Tệp
9
– Tập IV
(trọn
truyện kí cuối)
PHẦN CUỐI
(1885 – 1886)
TRẦN XUÂN AN
THÁNG NGÀY BỊ LƯU ĐÀY
VÀ
CÁI CHẾT
Ở
H̉N ĐẢO LAO TÙ BIỆT XỨ
Truyện kí cuối
(trọn)
1
Không phải bất ngờ, nhưng phụ chính Nguyễn Văn Tường vẫn không
khỏi có một chút ǵ đó xáo động trên sự điềm tĩnh trong ông. Sự điềm
tĩnh ấy ông đă rèn luyện nên và mặc nhiên được h́nh thành do chuỗi dài
thời gian hoạt động phải thường xuyên gặp phải những biến động bất ngờ,
phải thường xuyên đối phó với những bất trắc, có khi không lường trước
được. Với sự điềm tĩnh ấy, với ư thức cùng thái độ không chịu đầu hàng,
bó tay trước kẻ thù là bọn Pháp, trong hai tháng bị giam giữ một cách
đặc biệt nhưng hết sức nghiêm ngặt của tên đại uư Schmitz và đội quân
viễn chinh, lê dương (légionnaires étrangères) của y (1), ông đă đoán
trước ngày giờ này.
Sáng sớm hai mươi bảy tháng bảy năm Ất dậu (05.07.1885), tại Nha
Thương bạc, tên đô thống De Courcy, tên khâm sứ De Champeaux cùng
Schmitz và một số tên lính Pháp, Ả Rập gơ cửa bước vào pḥng làm việc
cũng là nơi ăn chốn ngủ của phụ chính Nguyễn Văn Tường.
Trong khi tên đại uư Schmitz cùng mấy tên lính đứng phía sau lưng
chiếc trường kỉ, De Courcy và De Champeaux ngồi đối diện với phụ chính
Nguyễn Văn Tường.
- Chắc quan phụ chính không bất ngờ khi chúng tôi đến đây như thế
này?
Phụ chính Nguyễn Văn Tường bảo:
- Ông có
thể nói tiếp!
De Courcy hơi nhíu mày tỏ vẻ cau có:
- Quan khâm sứ! Tôi là tướng quân đội, chỉ quen nói chuyện bằng
súng đạn thôi. – Y hất hàm về phía De Champeaux –. Anh có thể nói tiếp
cho ông ta nghe lí do. Và quan khâm sứ hăy nói thật nhanh gọn, sau đó
tuyên đọc cái ǵ cần phải đọc cho đúng thủ tục.
- Vâng. – De Champeaux rút ra từ chiếc cặp đựng giấy tờ một văn
bản –. Thưa ngài đệ nhất phụ chính nước Đại Nam, hôm nay là ngày năm
(05) tháng bảy năm 1885, đă hết hạn hai tháng mà đô thống kiêm quản
Trung – Bắc Ḱ quân dân sự vụ De Courcy đă điện về Paris xin chính phủ
nước Pháp cộng hoà gia hạn cho ông (2). Đến giờ phút này, đă hết thời
gian được gọi là ân huệ cuối cùng giành cho ông để củng cố lại triều
đ́nh Đại Nam và ổn định cả Bắc Ḱ. Ḱ thực, ông chỉ trá hàng! Nhưng tiếc
thay cho ông, thời hạn đă hết. Ông cũng hiểu rơ điều đó. Nay chúng tôi,
gồm tướng De Courcy, khâm sứ De Champeaux, phải chấp hành lệnh của chính
phủ Pháp, giải giao ông vào Phủ suư Gia Định. Từ đó, chính phủ Pháp sẽ
cắt cử người và tàu chở ông đi đến chốn lao tù nào chúng tôi không thể
biết, v́ ở ngoài phạm vi quyền hạn của chúng tôi.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường cố nhếch mép mỉm cười, nhưng gương mặt
ông sững sờ bất động. De Champeaux những trông giây phút này từ lâu lắm
rồi, nhưng đến lúc này, dẫu sao trong y vẫn có một thoáng nhỏ chạnh ḷng.
Nhưng y vội xua ngay thoáng nhỏ chạnh ḷng mà y thường tự bảo là phần
yếu đuối của con người, nhất là trước kẻ thù không thể đội trời chung
của nước Pháp và của y là viên phụ chính Nguyễn Văn Tường kia. De
Champeaux bỗng quắc mắt như một con thú dữ. Y đứng dậy, trong tư thế
nghiêm chỉnh của một người thừa lệnh cấp tối cao của y, y đọc bản án do
chính tổng thống Pháp và thủ tướng Pháp kí duyệt, theo đúng thủ tục. Sau
đó, y nói:
- Thưa ngài phụ chính, đúng theo thủ tục nước Cộng hoà Pháp, chúng
tôi sẽ niêm yết cáo thị, thông tri cho các tỉnh.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường nghe xong, sau một lát, ông quay lại
viên thông ngôn của ḿnh, bảo:
- Quan tư vụ hành nhân, anh hăy dịch văn bản ấy bằng giọng nói
thật rơ ràng cho mọi người Việt ở đây cùng nghe.
- Bẩm, vâng. – Và viên tư vụ hành nhân cầm lấy văn bản từ tay De
Champeaux để phiên dịch –.
- Ông có muốn nói ǵ nữa không, thưa quan phụ chính? – De Courcy
hỏi –.
- Tôi chỉ chợt nhớ đến hoàng đế Napoléon đệ tam của các ngài khi
bị quân Đức thắng trận bắt được hồi năm Tân mùi 1871. Tôi chỉ là đệ nhất
phụ chính, thượng thư đầu triều, tương tự như cố vấn của nhà vua ở các
nước, và đồng thời tương tự như thủ tướng của nước các ông, nhưng tôi
mong các ông hăy nhớ rằng tôi không đến nỗi phải chấp nhận cắt hẳn hai
tỉnh Alsace, Lorraine, và tôi cũng muốn nhắc nhở các ông không nên kém
văn minh hơn nước Đức trong sự đối xử.
De Courcy rít lên:
- Ngài phụ chính, sao ông lại muốn tiếp tục khiêu khích chúng tôi?
Ngài nên nhớ, nước An Nam này đă vĩnh viễn là xứ “bảo hộ” của nước Pháp,
và ngài không được một đặc ân nào, phải chịu lưu đày biệt xứ cho đến
chết. Nói thẳng ra, nếu không có chỉ thị của chính phủ Pháp, ngài hẳn
không c̣n tồn tại đến hôm nay trên đời này để mà khiêu khích!
Phụ chính Nguyễn Văn Tường mỉm cười:
- Luật đời thắng bại vốn thế này đây: Kẻ thắng giết chết hoặc bắt
tù kẻ bại. Tôi chẳng phàn nàn chi. Có điều, tôi chỉ đề nghị các ngài nhớ
đến nền văn minh, văn hoá của Phương Tây hiện thời cũng như Phương Đông
ngày nay, những điều các ông cứ mở mồm là nhắc đến một cách rất… Rất ǵ
nhỉ?… – Phụ chính Nguyễn Văn Tường vờ t́m từ ngữ để diễn đạt –. Nhưng
rất tiếc làm ǵ có văn minh, văn hoá trong cuộc viễn chinh cướp nước.
Các ông hăy cứ làm những ǵ theo bản chất của chính phủ Pháp các ông!
De Courcy hùng hổ, hằm hằm đứng dậy, nói như hét:
- Hăy trói ông ta lại và dẫn xuống tàu thuỷ, đưa vào giải giao cho
Phủ suư Gia Định, thế là xong. Không nói ǵ nữa! “Mọi thủ tục luật
định đă hoàn tất”. Anh sĩ quan phụ trách điện báo, hăy đánh điện về
Paris như thế. Chấm hết. Thi hành ngay!
Những tên lính lê dương, viễn chinh lầm ĺ tiến đến.
- Khoan! – De Champeaux nói –. Ông nhớ là có một điều khoản ân huệ
trong văn bản vừa rồi, ông có thể mang theo một số người lính hầu, nhưng
không quá năm người. Vậy hăy cho tôi biết tên họ để lập danh sách.
Những viên lính hầu cận trung thành nhất vẫn ở tại Nha Thương bạc
này với phụ chính Nguyễn Văn Tường suốt đúng hai tháng nay. Họ đang đứng
sau ông, phía góc nhà, theo đúng tư thế quy định. De Champeaux ghi tên
họ của các viên ấy.
Xong xuôi, De Champeaux nói:
- Đại uư Schmitz! Hăy thi hành công vụ!
Tên đại uư Schmitz liền lầm ĺ tiến đến, y nói:
- Phạm nhân lưu đày biệt xứ Nguyễn Văn Tường! Ông đă nghe rơ lệnh
bắt. Hăy đứng dậy và đưa tay chịu trói. Tôi nói trước, theo luật pháp,
đến giờ phút này, nếu ông chống cự việc trói giải giao, chúng tôi sẽ
không nể nang nữa đâu!
Những viên hầu cận uất ức đến bừng nóng cả đầu. Họ không thể ḱm
nén được nữa, liền đứng sát vào lưng và hai bên quan phụ chính của họ.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường ôn tồn bảo:
- Ai muốn theo ta th́ đi, ai muốn ở lại th́ cứ ở lại. Đừng lo,
đừng buồn. Sự đời là thế. Ta chỉ hận là không thể tiếp tục đấu tranh cho
đến khi Đất nước được độc lập như xưa. Các ngươi cứ để cho chúng thi
hành theo lệnh của chính phủ chúng, để qua đó thấy nước Cộng hoà Pháp mà
chúng cứ vênh vang tự hào là như thế nào!
Có vài viên hầu cận bỗng trào nước mắt.
Chính tên Schmitz đă trói hai khuỷu tay, phía sau lưng quan phụ
chính. Y đẩy nhẹ và nói:
- Ông hăy bước theo chúng tôi.
Dưới bờ sông Hương, một chiếc tàu thuỷ hạng trung đang nổ máy sẵn.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường và năm người lính hầu bị dẫn xuống bến sông.
Có đến hàng ngàn tên lính Pháp, Ả Rập đang vây bủa, làm hàng rào, vành
đai bốn phía quanh khu vực Nha Thương bạc. Ông chợt thấy ở trạm gác đầu
đường, phía cầu Gia Hội, thân nhân ông, gồm những người vợ và những
người con thân thương của ông đang đứng nh́n, khóc ràn rụa, đang bị bọn
lính lê dương, viễn chinh cầm súng doạ nạt, cản lại.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường lần đầu tiên cúi gục đầu khi thấy cảnh
đau ḷng đó. Nhưng chỉ trong một thoáng, ông ngẩng đầu lên.
Gió sông thổi trong nắng tháng chín hanh hao, nghe se sắt…
Tàu thuỷ rời bến, chạy về phía cửa Thuận An.
Không một lời từ giă, hai tên thực dân đô thống, khâm sứ, tên đều
lót chữ “De” quư tộc, đều nhếch mép cười, xua đi chút cảm xúc yếu đuối
của con người trong chúng, để tận hưởng niềm khoái trá man rợ của chúng
khi đă bắt đày ải một đệ nhất phụ chính, người đă từng nắm cả vận mệnh
nước Đại Nam này. Cả hai tên đều cố ghi nhớ và tự bảo sẽ thông báo tin
tức về chiến công lẫy lừng của chúng trên sách báo: Đánh chiếm kinh đô,
thu được vô số vàng bạc, bảo vật (3), lưu đày quan đệ nhất phụ chính một
nước! Có ǵ khoái trá hơn!
2
Tháng tám Ất dậu (tháng 09.1885), ngay sau khi lên ngôi, tên
vua ngụy đầu tiên do người Pháp đưa lên ngai vàng nhà Nguyễn, vốn có tên
là Ưng Kỹ, được chúng và bọn tay sai gợi ư chọn niên hiệu. Đó là Đồng
Khánh. “Đồng Khánh”, có nghĩa là cùng mừng vui. Pháp và Đại Nam đều hể
hả! Nước mất vào tay giặc Pháp, phải chịu ách nô lệ từ vua cho đến người
thường dân với thân phận nhỏ bé nhất xă hội, thế mà mừng vui, hể hả là
cả một tấn tṛ bi hài.
Ngụy triều Đồng Khánh ngay lập tức cảm ơn nước Pháp đă xâm lược
nước ḿnh!!! Bản chất vô sỉ này được tên “xem gió chuyển buồm”
đốn mạt Nguyễn Hữu Độ bày vẽ. Quan thầy của Nguyễn Hữu Độ lại là De
Courcy và De Champeaux. Tất nhiên, bản chất Nguyễn Hữu Độ vốn thế, nên
hai tên Pháp thực dân này rất khoái trá khi kiếm được một viên quan có
phẩm chất đặc trưng của loài chó, biết vâng lệnh, thi hành lệnh, một
cách mị dân trắng trợn, đến mức đáng kinh ngạc.
Ngụy vương Đồng Khánh liền chuẩn y quốc thư tạ ơn gửi chính phủ Pháp
do Nguyễn Hữu Độ và cả Phan Đ́nh B́nh viết. Ngoài những câu vô sỉ đến
mức xuyên tạc hoặc nhấn mạnh, phóng đại đến mức quá đáng sự giúp đỡ của
nước Pháp đối với Gia Long, chỉ v́ mục đích nịnh hót “mẫu quốc
Pháp”, c̣n có những câu xuyên tạc, bôi nhọ triều Tự Đức, hai vị phụ
chính yêu nước, chống Pháp, chống bọn xu thời, tay sai. Đến lúc này, hai
phụ chính ấy bị gọi là “quyền thần” (thần tử chuyên quyền)!
“… Thế tổ Cao hoàng đế tôi, trước khi trung hưng, quư quốc
giúp đỡ thực nhiều. Đến Dực tông Anh hoàng đế, giữ tín thành, sửa hoà
hảo, hơn hai mươi (20) năm, không có hiềm khích chút nào [?!?]. Việc ấy
vạn quốc thiên hạ cùng đều nghe biết ca [?!]û. Quyền thần là Nguyễn Văn
Tường, Tôn
Thất Thuyết giả mạo [?!] lộng quyền của nước, tự ư làm bậy
[?!]. Ngày hai mươi ba (23) tháng năm (5) năm nay, kinh thành thất thủ,
xe tiên đế [Hàm Nghi] dời đi, hai người ấy thực
là căn nguyên của tai vạ. May nhờ lượng rộng quư quốc,
không nỡ làm tuyệt ḍng dơi, cướp lấy đất đai, nhân dân [!];khiến cho
quả nhân này được vào nối ngôi lớn, làm chủ xă tắc [!]. Lại nhờ được quư
vị, quư đô thống đại thần là Cô Suy [De Courcy], phó đô thống đại thần
là Ba Duy Đam [Prudhomme], Lại bộ thượng thư đại thần là Sinh Bích
[Silvestre], hợp sức giúp đỡ được chu toàn, các việc đều ổn thoả cả. Non
sông, cây cỏ nước Đại Nam lại có ngày nay, đều là ơn của quư quốc [?!].
Có ḷng nhân [?!], làm việc nghĩa [?!], vạn quốc đều khen, đâu phải chỉ
một nước tôi cảm ơn [?!].
Vả lại,
nước tôi hẻo lánh ở một nơi xa, từ trước đến nay, về việc hoà hảo, chỉ
có thần với dân [chứ không phải hoàng tộc!!!], thường thường nghi ngại,
ngăn trở, thực là sợ quư quốc không bao dong cho.
Nay quư
quốc vừa mới lấy nước xong, liền trả cho ngay, bảo hộ cho, mới biết quư
quốc vốn không có ḷng tranh lấy nước Nam [?!]… ”
(4)
.
Mọi giá trị
đều bị đảo lộn! Xuyên tạc! Bôi nhọ! Điếm nhục cả tổ tông tiên triều, phủ
nhận quá tŕnh gần ba mươi năm (1858 – 1885, và cả trước đó) triều
Nguyễn đă chống Pháp, “tả đạo” một cách hào hùng, bi tráng, đau thương,
cay đắng, lại đặt điều cho cả công thần chính nghĩa để cảm tạ giặc Pháp,
thậm chí tự ngu muội hoá để ca ngợi chiêu bài “bảo hộ” mị dân bịp bợm!
Thật không có triều đại nào trong lịch sử từ xa xưa đến bấy giờ lại ô
nhục như ngụy triều Đồng Khánh. Nếu có chăng, cũng chỉ là các triều đại
ở các nước cùng thời với triều đại Đồng Khánh, dưới ách xâm lược Phương
Tây, trước chiếc bánh vẽ “bảo hộ” không ai mượn vẽ, ngoài bọn “tả đạo”.
Từ ngữ đều bị đánh đĩ (đĩ hoá) đến mức trâng tráo để diễn đạt mọi điều,
mọi giá trị theo tiêu chí ngược!
Ngụy triều
Đồng Khánh chấp nhận một lệ mới, mọi thư từ, văn bản từ nội trị cho đến
ngoại giao đều phải có quan thầy Pháp gợi ư, đọc duyệt trước, cuối cùng
là sửa chữa theo ư chúng. Khi De Courcy, De Champeaux, Prudhomme và
Silvestre đọc dạng bản (bản thảo) quốc thư ấy, chúng ph́ cười, rồi tức
cười, ôm bụng cười hô hố, ha há đến lộn ruột.
Tháng chín
Ất dậu (1885), ngụy triều Đồng Khánh c̣n phong hàm tước, huân chương cho
những tên đầu sỏ giặc cướp nước với tờ chế sắc phong đầy rẫy lời lẽ nịnh
hót, ngược đời:
“… Gần
đây, quyền thần làm bậy, gây hấn chiến tranh. Thế mà quư quốc [Pháp] bền
ḷng giữ t́nh giao hiếu, không tranh giành, bỏ thù oán, chỉ nói đến t́nh,
mưu [triều] chính mới, trừ tệ xưa, lấy công làm thích, khiến cho chuông
treo ở giá, nay vẫn như xưa, ví như khuyết mẻ âu vàng, lại tṛn như cũ,
ơn mộc qua [:chinh chiến] trọng hậu [?!]. Tặng vinh hiệu vẻ vang, nay
tấn tôn làm bảo quốc công, đáng kể đến công, gọi là chút báo [đáp]…” (5)
!
Bọn thực
dân cướp nước như De Courcy, De Cham-peaux, Prudhomme và Silvestre không
thể không cười lộn ruột!
3
Một
sáng tháng tám nguyệt lịch Ất dậu (1885), buổi thiết đại triều vẫn ở
Điện Thái hoà. Ngụy vương Đồng Khánh vẫn ngồi trên ngai vàng. Bên dưới,
phía trước mặt y, các đại thần vẫn áo măo như điển lệ. Tuy nhiên, bên
cạnh các đại thần c̣n có các tên thực dân Pháp “kèm cặp”. Đồng Khánh hầu
như không c̣n lo âu ǵ nữa, ngoài nỗi lo nơm nớp là bị bọn Pháp lôi cổ
xuống khỏi ngai vàng, tống vào ngục tối hoặc xuống huyệt đào sẵn.
Khi một
viên quan Bộ Lễ xướng khai triều xong, Nguyễn Hữu Độ liền tuyên bố
chương tŕnh nghị sự, trong đó đề mục y nhấn mạnh nhiều lần là triều
nghị về “bè đảng làm loạn” (6). Sau đó, y mời De Courcy. De Courcy liền
đứng dậy trước tên vua ngụy vừa đáng khinh bỉ vừa đáng tội nghiệp, lại
quay mặt ra phía hàng trăm vị quan từ thượng thư đến tri huyện kinh đô.
Y nói:
- Tôi được
mời đến đây tham dự buổi thiết đại triều. Các đề mục trong chương tŕnh
nghị sự, xin để lại sau đề mục nghị xử “bè đảng làm loạn” (6)
. Đề mục này tôi phải đại diện cho nước Pháp để cùng quư
quốc Đại Nam phán quyết.
Linh mục
hành nhân Nguyễn Hữu Cư liền phiên dịch ra tiếng Việt. Linh mục hành
nhân Nguyễn Hoằng và kí lục Hinh cũng có mặt trong nhóm thông ngôn.
Quan Bộ
H́nh liền đọc bản cáo trạng của Bộ ḿnh. Tiếp đến là bản luận tội của
Tôn Nhân phủ.
Không khí
Điện Thái hoà bỗng ch́m vào im lặng. Không một ai nói ǵ về sự kết án
ngược ngạo đó, bởi ai cũng biết rằng từ đây tất cả mọi việc, mọi điều
đều do các tên thực dân Pháp “bảo hộ” cả, phản đối cũng bằng thừa và chỉ
chuốc lấy tai hoạ với loại bản án vô cùng phi lí tương tự như thế.
Nguyễn Hữu
Độ liền đốc thúc:
- Xin các
quan từ chính khanh đến kinh huyện lên tiếng nghị xử.
Nguyễn Hữu
Độ không ngượng với các quan Việt có mặt về giọng điệu nịnh hót, y lại
hối thúc:
- Các quan
hăy phát biểu, chớ để các quan lớn Pháp mất ḷng.
Kế đó là
Phan Đ́nh B́nh. Tên quan họ Phan này có con gái là vợ của Dục Đức (Ưng
Chân), nên y rất tiếc nuối là con gái ḿnh bị truất khỏi chức hoàng [quư]
phi, v́ Dục Đức đă bị hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết
phế bỏ. Lời luận tội của Phan Đ́nh B́nh khiến các quan đều ngán ngẫm.
Sau đó có nhiều tiếng phê phán, phê phán mạnh nhất là những hoàng thân
bị triều thần và hai phụ chính “quyền thần” (!)lưu đày v́ tội câu kết
với Pháp.
Một đại
quan phản biện:
- Tâu hoàng
thượng, thưa quan đô thống Pháp và các quan Pháp khác có mặt ở đây, tôi
xin xét lại trường hợp cố tham tri Trương Văn Đễ!
Nguyễn Hữu
Độ cảm thấy tức giận:
- Trương
Văn Đễ cũng như ba tội nhân kia đều là bè lũ làm loạn. Chính tên Đễ đă
đồng mưu trong sự biến tấn công Sứ quán và Mang Cá, (đó là một tội), lại
nhận nhiệm vụ cản hậu, chặn đường quan binh Đại Pháp và đạo binh giáo
dân truy kích tên nghịch thần Tôn Thất Thuyết (đó là một tội), lại nhận
nhiệm vụ đón rước nghịch vương Hàm Nghi (đó là một tội). Ba tội tày trời
mới đây là thế, c̣n chuyện phế lập trước đây chưa tính. Các quan Pháp
đều có bằng chứng cụ thể, đă mời Bộ H́nh xác nhận.
Một viên
quan lại tâu:
- Tâu, c̣n
về Ông Ích Khiêm, sao không thấy bàn đến?
Nguyễn Hữu
Độ trả lời:
- Ông Ích
Khiêm chết từ năm ngoái, năm Giáp thân (1884), không dính líu đến sự
biến tấn công Sứ quán và Mang Cá ngày hai mươi ba tháng năm Ất dậu
(1885) vừa rồi, nên quan Pháp không xét xử trong hôm nay.
Những tên
Pháp gật đầu sau lời dịch ra tiếng Pháp của linh mục thông ngôn Nguyễn
Hữu Cư, để xác nhận điều Nguyễn Hữu Độ vừa nói.
Cuối cùng,
De Courcy luận tội. Y xếp tên phụ chính Nguyễn Văn Tường lên đầu danh
sách bốn vị quan thuộc nhóm chủ chiến. Y đặc biệt xoáy sâu vào việc
Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất Thuyết chủ trương tấn công Sứ quán và
Mang Cá, rồi phụ chính đệ nhất lại giả vờ “không biết chi hết”
. Y nói tiếp, c̣n hai tháng sau ngày 05.07.1885 (hai mươi ba
tháng năm Ất dậu), “lăo phụ chính quỷ quyệt (!)” Nguyễn Văn Tường ấy
chống đối nước Pháp, quan tướng Pháp như thế nào, ai cũng biết rơ, và
biết rơ nhất về sự chống đối đó của Nguyễn Văn Tường là các triều thần,
biên thần, trong đó có chính y (đại ngụy thần Nguyễn Hữu Độ!).
Và ngụy
vương Đồng Khánh chuẩn y bản án, ra dụ thi hành án ngay! Đó là bản án
chung thẩm của ngụy triều Đồng Khánh (có chữ
kí của De Courcy) (7) về Nguyễn Văn Tường và ba thành viên khác của nhóm
chủ chiến Triều đ́nh Huế, tháng tám Ất dậu (cuối tháng 09.1885):
“TÔN
NHÂN PHỦ VÀ Đ̀NH THẦN DÂNG SỚ TÂU BÀY TỘI TRẠNG CỦA NGUYỄN VĂN TƯỜNG VÀ
TÔN THẤT THUYẾT, XIN TƯỚC HẾT QUAN TƯỚC VÀ TỊCH THU GIA SẢN; THAM TRI
TRƯƠNG VĂN ĐỄ ĐĂ QUÁ CỐ, VÀ CHƯỞNG VỆ TRẦN XUÂN SOẠN, ĐỀU LÀ BÈ ĐẢNG LÀM
LOẠN, CŨNG TƯỚC CẢ QUAN CHỨC. TRONG BỌN ẤY, TH̀ TÔN THẤT THUYẾT, TRẦN
XUÂN SOẠN, XIN DO QUAN ĐỊA PHƯƠNG XÉT BẮT BẰNG ĐƯỢC VÀ CHÉM NGAY, ĐỂ TỎ
RƠ HIẾN PHÁP TRONG NƯỚC” (*) (6).
Hai
phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, tham tri quá cố
Trương Văn Đễ, chưởng vệ Trần Xuân Soạn, đó là bốn người chủ chốt của
cuộc kinh đô quật khởi và bị thất thủ (23.05 Ất dậu: 05.07.1885) cùng
hai tháng sau đó (05.07 – 05.09.1885) .
Thượng thư Bộ Hộ Phạm Thận Duật hoá ra chỉ là một nhân vật rất mờ
nhạt, hoàn toàn không bị xét xử, không có tên trong bản án chung
thẩm này. Tham biện Sơn pḥng Quảng Trị Tôn
Thất Lệ có trực tiếp cầm quân đánh Sứ quán, nhưng vốn được điều động về
Huế bất chợt và chỉ thừa hành, cũng như nhiều viên quan khác, nên cũng
không thấy đề cập đến.
Thế là
“vua nghe theo” (6)
,
không phải nghe theo lời bàn luận của đ́nh thần, kinh thần, mà nghe theo
De Courcy, De Champeaux, Silvestre, Prudhomme cùng lời kết án của các
cố đạo Pháp đă gửi tới, kể cả những bản sớ “xin trị tội Nguyễn Văn
Tường” của lũ ngụy quan ngoài
Bắc do thượng thư Bộ Lại người Pháp Silvestre, giám mục gián điệp
Puginier và ngụy tổng đốc, ngụy kinh lược sứ Bắc Ḱ Nguyễn Hữu Độ tuyển
chọn, sắp đặt.
“Bấy
giờ ở Bắc Ḱ lại có nhiều người ghét Nguyễn Văn Tường, xin thống tướng
đem trị tội” (8), đó là “những người [Đại]
Nam ra làm quan
với Pháp” (8)
.
Chúng là tay sai, nên cũng như Nguyễn Hữu Độ, Phan Đ́nh B́nh, “đă
biết theo chính sách bảo hộ” (8)
của thực dân! Bọn tay sai của thực dân căm ghét phụ chính
Nguyễn Văn Tường, th́ có ǵ là lạ!
Thực dân
Pháp sai bảo ngụy triều Đồng Khánh tước hết chức hàm của nhóm chủ chiến.
Hai phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết c̣n bị chúng tịch thu
hết tài sản, gồm nhà cửa, ruộng đất. Tài sản của đệ nhất phụ chính có ǵ?
+++ 1. Hai ngôi
nhà nhỏ có vườn cây và cỏ hoa xinh đẹp của hai người vợ họ Nguyễn Khoa
(9);
+++ 2. Cả mảnh
đất ở gần cửa Đông Ba, của người vợ chính thất họ Dương, đầy than đen
của ngói gỗ vừa cháy rụi trong tháng trước (do bọn Pháp, “tả đạo” vừa
đốt, rồi vu khống Tôn Thất Thuyết ra lệnh cho lính đốt, để li gián hai
phụ chính!) (10);
+++ 3. Bốn ngôi
nhà nhỏ, đơn sơ khác của bốn người vợ khác;
+++ 4. Và tổng
cộng toàn bộ ruộng đất của ông là chỉ ba mươi (30) mẫu ruộng tư, gồm
mười hai mẫu ở xă Triều Sơn, mười tám mẫu ở thôn Thanh Đàm, phủ Thừa
Thiên (12 + 18 = 30) (11).
Đúng là phụ
chính Nguyễn Văn Tường và các thành viên khác trong nhóm chủ chiến yêu
nước triều đ́nh Huế đă mất hết tất cả, từ danh dự đến chức hàm và tài
sản, riêng tính mạng c̣n tuỳ thuộc ở sợi dây treo cổ lơ lửng tại nhà tù
Gia Định, Côn Đảo, hoặc đang bị truy kích ở Hà Tĩnh.
4
Sau sáu
ngày rời khỏi Côn Đảo, ḥn đảo ngoài khơi Bà Rịa –
Vũng Tàu (thuộc tỉnh Biên Hoà), nơi đă trở thành chốn lao tù bởi thực
dân Pháp, chiếc tàu thuỷ Scorff (11) mải miết lênh đênh trên biển theo
hành tŕnh của nó. Trong một khoang tàu, thượng thư Phạm Thận Duật đă
hoàn toàn kiệt sức. Căn bệnh tiểu đường vốn có đă làm ông ốm yếu, lại ốm
yếu thêm, do những tháng ngày tù ngục khốn khổ, cay đắng tại Khám lớn
[De] La Grandière ở Sài G̣n, bảy mươi sáu ngày tại ḥn đảo đày ải Côn
Lôn đói khát, buồn hận (13), tuy c̣n may là chung pḥng tù với phụ chính
với Nguyễn Văn Tường, cựu đề đốc
Tôn Thất Đính. Cho đến lúc này, thượng thư Phạm Thận Duật
chỉ c̣n như một nắm xương bọc da, thoi thóp. Sóng gió đường biển cũng
khiến ông thêm khó sống.
Bên cạnh ông là phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, cựu đề đốc
Tôn Thất Đính, hai người tù cùng chung bi kịch mất nước như ông. Cả ba
người đă chia sẻ với nhau những cơ cực, cay đắng qua những tháng ngày tù
đày. Nay nh́n ông, họ không thể không buồn đau.
Trong ánh nắng sáng sớm ngày hôm nay, có lúc ông tỉnh lại, thều
thào:
- Không ngờ mới mười hôm đi đường biển, ḿnh đă lâm lụy đến thế
này… Rất mệt, trong người rất mệt…
- Không, chưa đến mười ngày, chỉ mới sáu ngày đêm thôi. – Phụ
chính Nguyễn Văn Tường nói khẽ, giọng hơi nhều nhào đi –. Có lẽ, h́nh
như quan thượng thư lại mê sảng rồi…
Phụ chính Nguyễn Văn Tường cũng xơ xác, gầy ṃn, với hai hàm răng
có nhiều chiếc bị lung lay, có chiếc đă rụng trong mấy tháng lao tù vừa
rồi (14). Sức khoẻ ông bị tổn hại đến mức không thể ngờ nổi. Trông ông
cũng chẳng khá hơn thượng thư Phạm Thận Duật là mấy. Chỉ cựu đề đốc Tôn
Thất Đính, mặc dù những năm mới tuổi năm mươi đă bị chứng mắt mờ, đau ở
vùng bụng, phải về hưu (15), và lớn tuổi hơn hai người bạn tù kia, nhưng
vốn là con nhà ṇi về ngành vơ, cụ Tôn Thất Đính vẫn c̣n mạnh khoẻ. Cụ
cựu đề đốc cũng chẳng bị bọn Pháp tra tấn, khai thác ǵ nhiều, v́ ông
nào biết ǵ về việc quân binh từ lâu lắm rồi, c̣n việc cơ mật ở Viện –
Bạc và triều đ́nh nói chung, ông chỉ biết lơ mơ. Ông chỉ có một trái tim
căm thù giặc Pháp xâm lược và đă cùng con trai là Tôn Thất Thuyết, hai
cháu nội là Tôn Thất Đàm, Tôn Thất Thiệp vạch kế hoạch tấn công Sứ quán,
Mang Cá; và sau đó, cùng con cháu, binh lính phù ngự giá lên Sơn pḥng
Tân Sở, tại Cam Lộ, Quảng Trị, ông lại tiếp tục vạch kế hoạch quân sự
đồng thời trực tiếp cầm quân làm chốt chặn bọn Pháp, bọn “tả đạo” truy
kích. Dẫu già lăo, lại biết cách chịu đ̣n khi bị tra tấn (nhờ có công
phu tập luyện vơ nghệ), biết cách trả lời khi bị khảo cung (đến gần hai
mươi năm không tham dự việc quan quân), nên lúc này ông là người c̣n
khoẻ nhất.
Suốt ngày ấy thượng thư Phạm Thận Duật không ăn uống ǵ. Mấy tên
thuỷ thủ người Pháp, Ả Rập và cả người Lữ Tống (Philippines) hay Mă Lai
ǵ đó, có đem đến cho ông một bát cháo. Ông không tài nào nuốt nổi mặc
dù có mấy người hầu cận cùng đi với ông bón đút từng muỗng một.
Đêm khuya, tàu thuỷ vẫn lướt trên sóng nhồi. Trên tàu đă im phăng
phắc, bỗng người hầu cận của ông đến bên giường, thật ra là một tám gỗ
cứng, muốn đánh thức phụ chính Nguyễn Văn Tường, nhưng anh ta vẫn chần
chừ v́ nể ngại. Nhẹ bước sang tấm gỗ bên cạnh, nơi cụ Tôn Thất Đính đang
ngáy, anh ta cố mạnh dạn lay vào chân.
- Bẩm cụ! Bẩm cụ! Cụ thượng thư đă đi rồi! Cụ thượng thư đă đi rồi!
Cụ đề đốc ơi…
Cả phụ chính Nguyễn Văn Tường lẫn cựu đề đốc Tôn Thất Đính đều
cùng thức dậy.
Họ đứng bên tấm gỗ, trên đó thượng thư Phạm Thận Duật đang ngoẹo
đầu, mắt c̣n hé mở nhưng dưới ánh đèn vàng vọt, rơ là đôi mắt của một
người đă không c̣n chút sinh khí. Phụ chính Nguyễn Văn Tường khẽ cúi
xuống, đặt một ngón tay sát vào hai lỗ mũi bạn, thấy không c̣n một chút
hơi thở nào. Ông lại cầm cổ tay bạn để bắt thử mạch, vẫn không thấy c̣n
chút máy động nào. Phụ chính Nguyễn Văn Tường nhè nhẹ vuốt mắt cho bạn,
sửa lại chiếc đầu bạn cho ngay ngắn. May thay vẫn c̣n mềm xương thịt,
chưa là một xác lạnh cứng. Nơi đây, không có lấy một cây hương, một mẩu
nến. Những tên thuỷ thủ đă ngủ say.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường lặng lẽ ra đứng nh́n ra bầu trời khuya
nhoà sương…
Sáng hôm sau, tên người Pháp, thuyền trưởng tàu Scorff liền đi
xuống khoang thuyền của ba tù nhân đặc biệt. Sau cái chào, y nói:
- Xin thành thật chia buồn. Lẽ ra tôi không nhận chở một tù nhân
ốm gầy, đau yếu đến thế, nhưng lệnh là lệnh, biết làm sao được… Thôi,
xin vui ḷng thuỷ táng. Đó là nguyên tắc hàng hải. Đề nghị lên gặp y tá,
nhận một chiếc bao thuỷ táng trữ sẵn. Và không để quá chín giờ sáng nay.
Không ai có thể nói ǵ lúc này. Chỉ có những tiếng nấc, tiếng khóc
khẽ.
Hai người hầu cận của thượng thư Phạm Thận Duật làm việc liệm ông
theo nghi thức hàng hải, với sự chỉ dẫn của viên y tá người Pháp. Họ đưa
ông ra cuối boong tàu.
Ở cuối boong tàu ấy, phụ chính Nguyễn Văn Tường, cựu đề đốc Tôn
Thất Đính và những người lính hầu cận đều vái thi lễ trước chiếc bao
bằng vải trắng đă bó lại. Sau vài phút mặc niệm, và chỉ kịp đọc một đoạn
điếu văn, tên y tá ra lệnh ném thây thượng thư Phạm Thận Duật xuống
những lượn sóng nổi bọt trắng cuối tàu. Một tên thuỷ thủ bắn lên trời ba
phát súng. Thế là hết!
Những tên người Pháp, Ả Rập rút lên phía boong trước. Nơi cuối
boong tàu, giữa các người cận vệ và cựu đề đốc Tôn Thất Đính, thượng thư
Nguyễn Văn Tường đứng nh́n sững sờ những lượn sóng bọt nước nổi trắng ấy.
Hôm ấy là ngày hai mươi ba tháng mười Ất dậu (29.11. 1885),
tại eo biển Hạ Châu (Malacca) (13).
5
Tháng giêng
năm Đồng Khánh Ất dậu (1885), ngụy triều Đồng Khánh xét lại bản án về
các vương, các công chủ “hoà”, thân Pháp và câu kết với Pháp:
“Chuẩn
cho các người: thân vương, công, công chúa, công tử tôn và tôn thất đă
bị tội lỗi, lượng cho khai phục tước hàm có thứ bậc.
Tuy Lư
vương là Miên Trinh, được khai phục là Tuy Lư công; Quỳnh quốc công Miên
Triệu được khai phục là Triệu Phong quận công; Hải Ninh quận công Miên
Tranh, Kỳ phong quận công Hồng Đăn [:Đ́nh, Đĩnh], Tuy Lư quận công Hồng
Tu, đều được khai phục tước cũ.
Cử nhân là
công tôn Ưng Phương, được khai phục nguyên ngạch là thị độc học sĩ; tham
tá Các vụ Hồng Sâm được khai phục chức cũ. Ḍng thứ bảy Tôn Thất Bá [án
sát Hà Nội, 1882] được phục hồi tôn tịch.
C̣n người
nào hiện bổ quan chức mà bị giáng, cách, sẽ do hai bộ Lại, Binh xét và
thi hành.
Đ́nh thần
tâu nói: “Gia Hưng công đă quá cố là Hồng Hưu, tháng chín năm ngoái cùng
Đồng Xuân công chúa can khoản, phải cách mất tước công, đổi theo họ mẹ
là Vũ Hưu, công chúa [Đồng Xuân] đổi làm Hồ Thị Đốc [Gia Đốc], truất bỏ
làm hạng người thường. Bọn ấy ngày thường làm điều bất cẩn, nhưng nay
gặp khánh điển, th́ Hồng Hưu, xin cho truy phục tước Gia Hưng công, Gia
Đốc được khai phục công chúa, bỏ đi hai chữ “Đồng Xuân”, nhưng được
chiểu lệ chi lương. C̣n con trai, con gái Hồng Hưu, trước giáng làm tôn
thất, cũng xin cho khai phục là công tử, công nữ, c̣n như tập tước th́
giáng một bậc. Con của Gia Đốc cũng không được tập chức hiệu uư, để tỏ
là có phân biệt”.
Vua [Đồng
Khánh] bảo: “Gia Đốc thực là đáng tội, tạm chuẩn cho chi nửa lương,
đ́nh chỉ việc triều hầu. Nếu thói cũ không chừa, th́ tội lại nặng hơn.
C̣n th́ y lời nghĩ định”” (16)
.
Những kẻ phản quốc đều được khai phục hàm tước! Và hầu như Đồng
Khánh và ngụy triều không xét tới khía cạnh chủ yếu là tư tưởng, thái độ
chính trị phản quốc của những kẻ ấy, mà chỉ bàn về khía cạnh đạo đức với
các “nhă ngữ” với ư giảm bớt mức tội lỗi chứ không phải để bớt tục tĩu.
Đâu phải ngụy vương và ngụy triều thần không biết rằng ngôn từ pháp luật
phải chính xác, và tính chính xác của từ ngữ không nhất thiết phải là
tục tĩu!
Sự phớt lờ khía cạnh chính trị phản quốc và khai phục cho những
chính yếu phạm ấy là hết sức nghịch lí, phi công lí. Có điều, những kẻ
bị tội lây do thân nhân (như con cháu bị tội lây do cha ông, chứ bản
thân họ không phạm phải) tất nhiên là oan uổng trong hạn chế lịch sử –
cụ thể, bởi thói lệ “một người làm
quan cả họ được nhờ, một người phạm tội cả họ phải gánh”
(17)
!
6
Trong khi
đó, phong trào Cần vương “b́nh Tây sát tả” vẫn bùng cao ngọn lửa căm thù
giặc Pháp và “tả đạo”. Đây là dịp để “tả đạo” phục thù và quyết cướp lấy
chính quyền ở tỉnh, phủ, huyện, điều mà các cố đạo Pháp, Tây Ban
Nha,“giáo dân vô lại”, hàng trăm năm nay chúng quyết tâm một cách thâm
độc và mê muội. V́ thế, không một tỉnh nào không có phong trào Cần vương
“b́nh Tây sát tả”. Riêng ở Quảng Trị, những lănh tụ Văn thân Cần vương
như Trương Đ́nh Hội, Trần Quang Chuyên, Hoàng Hoản, Nguyễn Tự Như (18),
ngay từ sau ngày phụ chính Nguyễn Văn Tường bị giặc Pháp bắt lưu đày đến
nay (05.09.1885), họ vẫn lănh đạo sĩ dân giương cao ánh đuốc, thanh gươm
Cần vương. Tuần vũ Trương Quang Đản và quân lính doanh cơ Vũ Lâm thuộc
quân số chủ lực của triều đ́nh cũng thuận theo (“bị chúng bức được”[!])
(19) , nên bị ngụy triều Đồng Khánh triệt
hồi về kinh đô (19).
Phía “tả
đạo”, “linh mục ở Quảng B́nh, Hà Tĩnh bức bách quan tỉnh và các dân
làng, cướp lấy thuyền bè, dỡ lấy đ́nh chùa, và nhà cửa của dân, để bồi
cho dân giáo” (20)
, nên “quan tỉnh Quảng Trị sức cho dân bên lương sửa
chữa nhà cửa cho dân bên giáo, hiện tỉnh ấy mới yên; [nhưng] nếu làm như
thế chẳng khỏi lại sinh hiềm khích…”. Không chỉ thế, “dân theo
giáo ở huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An đốt phá huyện lị và các xă thôn:
Quỳnh Đôi, Bào Hậu (hơn ngh́n nóc nhà, và đàn ông, đàn bà cũng nhiều
người bị chết)” (21) .
Ở Thanh Hoá,
sĩ dân bắt đầu đánh Pháp bằng chiến thuật du kích: “Ngày bảy tháng [hai
nguyệt lịch] ấy, nhân có phiên chợ nhiều người, [sĩ dân] mới giả dạng
làm người đi gánh thuê. Trong cái đ̣n ống bằng tre, đều giấu dao ngắn.
Chúng [:sĩ dân yêu nước] chia làm hai toán: một toán đợi [phía trong
thành], [phải đi] gấp vào thành [trước], tức th́ bắt đầu giết quan Pháp
trong thành, một toán ở ngoài thành để ứng tiếp nhau. Quan tỉnh [lúc này
là bọn ngụy hoặc bị ngụy hoá] thám [thính] biết [được], lập tức đóng
chặt cửa thành, phái quân hợp cùng quân Pháp chia đường đánh dẹp [!]”
(22) . Tuy thế, sĩ dân yêu
nước ngay khi “mới vào trụ sở phó công sứ, [th́ lập tức tên] phó
công sứ [Pháp] và một viên quan hai [Pháp] đều bị chúng [:sĩ dân] đánh
bị thương nhiều chỗ. [Hai tên giặc Pháp ấy] chạy thoát…” (22)
.
Tháng hai,
năm Bính tuất (tháng 03.1886) ở hữu trực ḱ và hữu
ḱ như thế đó!
Phong trào Cần vương “b́nh Tây sát tả” ở các tỉnh tả trực ḱ và
tả ḱ (phía nam), sau vụ Quảng Ngăi, B́nh Định, lại c̣n dâng cao hơn nữa
ở Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hoà, B́nh Thuận và các tỉnh miền núi. Không
chỉ “sát tả” đơn thuần như ở Nghệ – Tĩnh với sự lănh đạo của hai lănh
tụ Trần Tấn, Đặng Như Mai mười hai năm trước (1874), mà vừa “sát tả”,
vừa “b́nh Tây” (23).
Nhưng,
tháng hai ấy, ngày ất sửu, lại có nhật thực!
Lúc này,
khâm sứ ở Huế không phải là De Champeaux,
Prudhomme nữa. Hector đă đến thay từ tháng giêng nguyệt lịch trước.
Y và Nguyễn Hữu Độ, Nguyễn Thuật, đại diện ngụy triều Đồng Khánh,
liền cấp tốc làm lễ hỗ giao “hoà” ước Giáp thân
1884 và ước thư về mỏ (khoáng sản) (24). Đến lúc này mới hỗ giao, v́
trước đó, vua Hàm Nghi cùng hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết, ngay từ đầu tháng năm Ất dậu (1885), vẫn c̣n gửi quốc thư sang
Pháp để tiếp tục đấu tranh đ̣i sửa đổi (25)! Và Hector cũng lập tức “chỉ
thị” cho ngụy vương Đồng Khánh về việc viết, in hai bản dụ, cáo thị,
nhằm mục đích xuyên tạc, bôi nhọ hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết để ḥng dập tắt phong trào Cần vương ở các tỉnh phía nam.
Xuyên tạc, bôi nhọ và c̣n thể hiện cả ư đồ xấu xa, thực dân Pháp và ngụy
triều c̣n cố t́nh nh́n nhận, đánh giá những sự việc đúng với sự thật
nhưng lại theo tiêu chí ngược (xâm lược, phản quốc là tốt đẹp!!!; yêu
nước, chống Pháp, chống “tả đạo”, chống tay sai, chống vua quan câu kết
với giặc là xấu!!!) (26). Dĩ nhiên, tên ngụy quan đầu sỏ vốn từ khá lâu
đă lộ mặt tay sai của Pháp là Nguyễn Hữu Độ, liền có vai tṛ đốn mạt của
y! Không chỉ Nguyễn Hữu Độ, c̣n có hai kẻ phản phúc với hai phụ chính
(nay đă bị chúng gọi là “nghịch thần”
,
là “quyền thần”
).
Nguyễn Hữu Độ và hai tên khâm sai ấy c̣n phản phúc với nhân dân và những
người yêu nước chống Pháp khác. Khâm sứ giặc Hector và đại ngụy thần
Nguyễn Hữu Độ viết đạo dụ, chánh khâm sai Phan Liêm và phó khâm sai Phạm
Phú Lâm viết cáo thị (27). Ngụy vương Đồng Khánh đích thân sửa định, và
chuẩn cho in mỗi thứ một trăm (100) bản (27), “giao cho quan khâm
sai niêm yết khắp nơi, khiến cho nhân dân, nhà nào cũng đều hiểu rơ, chớ
mắc vào tội lỗi [!]” (27)
,
bởi ngay từ khởi đầu việc này y đă “nghĩ các tỉnh từ Quảng Nam trở vào
nam, nhiều lần đă t́m nhiều cách hiểu dụ, ngăn dẹp, mà dân chúng chưa
hết ngờ sợ; hoặc giả, quan địa phương không biết thể theo ư tốt [!!!],
xếp đặt trái phép, mới đến thế thành cưỡi hổ…” (27)
.
DỤ CỦA ĐỒNG KHÁNH (DO KHÂM SỨ THỰC DÂN
HECTOR, NGUYỄN HỮU ĐỘ HỢP SOẠN, ĐỒNG KHÁNH CHỈ SỬA CHỮA LẠI), NIÊM YẾT
KHẮP CÁC TỈNH TỪ QUẢNG
NAM
TRỞ VÀO, THÁNG HAI BÍNH TUẤT (THÁNG 03.1886):
“… Tóm lại, là do tự Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết lộng quyền giết vua này, lập vua khác. Hàm Nghi là công tử
bên ngoài, chưa từng được giáo dục trong cung. Hai quyền thần ấy lần này
đón lập, nhiều việc man muội [!], trước th́ lợi về dễ khống chế, sau chỉ
mưu cho bản thân [!];bỗng dưng gây hấn [!], nghiêng đổ tôn xă, bắt hiếp
vua chạy đi; Nguyễn Văn Tường liền quỷ quyệt
[?! mưu trí] đem thân quay về thú tội [!] với quan đô thống Đại Pháp,
rồi đă bị tội lưu, Lê Thuyết [bị đổi họ] th́ sống một cách tạm bợ
trong rừng. May mà nước Đại Pháp có ḷng nhân thứ [!],giúp ta chấn
hưng [!] được nước đă mất [!], nối lại được thế đă đứt, nước nhà đó mới
c̣n [!]…” (28)
.
Đúng
là giọng lưỡi hèn hạ, đánh giá ngược một cách trắng trợn tất cả!
“… Duy trẫm tin là các sĩ phu, thực t́nh là nhận
nhầm, chứ không có ḷng làm loạn; Triều đ́nh đă đem đầu mối họa loạn, là
tự Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết gây ra, nói rơ ràng với quan Đại
Pháp, [họ] đă tin không ngờ, để cho Triều đ́nh ta phải xử trí ngay, cho
lương, giáo đều được yên ổn…” (29).
CÁO THỊ CỦA
NGỤY TRIỀU ĐỒNG KHÁNH (DO HAI KHÂM SAI PHAN
LIÊM, PHẠM PHÚ LÂM HỢP SOẠN, ĐỒNG KHÁNH TỰ SỬA ĐỊNH), NIÊM YẾT KHẮP CÁC
TỈNH TỪ QUẢNG NAM TRỞ VÀO, THÁNG HAI BÍNH TUẤT (THÁNG 03.1886):
“… Nay Lê Thuyết, trốn tránh ở rừng gập ghềnh,
một thân tuy nhỏ, mà coi đất trời như c̣n hẹp; Nguyễn Văn Tường th́ đă
bị đi đày; tức là trời trừ kẻ tật ác [!?!]. Huống chi tai ách mười đời,
[[mà Quang Vũ trung hưng]]; con của Tấn công có chín người, [[mà c̣n
được Tùng Nhĩ]]; xem ư trời cũng có thể biết. Trẫm cùng bọn ngươi, phải
nên hết sức lo toan khôi phục lại, để lại thấy được cảnh tượng thái b́nh
như xưa. Không ngờ bọn ngươi [tức là các sĩ phu, nhân dân] theo ư làm
liều, hoặc bức đuổi quan tỉnh, hoặc đốt phá phủ, huyện, kháng cự mệnh
lệnh triều đ́nh, cam tâm hết
ḷng trung với kẻ thù [tức là Hàm Nghi, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết, nhưng theo mạch văn, th́ chỉ nhắm đến hai phụ chính], từ Hải Vân
trở vào nam, không chỗ nào là không loạn [“!”:khởi nghĩa], rất đáng quái
lạ.
Sao không xem châu Hoan, châu Diễn, Quảng B́nh, Quảng Trị, mượn tiếng là
xướng nghĩa, cần vương, đều đem thân bón cho đồng cỏ, mười nhà th́ chín
nhà hết sạch; c̣n những kẻ lọt lưới, th́ bị mưa độc, khí núi, liền hóa
làm giống sâu ở cát, tức như tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn là thủ xướng, phải
giải quân trốn xa, thám hoa Nguyễn Đức Đạt phải đến tỉnh đầu thú; đă
thấy được đại khái…” (30)
.
Cho dù thực
dân Pháp cùng ngụy triều Đồng Khánh xuyên tạc, bôi nhọ, cố t́nh nh́n
nhận, đánh giá những sự việc đúng với sự thật
nhưng lại theo tiêu chí ngược, thậm chí bày nhiều mưu
kế li gián thâm độc, sĩ phu và nhân dân yêu nước vẫn sáng suốt, vẫn
trung thành với vua Hàm Nghi, với hai vị phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết. Sĩ dân từ Hải Vân trở vào nam, không chỗ nào là
không khởi nghĩa để chống Pháp, chống “tả đạo” và ngụy quyền tay sai
Đồng Khánh, Nguyễn Hữu Độ. Và ở các tỉnh hữu ḱ, hữu trực ḱ phía bắc
kinh đô Huế, như châu Hoan, châu Diễn [Nghệ An, Hà Tĩnh], Quảng B́nh,
Quảng Trị, nơi nơi đều vẫn sáng suốt phân biệt ai là chính nghĩa thuộc
chính triều chống Pháp viễn chinh, Pháp cố đạo, ai là phi nghĩa thuộc
ngụy triều cam tâm làm tay sai cho thực dân hung ác cầm súng đạn, thực
dân lợi dụng tôn giáo, biến tôn giáo thành ma tuư mê hoặc nhân dân ta.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn và thám hoa, tuần vũ Nguyễn Đức Đạt là những vị
quan tiêu biểu cho ḷng yêu nước và ḷng trung thành với hai phụ chính,
trong phong trào Cần vương, thực thi quốc kế chia tách nhưng vẫn phối
hợp triều chính.
Nhưng mưu
kế li gián hai vị phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết của bọn
Pháp xâm lược và của ngụy triều Đồng Khánh, Nguyễn Hữu Độ là hết sức
nguy hiểm cho phong trào Cần vương, khiến nhân dân, trong đó có sĩ phu,
không phải không có người hoang mang, dao động và hoàn toàn buông xuôi,
tuyệt vọng một cách thảm hại chứ không phải tuyệt vọng trong khí thế
chiến đấu bi tráng.
Một trong
những mưu kế li gián của thực dân và ngụy triều là tung ra cái gọi là
“Dụ Cần vương số hai” (31) , với lời
tuyên truyền rằng, do chính vua Hàm Nghi phát đi tại Ấu Sơn, tỉnh Hà
Tĩnh, vào ngày mười một tháng tám Ất dậu (19.09.1885), tức là đúng vào
ngày Ưng Kỹ làm lễ đăng quang với niên hiệu Đồng Khánh. Sĩ dân tuy có ít
người hoang mang, dao động, bỏ ngũ, thậm chí mắc mưu đến mức nguyền rủa,
nhưng đại đa số vẫn không tin vào cái gọi là “Dụ Cần vương số hai” đó.
Họ vẫn sáng suốt, vẫn trung thành và vẫn khởi nghĩa, buộc Pháp phải chùn
tay, “tả đạo” phải hăi hùng, ngụy triều phải run sợ trong hung tàn, ô
nhục. Chính bản dụ của Hector, Đồng Khánh, Nguyễn Hữu Độ và bản cáo thị
của Phan Liêm, Phạm Phú Lâm đă mặc nhiên phủ nhận cái gọi là “Dụ Cần
vương số hai” do chính một bộ phận nào đó thuộc phe cánh thực dân, phản
quốc bày ra (mà chúng lúng túng đối phó với sự bùng nổ phong trào Cần
vương, nên đâm ra vô h́nh trung lại tự phủ nhận). Từ đâu, nhóm người nào,
tung ra cái gọi là “Dụ Cần vương số hai”? Hoặc xuất phát từ triều
đ́nh, Sứ quán? Hoặc xuất phát từ các quan ngụy, công sứ cấp tỉnh, phủ,
huyện? Hoặc từ các cố đạo Pháp, linh mục Việt (32)? Chắc hẳn “sáng kiến”
bày ra cái gọi là “Dụ Cần vương số hai”
ấy xuất phát ở cấp địa phương, các giáo xứ, bởi nội dung văn bản chứa
đầy những kiến thức sơ đẳng mà sai sót đến ḱ quái (31).
Theo lệnh
Pháp, cũng là lệnh ngụy triều Đồng Khánh và
Nguyễn Hữu Độ, hai chánh phó khâm sai Phan Liêm, Phạm Phú Lâm mang hai
xấp ấn bản sắc dụ và cáo thị ấy, tiến vào các tỉnh tả trực ḱ, tả ḱ
phía nam, tuyên truyền theo kiểu xuyên tạc, bôi nhọ, bóp méo, nhằm triệt
hạ uy tín Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và nhóm chủ chiến, để dập
tắt phong trào Cần vương. Ngay từ những ngày đầu, hai tên Phan Liêm,
Phạm Phú Lâm ấy đă bị sĩ phu, nhân dân phản ứng dữ dội.
Đến bây giờ, những quan viên c̣n gắn bó một cách bất đắc dĩ, hoặc
trung quân mù quáng, hoặc cam đành chấp nhận thân phận tay sai cho Pháp,
đă phải chấp nhận những tên “tả đạo” phản quốc, những kẻ xu thời “bán
nước cầu vinh [thực chất là
cầu nhục!]” cùng làm quan chức như họ.
Quan trường rơ
ràng gồm nhiều thứ quan lại cũ, mới. Bọn Pháp c̣n đưa ra từ Nam Ḱ ra
những tên trí thức tay sai cho giặc Pháp, do “tả đạo” đào tạo, từ ba,
bốn chục năm trước, như Trương Vĩnh Kư (33), những tên ngụy gian ác khét
tiếng như Trần Bá Lộc (34). Trương Vĩnh Kư được Pháp bố trí làm tham tá
Viện Cơ mật để kèm cặp vua ngụy Đồng Khánh. Trần Bá Lộc tàn sát sĩ dân
phong trào Cần vương các tỉnh phía nam kinh đô Huế (34). Bên cạnh Trần
Bá Lộc c̣n có Nguyễn Thân. Nguyễn Thân vốn là tiễu phủ sứ của Sơn pḥng
Ngăi – Định, nay y hoàn toàn phản bội phong trào Cần vương:
“Các tỉnh từ Quảng Nam trở về nam đều có loạn [(!)]. Tiễu phủ
sứ Quảng Ngăi, B́nh Định là Nguyễn Thân lại biết lấy công đền tội
[(!)]…” (35) .
Hai tên tay
sai của Pháp, Trần Bá Lộc từ Nam Ḱ ra, và Nguyễn Thân là người Quảng
Ngăi, địa phương vùng tả ḱ ấy, cả
hai đều cực ḱ gian ác. Chúng sử dụng những thủ đoạn “một
người theo phe Cần vương, cả nhà bị giết, cả làng bị đốt cháy”
để dập tắt phong trào yêu nước hào hùng, bi tráng đó. Ngoài
ra, c̣n chúng c̣n dùng thủ đoạn nham hiểm đối với mồ mả tổ tiên nghĩa sĩ
Cần vương.
Biện pháp tàn ác gần như tru di tam tộc, tam đại (giết cả người
chết, bằng cách quật mồ, băm xương) này, thực ra khởi đầu là do bọn tay
sai đắc lực của Pháp khởi xướng, theo lệnh của Pháp, để đàn áp, dập tắt
phong trào khởi nghĩa Cần vương. Không nghi ngờ ǵ nữa, rơ ràng đó là
bọn Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân. Bọn quan tỉnh, lúc này đă là tay sai của
thực dân, cũng thực thi biện pháp ấy. Do đó, quân Cần vương cũng ở
trong cái thế phải dùng “độc trị độc”.
Cuối tháng tám năm Đồng Khánh thứ nhất, Bính tuất (1886), “vua
[bù nh́n Đồng Khánh] sai bọn khâm sai Phan Liêm tiến đi, (mang theo 300
lính tập và 100 binh giản). Phạm Phú Lâm v́ mẹ ốm và t́nh trạng “giặc”
[:quân Cần vương] hoành hành, quấy nhiễu ([do] quan viên hạt tỉnh ấy dự
bàn đánh dẹp, đốt nhà, bắt thân nhân, và đào phá phần mộ của “giặc” [Cần
vương]). [Phạm Phú Lâm] xin thôi chức phó khâm sai. Vua y cho” (36)
.
Trong trường hợp này, phải chăng không thể trách quân Cần
vương được?
Hai chánh phó khâm sai ngụy triều tay sai, bù nh́n Đồng
Khánh, là Phan Liêm, Phạm Phú Lâm, đă có một tên phải đầu hàng trước
phong trào quật khởi Cần vương của sĩ dân. Bản dụ, bản cáo thị của
Hector, Đồng Khánh, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đ́nh B́nh và của hai tên ngụy
khâm sai ấy đă không những không dập tắt nổi phong trào Cần vương mà c̣n
thổi bùng ngọn lửa căm thù giặc Pháp, căm hận ngụy triều, đồng thời là
ngọn lửa trung thành với vua Hàm Nghi, trung thành với hai phụ chính
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết. Phạm Phú Lâm thế mà sau ngày kinh đô
quật khởi, hai mươi ba tháng năm Ất dậu (05.07.1885), đă lặn lội t́m
đường phù giá vua Hàm Nghi, ra đến hành cung Quảng Trị! Phạm Phú Lâm đă
trở mặt, tôn phù ngụy triều Đồng Khánh do Pháp dựng nên! Đến lúc này,
Phạm Phú Lâm đành xin bỏ ngũ. Y bỏ ngũ ngay từ những ngày đầu thực thi
việc mang dụ và cáo thị vào phía nam. Có lẽ y đang sống với một tâm
trạng không phải không giằng xé giữa trung quân (đă là ngụy vương) với
ái quốc (nước của sĩ dân yêu nước), và với nỗi đau xót bị quân Cần vương
trị tội theo kiểu “dĩ độc trị độc”. Không đợi được chuẩn y cho, Phạm Phú
Lâm đă rời bỏ “nhiệm vụ tuyên truyền xuyên tạc,
bôi nhọ, bóp méo”!
Đến tháng
mười một, năm Bính tuất (tháng 12.1886), “phó khâm sai Tả trực ḱ là
Phạm Phú Lâm chịu tội (37):
Phú Lâm
đến Đà Nẵng, được mười (10) ngày, dâng tập tâu: “Bọn giặc [:quân Cần
vương, ngụy triều Đồng Khánh gọi là “giặc”!!!] đưa giấy bắt họ thân và
bắt được vợ y, làm đủ h́nh ác; xin tự trói về kinh đợi tội”; lại lục tư
cho Viện Cơ mật, nói: “Giặc [:quân Cần vương] hiện bắt xă thôn ấy chỉ
dẫn phần mộ tổ tiên của y, nếu để chậm, tất đến mắc vạ; bèn không đợi
chỉ, lập tức đáp thuyền về kinh, đến Viện Cơ mật, xin đến Bộ H́nh đợi
tọâi”.
Tập tâu ấy,
Viện thần [tay sai Nguyễn Hữu Độ, Phan Đ́nh B́nh] hiện đương nghĩ biên
phiếu tâu lên hặc tội, nói: “Phú Lâm không đợi chỉ [dụ] chuẩn cho, dám
tự tiện về, đi lại ở thành thị, không lo sợ chút nào, coi pháp lệnh
triều đ́nh như tṛ trẻ con, sau này, người khác trông thế bắt chước, th́
thành sự thể ǵ. Xin trước hết giải chức, xích lại giao cho Bộ H́nh
nghiêm nghĩ, để chỉnh đốn phép làm tôi”.
Vua [ngụy
Đồng Khánh] chuẩn y lời tâu. Sau Bộ nghĩ, xin xử tội một trăm (100)
trượng, cách chức, không được bổ dụng. Vua cho nghĩ xử ấy là nhẹ, bác đi,
giao cho [Nội] Các thần giữ mực công bằng nghị xử lại. [Nội] Các thần
phúc tâu, nói: “Xin chiểu điều luật “lầm lỡ việc quân” xử tội “trảm
giam hậu””.
Vua [ngụy
Đồng Khánh] lại nghĩ đến chú ruột y là Phạm Phú Thứ [nguyên] là cựu thần
của tiên triều, vốn có trọng vọng, đáng nên ban ân cho con cháu; mới
chuẩn cho cách chức, phát giao đi sai phái làm việc ở đạo hữu trực ḱ”
(37) .
Đến tháng tám Đinh hợi (tháng 09 – tháng 10.1887), Phan Liêm cũng
ân hận trong niềm tủi nhục không kém, mặc dù Phan Liêm gian ác không
phải ít. Cùng một giuộc như Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân, y đă cùng với các
tên thực dân De Lorme,
Aymonier, đàn áp tàn bạo phong trào Cần vương.
“Giáng
chức viên mới chuẩn cho lănh tổng đốc B́nh Thuận,
Khánh Ḥa là Phan Liêm… […] (38).
[…]… Lúc đầu Liêm đă được mệnh mới, tức thời dâng sớ nói: “Hai
tỉnh B́nh Thuận, Khánh Ḥa, dân sau khi bị loạn [“loạn” (!) Cần vương],
vỗ yên răn dẹp thật khó; Liêm này ḿnh ốm, tài xoàng, sợ không kham nổi
chức ấy, xin chọn bậc danh khanh tài cán, lăo luyện đến nhận chức; sẽ
xin vào kinh chiêm bái, về quê quán chữa bệnh, để dưỡng tuổi trời”.
[…]… Sau khi đă về tới nơi, Liêm lại nói: “Dân hạt ấy, sau khi bị
bọn giặc [:quân Cần vương] mê hoặc [phải hiểu là thức tỉnh, giác ngộ],
chưa chắc mười phần hết ngờ… […]”.
Vua [bù nh́n Đồng Khánh] cho Liêm đă nhiều lần từ chối, không cần
ủy gượng, đổi sai [Nguyễn] Văn Phong thay thế, rồi đem [Phan] Liêm giải
chức, giao cho đ́nh thần trừng trị.
Đ́nh
thần xin xử tội đánh một trăm (100) trượng, cách chức, không được tŕnh
bày.
Vua lại nghĩ, [Phan] Liêm đă từng làm tổng đốc, lại là đời đời làm
quan (39), chuẩn cho giáng làm biên tu, bắt về hưu” (38)
.
Là chánh khâm sai trong chiến dịch bôi nhọ, triệt hạ uy tín hai
phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và nhóm chủ chiến, nhằm dập
tắt phong trào Cần vương, cuối cùng Phan Liêm cũng như Phạm Phú Lâm, tên
trước gă sau, đều thú nhận: Sĩ phu, nhân dân sáng suốt, giàu ḷng yêu
nước, không chịu khuất phục giặc Pháp, “tả đạo” và ngụy triều Đồng Khánh,
Nguyễn Hữu Độ!
7
Chiếc tàu thuỷ Scorff vẫn toả khói than và hơi nước nóng bỏng,
lướt trên bao nhiêu ngọn sóng biển. Theo con đường ngắn nhất, tàu Scorff
phải đi từ Côn Đảo xuống eo biển Malacca thuộc Hạ Châu (Malaysia), lại
vượt qua eo biển Mélanésia, giữa ḥn đảo lớn Australia (Úc Đại Lợi) và
Tân Guinéa, để rồi tiếp tục hướng về quần đảo Poly-nésia, gần Nam Mỹ
(South American). Chuyến hải tŕnh không ngắn ngủi chút nào (40).
Sau những ngày tháng giam cứu ở Khám lớn La Grandière, Côn Đảo,
với bao nhiêu sự tra tấn khai thác nhưng vô ích, và có lẽ bọn Pháp thấy
cũng không cần thiết nữa (v́ bọn chúng đă chiếm trọn triều đ́nh và hầu
hết các vùng đất đồng bằng ở nước ta, đă khảo cung bao tù binh, tù chính
trị khác), nên chúng đưa phụ chính Nguyễn Văn Tường và hai người bạn tù
khác đi theo hành tŕnh dài dằng dặc ấy.
“Ḱ khai tam sắc, vân lôi biến
Già
thính song xuy, kê khuyển kinh”
“Tam tài” cờ xổ, giông quyền sấm
Roi
cặp, kẹp tra, chó rủn hồn (41)
Cờ giặc Pháp bay như xổ trên ḱ đài kinh thành Huế. Sấm sét phong
trào Cần vương bùng dậy theo kế sách quyền nghi, một khi không chiến
được, không thủ được, không hoà được. Những cái kẹp bằng gỗ hoặc bằng
sắt, bọn Pháp dùng để kẹp nghiến tay người, lấy lời cung khai, và đối
chứng theo lời cung khai từ những người tù bị tra tấn bằng roi, cặp roi
do hai kẻ tra tấn đứng hai bên người bị khảo cung thay phiên nhau quất.
Ngay khi cờ tam sắc xanh trắng đỏ của giặc xổ ra, triều đ́nh tan tác,
bao nhiêu vị quan, người lính ở Huế đă lâm vào t́nh cảnh thế đó, c̣n hơn
cả khi tên Harmand ở Bắc Ḱ, sau khi Courbet đánh chiếm Thuận An, bắt
triều đ́nh Hiệp Hoà chấp nhận “hoà” ước Quư mùi 1883!
Hai câu thực của bài thơ bảy chữ tám câu đối từng từ, kể cả từ
loại, rất chỉnh, nhất là về ngữ nghĩa: Lá cờ của nền văn minh, nền cộng
hoà với bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền trong cuộc cách mạng 1789
(42) đối rất chỉnh với kẹp, roi tra tấn của bọn xâm lược thuộc Cộng hoà
Pháp trên quan chức nước Đại Nam bị xâm lược; mây sấm (43) quyền biến
một cách anh hùng (ẩn dụ gần như thành ngữ “vân lôi thời tiết” #
“vân lôi khí tiết”
)
(43) đối rất chỉnh với bọn người như chó gà hèn nhát! Mười bốn chữ chứa
đựng một dung lượng hiện thực lớn và sâu đến thế!
Quả thật, bọn thực dân xưa nay không ngu ngốc, mà lại tinh khôn
một cách rất độc ác, lẽ nào chúng không khảo cung, khai thác các thông
tin cơ mật! Chúng căm hận và căm giận ba người tù này, theo chúng là
không biết phục thiện (!). Hơn nữa, phong trào Cần vương ngày mỗi dâng
cao khiến bọn Pháp viễn chinh và các cố đạo thực dân kinh hoàng với
nhiều tổn thất không thể kể hết. Chúng thật sự hăi hùng với bao tổn thất
ấy, nhưng lực lượng Cần vương, tiếc thay, cũng chỉ đủ sức khiến chúng
hăi hùng, tổn thất như thế. Và bọn Pháp, viễn chinh cũng như “tả đạo”,
chúng thấy cần phải lưu đày phụ chính Nguyễn Văn Tường và hai người bạn
tù của ông ở một nơi thật xa, rất xa, không thể trở về được nữa, cũng
không ai có thể giải cứu. Côn Đảo cách đất liền nhiều dặm biển, vẫn có
thể được sĩ dân thực hiện việc vượt ngục cho ba người tù đặc biệt quan
trọng kia!
Phụ chính Nguyễn Văn Tường, cựu đề đốc Tôn Thất Đính cùng bảy tám
người lính hầu cận thế là vĩnh viễn chia tay thượng thư Phạm Thận Duật,
từ tháng mười một Ất dậu (1885) trước. Đến nay, đă hơn hai tháng đi theo
hải tŕnh dài dằng dặc ấy, với nhiều lần tàu phải ghé lại những bến cảng
xa lạ để được tiếp lương thực, nước ngọt sinh hoạt, cũng như than, củi
và nước, ba thứ nhiên liệu của tàu chạy bằng máy hơi nước.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường khổ đau tinh thần, lo buồn, suy tư về
vận nước bi thảm, bi tráng và về gia đ́nh, quê hương đang trong cảnh tủi
nhục nô lệ, khốn khó, túng quẫn, nhất là thực trạng của ông, không c̣n
có cơ may nào có thể trở lại Tổ quốc, nắm lại quyền lực như một thứ vũ
khí để chiến đấu chống giặc Pháp khoác áo lính, khoác lốt chùng thâm và
chống bọn tay sai. Không những thế, phụ chính Nguyễn Văn Tường c̣n đau
đớn về thân xác, sau những trận tra tấn của bọn cai tù, bọn khảo cung
chuyên nghiệp Pháp. Ông vốn là một quan văn, cũng như thượng thư Phạm
Thận Duật, và cả hai đều là thành viên Viện Cơ mật – Thương bạc, đối
tượng phải bị khai thác khảo cung tối đa. Thân xác họ không chịu nổi sự
tra tấn khốc liệt, đă lâm bệnh. Trước đây, chúng đă nhét vào tận họng
ông một nắm giẻ có tẩm một thứ hoá chất nào đó (14). Chúng bảo để khỏi
găy răng, như vơ sĩ quyền Anh phải chuẩn bị chịu đ̣n. Chúng không nói
một lí do khác, là để khỏi la hét. Và v́ thế, những chiếc răng chỉ lung
lay, có chiếc đă găy, nhưng không găy đến bật máu. Hóa chất làm lợi răng
mềm lụn như mủn đi, cổ họng sưng vù lên.
Đến lúc này, lợi răng và cổ họng đă bớt sưng nhức, nhưng đi đường
biển dài ngày, khiến phụ chính Nguyễn Văn Tường mệt nhoài người.
Sau hai tháng, vào một ngày đầu tháng giêng năm Bính tuất (tháng
hai dương lịch 1886), hai người bạn tù và bảy người lính hầu cận được
dẫn lên bến cảng Pueu (40), thuộc ḥn đảo nhỏ Tahiti Iti (Taiarapu
Péninsula) (40). Đó là một trong hai ḥn đảo dính liền nhau. Ḥn đảo lớn
kia cũng được gọi là Tahiti nhưng thêm chữ Nui: Tahiti Nui (40). Ông
choáng váng, lảo đảo với cảm giác chao lắc của người lên đất sau nhiều
ngày lênh đênh trên tàu bị sóng biển nhồi. Ai cũng thế. Ông bước trên
cầu tàu, được đặt tên Fare Ute (40). Một ḥn đảo tí hon khác phía sau
lưng bến cảng, như b́nh phong chắn gió cho tàu neo đỗ, có tên là Motu
Uta (40). Đây là quần đảo bọn Pháp đă xâm lược và chiếm đóng từ rất lâu.
Những địa danh bằng thổ ngữ khó đọc, khó nhớ, chúng đă phiên âm theo
tiếng Pháp, viết lên trên bảng, đập ngay vào mắt.
Hai tù nhân Đại Nam và bảy viên hầu cận phải lập thủ tục giấy tờ.
Được tạm nghỉ một vài hôm, họ lại được đưa lên một chiếc xe thổ mộ do
ngựa kéo, sau khi chia tay với thuyền trưởng, thuỷ thủ và y tá tàu
Scorff.
Phải trải qua một lộ tŕnh dài nữa, từ cảng Pueu, băng qua eo đất
nối liền hai ḥn đảo Tahiti Iti với Tahiti Nui, và phải đi hết nửa chu
vi men theo bờ biển của ḥn đảo lớn Tahiti Nui ấy để đến một ngôi làng
có tên là Papeete. Trên xe thổ mộ, có mấy tên lính Pháp canh giữ.
Sau nhiều ngày đi đường, họ đă đến nơi phải đến. Papeete, một ngôi
làng cũng như bao ngôi làng của dân bản xứ nơi đây. Ngoài số lính, viên
chức Pháp, thuộc ngạch viễn chinh và thực dân cai trị, số lính lê dương
(légionnaires étrangères) thuộc các thuộc địa Pháp, c̣n lại là cư dân
ngh́n đời của đảo. Cư dân Tahiti có màu da đồng hun, như người thượng du
các tỉnh tả ḱ phía nam nước ta.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường và cựu đề đốc cùng bảy viên hầu cận
trung thành được đưa vào một ngôi nhà trống. Chính nơi này sẽ trở thành
chỗ lưu trú vô thời hạn, vĩnh viễn biệt xứ cho đến lúc trút hơi thở cuối
cùng, như bản án đă ghi rơ. Tất nhiên bảy viên hầu cận kia vô “tội”
(44), nhưng phải đến lúc nào phụ chính và cựu đề đốc của họ nhắm mắt
xuôi tay họ mới có thể trở về quê hương, Tổ quốc, hoặc họ sẽ được đổi
phiên, nếu số lính hầu cận khác từ Đại Nam đến đây thay họ.
Ngôi nhà lợp tôn nóng hực ấy thuộc khu Broche (40), trên đường
được quen gọi là “Avenue Bruat” (40). Gần con đường này, c̣n có một con
đường khác, chắc hẳn do bọn cố đạo Pháp đặt bằng tên một nữ thánh, là
Sainte Amélie (40). Trên con đường Sainte Amélie ấy có một chiếc cầu gỗ
nhỏ. Dưới cầu, nước chảy từ suối ra, trong vắt, người qua cầu có thể
thấy những con cá bơi lội tung tăng. Nơi chiếc cầu này, họ hay đứng ngắm
để vơi đi bao căm uất, phiền muộn. Thỉnh thoảng, đệ nhất phụ chính, cựu
đề đốc cùng những viên lính trung thành của họ, của cố thượng thư Phạm
Thận Duật đi dạo trên hai con đường này, chiếc cầu này, và vài chỗ khác
cũng trong giới hạn rất hẹp được những tên quản lí tù nhân cho phép. Họ
chỉ được đi dạo loanh quanh, không được xa ngôi nhà ấy.
Gần đấy cũng
có một ngôi chợ nhỏ, có các món thổ sản như bánh frifri (40), cũng có
cả mùi cà phê, mùi vanille, mùi hoa quả và tôm
cá (40).
Và ngôi nhà luôn luôn, suốt ngày đêm, đều âm vang tiếng sóng vỗ vào
bờ. Đứng ở nhà, có thể thấy bờ biển và mặt biển mênh mông trải rộng cho
đến mờ mịt, vô tận.
Trong giới hạn đă được khoanh vùng ấy, có hai loại cây khiến phụ
chính Nguyễn Văn Tường, cựu đề đốc Tôn Thất Đính và nhóm lính cận vệ nhớ
quê hương, Tổ quốc đến da diết, ấy là tre và dừa (40).
Đây không phải là Khám lớn La Grandière khủng khiếp, tàn bạo, dă
man, không phải là Côn Đảo rùng rợn, độc ác, phi nhân để giam cứu và
nhốt tù cấm cố. Đây là nơi lưu đày biệt xứ, người tù được tự do, nhưng
chỉ trong phạm vi hạn chế với đường kính có lẽ không quá một ngàn mét
(40).
Qua những ngày đầu, họ đă dần quen với nơi tù đày mới. Cơm nước
phải tự túc. Những vật dụng sinh hoạt cần thiết, như một viên đá lửa,
một mẩu bút ch́ (không có bút lông và mực xạ!), một nhúm thuốc lá, đă có
cạnh đó không xa là quán tạp hoá (chạp phô) của ông già Ronald (40). Có
điều, tên Pháp quản lí tù lưu đày đă có lệnh, không cho phụ chính Nguyễn
Văn Tường và tám người khác cùng nhà được mua chịu, ghi sổ (40)! Và tiền
bạc có đâu mà mua, trong khi bao năm tháng sắp đến c̣n phải lo tự túc
cơm nước! Người ta cứ tin rằng phụ chính Nguyễn Văn Tường được chính phủ
Cộng hoà Pháp trợ cấp cho ông ba chục ngàn (30.000) quan (40), để chi
phí cho đến khi măn đời tại nơi lưu đày biệt xứ. Nhưng thực tế, ông
không có lấy một xu dính túi, thậm chí mua các đồ sinh hoạt lặt vặt
thường ngày cũng không được kí sổ nợ tại quán chạp phô Ronald, v́ lấy ǵ
để trả! Chúng c̣n cấm phụ chính Nguyễn Văn Tường không được giao thiệp
với bất ḱ ai, ngay cả ông chủ quán tạp hoá Ronald ấy, chỉ v́ chúng lo
ngại rằng người tù phụ chính đại thần sẽ tuyên truyền tư tưởng chống
thực dân và “tả đạo” (40), một tôn giáo đă bị thực dân hoá để lợi dụng
vào quá tŕnh thực dân, như cũng đă diễn ra tại đảo Tahiti này.
Trong khi
đó, từ tháng tám, năm Ất dậu (1885), chính De Courcy đă kí vào bên cạnh
chữ kí của ngụy vương Đồng Khánh trên bản án chung thẩm đối với bốn nhân
vật chủ chốt của cuộc kinh đô quật khởi (05.07.1885), tước đoạt hết chức
hàm và toàn bộ tài sản. Chúng đă thi hành án bằng cách tịch thu ba mươi
mẫu ruộng tư, nhà cửa, tất cả tài sản của ông! Về danh dự, nhân phẩm,
chúng lại không ngớt tuyên truyền, xuyên tạc, bôi nhọ, bóp méo về ông và
các thành viên khác của nhóm chủ chiến!
Phụ chính Nguyễn Văn Tường đă mất tất cả!
8
Trước đó, từ tháng mười nguyệt lịch Ất dậu (1885), tên phó đô
thống Pháp Prudhomme đă bảo vua ngụy Đồng Khánh từ nay phải cho may cờ
“bảo hộ” để sử dụng thay quốc ḱ nước ta. Prudhomme nhắc đến lá cờ “bảo
hộ” màu vàng, phía góc trên, chỗ sát cán cờ, có một lá cờ tam sắc xanh
trắng đỏ (45). Cờ tam sắc chiếm một phần tư diện tích lá cờ vàng. Cờ
“bảo hộ” ấy lần đầu tiên đă bay trên ḱ đài kinh thành Huế ngày Đồng
Khánh lên ngôi. Prudhomme nhắc trước, đến các ngày lễ tế, như Ngày Quốc
khánh Pháp, cũng phải treo cờ ấy ở ḱ đài và ở các nha, các bộ (45)! Đó
cũng là lúc phụ chính Tôn Thất Thuyết phải đưa vua Hàm Nghi vào lại đồn
Ve (46), thuộc vùng thượng du Quảng B́nh, v́ Pháp đang đánh mạnh lên Sơn
pḥng Hà Tĩnh (46). Sơn pḥng Hà Tĩnh thất thủ vào ngày mười sáu tháng
mười nguyệt lịch năm Ất dậu (1885) ấy (46). Và phụ chính Tôn Thất Thuyết
cùng chưởng vệ Trần Xuân Soạn liền sang Trung Hoa t́m cách cầu viện
(46), nhưng không dám đưa vua Hàm Nghi cùng đi, bởi sợ chính nhà Thanh
bắt vua giúp Pháp, theo (46) “hoà” ước Thiên Tân (tháng tư Ất dậu
1885)
!
Đó là một tháng mười chua xót, đau thương!
Bấy giờ phụ chính Nguyễn Văn Tường đang phải ở tại lao tù La
Grandière, Côn Đảo. Ông và hai người bạn tù cùng nhóm lính hầu cận đều
được báo cho hay tin chua xót, đau thương ấy!
Ngày Quốc khánh, hay c̣n gọi là Ngày Công chính (!!!) (45), của
Nước Cộng hoà Pháp, mười bốn tháng bảy, đang đến, trên ḥn đảo Tahiti, ở
làng Papeete lưu đày này!
Phụ chính Nguyễn Văn Tường, cựu đề đốc Tôn Thất Đính và bảy viên
lính không thể không thêm một lần cảm thấy chua xót, đau thương.
Và hôm đó, phụ chính Nguyễn Văn Tường ngă bệnh!
Ông nằm sốt mê man trên giường, trong cái nóng Tahiti tháng bảy
dương lịch. Bác sĩ người Pháp, tên là Chassaniol (47), làm việc tại trụ
sở y tế tại Papeete, liền được mời đến để khám bệnh, cấp thuốc. Bệnh
thuyên giảm rồi lại nặng hơn.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường hầu như không thể ăn uống được ǵ, và
hơi thở rất khó khăn nặng nhọc. Đến lúc gần sáng, khoảng bốn giờ ba mươi
phút, phụ chính Nguyễn Văn Tường đă trút hơi thở cuối cùng, sau mười lăm
ngày ngă bệnh, từ hôm làng thuộc địa Papeete bị buộc phải chào mừng Ngày
Công chính (!!!) của Nước Cộng hoà Pháp (40)!
Tàu Scorff cập bến Pueu, Tahiti Iti vào đầu tháng hai dương lịch,
đến nay đă gần tṛn sáu tháng. Phụ chính Nguyễn Văn Tường mất vào ngày
ba mươi tháng bảy 1886 (đó là ngày hai mươi chín, nhằm ngày cuối tháng
sáu, năm Bính tuất).
Chính cựu đề đốc Tôn Thất Đính, thân sinh của Tôn Thất Thuyết, đă
vuốt mắt lần cuối cho người bạn vong niên, đồng chí chủ chiến của con
trai ḿnh và cũng là bạn vong niên của ḿnh. Cụ Tôn Thất Đính bật khóc.
Bảy người lính trung thành cũng bật khóc nức nở.
Trời bỗng đổ mưa, mưa tháng bảy xối xả. Sóng biển gào thét (40).
Nơi đây, vẫn không có một cây nhang, một lư trầm, chỉ có hai cây
nến nhỏ cháy trên đầu giường một người suốt cuộc đời chống thực dân Pháp,
v́ Tổ quốc, nhân dân Đại Nam và v́ triều Nguyễn.
Chiều hôm ấy,
bác sĩ Chassaniol đội mưa gió đến khám nghiệm lần cuối. Và sau đó, đến
cạnh bên ông ta là ba viên chức chính quyền thuộc địa xứ này: Aldophe
Marouo Porot, Alphonse Bonnet và Etienne Deheaulme. Họ tiến hành việc
lập giấy khai tử cho người tù chính trị bị lưu đày biệt xứ Nguyễn Văn
Tường, không ghi rơ ông chết v́ bệnh và bệnh ǵ.
“CÔNG SỞ PHÁP TẠI CHÂU ĐẠI DƯƠNG
Đảo Tahiti
Thị chính Papeete
Số 60
Cái chết của ngài Nguyễn Văn Tường 30.7.1886
Trích sao từ sổ hộ tịch của xă Papeete (Tahiti) năm 1886
GIẤY KHAI TỬ (47)
Năm 1886, 30.7, 04 giờ chiều, trước mặt chúng tôi là Adolphe
Marouo Porot, là sĩ quan hộ tịch của xă Papeete, đảo Tahiti.
Có đến: 1. Alphonse Bonnet, là quyền giám đốc Sở Nội vụ của các
công sở Pháp tại châu lục, 57 tuổi; 2. Etienne Deheaulme, quyền chánh
văn pḥng của Sở Nội vụ, 26 tuổi.
Cả hai (02) người đều sống tại Papeete, đă khai với chúng tôi là
sáng nay, lúc 04.g 30, ngài Nguyễn Văn Tường, cựu thủ tướng của vương
quốc An Nam, khoảng 65 tuổi, cư trú tại Papeete, không rơ tên cha mẹ, đă
chết.
Chúng tôi lập giấy khai tử này, và đă kí tên với các nhân chứng. Mọi
người đều đă đọc.
A. BONNET,
&
E. DEHEAULME.
Chứng
nhận trích sao văn bản:
Papeete, 08.12.1922
Thị trưởng
Kí tên:
A.M. POROT.
Bầu trời tại
làng Papeete vẫn xối xả mưa, và sóng biển vẫn gào thét. Đó không phải là
ẩn dụ tu từ. Đó là sự thật về thời tiết hai hôm ấy. Và ngẫu nhiên sao
lại trùng hợp với quan niệm của người dân bản xứ Tahiti này (40). Cư dân
với màu da đồng hun khoẻ mạnh, ngh́n đời ở đó, vẫn thường quan niệm rằng,
khi một người danh tiếng, có công lao lớn mất đi, trời và biển không thể
không khóc thương, gào thét (40).
Chính quyền thuộc địa Tahiti đă làm công việc khâm liệm ông. Tất
nhiên không có tên cố đạo nào dám bén mảng đến với người đă từng là lănh
tụ “b́nh Tây sát tả” trong giờ phút đó, chỉ có cựu đề đốc và bảy người
vái linh cữu phụ chính Nguyễn Văn Tường để thi lễ vĩnh biệt lần cuối,
rồi cùng nhau lặng lẽ khấn nguyện với Hồn thiêng non sông Tổ quốc xa xăm.
Sáu ngày sau, tin tức về sự qua đời của phụ chính Nguyễn Văn Tường
được thông báo trên Công báo Tahiti, số ra ngày 05.08.1886, ở trang 202:
“Nguyễn Văn Tường, cựu thủ tướng của vương quốc An Nam, đến Tahiti tháng
hai vừa qua trên tàu Scorff, chết tại Papeete, ngày thứ sáu, 30.7.1886,
lúc 04.h 30 sáng.
Thân thể của ông được liệm trong một quan tài bốn lớp, hiện được
giữ tạm trong hầm nhà xác [caveau] để chở về Huế”
(48)
.
Đó là hầm mộ (caveau) tạm thời, trong nghĩa trang De L’Uranie.
Từ lâu, để giải quyết cho những cái chết của quan chức và sĩ quan Pháp,
chúng đă cho xây nửa nổi nửa ch́m trên mặt đất các ngôi mộ rỗng, có cửa
gắn ổ khoá, có ống thông hơi. Ngôi hầm mộ tạm thời ấy, dùng để giữ thi
hài khỏi bị phân huỷ trong khi chờ chuyến tàu. Nó trông như một ngôi nhà
mái ṿm nhỏ bé, có ống khói ḷ sưởi, nhưng ống ấy cao hơn rất nhiều
(48), nếu so sánh theo tỉ lệ với các ngôi nhà để ở (nom như ống khói của
các nhà máy công nghiệp). Phần nổi ngôi mộ có chiều cao tính từ mặt đất
lên đến nóc mái khoảng một mét sáu (1m60), chiều rộng khoảng một mét
rưởi (1m50); riêng ống khói, tính từ nóc mái đến đỉnh khoảng tám tấc
(0m80). Đây có lẽ là lần đầu tiên một tù nhân chính trị, vốn người chính
gốc thuộc Đất nước bị Pháp xâm chiếm, nhưng nguyên ở chức hàm cao, được
hưởng đặc quyền đó.
Cựu đề đốc Tôn Thất Đính cũng có lệnh được phóng thích. Bảy viên
cận vệ trung thành cũng sắp được về. Thế mà có đến bốn, năm người trước
và sau khi phụ chính Nguyễn Văn Tường mất, họ hứa là sẽ sống tại đây để
canh giữ, chăm sóc hoa cỏ quanh mộ phụ chính nếu ông chết trước. Họ muốn
sống trọn đời cho chữ trung, v́ họ tự hào về người đă được họ kính yêu,
quư trọng và kí thác ḷng trung thành.
Bây giờ, họ đă biết sẽ có lệnh phóng thích và hồi hương, nhưng
phải đợi đến khi có chuyến tàu cập bến cảng Tahiti và tàu ấy sẽ lại về
Đại Nam.
Thế rồi một
chuyến tàu như vậy cũng đến.
“QUYẾT ĐỊNH CHO PHÉP
DI CHUYỂN THI HÀI CỦA NGÀI TƯỜNG
(Công
báo của thuộc địa, 09.12.1886) (47)
“Toàn quyền các công sở Pháp tại châu Đại Dương,
Chiếu theo văn thư của Bộ ngày 20.10.1886: chỉ định gửi về nước An
Nam thi hài của ngài Tường, chết tại Papee-te ngày 30.7 vừa qua,
Chiếu theo đề nghị của giám đốc Bộ Nội vụ,
Quyết định:
Cho phép di chuyển thi hài của ngài Tường, chết tại Papeete, ngày
30.7 vừa qua.
Việc di chuyển sẽ được thực hiện trong sự có mặt của ông chủ sự Y
tế và ông trưởng Ty Cảnh sát hành chánh có phận sự lập biên bản về việc
này” .
Do quyết định của toàn quyền:
Giám đốc Sở Nội vụ
A. MATHIVET.
Papeete, ngày 09.12.1886
Th. LACASCADE” .
Tám người Đại
Nam đă cùng nhau hộ tống chiếc quan tài bốn lớp đă được mang ra từ hầm
mộ tạm thời, để lên tàu thuỷ về lại Tổ quốc.
Đến tháng giêng nguyệt lịch năm Đinh hợi (1887), tàu thuỷ ấy cập bến
cảng Thuận An. Ngụy triều Đồng Khánh được báo tin. Để tránh bùng nổ
những xáo động tại kinh đô Huế và cả nước, người ta cho di chuyển quan
tài phụ chính Nguyễn Văn Tường một cách kín đáo, bí mật trên một chiếc
thuyền. Lớp vải, lớp cót tre phủ lên quan tài, khiến không một ai đoán
ra đó là thi hài của một người đă mất. Đến Bao Vinh, quan tài lại phải
chuyển sang một chiếc thuyền khác để chở ra quê nhà An Cư, huyện Đăng
Xương, tỉnh Quảng Trị một cách lặng lẽ.
Cụ Tôn Thất Đính và bảy người lính kia vẫn tiếp tục hành tŕnh ra
tận quê nhà phụ chính Nguyễn Văn Tường, theo chiếc thuyền ấy. Và gia tộc
đă nhận được lệnh phải để nguyên vẹn như thế, chôn cất ngay (49), không
nên báo tang, không nên làm đám tang, khiến sĩ dân, quan chức xao động!
“Quân Pháp tha cho Lê Đính về. ([Lê Đính là] bố của Lê
Thuyết [:Tôn Thất Thuyết, bị đổi theo họ bà nội]). Vua [ngụy Đồng Khánh]
bảo, Lê Đính tội không phải nhẹ, phải đợi lệnh Bộ Binh, không nên đề
pḥng sơ suất” [!!!] (50)
.
Ngụy triều Đồng Khánh tàn tệ với người yêu nước, chống Pháp đến
thế. Khi họ đă bị lưu đày, đă bị tước đoạt tất cả, chúng vẫn bôi nhọ họ
không biết ngại ngùng, và đă không những không một chút nhắn gửi thư từ
thăm hỏi, lại c̣n cấm mọi người, kể cả thân nhân thăm hỏi họ. Nay người
c̣n sống và quan tài người đă chết được trở về, lại c̣n “không nên đề
pḥng sơ suất”
!
Tuy thế,
vẫn có những câu đối không dám đề tên được gửi đến phúng điếu:
Quốc
kế thị phi lân sử định
Thiên
phương sinh tử nhạn thư điêu!
(Vũ Tử Văn? (50) Đào Tấn?)
Kế
sách [cho] Đất nước, đúng [hay] sai,
[sẽ do] tín sử [sử có điềm con lân]
định luận
[Ở]
phương trời, sống [hoặc ] chết, thư xa
[buộc vào chân nhạn cứ] vật vờ
[trong gió]
Kế
nước đúng sai trang sử quyết
Phương
trời sống chết cánh hồng chao!
(Nguyễn Mạnh Hào dịch)
.
Ba năm sau,
gia tộc tổ chức việc cải táng (49). Bốn lớp quan quách khằng kín bằng
dầu thông hoặc một thứ mủ nhựa cây nào đó, sau khi được mở ra, thấy vẫn
c̣n nguyên vẹn h́nh hài, nét mặt phụ chính Nguyễn Văn Tường. Và di hài
ông lại được an táng tại cánh đồng Hồng Điền quê hương (49).
Cho đến mấy
chục năm sau, sĩ dân mới biết rơ cái chết của cựu phụ chính Đại Nam
Nguyễn Văn Tường trên sách báo của người Pháp và người Việt. Thời gian
đă dài đằng đẵng nhưng ḷng thù hận ở các cố đạo tại Quảng Trị như Henry
Pirey, Aldophe Delvaux vẫn không phai nhạt. Họ viết về cái chết của một
người vốn là kẻ thù của họ, đă chết v́ tay đồng bọn của họ, nhưng vẫn
với sự thù hận, hằn học, thể hiện trong việc tiếp tục xuyên tạc để bôi
nhọ một cách thâm độc (47). Họ không phải là tu sĩ chân chính!
Quốc sử
quán chỉ ghi nhận thời điểm và nguyên do cái chết của ông một cách ngắn
ngủi:
“Nguyễn Văn Tường, người xă An Cư, huyện Đăng Xương, tỉnh
Quảng Trị […]; làm quan tới chức Cần Chánh điện đại học sĩ, phụ trách
đại thần, tấn phong Ḱ Vĩ quận công. Sau sự biến năm Ất dậu (1885), chết
ở bên Tây” (52)
.
Cho dù không ít người nơi này chỗ nọ c̣n mắc mưu tuyên truyền của
giặc Pháp và ngụy triều, nhưng phần lớn sĩ phu, nhân dân thuở bấy giờ
vẫn kính trọng phụ chính Nguyễn Văn Tường, vẫn truyền tụng bài thơ “Triều
đ́nh tan tác”
hay “Chia tách triều chính”
của ông:
Gươm phí bao năm, mấy bút ṃn
Nửa khuya, vô cớ ép bùng hờn
“Tam tài”, cờ xổ;
giông quyền sấm
Roi cặp, kẹp tra; chó rởn hồn
Đường núi vạn trùng lo kiệu biếc
Ḷng tôi một dạng giữ sân son
Đúng, sai, ấy gửi ngh́n sau luận
Nhẹ? Nặng? Pḥ
vua? Luyến nước non? (41)
.
Trọn
truyện kí cuối
Viết xong vào lúc 16 giờ 14 phút,
ngày 27.01.2003
(25
tháng chạp Nh. ngọ HB.3),
tại
thành phố Hồ Chí Minh.
TRẦN XUÂN AN
(1) Tập san Những
người bạn cố đô Huế (NNBCĐH.) (Bulletin des amis du vieux Huế, Cadière
làm chủ bút), bài “Phái bộ Pháp ở Huế và những phái viên đầu tiên” của
linh mục Aldophe Delvaux, Đặng Như Tùng dịch, Phan Xưng, Bửu Ư, Đỗ Hữu
Thạnh, Hà Xuân Liêm hiệu đính, tập III (1916), Nxb. Thuận Hoá, 1997, tr.
77.
(2) Quốc sử quán
triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL. CB.), tập 36, bản dịch
Viện Sử học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1976, tr. 247: “… Và [phụ chính Nguyễn]
Văn Tường do đô thống ấy xin [chính phủ Pháp] cho hai tháng [nhằm để] lo
liệu việc nước cùng Bắc Ḱ cùng được lặng yên vô sự; [ḱ thực] đến ngày
hai mươi bảy (27) tháng [bảy] ấy [05.09.1885] hết hạn, mà các tỉnh tả ḱ
về phía nam, có nhiều nơi nổi quân chém giết dân giáo…”. Đoạn trích bản
án trên, do De Courcy và De Champeaux cáo thị, chứng tỏ rất rơ, chính
phủ Pháp tại Paris đă quyết định bắt hai phụ chính, trước 05.07.1885, và
kí duyệt bản án cũng như hai tháng gia hạn cho phụ chính Nguyễn Văn
Tường.
(3) Trích và dẫn theo
Nguyễn Huy Anh, bài “Bao giờ Việt Nam có bảo tàng tiền tệ?”, Bns. Xưa và
Nay, số 84 + 85, tháng 01 + 02.2001, tr. 70: “Trong biến cố thất thủ
kinh đô 1885, người Pháp đă chiếm giữ Phủ Nội vụ hàng tháng trời. Bức
điện gửi về Pháp ngày 24.07, tướng De Courcy cho biết: “Trị giá vàng bạc
trong kho Phủ Nội vụ lên đến chín triệu (9.000.000) quan. Cũng đang khám
phá thêm nhiều ấn tín, kim sách và báu vật đáng giá bạc triệu. Xin phái
một chiếc tàu lớn cùng nhiều chuyên viên thành thạo qua kiểm xét mang về…”.
Sau đó, linh mục Siefert đă tiết lộ: “Các kho tàng trong hoàng cung đă
mất đi gần hai mươi bốn triệu (24.000. 000) quan””.
(4) ĐNTL.CB., tập 37,
sđd., 1977, tr. 32 – 34.
(5) ĐNTL.CB., tập 37,
sđd., 1977, tr. 50.
(6) ĐNTL.CB., tập 37,
sđd., 1977, tr. 35.
(7) NNBCĐH. [BAVH.,
1923], bài “Cái chết của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam” của
Aldophe Delvaux, linh mục Pháp tại Quảng Trị, Phan Xưng dịch, Nguyễn Vy
hiệu đính, tập X (1923), Nxb. TH., 2002, tr. 480. Đảo TAHITI, thuộc địa
của Pháp. Chúng tôi đă có ư kiến ở bài nghiên cứu “Nguyễn Văn Tường với
nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi 05.7.1885” về bài báo xuyên
tạc và đầy thù hận này, đồng thời vẫn tiếp nhận để sử dụng các tư liệu
gốc (văn bản hành chính) của thực dân Pháp trong bài báo ấy.
(8) Trần Trọng Kim,
Việt Nam sử lược (VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 554 – 555, 560,
554, 555.
(9) NNBCĐH., [BAVH.,
1916] bài “Bao Vinh, thương cảng của Huế” của linh mục R. Morineau, Đặng
Như Tùng dịch, Phan Xưng, Bửu Ư, Đỗ Hữu Thạnh, Hà Xuân Liêm hiệu đính,
tập III (1916), Nxb. Thuận Hoá, 1997, tr. 211: “Cái vườn hoa thanh tú
của gia đ́nh nguyên phụ chính triều đ́nh An Nam, tức là đại thần [Nguyễn
Văn] Tường, bây giờ chỉ c̣n lưu lại các bức tường đổ nát, một mảnh vườn
hoang vắng và vài cái nhà tầm thường”.
(10) Chi tiết này
được các nhà nghiên cứu sử tham khảo từ “Việt Nam Pháp thuộc sử (1884 –
1945)” (Khai Trí xb., Sài G̣n, 1961, tr. 353) của Phan Khoang, nhưng với
cách lí giải khác nhau. Xem: bài viết của Lê Quang Thái, tạp chí Cửa
Việt, số 13, tháng 04.1992, tr. 80 – 84; tập Các báo cáo khoa học, bài
“Góp phần làm sáng tỏ những uẩn khúc trong cuộc đời của nhân vật lịch sử
Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)” của PGS. TS. Đỗ Bang, Hội thảo khoa học
về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường, Trung tâm Khoa học xă hội và nhân
văn thuộc Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế phối hợp tổ
chức, 02.07.2002., tr. 39. Qua nhiều cứ liệu, tôi mạn phép khẳng định:
do thực dân, “tả đạo”, tay sai gây ra để phục thù và li gián hai phụ
chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết (chúng thực hiện kế li gián một
cách có hệ thống). Xem thêm chú thích (9) bên trên.
(11) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 63, 109.
(12) Công báo Tahiti,
số 05.08.1886, tr. 202: Tư liệu sao chụp (photocopy) trang báo nguyên
bản tiếng Pháp của Trần Nguyễn Từ Vân; NNBCĐH. [BAVH., 1923], bài “Cái
chết của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam” của Aldophe Delvaux,
tập X (1923), Nxb. TH., sđd., 2002, tr. 481 – 482.
(13) Theo một số
lượng thông tin trong cuốn “Phạm Thận Duật, sự nghiệp văn hóa, sứ mệnh
cần vương”, Hội KHLS.VN xb., 1997. (Cuốn sách tham khảo về Phạm Thận
Duật kê trên, tôi đă có dịp phê phán ở phần chú thích tập III của bộ
tiểu thuyết này). Xin xem thêm theo chú thích (14) dưới đây.
(14) Nhiều tác giả,
Côn Đảo, kí sự và tư liệu, Ban liên lạc tù chính trị, Sở Văn hóa – Thông
tin, Nxb. Trẻ Tp. HCM. phối hợp xb., 1998, tr. 85: Khi đày Nguyễn Văn
Tường, Phạm Thận Duật, Tôn Thất Đính ra Côn Đảo, De Courcy có gửi theo
một mật hàm cho chúa đảo là Caffort: “Tầm quan trọng của những tù nhân
này đ̣i hỏi phải được giám sát hết sức nghiêm ngặt với bất cứ giá nào”.
Theo tư liệu trên, Nguyễn Văn Tường bị Pháp đổ thuốc độc vào miệng, nên
răng bị rụng (tr. 85). (Dẫn theo: PGS. TS. Đỗ Bang, tập Các báo cáo khoa
học, bài “Góp phần làm sáng tỏ những uẩn khúc trong cuộc đời của nhân
vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)”, Hội thảo khoa học về nhân
vật lịch sử Nguyễn Văn Tường, Trung tâm Khoa học xă hội và nhân văn
thuộc Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế phối hợp tổ
chức, 02.07.2002., tr. 39).
(15) ĐNTL.CB., tập
33, sđd., 1975, tr. 245 – 246.
(16) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 61 – 62.
(17) “Bị tội lây” (liên
lụy) là thói tục, định kiến và là một loại án phạt thuộc luật pháp phong
kiến – thực dân.
(18) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 60. Xem thêm về Nguyễn Tự Như (sđd., 236): Giặc Pháp
bắt thân nhân của ông (thân sinh [Nguyễn Tự Cường] và anh ruột [Nguyễn
Tự Khiểm]). Pháp chém đầu Nguyễn Tự Khiểm, giam cụ Nguyễn Tự Cường lại,
để làm sức ép và ra điều kiện buộc cử nhân Nguyễn Tự Như phải đầu thú.
Lưu ư: sđd. chỉ rơ chính giặc Pháp đă hiểm ác như thế. Xem lại chú thích
(17) bên trên.
(19) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 26 – 27, 39 – 40.
(20) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 124 – 125.
(21) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 105.
(22) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 126.
(23) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 40 – 41 (Quảng Nam), tr. 55 – 56, 79 (Phú Yên, B́nh
Định), tr. 103 (Quảng Ngăi); xem thêm về Trần Văn Dư (sđd., tr. 78 –
79): Trần Văn Dư bị chính giặc Pháp xử trảm chứ không phải Chu Đ́nh Kế
như trong gia phả ghi (mặc dù lúc này Chu Đ́nh Kế đă là ngụy quan). Gia
phả ghi sai, bởi các lẽ, hoặc do sợ Pháp (lí lịch con cháu thêm nặng nề
dưới chế độ thực dân Pháp), hoặc do không rơ… Về chi tiết này trong gia
phả Trần Văn Dư, xin xem: Nguyễn Q. Thắng, Trần Văn Dư và phong trào
Nghĩa hội, Nxb. VHTT., 2002, tr. 70.
(24) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 105 – 107.
(25) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 213 – 214.
(26) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 15 – 16: Trích nguyên văn Phàm lệ của Đại Nam thực
lục, kỉ đệ lục: Viết sử theo tiêu chí ngược: “Phàm lệ phụ biên ở kỉ đệ
ngũ, trong đó có một điều chép rơ: từ ngày 23 tháng 05 năm Hàm Nghi
nguyên niên, sau khi kinh thành có việc, đến ngày 10 tháng 08 trở về
trước, xe vua dời đi, trong, ngoài không hệ thuộc được, và tự ngày 10
tháng ấy trở về sau đến cuối tháng 09, Cảnh tông Thuần hoàng đế [:Đồng
Khánh] ta tuy đă nối ngôi, nhưng tuyên bố dụ bảo, sợ chưa biết được khắp,
niên hiệu vẫn c̣n chép là Hàm Nghi; về việc Nam – Bắc có vâng theo dụ
của vua Hàm Nghi, mà khởi việc cần vương th́ đều hăy chép làm “khởi binh”,
để có cớ mà nói. C̣n tự mồng 01 tháng 10 năm Đồng Khánh Ất dậu trở về
sau, ngôi lớn định đă lâu, dụ bảo chắc đă biết khắp cả, mà c̣n làm liều,
th́ ở kỉ đệ lục kỉ sẽ lại chép là nghịch; đă được chuẩn cho lục ra để
chép vào. Nay hai tháng 08 và 09 năm Hàm Nghi nguyên niên [tức là tháng
08 và tháng 09 âm lịch, năm Ất dậu (1885)], là c̣n thuộc vào phận tháng
của kỉ ấy, cũng vẫn theo thế chép là khởi binh; c̣n từ mồng 01 tháng 10,
là năm Đồng Khánh Ất dậu trở về sau, th́ mới chép là nghịch”.
(27) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 132 – 133.
(28) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 133.
(29) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 134.
(30) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 138 – 139.
(31) Nhóm chủ chiến
triều đ́nh Huế và Nguyễn Văn Tường, bài “Chiếu hay dụ Cần vương?”, tham
luận của Trần Viết Ngạc, kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử, ĐHSP. Tp.HCM.,
20.6.1996, tr. 25 – 30; cũng bài ấy của nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc
sau khi rút gọn, bổ sung cứ liệu, đă đăng trên Bns. Xưa và Nay, số 128,
tháng 11. 2002, tr. 9 – 11.
(32) Tập Các báo cáo
khoa học, bài “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô
quật khởi (05.07.1885)” của Trần Xuân An, Hội thảo khoa học về nhân vật
lịch sử Nguyễn Văn Tường, Trung tâm Khoa học xă hội và nhân văn thuộc
Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế phối hợp tổ chức,
02.07.2002., tr. 73.
(33) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 147 – 148, 168.
(34) VNSL., Nxb. Tân
Việt, bản 1964, sđd., tr. 560: Trần Bá Lộc, De Lorme, và cả Aymonier, là
những tên gian ác khét tiếng.
(35) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 67.
(36) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 197. Biện pháp dă man thời Trung cổ ấy, xin được
hiểu với cái nh́n lịch sử – cụ thể và phải cần phê phán mạnh mẽ theo
quan điểm luật pháp văn minh, công bằng, nhân đạo. Nói rơ hơn, hồi đó sự
thể nó như thế; sự thể ấy do nhiều yếu tố của thời bấy giờ chi phối,
trong đó có thói tục “một người làm quan cả họ được nhờ”, “một người làm
giặc cả họ phải tội”. Và nói rơ hơn, sự thể ấy khác hẳn với quan niệm
hiện đại của chúng ta: “ai làm ác nấy chịu, ai có công nấy hưởng”. Ở đây,
chúng tôi liên tưởng đến một trí thức tu sĩ Thiên Chúa giáo nào đó, hiện
nay, trong mươi năm gần đây, vẫn c̣n khoái trá một cách bệnh hoạn, hả hê
một cách man rợ khi xem phim Sám hối, ca ngợi một người đàn bà thuộc
chủng da trắng châu Âu đă trả thù kẻ cầm quyền độc tài bằng cách 3 lần
quật mồ y! Vẫn là luật Trung cổ “mắt trả mắt, răng trả răng” ư? Thật
rùng rợn và đáng phẫn nộ! (trích lại từ: Trần Xuân An, Nguyễn Văn Tường,
“những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê
b́nh sử học, bản in vi tính, 2002, tr. 257 – 258).
(37) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 222.
(38) ĐNTL.CB., tập
38, sđd., 1978, tr. 12 – 13.
(39) Quốc sử quán
triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 4,
Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 332: trong tiểu truyện Nguyễn Hanh, có một chi
tiết về Phan Liêm với tên họ có đầy đủ chữ lót: Phan Thanh Liêm. Từ đó,
với nhiều tư liệu khác, có thể xác định chăng, Phan Thanh Liêm là con
trai Phan Thanh Giản, anh em với Phan [Thanh] Tôn?
(40) Theo tư liệu của
Trần Nguyễn Từ Vân (gồm một bài thơ kí sự của cô, và nhiều trang sao
chụp nguyên bản thủ bút của Pháp, nhiều h́nh ảnh khác về làng Papeete ở
Tahiti…).
(41) Bài “Giải triều…”,
xem: Trần Xuân An (biên soạn), Ḱ Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường,
thơ, vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng, bản in vi tính, 2000 (chưa
có điều kiện xuất bản rộng răi), tr. 80 – 88…
(42) Tuyên ngôn về
nhân quyền và dân quyền cùng cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789) là một
điểm son rực sáng của lịch sử Pháp. Hai bản tuyên ngôn ấy, với sự đóng
góp của Voltaire, Montesquieu, Jean Jacque Rousseau… có giá trị mang
tính nhân loại. Tôi khẳng định điều đó, chỉ phê phán sự phản bội của bọn
thực dân cầm quyền Pháp đối với thành quả cách mạng của trí thức cùng
các tầng lớp khác trong nhân dân lao động Pháp. Lá cờ “tam sắc” của nền
cộng ḥa Pháp cũng vậy. Hầu như ai cũng đă biết, các giáo sĩ thừa sai (đều
thuộc lực lượng xâm lược Pháp và chủ nghĩa thực dân Phương Tây) thù oán
Voltaire và các trí thức cộng ḥa, dân chủ Pháp như thế nào. Linh mục
thực dân Louvet đă viết: “… Tính can trường của người lính [thực dân
Pháp] chúng ta không hề thay đổi, nhưng tinh thần th́ không c̣n như cũ;
đức tin [Thiên Chúa giáo] của cha ông chúng ta không c̣n nữa để hun đốt
và yểm trợ họ. Thanh kiếm của Thập tự quân, lưỡi gươm của Charlemagne và
của thánh Louis đă thành quá nặng trong tay con cái Voltaire!” (dẫn theo
Y. Tsuboi, NĐN ĐVP. & TH., UB. KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, sđd., tr.
71). Xem thêm: Tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với Công
xă Paris (1870), một điểm son rực sáng thứ hai của lịch sử Pháp, bọn cầm
quyền thực dân cũng đă d́m trong biển máu!
(43) Đào Duy Anh, Từ
điển Hán – Việt, quyển hạ, Nxb. Trường Thi, 1957, tr. 540: “Vân lôi thời
tiết: thời vận anh hùng ra tay”. Xem thêm: ĐNLT., tập 4, Nxb. Thuận Hoá,
1993, sđd., tr. 253: Nguyễn Tư Giản có một câu thơ: “Vân lôi chí cấp,
giang hồ hoăn”.
(44) Chữ “tội” (vô “tội”)
trong ngoặc kép. Tôi muốn diễn đạt ư tưởng: những viên lính hầu cận ấy
vẫn có tội đối với thực dân Pháp, v́ họ yêu nước, trung thành, làm tốt
nhiệm vụ cận vệ được giao phó.
(45) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 75. Xem chú thích (42) trong phần chú thích này.
(46) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 75 – 77.
(47) NNBCĐH. [BAVH.,
1923], bài “Cái chết của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam” của
Aldophe Delvaux, tập X (1923), Nxb. TH., 2002, sđd., tr. 478 – 485.
(48) Theo ảnh chụp
“hầm nhà xác” (hầm mộ: caveau) của Trần Nguyễn Từ Vân.
(49) Theo gia tộc phả
của họ Nguyễn Văn làng An Cư, Triệu Phước, Triệu Phong, Quảng Trị. Xem
thêm chú thích (47) của phần chú thích này: Linh mục Delvaux vốn quản
nhiệm một giáo xứ gần đó, suốt nhiều năm nghiên cứu về Nguyễn Văn Tường,
nhưng gia đ́nh ông vẫn không tiết lộ ngày, tháng, năm mất của cố phụ
chính. Hẳn có lệnh dụ của triều đ́nh là phải giấu kín…
(50) ĐNTL.CB., tập
37, sđd., 1977, tr. 248.
(51) Tác giả là Vũ Tử
Văn, hẳn chính xác hơn. Tháng chín, năm Ất dậu (1885), ngụy vương Đồng
Khánh răn đe Vũ Tử Văn (người Quảng Trị) về phong trào Cần vương “b́nh
Tây sát tả” ở tỉnh ấy: “… Hiện thời có người nói, việc quấy nhiễu Quảng
Trị là tự Tử Văn xướng xuất”! (ĐNTL. CB., tập 37, sđd., tr. 54).
(52) Quốc sử quán
triều Nguyễn và Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục (QTHKL.), bản
dịch: Nguyễn Thuư Nga, Nguyễn Thị Lâm, hiệu đính: Cao Tự Thanh, Nxb.
Tp.HCM., 1993, tr. 297. Xem thêm: chú thích (37) của truyện kí thứ năm,
tập I, bộ truyện - sử kí - khảo cứu tư liệu lịch sử này.
Chú thích xong
lúc 09 giờ kém 12 phút,
ngày 22.02.2003
(22.01 Quư mùi HB.3)
.
TXA.
(truyện kí cuối
này đă được đăng tải trên Tạp chí Xưa & Nay
(cơ quan của Hội
Khoa học Lịch sử Việt Nam),
số Xuân Ất dậu [
đầu năm 2005 ])
Hết
tệp 9
trọn
truyện kí cuối
Xem thêm tệp
10:
Tư
liệu bổ sung cho truyện kí cuối