SUY NGHĨ
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
TRONG
LỊCH SỬ CỔ ĐẠI
NƯỚC TA
KHÚC THỪA DỤ, KHÚC HẠO, KHÚC THỪA MỸ,
DƯƠNG DIÊN NGHỆ,
VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC MỚI CỦA NGƯỜI
VIỆT
1
Họ Khúc, thời cơ xuất hiện và thế
lực, uy đức sẵn có
Cương mục (1)
chép: “Năm Bính dần (906). (Đường,
Chiêu Tuyên đế, năm Thiên Hựu thứ 3). Tháng giêng, mùa xuân. Nhà Đường
phong chức đồng b́nh chương sự cho quan Tĩnh Hải quân tiết độ sứ là Khúc
Thừa Dụ. Họ Khúc là một họ lớn lâu đời ở Hồng Châu (2). Thừa Dụ, tính
khoan hoà, hay thương người, được dân chúng suy tôn. Gặp thời buổi loạn
lạc, nhân danh là hào trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là tiết độ sứ và
xin mệnh lệnh với nhà Đường; nhân thế vua Đường cho làm chức ấy”
(3).
Như vậy, Khúc Thừa Dụ không phải là một
lănh tụ khởi nghĩa, giành lại chính quyền cho nhân dân Việt. Tiết độ sứ
thực chất chỉ là một chức quan của nhà Đường phong cho các thủ lĩnh của
những phiên trấn quanh trung nguyên. Tuy thế, vẫn có khác biệt với các
chức quan khác, là tiết độ sứ có quyền thế tập, cha truyền con nối, lại
nắm giữ tất cả mọi lĩnh vực, từ tài chính, dân chính đến quân sự, ở lănh
địa. Theo Phan Khoang, thậm chí có tiết độ sứ lại “tự thị” không nhận
tướng sĩ của triều đ́nh bổ nhiệm đến… (4). Hầu như đó là các tiểu
vương mặc dù không được chính thức phong là tiểu vương. Khúc Thừa Dụ
cũng gần như thế.
Ở thời điểm này, vua Chiêu Tông nhà
Đường hẳn đă bị Chu Toàn Trung giết, và Đường – Ai đế được lập lên làm
vua; cuối cùng, đến năm sau, 907, nhà Đường bị cướp ngôi vĩnh viễn!
Cương mục
chép tiếp: “Năm Đinh măo (907), (Đường,
năm Thiên Hựu thứ 4; Lương, Thái Tổ, năm Khai B́nh thứ 1). Khúc Thừa Dụ
mất, con là Hạo giữ Giao Châu, tự xưng là tiết độ sứ. Khúc Hạo nhờ vào
cơ nghiệp cũ, giữ lấy La Thành, tự xưng là tiết độ sứ, chia đặt các lộ,
phủ, châu, và xă ở các xứ; đặt ra chánh lệnh trưởng và tá [:phó
– dg. ct.] lệnh trưởng, b́nh quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch; lập sổ
khai hộ khẩu, kê rơ họ tên quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi.
Chính sự cốt chuộng khoan dung giản dị. Nhân dân đều được yên vui. Khi
đó, nhà Lương dùng tiết độ sứ Quảng Châu là Lưu Ẩn kiêm lĩnh chức Tĩnh
Hải quân tiết độ sứ và phong cho tước
Nam B́nh vương. Lưu Ẩn giữ thành Phiên
Ngung, Khúc Hạo giữ Giao Châu, tự xưng tiết độ sứ, hai bên chực thôn
tính lẫn nhau” (5).
Lưu Ẩn là người Hán, làm tiết độ sứ ngay
trên đất Bách Việt cũ (Giao Chỉ bộ bị chia hai, một bên thành Quảng Châu,
một bên là Giao Châu). Y là quan chức nhà Đường, nay Đường tiêu vong, y
tiếp tục công việc cũ, lại nhận tước gia phong là
Nam B́nh vương
của nhà Lương mới thành lập. Và như sử cổ viết, một t́nh huống đối đầu
bắt đầu diễn ra, giữa họ Khúc (Việt) với Lưu (Hán).
Mười năm sau, Đinh sửu (917), khi Lưu Ẩn
chết, em của Ẩn là Nham nối ngôi. Ngay lúc mới nối ngôi, Nham đă quyết
chí cát cứ, thành lập một vương quốc riêng, lấy quốc hiệu là Hán, tức là
nước Nam Hán, đặt niên hiệu là Kiền Hanh.
“Khúc Hạo sai [con là] Thừa Mỹ sang
Nam Hán kết mối hoà hảo. Thực ra, đó là mượn tiếng hoà hảo để ḍ xét
t́nh h́nh hư thực” (6).
Cũng năm 917 ấy, “Khúc Hạo mất, con
là [Khúc – ct.] Thừa Mỹ lên thay” (6).
Hai năm sau, năm Kỉ măo (919), nhà Lương
ở trung nguyên Trung Hoa chính thức trao chức tiết độ sứ cai quản Giao
Châu cho Khúc Thừa Mỹ, sau khi Khúc Thừa Mỹ sai sứ sang nhà Lương để xin
lănh “tiết việt”. Theo suy nghĩ của Khúc Thừa Mỹ, đó là cách dựa vào một
nước lớn (nước Lương tuy xa hơn), nhằm để ngăn bớt tham vọng của nước
láng giềng (nước Nam Hán mặc dù gần hơn!).
Năm Quư mùi (923), ở Trung Hoa, Lư Tồn
Húc đă diệt nhà Lương, lập nên nhà Hậu Đường! Thế là Khúc Thừa Mỹ bị
hẫng chỗ dựa, chưa kịp sai sứ sang nhà Hậu Đường, th́ đă bị quân Nam Hán
chớp lấy thời cơ, tấn công. Bấy giờ, chúa nước Nam Hán là Lưu Cung (đổi
tên v́ kiêng cữ, dị đoan)!
“Theo sách
An Nam kỉ yếu, trước kia, Lưu Cung
[vốn tên là Lưu Nham – ct.] nghe nói Thừa Mỹ đă nhận “tiết việt”
của nhà Lương, giận lắm, sai tướng giỏi là Lư Khắc Chính đem quân sang
đánh, bắt được Thừa Mỹ đem về” (7).
Lưu Cung liền sai tướng của y là Lư Tiến
sang làm thứ sử, cùng với Lư Khắc Chính chiếm đóng, cai trị nước Giao
Châu ta (923).
Thế là vai tṛ lịch sử của họ Khúc đă
chấm dứt. Đó là một sự nghiệp cứu nước, cứu dân, tuy không hào hùng, chủ
yếu nhờ vào uy đức vốn được nhân dân suy tôn, biết chớp lấy thời cơ lịch
sử để bước đầu xây dựng nên một hệ thống nhà nước Việt của người Việt.
2
Dương Diên Nghệ,
người anh hùng hai lần đánh bại
quân Nam Hán
Sau khi Khúc Thừa Mỹ đă bị quân Nam Hán
đánh bại, bắt về nước, Toàn thư (8) chép rơ diễn biến tiếp theo:
“Lư Khắc Chính ở lại Giao Châu, bị tướng của Khúc Hạo là Dương Đ́nh
[:Diên – ct.] Nghệ, người Ái Châu, đánh đuổi. Vua [Nam – ct.]
Hán trao cho Đ́nh Nghệ tước vị, lấy Lư Tiến làm thứ sử Giao Châu, cùng
với Lư Khắc Chính giữ thành, bảo tả hữu rằng: ‘Dân Giao Chỉ hay làm loạn,
chỉ có thể ràng buộc (ki mi) mà thôi’.” (9).
“Tân măo, [931], ([Hậu
– ct.] Đường – Minh Tông, Tự Nguyên, Trường Hưng năm thứ 2). Mùa đông,
tháng 12. Dương Đ́nh Nghệ nuôi 3 ngh́n con nuôi, mưu đồ việc khôi phục.
Lư Tiến biết, sai chạy ngựa về báo cho vua [Nam – ct.] Hán. Năm
ấy, Đ́nh Nghệ đem quân vây Tiến. Vua Hán sai thừa chỉ Trần Bảo
đem quân sang cứu, chưa đến nơi, thành đă mất. Tiến trốn về nước. Bảo
đến vây thành, Đ́nh Nghệ đưa quân ra đánh, Bảo thua chết. Từ đó Đ́nh
Nghệ tự xưng tiết độ sứ, trông coi việc châu” (10).
Năm Bính thân (936), nhà Hậu Đường ở
Trung Hoa tiêu vong; Thạch Kỉnh Đường cướp ngôi lập nên nhà Hậu Tấn. Năm
sau, 937, vào một ngày mùa xuân tháng ba, “nha tướng của Đ́nh Nghệ là
Kiều Công Tiễn […] giết Đ́nh Nghệ để thay chức” (11).
Người anh hùng với chiến công lừng lẫy,
ít ra là đă hai lần đánh bại quân Nam Hán, khiến chúng hăi hùng, nhụt
mộng xâm lăng, bỗng gặp phải cái chết hết sức đau ḷng bởi kẻ thuộc hạ
có ḷng dạ xấu xa như thế!
Dẫu sao, từ lúc họ Khúc thực sự xây dựng
chính quyền Việt của người Việt (906) cho đến thời điểm 937 này, trừ đi
khoảng non 10 năm (923 – 931) Lư Khắc Chính và Lư Tiến ḱm kẹp, chiếm
đóng, Dương Đ́nh Nghệ tuy thắng nhưng buộc phải “hoà”, c̣n lại, nhân dân
ta đă được sống gần 20 năm độc lập tự do, lập nên những chiến công hiển
hách.
Có một điều rất đáng tiếc, từ họ Khúc (Khúc
Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ) đến Dương Đ́nh Nghệ, nước ta vẫn chưa
có một lănh tụ xưng vương, xưng đế như trước kia, mà chỉ
chịu “thừa lệnh, chấp hành”, trên danh nghĩa chỉ là tiết độ sứ,
thần phục theo dạng hợp thức hoá như là quan chức được sai phái đến của
bọn phong kiến Trung Hoa!
TP. HCM., viết xong
lúc 15 giờ 53 phút
Ngày 16. 07. HB4
(29. 05 G. thân HB4).
TRẦN XUÂN AN
Cước chú
của bài Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ, Dương Diên Nghệ…:
(1) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là
Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo
Dục, 1998.
(2) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 218 (Tb. [tiền biên], [quyển]
V, [tờ] 14): Lời chua: Ninh Giang, B́nh Giang thuộc tỉnh Hải Dương.
(3) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 217 – 218 (Tb., V, 14). TXA.
in đậm (iđ.).
(4) Phan Khoang, Trung Quốc sử lược, ấn quán Hồng Phát, Chợ
Lớn – Sài G̣n, 1958, tr. 130 – 131.
(5) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 218 (Tb., V, 14 – 15). TXA.
(iđ.). Lời chua: theo An Nam kỉ yếu, một thư tịch của Trung Hoa, không
phải Khúc Thừa Dụ, mà chính Khúc Hạo, người Giao Chỉ, đă nhận chức tiết
độ sứ nhà Đường thay Độc Cô Tổn! Khúc Hạo làm tiết độ sứ 4 năm th́ mất!
(6) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 219 (Tb., V, 15). TXA. ct..
(7) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 220 (Tb., V, 16). TXA. ct..
(8) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội
các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin,
2003.
(9) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 290 (NK. [ngoại kỉ], q. [quyển]
V, [tờ] 18a). TXA. iđ. & ct.. Ki mi (hoặc cơ mi), từ để chỉ sự vật cụ
thể, có nghĩa là chính quốc thực dân chỉ ràng buộc lỏng lẻo, trao nhiều
quyền tự chủ cho xứ bị lệ thuộc.
(10) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 291 (NK., q. V, tờ 18b). TXA.
iđ. & ct..
(11) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 291 (NK., q. V, tờ 18b –
19a).
TXA.