chi
quả vị hoàng” (121)
Lợn Tây lao thớt,
da nên trụi
Măng Việt rời
cành, trái chửa hườm (121)
Tuy vậy,
phụ chính Nguyễn Văn Tường vẫn thấy rơ, cảm nhận rơ Đất nước đang bừng
sôi một khí thế bi tráng của phong trào Cần vương, một phong trào bùng
dậy như nước vỡ bờ bởi “Lệnh dụ Thiên hạ Cần vương” và bởi sức mạnh
quật khởi hoàn toàn tự giác của nhân dân Đại Nam ta.
31
Hai tháng trước, vào ngày rằm tháng năm Ất dậu, ḱ thi đ́nh đă
được tổ chức để tuyển chọn nhân tài cho Đất nước. Mười ba sĩ tử đạt
trúng cách và thứ trúng cách được dự ḱ điện thí này. Trong ḱ thi ấy,
chàng trai trẻ mười tám tuổi ta, con trai của Nguyễn Thượng Phiên, nhà
ngoại giao đă từng đi vận động các nước châu Á ủng hộ nước ta chống Pháp
và đă có thời gian lưu trú tại Quảng Châu (Trung Hoa), là Nguyễn Thượng
Hiền. Ông nổi bật lên một cách xuất sắc, bên cạnh một chàng trai khác,
đó là Nguyễn Văn Mại. Hai người thanh niên này, dẫu về sau một theo
khuynh hướng chủ chiến, một ngă dần rồi ngă hẳn theo phía chủ “hoà”, với
nhăn quan và cái dũng của ng̣i bút khác nhau, đều đă thi xong, quyển
được chấm xong. Nhưng kết quả chưa kịp truyền lô, cuộc kinh đô quật khởi
đă bùng nổ.
Nguyễn Văn
Mại, một viên quan chủ “hoà” về sau, nhưng lúc này đă ghi nhớ giúp phụ
chính Nguyễn Văn Tường hai câu song thất: “Tây trư tựu trở b́ do
xích, Nam giáng li chi quả vị hoàng” . Nguyễn Thượng Hiền lại da
diết hơn với bài thơ xót xa đến nhức nhối về cảnh Đất nước hoàn toàn mất
hẳn vào tay giặc Pháp sau hai tháng vùng quẫy, giẫy giụa đầy bi tráng
của triều đ́nh tại Huế. Nguyễn Thượng Hiền suy ngẫm về bối cảnh của Đất
nước, về ba đại thần Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật, Tôn Thất Thuyết,
và cả gia đ́nh vị phụ chính Tôn Thất này, trong đó có cả cựu đề đốc Tôn
Thất Đính, người đă theo con trai lên rừng núi, bị giặc bắt được và bị
chúng kết án là “cư suất giúp tiễu [trừ giặc Pháp và “tả đạo”]” (93)
. Bài thơ của Nguyễn Thượng Hiền thê thiết đến đứt ruột nhưng vẫn ấm
lửa bi hùng và thơm ngát hương sen, trung trinh “tơ ḷng” không ĺa
“ngó ư” .
Một hôm vào
khoảng trung tuần tháng tám Ất dậu (1885), Nguyễn Văn Mại, thủ khoa ḱ
thi hương năm ngoái (1884), có gặp Nguyễn Thượng Hiền. Mại chỉ dám khe
khẽ tâm sự:
- Hiền này,
ḿnh có được đọc bài thơ “Huyền Vũ lâu tiền măn địa sương” của
anh, thấy sợ giùm anh thật! Bọn Tây hay “tả đạo” nó chộp được th́ bọn
chúng lôi anh ra pháp trường Bắc Dă ngoài An Hoà ngay!
- Vậy chứ
anh cũng đă theo “Lệnh dụ Thiên hạ Cần vương” ra Quảng Trị… –
Nguyễn Thượng Hiền đáp –.
- Ḿnh buồn cho ḿnh quá, muốn theo pḥ vua Hàm Nghi kháng chiến,
nhưng thấy tuyệt vọng quá, đành quay về!
Nguyễn
Thượng Hiền muốn trào nước mắt, anh nghiến răng, bậm môi lại. Một lúc
Nguyễn Thượng Hiền mới nói được:
- Chiến
không được, thủ không được, hoà không được, ḿnh cũng đành quyền nghi
bằng văn thơ thế thôi. Chắc phải nuôi chí đợi một thời, thế, cơ mới…
Nguyễn Văn
Mại, hơn hai tháng nay đâm ra nhát, sau mấy ngày lặn lội ra Quảng Trị
t́m đường pḥ vua. Mại nói như tự nhủ:
- C̣n Mại
này chắc phải “hoà” thôi… Văn Thiên Tường, vốn làm quan đến hữu thừa
tướng triều Tống, khi nhà Tống sắp bại vong bởi quân Nguyên, ông ấy được
cử đi bàn hoà với tướng giặc, bị chính tướng giặc Nguyên ấy bắt giữ lại…
– Nguyễn Văn Mại bỏ lửng điển tích anh hùng bất khuất đến chết đó –. Bọn
ḿnh khác với hữu thừa tướng Văn Thiên Tường, bọn ḿnh c̣n trẻ, chưa
nặng nợ chi… Đỗ ḱ này, chưa được chút đỉnh chung nào cả, mà phải gánh
nặng mấy trăm năm cựu triều… Tâm trạng một anh đồng hương Quảng Điền,
Thừa Thiên, đồng khoa điện thí với bọn ḿnh cũng nói rứa! Hiền có trách
ḿnh th́ trách…
- Anh đồng
hương Quảng Điền, Thừa Thiên nào vậy? Người trúng cách duy nhất vừa rồi
phải không?
- Đúng là
Trần Đạo Tiềm đó. Anh ta nói nguyên văn như ri: “Xưa ông Văn Thiên
Tường bái tướng [bàn hoà], khí thế nước đă đến lúc nguy vong, mà thân [phải]
gánh nặng ba trăm năm cơ nghiệp nhà Tống. Chúng ta đăng khoa ḱ này cũng
là một sự bất hạnh [!] vậy” (122) .
Và Nguyễn
Thượng Hiền, chàng trai mười tám tuổi, tân khoa ḱ thi hội, chưa kịp
được công bố kết quả xếp hạng tiến sĩ ở bậc nào, không thể đọc lại cho
Nguyễn Văn Mại, người bạn đồng khoa thi đ́nh của anh, bài thơ “Huyền
Vũ lâu tiền măn địa sương” , bài thơ Hiền vốn rất tâm đắc. Nguyễn
Thượng Hiền tự bảo ḿnh, ḿnh không thể ngă ḷng rồi quyết chủ “hoà”,
với tính toán cá nhân tầm thường như Trần Đạo Tiềm được!
[VÔ ĐỀ]
Huyền Vũ lâu tiền
măn địa sương
Dũ phong đ́nh
nguyệt thái thê lương
Sơn xuyên cố quốc
âm t́nh cải
Nhung mă toàn gia
đạo lộ trường
Không quá Tây môn
bi thái phó
Thùy ṭng Bắc hải
vấn trung lang
Ngu uyên thử nhật
vô tiêu tức
Trường đoạn thanh
khê bích ngẫu hương
(123).
Mai Sơn
NGUYỄN THƯỢNG
HIỀN
(1868 - 1925)
[KHÔNG
ĐỀ]
Trước lầu Huyền
vũ, đầy đặc [trên] đất [là] sương
Gió [lùa qua] cửa
sổ, trăng [chiếu rải ngoài] sân,
quá đỗi thê
lương!
Sông núi nước cũ
(:triều đại cũ, trước 05.07. 1885(*)),
giọng tiếng [và]
ḷng dạ đă biến đổi
[Cùng] binh lính,
[vó] ngựa,
cả gia đ́nh
[trên] đường sá [với]
lối nẻo [đang mở rộng,
kéo ra] dài
dặc
Cái hư không (:Trời) đến cửa Tây (**),
khóc không để lộ nước mắt
(đau đớn khóc thầm) thái phó
Ai giúp giùm biển
Bắc, [xin] hỏi viên quan lang
(:quan
nguồn) [đồng bào Thượng
ở thượng nguồn
vốn có ḷng] trung thành
Phương lặn mặt
trời rực [nắng] ngày,
tin tức
vắng bặt
Ruột đứt, khe
nước trong xanh, xanh biếc ngó [ư,
với tơ ḷng,
hương] sen thơm ngát.
Huyền Vũ lầu
không đặc lớp sương
Trăng sân gió cửa quá thê lương
Non sông cố quốc
bao thay đổi
Gươm ngựa toàn
gia vạn dặm trường
Không [: Trời] đến cửa Tây,
thương thái phó
Ai về biển Bắc,
hỏi trung lang
T́m trời đáy biển
không tin tức
Đứt ruột sen khe
lộ ngó hương (123).
Huyền Vũ trước
lầu đất ngập sương
Trăng sân gió cửa quá thê lương
Núi sông nước cũ
ḷng thay giọng!
Gươm ngựa toàn
nhà nẻo mở đường
“Vô” sái cửa Tây,
thương thái phó
Ai xuôi biển Bắc,
hỏi quan nguồn
Rực ngày phương
lặn không tin tức
Ruột đứt khe xanh,
biếc ngó hương (123) .
Hết
tệp 8
(PHÂN
ĐOẠN 4)
– trọn
TRUYỆN KÍ THỨ 12 –
Khởi viết từ 07 giờ 41
sáng ngày
17.01.2003
(15.12 Nh. ngọ
HB.3)
Viết đến ḍng chữ
này vào lúc 17 giờ 07 phút,
ngày 24.01.2003
(22.12 Nh. ngọ. HB.3).
TRẦN XUÂN AN
(104) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 240.
(105) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 240 – 241.
(106) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 241.
(107) Nhóm Chu Thiên
Hoàng Minh Giám, Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỉ XIX (TVYN. NSTK. XIX),
Nxb. Văn Học, 1970, tr. 295 và tư liệu của Đặng tộc; dẫn theo TCVNTCV.,
Nxb. Văn Học, sđd., 1997, tr. 192 – 193.
(108) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 241 – 242. Vụ Quảng Ngăi (Lê Trung Đ́nh) và vụ B́nh
Định (Đào Doăn Địch) khác nhau về “ngọn cờ khởi nghĩa”. Lê Trung Đ́nh
tôn phù Tuy Lư vương Miên Trinh, một nhà thơ hoàng tộc chủ “ḥa”, câu
kết với Pháp thời Hiệp Ḥa, vốn bị đày vào Quảng Ngăi (mặc dù Miên Trinh
từ chối). Do đó Nguyễn Văn Tường đánh giá đấy là cuộc “nổi loạn” duy
nhất (ĐNTL.CB, tập 36, sđd., tr 233 – 234). Đào Doăn Địch chỉ thuần
hưởng ứng Dụ Cần vương, “b́nh Tây sát tả” (đánh Pháp và đánh bọn dữu dân
trong giáo dân, vốn đích thực là tay sai của thực dân), nên ngầm được
ủng hộ (mặc dù De Champeaux thúc giục đánh dẹp), và cuối cùng là được
“rộng tha”. Về Lê Thận, do ông có thái độ đồng cảm, đồng t́nh, rộng tha
với quân Cần vương, nên “quư quan [Pháp!!!] hiện đóng ở tỉnh ấy cũng
không bằng ḷng”; ông bị ngụy vương Đồng Khánh “[chuẩn cho] giáng hai
cấp, mang theo hàm mới, về quê hưu dưỡng” (sđd., tập 37, tr. 52, 98).
Tổng đốc B́nh – Phú Lê Thận (cũng như Đinh Hội, thuộc phe Cần vương) là
vị quan c̣n giữ được phẩm chất đáng quư. Xin xem lại: Trần Xuân An,
Nguyễn Văn Tường, “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”,
bài “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi,
05.7.1885”, khảo luận và phê b́nh sử học, bản in vi tính, 2002, sắp xuất
bản.
(109) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 243.
(110) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 229.
(111) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 224.
(112) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 245 – 246.
(113) Cao Huy Thuần,
Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam (1857 – 1914), luận án
tiến sĩ, bản dịch in ronéo của Đại học Vạn Hạnh, Sài G̣n, 1973, tr. 319:
“Puginier, giám mục ở Bắc Ḱ, và Camelbeck, giám mục ở Quy Nhơn, đă mở
một chiến dịch điên cuồng tấn công chống Nguyễn Văn Tường mà theo họ là
kẻ thù lớn nhất của người Pháp và đồng thời cũng là người An Nam điêu
toa [!] nhất mà người ta có thể gặp… Sự hợp tác của ông ta và De Courcy
là mộơ”mưu mô [của ông ấy] nhằm đánh lừa người Pháp”; dẫn theo: Các báo
cáo khoa học, bài “Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) qua hai sự kiện tứ
nguyệt tam vương và thất thủ kinh đô” của Trần Viết Ngạc, Hội thảo khoa
học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường, Trung tâm Khoa học xă hội và
nhân văn thuộc Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế phối
hợp tổ chức, 02.07.2002., tr. 54 – 55.
(114) NNBCĐH. [BAVH.,
1916], A. Delvaux, bài đă dẫn, tập III (1916), Nxb. Thuận Hoá, sđd.,
1997, tr. 79.
(115) NNBCĐH. [BAVH.,
1916], A. Delvaux, bài đă dẫn, tập III (1916), Nxb. Thuận Hoá, sđd.,
1997, tr. 80.
(116) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 247.
(117) NNBCĐH. [BAVH.,
1914], H. Pirey, tập I (1914), Nxb. Thuận Hoá, sđd., 1997, tr. 224 –
234. Xem thêm: chú thích (37) của truyện kí thứ năm, tập I, bộ truyện -
sử kí - khảo cứu tư liệu lịch sử này.
(118) NNBCĐH. [BAVH.,
1923], Jabouille, bài đă dẫn, tập X (1923), Nxb. TH., sđd., 2002, tr.
434.
(119) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 247 – 248.
(120) ĐNTL.CB., tập
36, sđd., 1976, tr. 249.
(121) LGTS., bản in
ronéo, sđd., 1961, tr. 38; Trần Xuân An (biên soạn), Ḱ Vĩ phụ chính đại
thần Nguyễn Văn Tường, thơ, vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng,
bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản), tr. 119 – 123.
(122) LGTS., bản in
ronéo, sđd., 1961, tr. 35; Nhiều tác giả, Từ điển văn học (TĐVH.), tập
2, Nxb. KHXH., 1984, tr. 530.
(123) Bản dịch thơ 1
của Chu Thiên Hoàng Minh Giám; bản dịch thơ 2 của Trần Xuân An (theo bản
dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan).
Cước chú:
Cước chú của đoạn
trích từ “Đại Nam liệt truyện” về Nguyễn Nhược thị Bích (chú thích 80
của truyện kí thứ mười hai):
(*) Lẽ ra, nên để đoạn
trích dẫn từ “Đại Nam liệt truyện” này vào vị trí chú thích cuối trang
hoặc cuối chương (truyện kí thứ mười hai), nhưng để tiện lưu ư, lưu ư
một cách đặc biệt, tôi đặt ngay giữa trang.
Cước chú của tiết 20,
đoạn cuối, thuộc truyện kí thứ mười hai:
(*) Xin xem tư liệu bổ
sung (mục I & IV) phần kết truyện kí cuối.
Cước chú của tiết 23,
đoạn cuối, thuộc truyện kí thứ mười hai:
(*) Hai chữ Hán, phổ
(như phổ biến) và bác (như quảng bác), có nghĩa tương tự, được viết gần
giống nhau. Có lẽ phiên âm nhầm.
Cước chú của tiết 25,
đoạn cuối, thuộc truyện kí thứ mười hai:
(*) Nay là Thư viện
Tổng hợp Tp.HCM. (góc đường Lư Tự Trọng – Nam Kỳ khởi nghĩa).
Cước chú của tiết 27,
đoạn đầu, thuộc truyện kí thứ mười hai:
(*) Để tiện việc lưu
ư, lưu ư một cách đặc biệt, mạn phép được viết hoa toàn bộ đoạn trích
này.
Cước chú bản án lưu
đày PCĐT. Nguyễn Văn Tường do De Champeaux cáo thị (đầu tiết 28, thuộc
truyện kí thứ mười hai):
(*) Để tiện việc lưu
ư, lưu ư một cách đặc biệt, mạn phép được viết hoa toàn bộ đoạn trích
này.
Cước chú bài thơ của
Nguyễn Thượng Hiền (cuối truyện kí thứ mười hai):
(*) Bấy giờ, thật sự
là đă vong quốc, mất nước vào tay giặc Pháp.
(**) Cách hiểu đúng
hơn: “không” là biện pháp vô vi (vô vi bất như bất vi), nhằm phối hợp
với phong trào Cần vương; “quá” là sai lầm. Biện pháp vô vi đă sai lầm,
bị sái trật trong thực tế lịch sử. Do đó, Nguyễn Văn Tường đă bị giặc
Pháp phát hiện và kết án lưu đày biệt xứ. V́ vậy, “khiến [tác giả Nguyễn
Thượng Hiền] khóc không để lộ nước mắt (:đau đớn khóc thầm) thái phó”.
Chú thích xong
lúc 18 giờ kém 05 phút,
ngày 20.02.2003
(20.01 Quư mùi HB.3).
TRẦN
XUÂN AN
Hết
tệp 8
(PHÂN
ĐOẠN 4)
– trọn
TRUYỆN KÍ THỨ 12 –
Xin xem
tiếp tệp 9
(phân
đoạn 1 truyện kí cuối)