SUY NGHĨ
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
TRONG
LỊCH SỬ CỔ ĐẠI
NƯỚC TA
Chương III
THỜI KHAI SÁNG KỈ NGUYÊN ĐỘC LẬP, TỰ DO
VÀ NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN TỰ CHỦ TRUNG ĐẠI
KHÁI LƯỢC VỀ THỜI VÀ THẾ (906 – 980)
Trong 304 năm, sau triều đại Tiền Lư –
Triệu Việt vương – Hậu tiền Lư (541 – 602), từ năm Quư hợi (603) đến năm
Bính dần (906), nước ta bị phụ thuộc dưới ách đô hộ của hai đế chế hầu
như nhất thống toàn cơi Trung Hoa là Tuỳ và Đường. Nối tiếp truyền thống
từ các cuộc kháng chiến vĩ đại của Trưng Trắc – Trưng Nhị (40 – 43),
Triệu Thị Trinh (248) trước kia, suốt ba trăm năm lẻ đó, hai cuộc khởi
nghĩa, kháng chiến lập nên hai triều đại độc lập, tự chủ: Mai Hắc đế
(722), Phùng Hưng (791). Tuy ngắn ngủi, nhưng triều Mai và triều Phùng
không những chỉ gây phấn chấn cho ư chí quật khởi, tự cường của dân tộc,
mà c̣n buộc kẻ thù xâm lược là bọn phong kiến bành trướng Hán tộc Trung
Hoa phải run sợ, lo âu.
Đến thời điểm cuối thế kỉ thứ IX, bước
sang thế kỉ thứ X, một thời cơ lịch sử dần dần chín muồi để nhân dân ta
mở ra một kỉ nguyên mới, quyết giành lại và quyết giữ vững mạnh, bền lâu
nền độc lập, tự do cho Đất nước. Đây là kỉ nguyên được khai sáng bởi dân
tộc Việt, một dân tộc bấy giờ chưa đông đảo, một đất nước vốn không rộng,
bị áp bức, bị đồng hoá cả văn hoá lẫn phần nào huyết thống, nhưng vẫn
giữ được cốt cách, bản sắc dân tộc để tự lực đánh bại một đế quốc cổ đại
khổng lồ cực ḱ nham hiểm là Trung Hoa phong kiến.
Thời điểm lịch sử là năm 906.
1
Ở Trung Hoa:
Bấy giờ, phía chính quốc Trung Hoa, nhà
Đường đă phải rơi vào chỗ diệt vong, sau hơn 80 năm tuột dốc – quăng
lịch sử được gọi là mạt Đường (823 – 907). Nếu thời trung Đường, biến
động chủ yếu là khởi nghĩa An Lộc Sơn và t́nh trạng phiên trấn cát cứ,
liên minh chống triều Đường, th́ vào thời mạt Đường, nội loạn chính là
do thế lực của hoạn quan (mặc dù hoạn quan được trọng dụng khởi từ sự
mất tin tưởng của vua Đường vào các quan văn vơ, nhất là các tiết độ sứ
tại các phiên trấn). Với các vua chúa, hoạn quan thực chất chỉ là bọn
gia nô, thế mà, vua Văn đế nhà Đường phải nuốt hận than: “Trẫm bị gia
nô áp bức!”. Và các vua kế tiếp cuối thời mạt Đường lại do chính thế
lực hoạn quan lập lên. Hoạn quan hoàn toàn tuỳ ư sử dụng, bố trí quan
khanh, tuỳ ư giết hại hay trọng thưởng họ. Hoạn quan đục khoét, bán chức
buôn án.
Trong khi đó, bên ngoài cung đ́nh nhà
Đường, các tộc người, các nước nhỏ như Nam Chiếu, Cầu Phủ, Bàn Huân kéo
quân vào trung nguyên để xâm chiếm hoặc uy hiếp. Nổi bật nhất vẫn là hai
cuộc khởi nghĩa do Vương Tiên Chi và Hoàng Sào lănh đạo.
Năm 875, Hoàng Sào khởi binh. Sau đó,
lực lượng khởi nghĩa mạnh dần, tấn công vào tận kinh đô Trường An, vua
Đường lại thêm một lần chạy qua đất Thục. Chỉ 6 năm, Hoàng Sào đă đạt
thắng lợi, lên ngôi hoàng đế.
Lư Khắc Dụng (thuộc tộc Sa Đà của sắc
tộc Đột Quyết) được triệu về, trấn áp được cuộc khởi nghĩa Hoàng Sào.
Nhưng một viên tướng của Hoàng Sào được trọng dụng, đó là Chu Toàn Trung.
Chu đă cùng Thôi Dận, Lư Mậu Trung dẹp yên được bọn hoạn quan lộng quyền.
Về sau, chính Chu Toàn Trung đă giết vua
Đường – Chiêu Tông, lập Ai đế, rồi lại ép Ai đế nhà Đường nhường ngôi,
để y lên ngôi cữu ngũ, lập nên nhà Hậu Lương (907). Vai tṛ và quyền
bính nhà Đường phải bị tước đoạt, sụp đổ, diệt vong sau 209 năm tồn tại
(1).
Sau khi nhà Đường bị cướp ngôi vĩnh viễn,
lịch sử Trung Hoa bước sang một chặng khác với nhiều ngả rẽ.
Đó là thời Ngũ Đại – Thập Quốc (907 –
960):
● Ở trung nguyên Trung Hoa:
1. Chu Toàn Trung chiếm ngôi nhà Đường,
lập ra nhà Hậu Lương. Đến năm 923, nhà Hậu Lương bị Lư Tồn Húc
tiêu diệt.
2. Lư Tồn Húc (tộc người Sa Đà) lập nên
nhà Hậu Đường (923).
3. Thạch Kỉnh Đường (tộc người Sa Đà)
diệt Hậu Đường (936 ?), lập nên nhà Hậu Tấn. Sau hai đời vua (11
năm), nhà Hậu Tấn đầu hàng quân binh của nhân tộc Khiết Đan (947 ?).
4. Lưu Trí Viễn (tộc người Sa Đà), thấy
trung nguyên vô chủ, lập nên nhà Hậu Hán. Sau 4 năm (947 ? – 951
?), lại bị Quách Uy tiếm ngôi.
5. Quách Uy (tộc Hán) lập ra nhà Hậu
Chu (951 ? – 960 ?). Triệu Khuông Dẫn lại ép vua Hậu Chu nhường ngôi,
lập nên nhà Tống.
●
Ở các biên trấn chung
quanh trung nguyên Trung Hoa:
Trong thời đoạn khoảng 53 năm (907 –
960) ấy, mười nước khác vốn là các phiên trấn, đứng đầu là các tiết độ
sứ cát cứ, chớp lấy thời cơ, mỗi xứ tự xưng thành nước độc lập. Thập
quốc ấy gồm: Ngô, Tiền Thục, Ngô Việt, Sở, Mân, Nam B́nh, Hậu Thục,
Nam Đường, Bắc Hán, đặc biệt là nước Nam Hán gần kề nước ta
(đất Quảng Đông ngày nay), do Lưu Ẩn dựng lên.
Cuối cùng Triệu Khuông Dẫn đánh thắng
tất cả, lập nên nhà Tống (Bắc Tống: 960 – 1126; Nam Tống: 1127 – 1279 [tổng
cộng 320 năm]). Nhưng tồn tại bên cạnh nhà Tống (Hán tộc) ở trung nguyên,
c̣n có nước Liêu (tộc người Khiết Đan), nước Tây Hạ (tộc Thát Bạt), nước
Kim (tộc Nữ Chân) (1).
2
Ở nước ta:
Năm Quư mùi (803), bộ tướng Giao Châu
đánh đuổi tên đô hộ phủ Bùi Thái về nước (2).
Năm Kỉ hợi (819), Dương Thanh, cha ông
từng làm ngụy quan đến chức thứ sử Hoan Châu, bản thân vốn là tù trưởng
người thiểu số (tộc người ở Giao Châu), đánh úp phủ thành, giết tên đầu
sỏ Đô hộ phủ là Lư Tượng Cổ. Cuộc khởi nghĩa kéo dài khoảng chín năm.
Nhà Đường đă từng mua chuộc Dương Thanh bằng chức thứ sử ở Quỳnh Châu,
nhưng người anh hùng này vẫn kiên quyết kháng chiến. Đến năm Mậu thân
(828), Dương Thanh bị giặc Đường đánh bại, bắt được và đem chém, tru di
cả họ tộc (3).
Năm Tân dậu (841), kinh lược sứ Vũ Hồn
từ Tàu sang nhậm chức, bắt quân lính đắp sửa thành luỹ, gây nên một cuộc
nổi dậy lớn, khiến y phải chạy về Quảng Châu (4).
Năm Mậu dần (858), nhân dân Giao Châu
lại nổi dậy. Nhưng Vương Thức lại là một tên thực dân cổ đại cáo già, y
đă khôn khéo, nham hiểm, trầm tĩnh đối phó (5)!
Mặt khác, nạn xâm lăng của quân Nam
Chiếu suốt 20 năm trời (846 – 866), trong đó có năm chúng đánh thắng
quan quân nhà Đường (860) và chiếm đóng trên nước ta (863 – 866), gây
thêm cho nhân dân rất nhiều tang tóc, đau khổ! Năm Giáp thân (864), Cao
Biền được cử sang làm đô hộ tổng quản và chuyên lo việc đánh dẹp quân
Nam Chiếu. Sau khi y thắng lợi, được phong làm tiết độ sứ (866). Cao
Biền là một tên thực dân phong kiến cổ đại rất mực tinh vi trong thủ
đoạn lừa bịp một số không ít nhân dân, đến mức y tự dựng lên huyền thoại
về bản thân: y có phù phép như có thể hô phong hoán vũ, t́m ra long mạch,
cỡi diều giấy bay khắp mọi nơi… Đây cũng là một hiện tượng khá đặc biệt
đến mức ḱ quặc (6).
Năm Canh tí (880), quân Đô hộ phủ lại
nổi loạn chống tiết độ sứ Tăng Cổn (7). …
Hai điều kiện thời và thế đă h́nh thành
trong diễn biến lịch sử như vậy. Đến năm 906, cuộc khởi nghĩa bắt đầu nổ
ra, khởi đầu từ Khúc Thừa Dụ, đến Dương Đ́nh Nghệ. Và lưỡi kiếm lịch sử,
Đất nước đă trao tay Ngô Quyền để hoàn tất sứ mệnh giành giữ độc lập,
tự do, rồi trao đến Đinh Bộ Lĩnh với sứ mệnh thống nhất bờ
cơi nước ta về một mối.
TP. HCM., 10 giờ 15
phút ngày 16. 07. HB4
(29. 05 G. thân
HB4).
TRẦN XUÂN AN
Cước chú
của bài Khái lược về thời và thế (906 – 980):
(1) Xem: Phan Khoang, Trung Quốc sử lược, ấn quán Hồng Phát,
Chợ Lớn – Sài G̣n, 1958, tr. 133 – 136.
(2) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là
Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo
Dục, 1998, tr. 192 (Tb. [tiền biên], [quyển] IV, [tờ] 27).
(3) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội
các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin,
2003, tr. 273 – 274 (NK. [ngoại kỉ], q. [quyển] V, [tờ] 7a – 8a); Cương
mục, sđd., tập 1, tr. 194 – 195 (Tb. [tiền biên], [quyển] IV, [tờ] 29 –
30).
(4) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 199 (Tb., IV, 34 – 35).
(5) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 202 – 203 (Tb., IV, 38 – 39).
(6) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 199 – 214 (Tb., IV, 35 – 36…,
& q. V, [tờ] 10); Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập
2, bản dịch Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hoá,
1992, tr. 289: có đến ba trăm (300) đền thờ về y ở các địa phương trong
tỉnh Thanh Hoá, chưa kể ở các tỉnh khác như Nghệ An, Hải Dương v. v… với
sự tôn xưng y là Cao vương [sic!]. Xem thêm: sđd., tập 3, tr. 425 (sự
tích Cao Vương, chương về tỉnh Hải Dương). Chắc hẳn sự tôn thờ phi lí
này là do “ma thuật” lừa bịp của Cao Biền và do mệnh lệnh của nhà Đường,
một phần khác là do tướng tá trong đội quân viễn chinh của y lưu trú,
trực tiếp phỉnh gạt và cưỡng bức nhân dân ta. Vả lại, dẫu không đặt chân
đến để chăm lo hương khói, nhân dân cũng không dám đập phá v́ tâm lí mê
tín, sợ “thần” ngại quỷ. Xin trích một vài đoạn nguyên văn từ sđd., tập
3, tr. 425 [TXA. in đậm (iđ.) & chua thêm (ct.)]:
“[…] Vương người tỉnh Bảo Sơn, thuộc quận Quảng
Nam ở Trung Quốc, họ
Cao tên Hiển […]. … khi chết được [vua Tống – ct.] tặng [hàm tước – ct.]
đại vương, khiến [:ra lệnh cho – ct.] các chư hầu đều lập đền thờ. […]
Nay xét triều Tống không có chức đại thừa tướng, mà danh thần liệt
truyện trong sử cũng không có người nào họ Cao tên Hiển. Vả Khánh Lịch
là niên hiệu Tống – Nhân Tông, ngang với đời Lư Thái Tông nước ta. Nếu
Cao vương có công với nhà Tống th́ [nhà Tống – ct.] thờ là đáng, cớ ǵ
mệnh lệnh lập miếu lại sang cả nước ta? Duy Cao Biền nhà Đường phong làm
Bột Hải quận vương, từng làm tiết độ sứ ở nước ta, hoặc giả trước kia
tướng tá [của y – ct.] có lập đền, rồi dân sở tại nhân đấy mà thờ, bèn [lưu
– ct.] truyền sai đi mà thôi. Nhưng việc này vẫn chưa khảo cứu được, vậy
chép ra đây, để chờ đính chính”.
(7) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 217 (Tb., V, 13 – 14). Lời
cẩn án của Quốc sử quán triều Nguyễn: Sách An Nam kỉ yếu của Cao Hùng
Trưng cho rằng Tăng Cổn nổi tiếng về tài chính trị, ngờ sử cũ nhầm (?).
TXA.