SUY NGHĨ
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
TRONG
LỊCH SỬ CỔ ĐẠI
NƯỚC TA
Chương I
THỜI LẬP QUỐC
VÀ NHÀ NƯỚC ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ SƠ KHAI
Kim qua ảnh lí đan tâm khổ
ĐỒNG CỔ thanh
trung bạch phát sinh
Dĩ hạnh quy lai thân kiện tại
Mộng hồn do giác chướng hồn sinh
(bóng loè gươm sắt ḷng thêm đắng
rộn tiếng TRỐNG ĐỒNG, tóc đốm hoa
được sống trở về mùng vẫn khoẻ
c̣n ghê khí độc, giấc Nam Kha)
(thơ sứ thần Trung Hoa
Trần Cương Trung,
thời Nguyên – Mông về
sau)
[Trong Lê Quư Đôn
toàn tập, tập 11,
Kiến văn tiểu lục,
NXB. Khoa học xă hội, 1977,
tr. 171 – 172)
GIAI ĐOẠN HUYỀN SỬ
TRONG ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TOÀN THƯ (1697)
VÀ KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG
MỤC (1884)
1
Huyền sử và quan niệm về việc viết lịch sử
Các nhân vật và sự kiện lịch sử một khi
được ghi nhận như những con người trần phàm với những sự việc cũng trần
phàm nhưng rất đáng kể, cần ghi lại trong kí ức dân tộc, trong sách sử,
khi ấy, sử kí đă thật sự bước hẳn sang giai đoạn phi huyền sử.
Tuy nhiên, trước khi xuất hiện các sử gia tỉnh táo, sáng suốt như vậy
với các ghi chép, các bộ sử, lịch sử những dân tộc, đất nước h́nh thành
tự lâu đời, cách đây khoảng bốn ngàn (4.000) năm như Việt Nam ta, không
thể khác được, cũng phải trải qua một giai đoạn huyền sử khá dài.
Huyền sử
là sự thật lịch sử xen lẫn với nhiều
yếu tố thần thoại, truyền thuyết khá mơ hồ, phi thực,
huyễn hoặc và cũng rất bay bổng. Điều này cũng tương ứng với giai đoạn
loài người nói chung đang sống và tư duy, cảm xúc theo khả năng nhận
thức, lí giải mọi sự một cách hư hư thực thực, chưa phân biệt rạch ṛi
thần thánh, ma quỷ với con người trần tục.
Ngoài những di tích tín ngưỡng về các
nhân vật lịch sử cổ sơ, trên mặt đất chưa hề được những nhát thuổng,
chiếc bay của giới khảo cổ học hiện đại chạm đến, giai đoạn huyền sử
hàng ngàn năm chỉ c̣n lại các di tích tín ngưỡng, những thần thoại, nhất
là những truyền thuyết lịch sử, ca dao lịch sử được nhân dân truyền khẩu.
T́nh trạng giai đoạn huyền sử như
thế, nên các sử gia đời Trần như Lê Văn Hưu (1230 – 1322) không thể xem
di tích tín ngưỡng – lịch sử, truyền thuyết lịch sử, ca dao lịch sử đích
thực là sử. Đă đành như vậy. Nhưng xem đó là tài liệu lịch sử để tham
cứu, đăi lọc, hầu như Lê Văn Hưu cũng từ chối. “Nhâm thân, [Thiệu
Long] năm thứ 15 (1272), (Tống Hàm Thuần năm thứ 8, Nguyên Chí Nguyên
năm thứ 9). Mùa xuân, tháng giêng, Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện
giám tu Lê Văn Hưu vâng sắc soạn xong Đại Việt sử kí từ Triệu Vũ đế đến
Lư Chiêu Hoàng, gồm 30 quyển” (1). Rơ ràng Lê Văn Hưu và Quốc sử
viện chỉ biên soạn về giai đoạn phi huyền sử, từ Triệu Đà (ở ngôi:
207 – 136 tr. c. ng.) đến Chiêu Hoàng, nữ hoàng duy nhất và cuối cùng
của triều Lư (1225). Giai đoạn huyền sử từ Lạc Long quân đến An
Dương vương không được Đại Việt sử kí (1272) đề cập đến.
Huyền sử
chỉ được ghi chép vào chính sử bởi Ngô
Sĩ Liên (không rơ năm sinh và năm mất), một sử
gia lớn, từng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427), đỗ tiến sĩ thời
Lê Thái Tông (1434 – 1442), được Lê Thánh Tông (1460 – 1497) trao trọng
trách biên soạn Đại Việt sử kí toàn thư (bản 1479) (2).
Về sau, cho đến thời Nguyễn, bộ sử lớn
thứ hai trong ba bộ sử lớn của nước ta, sau bộ Toàn thư (1697) và
trước bộ Đại Nam thực
lục (kể cả các kỉ thuộc nửa
sau thế kỉ XIX (*)), là Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884)
(3). Ở Cương mục, các sử gia Quốc sử quán (từ 1856 đến 1884)
cũng ghi chép, khảo cứu lại giai đoạn huyền sử này. Tất nhiên,
Quốc sử quán triều Nguyễn c̣n duy lí hơn cả Sử quán nhà Hậu Lê, nên gạt
bỏ một phần các truyền thuyết lịch sử đă được Ngô Sĩ Liên ghi chép, b́nh
luận.
Phải chăng sự duy lí ấy là rất đáng tiếc?
Phải chăng thần thoại, truyền thuyết, ca dao lịch sử không phải không
xứng đáng là tài liệu lịch sử?
2
Sự bàn luận về việc chép sử giữa
các sử gia và giữa sử gia với nhà vua qua từng thời ḱ, từ các triều
Trần, Lê đến Nguyễn
Đại Việt sử kí toàn thư
được khắc in, ban hành trong cả nước,
vào tháng trọng đông (tháng 11) năm
Đinh sửu (1697), niên hiệu Chính Hoà thứ 18, đời vua Lê Gia Tông, đời
chúa Trịnh Tạc, với tên gọi trong Cương mục là Quốc sử thực
lục (4). Đó là bộ sử được biên soạn nối tiếp bởi các sử quan thuộc
Quốc sử viện triều Trần, Sử quán triều Lê cùng các sử gia chủ biên: Lê
Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Lê Tung (viết tổng luận),
Phạm Công Trứ, Lê Hy. Trong đó, Ngô Sĩ Liên là người trực tiếp biên soạn
quyển I của ngoại kỉ, viết về kỉ Hồng Bàng thị (2878 – 256
tr. c. ng.) và kỉ Nhà Thục (257 – 208 tr. c. ng.). Và chính ông
là người duy nhất được đề tên ngay trên quyển I này: “Triều Liệt đại
phu, Quốc tử giám tư nghiệp, kiêm sử quan tu soạn, thần Ngô Sĩ Liên biên”,
xem như quyển I đó là công tŕnh riêng của ông. GS. Phan Huy Lê cũng
đă lưu ư về điều đó (5).
Trong bản Phàm lệ về việc biên soạn
sách ĐVSKTT. (1479), Ngô Sĩ Liên tŕnh bày gián tiếp và trực tiếp
quan điểm của ông về giai đoạn huyền sử, trước hết là để “nối
đại thống của Hùng vương” :
“- Kinh Dương vương là vua bắt đầu
được phong của nước Đại Việt, cùng với Đế Nghi
[Trung Hoa
– TXA. chua thêm (ct.)] đồng thời, cho nên chép năm đầu ngang với năm
đầu của Đế Nghi.
- Những việc chép trong
ngoại kỉ là gốc ở dă sử, những việc
quá quái đản th́ bỏ đi không chép. Từ Hùng vương trở về trước, không có
niên biểu, thứ tự các đời vua truyền nhau không thể biết được, có thuyết
nói là 18 đời, sợ chưa chắc đă đúng” (6).
Nhưng Lê Tung vẫn là người được dịp bàn
sâu viết rộng hơn cả, bởi ông được phép viết bài “Việt giám thông
khảo tổng luận” vào năm Giáp tuất (1514), niên hiệu Hồng Thuận thứ
6, với số lượng trang chữ đáng kể. Chả là Lê Tương Dực
muốn được đọc bài rút gọn, chỉ gom nhặt điều cốt yếu, có lời b́nh, khi
Vũ Quỳnh làm xong Đại Việt thông giám thông khảo, nên Lê Tung
được dịp phát huy trí tuệ của ḿnh (7). Về sau, bài tổng luận được các
sử gia kế tục đánh giá tốt, và giữ lại, trang trọng đặt ở vị trí cuối
của phần đầu sách.
Qua bài tổng luận, Lê Tung viết về giai
đoạn huyền sử như sau:
“Kể từ khi Kinh Dương vương, họ Hồng
Bàng nối ḍng dơi Thần Nông, lấy con gái vua Động Đ́nh, sáng rơ đạo vợ
chồng, theo đúng nguồn phong hoá, vua th́ lấy đức mà cảm hoá dân, giũ áo
khoanh tay (8). Dân th́ cày ruộng, đào giếng, ra ngoài th́ làm lụng, trở
về th́ nghỉ ngơi, chẳng phải là phong tục thái b́nh cổ của Viêm Đế ư?
Lạc Long quân nối đời Hồng Bàng, lấy
con gái họ Âu Lạc [Âu Việt?
– ct.] mà có điềm lành sinh trăm con trai, tổ của người Bách Việt
thực bắt đầu từ đấy, hưởng nước trải nhiều năm, rất là lâu dài, đă giàu
thọ lại nhiều con trai, từ xưa đến nay chưa từng có.
Hùng vương nối nghiệp của Lạc Long,
chăm ban đức huệ vỗ yên dân, chuyên nghề làm ruộng, chăn tằm, không lo
can qua chinh chiến, con cháu nối đời đều gọi là Hùng vương, phúc 18 đời,
trải hơn hai ngh́n năm, buộc nút thắt dây mà làm chính sự, dân không
gian dối, có thể thấy được phong tục thuần hậu quê mùa vậy. Đến vua sau
đức kém, lười chính sự, bỏ sửa sang vũ bị, ham mê tửu sắc làm vui, binh
nước Thục vừa đến th́ quốc thống bèn mất.
An Dương vương, phía tây th́ dời sang
Ba Thục, phía nam th́ diệt vua Hùng Vương, đóng đô ở Loa Thành, giữ nước
Âu Lạc, nhờ được nỏ móng rùa, đánh lui quân nhà Tần, quen mui đánh thắng,
yên vui sinh kiêu, quân Triệu đến đánh mà cơi bờ không giữ được” (9).
Đến triều Nguyễn, ngày 15 tháng 12 năm
thứ 8 (22. 01. 1856), khi ban dụ chỉ về việc khởi công biên soạn lịch sử
dân tộc, Tự Đức cũng đă đề cập đến “nước Việt ta từ thời Hồng Bàng”
(10), không thể không biên soạn về giai đoạn huyền sử, từ Hồng Bàng đến
An Dương vương. Tuy vậy, cũng có sự tranh luận với những ư kiến khác
nhau. Trong đó, có ư kiến mặc dù đơn độc như của Đặng Quốc Lang nhưng
cũng được bảo lưu và tấu nghị lên nhà vua.
Tổng tài, phó tổng tài Phan Thanh Giản,
Phạm Xuân Quế cùng các toản tu trong Việt sử cục đă tham khảo các bộ
chính sử của Trung Hoa biên chép về giai đoạn huyền sử của họ và nhận
thấy, họ gạt bỏ Bàn Cổ, Tam Hoàng, chỉ chép bắt đầu từ Phục Hi hoặc muộn
hơn, từ đời Đường Nghiêu. Tấu nghị viết: “Nay tra cứu Sử cũ của nước
ta chép về thời Hồng Bàng thị, có danh hiệu Kinh Dương vương, Lạc Long
quân, nhưng lúc ấy là thời đại thượng cổ, hăy c̣n hỗn độn lờ mờ, tác giả
chỉ dựa vào chỗ bâng quơ mà biên soạn ra, rồi e rằng không có ǵ là căn
cứ để cho người ta tin, lại phụ hoạ theo truyện Liễu Nghị đời Đường của
nhà tiểu thuyết để làm chứng cứ” (11). Việt sử cục triều Nguyễn chỉ
căn cứ vào những tư liệu khả tín. Tấu nghị viết tiếp: “Xét về thời
Hùng vương lập quốc, đặt tên nước là Văn Lang, kinh đô đóng ở Phong Châu,
chia nước ra 15 bộ, từ đấy mà đi, trong nước mới dần có chế độ, cha
truyền con nối trải 18 đời, kể hai ngàn năm có lẻ. Trong các đời ấy có
một vài dấu vết chép trong sử Trung quốc […]. Những việc kể trên c̣n có
chứng cứ để tin. Như thế th́ sử nước ta chép từ đời Hùng vương […]. Vậy
nghĩ định bộ Việt sử này, về việc gây dựng quốc thống, nên bắt đầu từ
đời Hùng vương. C̣n những việc về Kinh Dương và Lạc Long th́ sẽ theo sự
truyền văn chua phụ ở dưới, như thế có thể hợp với cái nghĩa “dĩ nghi
truyền nghi” (11). Và, ư kiến về một kỉ khác: “An Dương vương là
người nước ngoài…” (11)!
Ư kiến đơn độc của Đặng Quốc Lang cũng
được bản tấu nghị ghi rơ: “Trong bọn chúng tôi duy có Đặng Quốc Lang
trộm nghĩ rằng niên kỉ Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương vương, Lạc Long quân,
Hùng vương, dầu rằng thế đại cách nay đă quá xa, không có văn tự lưu
truyền lại, những việc chép phần nhiều hoang đường quái dị, nhưng bấy
giờ đă đặt kinh đô, đă dựng nước, trải qua năm tháng khá dài lâu, các
ông vua ấy đều là vua mở đầu của nước ta. Năm Hồng Đức thứ 10, sử thần
triều Lê là Ngô Sĩ Liên biên tập Đại Việt sử kí. Lúc ấy Thánh Tông Thuần
hoàng đế là một ông vua yêu chuộng văn học, hạ chiếu cho t́m sách dă sử
và truyện kí xưa nay lưu trữ ở các nhà tư, để việc tham khảo được đầy đủ.
Bộ sách ấy Ngô Sĩ Liên dứt khoát chép từ đời Hồng Bàng, nhận định Kinh
Dương vương là vua mở đầu quốc thống. Bấy giờ bọn bầy tôi vào hạng nho
học rất nhiều, mà không có một người nào chê là không hợp lẽ. Vả lại, bộ
sách soạn xong đă hơn ba trăm năm nay, trải qua đời Hồng Thuận và Cảnh
Trị, lại hai lần kén chọn bọn nho thần biên soạn, khảo cứu, đính chính,
trong khoảng các năm ấy không thiếu ǵ những bậc học rộng thấy xa, mà
cũng không thay đổi ǵ khác cả. Thế th́ bộ sử do Sĩ Liên biên soạn trước
đây, tưởng cũng không phải soạn ra bằng cách hăo huyền không thực. Nay
nếu bộ Việt sử này chỉ bắt đầu chép từ đời Hùng vương, c̣n những việc về
đời Kinh Dương và Lạc Long chỉ chua ở cuối phần chép đời Hùng vương, e
rằng không thể nào làm cho đầy đủ thế thứ và sáng tỏ gốc nguồn được”
(12).
Bản tấu nghị kết thúc: “Về niên kỉ
Hồng Bàng thị, nên chép bắt đầu từ đời vua Kinh Dương và Lạc Long, cần
định xem việc ǵ hợp với lẽ phải th́ chép, rồi sẽ chép tiếp đến Hùng
vương, để tỏ rơ chỗ mở đầu quốc thống, c̣n những việc hoang đường quái
dị, cũng hăy cứ ghi lại những truyền thuyết mà chua phụ ở dưới phần
“mục” (13).
Trong dụ chỉ II (12. 9. 1856), vua Tự
Đức nêu một câu hỏi khá sắc lạnh để nhắc nhở phương châm của sử gia:
“Vậy th́, đối với nghĩa ‘bỏ việc quái dị, nói việc b́nh thường’ của nhà
làm sử, có thể chép như thế được không?” (14). Tự Đức viết dụ tiếp,
với sự “chuẩn y cho chép bắt đầu từ đời Hùng vương, để nêu rơ quốc
thống nước ta từ đấy. C̣n hai kỉ Kinh Dương và Lạc Long th́ chuẩn cho
chua phụ ở sau việc đời Hùng vương, để hợp với việc ‘dĩ nghi truyền nghi’”
(14). Tất nhiên, về An Dương vương, dụ chỉ của Tự Đức vẫn chuẩn cho
chép vào phụ lục, không xem là chính thống… (14).
Trải qua nhiều đời tổng tài Quốc sử quán,
từ Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, cuối cùng đến Nguyễn Văn Tường, với
sự duyệt nghị của phó tổng tài Lê Bá Thận (1871), duyệt kiểm của toản tu
Phạm Huy (1872), phúc kiểm của tế tửu Bùi Ước (1876), duyệt đính của
Quản Hàn lâm viện ấn triện Nguyễn Tư Giản (1878), cuối cùng là duyệt
kiểm của phó tổng tài Phạm Thận Duật, toản tu Vũ Nhự (1881) cùng các tập
thể sử quan tên tuổi được ghi lại, măi đến năm Kiến Phúc nguyên niên
(1884), Phạm Thận Duật cùng Vũ Nhự đă dâng tiến biểu để khắc in. Tiến
biểu (1884) viết về giai đoạn huyền sử: “Bắt đầu chép từ lúc
dựng nước Văn Lang, nêu rơ gốc nguồn vương thống; chép việc sai quan của
Đường đế làm tỏ tên cơi
Nam Giao. […] Người đặt tên nước Âu Lạc […] chép ngang như liệt quốc”
(15).
3
Huyền sử từ Toàn thư đến Cương mục
Về giai đoạn huyền sử, Sử quán
nhà Hậu Lê đă biên soạn, lưu giữ lại những ǵ từ các huyền thoại, truyền
thuyết, ca dao lịch sử trong Toàn thư? Ngô Sĩ Liên đă ghi lại
huyền thoại của một vị vua gọi là Hoàng Đế, một danh từ chung được sử
dụng như danh từ riêng (như thể Thượng Đế)
bằng để
cùng đối sánh. Nước ta bấy giờ có tên gọi là Giao Chỉ (đất của xứ Giao
Long (17)) và Việt Thường thị, cuối cơi Bách Việt. Kỉ Hồng Bàng thị khởi
đầu từ đó, với ba niên hiệu: Kinh Dương vương (Lộc Tục), Lạc Long quân (Sùng
Lăm), Hùng vương (không rơ tên huư, trải 18 đời đều xưng là Hùng vương [hoặc
Lạc vương]). Toàn thư ghi cả chuyện Mẹ Âu Cơ sinh ra trăm trứng,
nở ra trăm con trai, tổ của Bách Việt (trăm xứ Việt), và lời chia tay,
chia con giữa mẹ Âu [Việt] – cha Lạc [Việt], người lên núi, kẻ về biển.
Và vua Hùng lên ngôi, đóng đô ở Phong Châu, đặt quốc hiệu là Văn Lang,
chia nước ra làm mười lăm bộ, đặt Lạc hầu, Lạc tướng, hoàng tử gọi là
quan lang, công chúa gọi là mị nương, quan coi việc là bồ
chính (bồ chính được thế tập, với thể chế phụ đạo). Toàn thư
viết về tục vẽ ḿnh, đặc biệt là truyện Thánh Gióng vào đời Hùng
vương thứ 6, chuyện biếu chim trĩ trắng cho vua Phương Bắc nhà Chu, và
huyền thuyết Sơn Tinh – Thuỷ Tinh. Đó là những huyền thoại,
truyền thuyết hầu như người Việt Nam nào cũng biết. Tất cả đă trở thành
kí ức măi măi không phai mờ của dân tộc.
“Trở lên là (kỉ) Hồng Bàng thị, từ
Kinh Dương vương được phong năm Nhâm tuất, cùng thời với Đế Nghi [Phương
Bắc – ct.], truyền đến cuối thời Hùng vương, ngang đời Noăn vương nhà
Chu năm thứ 57 (258 t. c. n.) là năm Quư măo th́ hết, tất cả 2.622 năm (2879
– 258 t. c. n.)” (16).
Đó là đoạn Toàn thư kết lại để
chuyển sang kỉ Hùng vương (18).
Cương mục
hầu như cũng chép y nguyên như Sử cũ
(ở đây là Toàn thư), chỉ khác cách sắp xếp như
tấu nghị, dụ chỉ, phàm lệ đă bàn khá cụ thể. Do cách quan niệm về sử,
nên truyền thuyết Mẹ Âu Cơ và Trăm trứng (trăm con trai) chỉ được
đặt vào phần lời chua thêm, lại lược bỏ hẳn hai truyền thuyết Thánh
Gióng, Sơn Tinh – Thuỷ Tinh; nhưng lại căn cứ vào sách Cương mục tiền
biên của Lư Kim Tường và Thông chí của Trịnh Tiều để chép
việc sứ thần Việt Thường thị sang Trung Hoa tiến rùa thần, trên lưng có
chữ khoa đẩu (kiểu chữ thời nhà Chu, 1134 – 250 tr. c. ng.), khiến vua
Nghiêu phải sai quan chép lấy, gọi là Quy lịch (lịch rùa) (19).
Không chỉ thời Hùng vương, huyền sử c̣n
là giai đoạn Thục Phán An Dương vương trị v́ nước Âu Lạc (Âu Việt + Lạc
Việt) (*).
So với Toàn thư, rơ ràng Cương
mục thể hiện một tinh thần duy lí, khoa học ở mức độ cao hơn. Ở
Toàn thư, phần phụ chỉ có lời b́nh của sử gia, c̣n ở Cương mục
là những tiểu mục cẩn án, lời chua rất chi tiết, cụ thể, có đối
chiếu với nhiều thư tịch cổ của Trung Hoa, sách sử của danh sĩ trong
nước, có trích dẫn nguyên văn các sách ấy, do Quốc sử quán biên soạn.
Riêng sách đối chiếu, có đến hàng chục bộ: Đường thư địa lí chí;
Thái B́nh hoàn vũ kí của Nhạc Sử triều Tống; Kinh Thi; An Nam
chí nguyên của Cao Hùng Trưng; Lịch sử cương mục bổ; Thông
giám tập lăm; Dư địa quận quốc thiên hạ; Đại Thanh nhất thống chí;
Địa dư chí của Nguyễn Trăi (đời Hậu Lê); Kinh Thư; Tập
truyện kinh Thư của Thái Trừng; Thông chí của Trịnh Tiều;
Cương mục tiền biên của Lư Kim Tường; Sử kí của Tư Mă Thiên;
Phương dư kỉ yếu… Đặc biệt, lại có thêm lời châu phê của Tự
Đức.
Xin dẫn một phần của một lời chua tiêu
biểu như sau: “Truyền mười tám đời: ‘An Nam chí nguyên’ của Cao Hùng
Trưng chép: “Giao Chỉ khi chưa đặt làm quận huyện, bấy giờ có ruộng Lạc,
theo nước triều lên xuống mà làm ruộng; khai khẩn ruộng ấy là Lạc dân,
thống trị dân ấy là Lạc vương, người giúp việc là Lạc tướng, đều dùng
ấn đồng, thao xanh. Nước gọi là Văn Lang. Phong tục thuần hậu,
mộc mạc, chưa có chữ nghĩa, c̣n dùng lối thắt dây làm dấu ghi nhớ;
truyền được mười tám đời”” (20).
Nói đúng hơn, huyền sử với các
thần thoại, truyền thuyết, kể cả ca dao có dấu vết lịch sử (như Chàng
về thiếp một theo mây, Con thơ để lại đất này ai nuôi) là sự
thật lịch sử được phản ánh bằng thi pháp đặc trưng của tư duy cổ đại.
Nhưng không chỉ thế. Các thư tịch cổ Trung Hoa và Việt
Nam thuở xa xưa được tra cứu nói trên cũng đă góp phần quan trọng để chứng
minh giai đoạn huyền sử này: lịch sử thời Hùng vương dựng nước
là có thật, chứ không phải là huyền hoặc.
Sự thật lịch sử thời Hùng vương dựng
nước này và cả thời Thục Phán An Dương vương cũng c̣n được chứng minh
một cách không thể bác bỏ bằng các ngành khoa học hiện đại về sau: khảo
cổ học, nhân chủng học, dân tộc học, ngôn ngữ học (phân môn ngữ âm lịch
sử); địa lí học nhân văn, cổ sinh vật học với sự vận dụng các thành tựu
của các khoa học thực nghiệm như hoá học, vật lí học, địa chất học… Văn
học cũng có sự đóng góp nhất định cho sử học. Cho đến nay, các công
tŕnh sử học của các nhà nghiên cứu sử đă đi sâu vào việc này.
4
Tinh thần khoa
học đích thực đối với huyền thoại, truyền thuyết và ca dao lịch sử
Không thể nói khác được, rơ ràng các sử
gia Trần – Lê – Nguyễn đă dần dà đẩy các huyền thoại, truyền thuyết, ca
dao lịch sử về phía văn học, ngành khoa học chuyên nghiên cứu các sản
phẩm của nghệ thuật hư cấu! Không những Cương mục thẳng thừng gạt
bỏ những truyền thuyết lịch sử thuần chất hoặc pha đậm yếu tố cắt nghĩa
hiện tượng thiên nhiên – xă hội cực ḱ tuyệt vời như Thánh Gióng, Sơn
Tinh – Thuỷ Tinh mà cả những cổ tích phản ánh tự nhiên – xă hội thời
Lạc Long quân như chùm truyện Hồ tinh, Mộc tinh, Ngư tinh, thời
Hùng vương như An Tiêm, Chử Đồng Tử – Tiên Dung, Trầu cau, Bánh chưng
bánh dầy cũng bị gạt nốt ở Toàn thư! Không nghi ngờ ǵ nữa về
hiện thực phản ánh, đó là thời Hùng vương dựng nước, khi mỗi câu chuyện
cổ ấy đều bắt đầu: “Ngày xửa ngày xưa, vào thời vua Hùng thứ 6…”;
“ngày xửa ngày xưa, vào thời Hùng vương thứ 18…” (21). Tất nhiên văn
học không bao giờ từ chối những di sản quư báu đến thế! Đó là di sản cổ
không có ǵ có thể thay thế nổi.
Khi nhận định rằng có sự tiến bộ về tinh
thần khoa học lịch sử của các thế hệ sử gia từ triều Trần, đến Hậu Lê và
kế tiếp sau đó là triều Nguyễn, không thể không nhớ lại câu nhắc nhở của
Tự Đức trong bản dụ chỉ II (12. 9. 1856) về việc biên soạn Cương mục.
Bấy giờ, vua Tự Đức nêu một câu hỏi khá sắc lạnh để nhắc nhở phương châm
của sử gia: “Vậy th́, đối với nghĩa ‘bỏ việc quái dị, nói việc
b́nh thường’ của nhà làm sử, có thể chép như thế được không?” (14).
Tuy nhiên, thế là khoa học nhưng thật sự
chưa phải khoa học. Gạt bỏ phần quái dị, thực thực hư hư của các yếu tố
hoang đường, thần thánh, ma quỷ xen lẫn với nhân vật, sự kiện lịch sử
trần phàm là do ư thức duy lí của nhà nho. Tuy nhiên, nói một cách khái
quát, mức độ khoa học ấy c̣n hạn chế, ở chỗ chưa bảo lưu toàn vẹn vốn cổ
thời hồng hoang, cổ đại của nhân loại nói chung, tổ tiên người Việt Nam
chúng ta nói riêng. Ở tŕnh độ khoa học hiện đại, phát triển đến mức cao
hơn thế kỉ XIX trở về trước, các nhà nghiên cứu lịch sử chính trị – xă
hội (bao gồm cả kinh tế, văn hoá…) và các nhà nghiên cứu văn học đều
khai thác bằng phương pháp giải mă các yếu tố hoang đường, thần tiên và
quái dị, để t́m thấy những dấu tích của sự thật lịch sử vốn đă được mă
hoá. Trào lưu giải huyền thoại hiện nay lại thô bạo, phá phách,
tục tĩu, thực chất là phản khoa học và vô ơn đối với cổ nhân. Tôi chợt
nhớ một câu danh ngôn: “Bắn vào quá khứ bằng súng lục, quá khứ sẽ nă
vào hiện tại và tương lai bằng đại bác”.
Tp. HCM., khởi thảo
vào 15 giờ 12’ chiều ngày 19. 06. 2004 (02. 05. Giáp thân HB4);
viết xong : 15 giờ
59’, 20. 06. HB4 (03. 05. G. thân HB4).
TRẦN XUÂN AN
(1) Đại Việt sử kí toàn thư, (gọi tắt là Toàn thư),
bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 2, Nxb. Văn hoá –
Thông tin, 2003, tr. 55 (BK. [bản kỉ], q. V, tờ 33a – 33b). TXA. in
nghiêng (ing.) và in đậm (iđ.) tên bộ sử (chỉ gồm bốn chữ: Đại Việt
sử kí) do Lê Văn Hưu và Quốc sử viện triều Trần soạn.
(2) Xin phân biệt với bộ sử hoàn chỉnh, cũng lấy lại nguyên
tên sách (ĐVSKTT.), khắc in về sau, vào năm 1697. ĐVSKTT. (1697), thường
được gọi tắt là Toàn thư (1697) vốn đă chỉnh lí, tục biên từ bộ sử hoàn
thành năm 1479 bởi Ngô Sĩ Liên và Sử quán triều Hậu Lê. Xin xem thêm bài
khảo cứu “ĐVSKTT., tác giả, văn bản, tác phẩm” của GS. Phan Huy
Lê, được đặt ở phần giới thiệu đầu bản dịch Toàn thư, tập 1, sđd., tr.
13 – 110.
(*) Những thời điểm hoàn tất và khắc in các kỉ tiền biên và
các kỉ chính biên (từ kỉ thứ nhất đến kỉ thứ ba chính biên) của bộ
Đại Nam thực lục,
là trước 1879. Ba kỉ chính biên kế tiếp, từ kỉ thứ tư [1847 – 1883] đến
kỉ thứ năm [1884 – 1885], kỉ thứ sáu [1885 – 1888], được biên soạn và
khắc in trong thập kỉ cuối của thế kỉ mười chín (XIX), thập kỉ đầu của
thế kỉ hai mươi (XX).
(3) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi
tắt là Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch, 2 tập, Nxb.
Giáo Dục, 1998.
(4) Cương mục, sđd., tập 2, tr. 378 (Chb. [chính biên]
XXXIV, tờ 40 – 41).
(5) Toàn thư, bản dịch, tập 1, sđd., bài giới thiệu
của GS. Phan Huy Lê, “ĐVSKTT., tác giả, văn bản, tác phẩm”, tr. 46.
(6) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 127 & 128 (Phl. [phàm
lệ], tờ 1a & tờ 1b – 2a).
(7) Toàn thư, sđd., tập 3, tr. 114 (BK., q. XV, tờ
24b). Xem thêm cước chú của hai dịch giả Hoàng Văn Lâu & Ngô Thế Long về
ghi nhận của Phan Huy Chú: để tiện đọc!
(8) Xem cước chú (9): Cước chú của dịch giả Ngô Đức Thọ: Ư
nói, vua chỉ cho phép thường mà trị nước, không bày đặt chính lệnh phiền
nhiễu.
(9) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 150 (Tl. [tổng luận],
tờ 3b – 4a). TXA. in đậm (iđ.), in nghiêng (ing.) & chua thêm (ct).
(10) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 17 (Dch. [dụ chỉ] I,
tờ 1).
(11) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 21 – 23 (Tng. [tấu
nghị], tờ 3 – 4).
(12) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 25 – 26 (Tng., 6 –
7).
(13) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 27 (Tng., 8). Mỗi
tiểu mục có 2 phần: cương (tiêu đề, cốt yếu) và mục (diễn giải chi tiết).
(14) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 29 – 30 (Dch. II, 9 –
10).
(15) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 55 (Tnb. [tiến biểu],
3). Trong những ngày sau cuộc Kinh đô quật khởi và bị thất thủ (05. 7.
1885), “… cái đă làm cho chính Nguyễn Văn Tường cũng phải khóc là
việc thiêu huỷ kho lưu trữ ở hầu hết các Bộ và của Thư viện Quốc gia;
những thiệt hại của các pḥng viết sử biên niên (Quốc sử quán), của Quốc
gia ấn quán, các bản gỗ rời khắc lịch sử bằng chữ Hán đă biến mất” (Jean
Chesneaux [dẫn lời thú nhận của linh mục Pène-Siefert, kẻ đi theo đoàn
quân xâm lược], “Đóng góp vào lịch sử dân tộc Việt Nam”
[Contribution à l’Histoires de la Nation Vietnamiene], tr. 134), dẫn lại
từ: Nguyễn Đắc Xuân, Hỏi đáp về triều Nguyễn và Huế xưa, tập 6,
Nxb. Trẻ, 2003, tr. 56 – 57. May thay, bản thảo gốc Khâm định Việt sử
thông giám cương mục (1884), Đại Nam thực lục, tiền biên & ba
kỉ chính biên (I, II, III [từ Gia Long đến Thiệu Trị]), và phần lớn châu
bản thời Tự Đức – Hàm Nghi vẫn c̣n tồn tại, nên hôm nay giới sử học có
được tư liệu gốc để nghiên cứu!
(16) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 171 – 178 (NK., q. I,
tờ 1a – 5b). TXA. ct..
(17) Chỉ: vùng đất; giao: giao long. Không phải theo cách
giải thích sai lầm: hai ngón chân cái giao nhau. Xem: Đào Duy Anh,
Lịch sử Việt
Nam, Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2002, tr. 35: Vùng
đất của nhân tộc xem Giao Long là vật tổ (tô-tem): Con rồng cháu tiên.
(18) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 174 (NK., q. I, tờ
2b): Trong kỉ Hồng Bàng thị, Ngô Sĩ Liên có lời b́nh về hôn nhân đồng
huyết: “Xét sách ‘Thông giám ngoại kỉ’ nói: Đế Lai là con Đế Nghi; cứ
theo sự ghi chép ấy th́ Kinh Dương vương là em ruột Đế Nghi, thế mà kết
hôn với nhau, có lẽ v́ đời ấy c̣n hoang sơ, lễ nhạc chưa đặt mà như thế
chăng?”. Cước chú của dịch giả: “Thông giám ngoại kỉ” là phần
ngoại kỉ thuộc bộ sách “Tư tri thông giám” của Tư Mă Quang (đời
Tống).
(19) Theo chú thích của dịch giả Ngô Đức Thọ: Về Việt Thường
thị, sách Thuỷ kinh chú, Cựu Đường thư cho là ở quận Cửu
Đức (tức Hà Tĩnh nước ta hiện nay); nhưng các sách Văn hiến thông
khảo, Minh sử, Minh nhất thống chí lại cho là thuộc vùng đất về sau
thành nước Lâm Ấp (Chiêm Thành).
(*) Xin xem bài “An Dương vương, ‘giặc Thục’ hay anh hùng
bi tráng?” (TXA.).
(20) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 73 (Tb.I, 2). TXA. iđ..
(21) Có người cho rằng các cổ tích này được gia công về sau (thời
Lư – Trần: Lĩnh
Nam chích quái
của Trần Thế Pháp; thời Trần: Việt điện u linh tập của Lư Tế
Xuyên)! Đó không phải là ư kiến thoả đáng.
(14) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 29 – 30 (Dch. II, 9 –
10). TXA. iđ..