SUY NGHĨ
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
TRONG
LỊCH SỬ CỔ ĐẠI
NƯỚC TA
NGÔ QUYỀN
HAY ĐINH BỘ LĨNH
LÀ NGƯỜI KHAI SÁNG KỈ NGUYÊN ĐỘC LẬP,
TỰ CHỦ
THỜI PHONG KIẾN TRUNG ĐẠI?
Các cuộc khởi nghĩa lừng lẫy trong suốt
hơn một ngh́n năm bị áp bức, bóc lột của bọn phong kiến Trung Hoa do
Trưng Trắc – Trưng Nhị (40 – 43), Triệu Thị Trinh (248), Mai Thúc Loan
(722), Phùng Hưng (791) lănh đạo đă nổ ra và sau đó bị đánh bại, trấn áp
là các cuộc khởi nghĩa riêng biệt trong từng giai đoạn khác nhau. Cuộc
khởi nghĩa do Lư Bôn (Lư Bí) lănh đạo (541 – 548) lại có sự kế tục suốt
54 năm (548 – 602) do Triệu Quang Phục, Lư Thiên Bảo – Lư Phật Tử đảm
nhận vai tṛ lịch sử. Lần này cũng vậy, không c̣n là cuộc khởi nghĩa
riêng biệt, mà có sự tiếp nối, từ Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, đến Dương Diên
Nghệ và tiếp đến là Ngô Quyền với nền độc lập, tự chủ đă giành giữ được,
chấm dứt vĩnh viễn thời ḱ đen tối, tủi nhục hơn một ngh́n năm nô lệ
giặc Tàu phong kiến, để cuối cùng, Đinh Bộ Lĩnh sẽ thực hiện được sự
thống nhất non sông Tổ quốc, sau 20 năm nội chiến, cát cứ giữa 12 sứ
quân. Từ đó, dân tộc ta lại nối tiếp thời ḱ vẻ vang vua Hùng dựng nước
ở một tầm mức phát triển cao hơn, hiển hách hơn.
Tuy vậy, các sử gia vẫn đặt lại vấn đề:
Ngô Quyền hay Đinh Bộ Lĩnh là người khai sáng kỉ nguyên độc lập, tự chủ
thời phong kiến trung đại? Có người c̣n khẳng định chính nhân vật lịch
sử Khúc Thừa Dụ là người đă thực hiện nhiệm vụ lịch sử ấy!
1
Người anh hùng, nhà quân sự kiệt
xuất Ngô Quyền
Sau khi Dương Diên Nghệ hai lần đánh bại
quân Nam Hán, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, ông đă đột ngột qua
đời bởi một kẻ nội phản đê tiện là Kiều Công Tiễn (Kiểu Công Tiện, người
Phong Châu nước ta), vào năm Đinh dậu (937). Càng đê mạt hơn nữa, khi
Tiễn lại xin thần phục “nước láng giềng phía Bắc” do Lưu Nham (tức Lưu
Cung) nắm quyền, ấy là nước Nam Hán! Bấy giờ, ở trung nguyên Trung Hoa,
Thạch Kỉnh Đường (tộc người Sa Đà) đă tiêu diệt nhà Hậu Đường (936 ?),
lập nên nhà Hậu Tấn được 2 năm. Năm sau, Mậu tuất (938), người con rể
của Dương Diên Nghệ, vốn đang là nha tướng coi giữ đất Ái Châu (Thanh
Hoá), đă kéo quân ra Bắc.
Cương mục (1)
chép: “Năm Mậu tuất (938). ([Hậu
– ct.] Tấn, năm Thiên Phúc thứ 3). Tháng 9, mùa thu. Một nha tướng
khác của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền khởi binh, đánh giết Kiểu Công
Tiện. Chúa Nam Hán, Lưu Cung sai con là Hoằng Tháo sang cứu viện. Ngô
Quyền đón đánh ở sông Bạch Đằng: quân Nam Hán bị thua, Hoằng Tháo chết
đuối.
Ngô Quyền, người xă Đường Lâm [đồng
hương với Bố Cái đại vương Phùng Hưng – ct.], thuộc ḍng dơi quư tộc
đă lâu đời, cha là Mân, trước làm quan mục ngay châu nhà. Khi Ngô Quyền
mới sinh, có điềm sáng rực cả nhà, trạng mạo đặc biệt khác thường, trên
lưng có ba nốt ruồi đen. Người xem tướng lấy làm lạ, bảo rằng sau này có
thể làm chúa một phương. V́ thế mới gọi tên là Quyền. Khi Quyền lớn lên,
mặt mũi khôi ngô, mắt sáng như chớp, chân bước khoan thai như dáng con
hổ, có trí dũng, sức khoẻ cất nổi cái vạc, làm nha tướng của Diên Nghệ.
Diên Nghệ gả con gái cho. Ngô Quyền coi giữ Ái Châu. Khi Công Tiện giết
Diên Nghệ, Ngô Quyền đem quân từ Ái Châu ra đánh, giết được Công Tiện.
Theo sách
Cương mục (Trung Quốc), Công Tiện
sai sứ đem của đút lót cho chúa
Nam Hán để xin cứu viện. Chúa Nam Hán là
Lưu Cung định nhân dịp rối loạn ấy sang lấy Giao Châu, mới cho con là
Hoằng Tháo làm Giao vương, đem quân sang cứu Công Tiện. Lưu Cung có hỏi
Sùng Văn sứ là Tiêu Ích về sách lược; Tiêu Ích trả lời: ‘Hiện này mưa
dầm đă suốt mấy tuần, đường biển hiểm trở xa khơi; Ngô Quyền lại là
người giỏi lắm, chớ nên coi thường. Đại quân phải nên giữ ǵn thận trọng,
dùng nhiều người đưa đường rồi sau hăy tiến’. Lưu Cung không nghe, sai
Hoằng Tháo đem thuyền chiến kéo thẳng sang đánh Giao Châu. Khi ấy, Ngô
Quyền đă giết được Công Tiện, đem quân đón đánh. Trước hết lấy các cọc
gỗ đầu đẽo nhọn và bịt sắt trồng ngầm ở cửa biển, nhân lúc nước triều
lên, cho các thuyền nhẹ ra khiêu chiến, rồi giả cách thua chạy. Hoằng
Tháo đuổi đánh, th́nh ĺnh nước triều rút cạn, thuyền chiến mắc phải cọc
bịt sắt, không trở về được; quân Nam Hán bị thua to, Hoằng Tháo bị chết
đuối.
Theo
Ngũ đại sử […], Lưu Cung đem quân
đóng ở trấn Hải Môn. Ngô Quyền ra đón đánh, Hoằng Tháo bị thua và chết,
Lưu Cung thu quân kéo về” (2).
Toàn thư (3)
c̣n ghi thêm câu nói đầy tự tin của
danh tướng Ngô Quyền lúc Lưu Cung, Hoằng Tháo
mới xuất quân: “Hoằng Tháo là đứa trẻ dại khờ, đem quân từ xa đến,
quân lính c̣n mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đă chết, không có người làm
nội ứng, đă mất vía trước rồi…” (4), và ghi cả cảnh tượng chiến đấu,
chiến thắng oai hùng của quân ta, cảnh tượng thất trận nhục nhă của bọn
cướp nước Nam Hán: “Khi binh thuyền đă vào trong vùng cắm cọc, nước
triều rút, cọc nhô lên, [Ngô – ct.] Quyền bèn tiến quân ra đánh,
ai nấy đều liều chết chiến đấu. [Quân Hoằng Tháo] không kịp sửa
thuyền, mà nước triều rút xuống rất gấp, thuyền đều mắc vào cọc mà lật
úp, rối loạn tan vỡ, quân lính chết đuối quá nửa. [Ngô – ct.]
Quyền thừa thắng đuổi đánh, bắt được Hoằng Tháo giết đi. Vua Hán thương
khóc, thu nhặt quân lính c̣n sót rút về…” (4).
Cuộc chiến thắng lẫy lừng trên sông Bạch
Đằng (938) đă chấm dứt giai đoạn Toàn thư gọi là kỉ
Nam – Bắc phân tranh (5).
Năm Kỉ hợi (939), vào mùa xuân, Ngô
Quyền tự xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, lập người vợ họ Dương (con gái
Dương Diên Nghệ) làm hoàng hậu; đặt các quan chức, dựng nghi lễ trong
triều, định màu sắc các lễ phục, triều phục cũng như các loại áo măo
khác.
Như vậy, một triều đ́nh của vương quốc
độc lập, tự chủ đă được trang trọng thành lập, sau hơn một ngh́n năm
gánh ách nô lệ của giặc Tàu phong kiến.
Sử gia Lê Văn Hưu đă ca ngợi với niềm tự
hào: “Tiền Ngô vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh
được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho
người Phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một trận nổi
giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương,
chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta, ngơ
hầu đă nối lại được” (6).
Sử gia Ngô Sĩ Liên cũng khẳng định:
“Tiền Ngô [vương] nổi lên không chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc
đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô
của bậc đế vương” (6).
Về sau nữa, Ngô Th́ Sĩ ngợi ca: “Trận
thắng lợi trên sông Bạch Đằng là cơ sở sau này cho việc khôi phục lại
quốc thống. Những chiến công của các đời Đinh, Lê, Lư, Trần vẫn c̣n nhờ
vào uy thanh lẫm liệt để lại ấy. Trận Bạch Đằng này là vũ công cao cả,
vang dội đến ngh́n thu, há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi
đâu?”; “Vua Ngô Quyền giết được giặc nội phản để trả thù cho chúa [Dương
Diên Nghệ – ct.], đuổi quân ngoại xâm để cứu nạn cho nước, xây dựng
quốc gia, đem lại chính thống, công nghiệp thực là vĩ đại” (7).
Công đức trị b́nh chưa thể hiện rơ trong
đời sống nhân dân sau đêm trường hơn ngh́n năm nô lệ, Ngô Quyền đă vội
qua đời, vào năm Giáp th́n (944)! Ông mất đi, triều đ́nh lại bị nội biến.
Không ai khác, chính người em ruột của Dương hoàng hậu, là Dương Tam Kha,
đă cướp ngôi của cháu. Ngô Xương Ngập, con trai cả của Ngô Quyền phải
lánh nạn. “Xương Ngập sợ, chạy đến Nam Sách Giang, ẩn náu tại nhà
Phạm Lệnh Công ở Trà Hương. Tam Kha nuôi con thứ hai của Ngô vương Quyền
là Xương Văn làm con của ḿnh…” (8). Nhưng sự thể ấy cũng không thể
tránh khỏi cảnh xâu xé trong nội bộ triều đ́nh. Xương Văn cùng hai tướng
là Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc, quyết giành lại ngai báu. Kết cục, sau 6
năm tiếm quyền, Dương Tam Kha bị truất phế. Ngô Xương Văn rước anh là
Ngô Xương Ngập về. Ngô Xương Ngập cùng em trông coi việc nước, nhưng chỉ
được một thời gian, Ngập lại lấn cả quyền em. Ngô Xương Văn đành ẩn nhẫn.
Đến khi Ngập chết bệnh (Giáp dần, 954), Ngô Xương Văn mới thực sự nắm
vương quyền.
Tuy nhiên, cha anh hùng, con lại hèn hạ!
Chính Nam Tấn vương Ngô Xương Văn “sai sứ sang xin mệnh lệnh chúa
Nam Hán là Lưu Thạnh. Nam Hán
phong cho Nam Tấn vương chức Tĩnh
Hải quân tiết độ sứ kiêm đô hộ” (9)!
Ngô Xương Văn trị v́ được 15 năm (951 –
965). Sau đó, trong một trận tiễu phạt nhỏ ở hai thôn hẻo lánh, Xương
Văn đă bị tên nỏ mai phục, và đă chết. Triều nhà Ngô (Tiền Ngô, 939 –
944; và Hậu Ngô, 951 – 965) mất theo.
2
Đinh Bộ Lĩnh,
người dẹp tan cuộc nội chiến Mười
hai sứ quân,
thống nhất Đất nước về một mối
Trong điều kiện hạn chế chung của thời
cổ – trung đại trên thế giới và điều kiện hạn chế có tính khu vực (địa –
chính trị) của thuở bấy giờ, dẫu sao, Đất nước cũng đă được độc lập, tự
chủ. Tuy nhiên, chính “ma lực dục vọng” quyền bính đă khiến xui, dẫn đến
t́nh huống xâu xé, tranh đoạt trong nội bộ thân thuộc và trong nước, sau
khi đă đánh dẹp, ngăn chặn được nạn ngoại xâm. Đúng hơn, nguy cơ ngoại
xâm từ một đế quốc luôn nuôi tham vọng bành trướng vô độ là Trung Hoa (gồm
cả tiểu quốc Nam Hán) vẫn c̣n đó, chưa kể từ các nước láng giềng (Hoàn
Vương [Lâm Ấp]; Nam Chiếu [Vân Nam]) và giặc bể (Chà Và, Côn Luân [Nam
Dương]), nhưng sự tranh đoạt quyền bính, sự cát cứ địa phương trong nước
đă bùng nổ.
Kiều Công Tiễn (Kiểu Công Tiện), rồi lại
Dương Tam Kha là hai kẻ đầu sỏ nội loạn đáng trách nhất trong giai đoạn
này.
Ngay khi Dương Tam Kha cướp ngôi của
người cháu gọi ḿnh bằng cậu ruột, cuộc nội chiến đă khởi đầu. Đó là sự
cát cứ xưng hùng xưng bá nhưng sử sách gọi là “loạn các
sứ”. Trước sau, có tất thảy 12 sứ quân, chiếm cứ mười hai vùng đất,
tranh hoành lẫn nhau. Một trong những người nổi binh sớm nhất, có lẽ là
Trần Lăm (Trần Minh Công). Trần Minh Công chính là sứ quân mà Đinh Bộ
Lĩnh, trong thuở ban đầu tham gia vào cuộc nội chiến, đă đứng vào hàng
ngũ thuộc hạ của ông.
Cương mục
ghi lời cẩn án: “Xét kĩ ra, th́ ngay
từ năm thứ nhất đời Nam Tấn [Ngô
Xương Văn – ct.], đă thấy có chép ‘Bộ Lĩnh giữ
Hoa Lư, Nam Tấn vương và Thiên Sách
vương đến đánh không được’. Vậy th́ Trần Minh Công khởi binh phải ở vào
trước khi Xương Văn chưa lấy lại được nước [từ tay
Dương Tam Kha – ct.]. Cứ thế mà suy ra, mười hai sứ quân chiếm giữ
các huyện ấy phải có kẻ trước kẻ sau, không giống nhau, chứ không phải
đến khi Nam Tấn vương mất rồi, mười hai sứ quân mới đồng thời nổi dậy”
(10).
Toàn thư
chép: “Bấy giờ trong nước không có
chủ, 12 sứ quân tranh nhau làm trưởng, không ai chịu thống thuộc vào ai.
Đinh Bộ Lĩnh nghe tiếng Trần Minh Công là người có đức mà không có con
nối, bèn cùng với con là Đinh Liễn đến nương tựa” (11).
Thật ra, t́nh thế Đất nước chỉ như
thể là không có chủ!
Toàn thư trước đó đă ghi rơ, ngay từ
năm Tân hợi (951), để có thời gian củng cố thế lực, chính Đinh Bộ Lĩnh đă cho con trai cả của ḿnh vào triều Ngô để làm con tin.
Con tin ấy là Đinh Liễn: “Bấy giờ, người động Hoa Lư là Đinh Bộ Lĩnh
cậy núi khe hiểm cố, không chịu giữ chức phận làm tôi. Hai vương [Ngô
Xương Ngập và Ngô Xương Văn – ct.] muốn cất quân đi đánh; Bộ Lĩnh sợ,
sai con là Liễn vào triều làm con tin để ngăn chặn việc xuất quân. Liễn
đến, hai vương trách tội [Bộ Lĩnh] không đến chầu, rồi bắt giữ Liễn đem
theo đi đánh…” (12).
Đến lúc Ngô Xương Văn trúng tên nỏ phục
kích, qua đời (965), các sứ quân lại càng có thời cơ để đẩy mạnh cuộc
nội chiến tương tàn thảm khốc. Ngô Xương Xí, con trai của Ngô Xương Văn,
không giữ nổi triều đ́nh, cũng không có cựu thần triều Ngô nào ủng hộ,
nên rơi xuống mức độ chỉ là một trong 12 sứ!
1.
Trần Lăm (Trần Minh Công)
2.
Kiều Công Hăn (cháu nội
Kiều Công Tiễn)
3.
Kiều Thuận (em ruột Kiều
Công Hăn)
4.
Nguyễn Khoan
5.
Nguyễn Thủ Tiệp (anh em
ruột của Nguyễn Khoan, quan cũ nhà Ngô)
6.
Nguyễn Siêu (như Nguyễn
Thủ Tiệp)
7.
Ngô Nhật Khánh (tôn thất
nhà Ngô)
8.
Lư Khuê
9.
Lữ Đường
10.
Phạm Bạch Hổ (nguyên bộ
tướng của Ngô Quyền)
11.
Ngô Xương Xí (con trai Ngô
Xương Ngập)
12.
Đỗ Cảnh Thạc (tướng của
triều Ngô).
Bấy giờ ở trung nguyên Trung Hoa, nhà
Hậu Chu đă bị Triệu Khuông Dận [:Dẫn] tiêu diệt, lập nên nhà Tống, từ 5
năm trước (960). Nhưng quyền lực nhà Tống cũng chưa vươn xa được đến
nước ta. Hơn nữa, phía bắc nước ta c̣n có nước Nam Hán gần như án ngữ.
Do đó, không ai khác, chính người Việt (gồm một vài kẻ là quan lại nhà
Đường cũ?) đă xâu xé nhau hết sức đau ḷng.
Cương mục ghi chép, khảo đính về thời
đoạn này: “Năm Bính dần (966), […]. Từ khi Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô,
thổ hào các nơi đua nhau nổi dậy. Xương Văn tuy lấy được nước, nhưng
chính sự cẩu thả, không thể thống nhất được; đến khi đi đánh Thái B́nh,
không được, [Xương Văn – ct.]
bị chết trận; từ đó trong nước rối loạn. […]” (12).
Năm Đinh măo (967), “thế lực quân đội
của Bộ Lĩnh mỗi ngày một mạnh, đánh đâu được đấy, lại phá được đám giặc
ở Đỗ Động Giang [do nha tướng nhà Ngô là Đỗ Cảnh Thạc lănh đạo –
ct.]. Các bộ đều dẹp yên được cả. Quan lại và nhân dân các châu, các
phủ không ai không quy phục” (13).
Cương mục
viết về việc Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua:
“Dẹp tan mười hai sứ quân, tự lập lên làm hoàng đế” (14), “đóng đô ở Hoa
Lư”, “bầy tôi dâng tôn hiệu. Tôn hiệu nhà vua là Đại Thắng Minh hoàng đế”
(15). Đinh Bộ Lĩnh lại lấy niên hiệu với tư cách một vị vua của một
vương triều bề thế. Từ năm Canh
ngọ (970), bắt đầu gọi là năm Thái B́nh thứ 1 (16).
Triều đại mới của nước ta cũng thiết lập
quan hệ ngoại giao với nhà Tống. Đinh Liễn (Nam Việt vương) là người
chuyên trách lĩnh vực này.
Triều đ́nh do Đinh Bộ Lĩnh thành lập khá
có quy mô.
Ngoài việc đặt phẩm cấp cho quan văn vơ,
Đinh Bộ Lĩnh lại chứng tỏ là một vị vua “tôn sùng đạo Phật, mới đặt
phẩm cấp cho tăng nhân và đạo sĩ: ban hiệu Thái sư cho Chân Lưu, lại cho
Trương Ma Ni làm Tăng lục đạo sĩ, Đặng Huyền Quang làm Sùng chân uy nghi”
(17). Cùng chức hàm thái sư (tể tướng triều đ́nh), tăng sĩ Ngô Chân
Lưu c̣n có danh hiệu được sắc tặng là Khuông Việt (17).
Duy có một điều đáng phấn khởi nhất, đó
là việc Đinh Bộ Lĩnh đă đặt quốc hiệu mới cho nước ta, một cách khá
thuần Việt, nếu không nói là đă rất thuần Việt: Đại Cồ Việt.
Đinh Bộ Lĩnh lập nên triều đại mới từ
chiến tích dẹp tan nội chiến, cát cứ, chứ không phải bằng chiến công
đánh ngoại xâm.
TP. HCM., khởi viết
từ lúc 08 giờ sáng
ngày 17. 07. HB4
(01. 06 Giáp thân HB4);
viết xong lúc 15 giờ
36 phút cùng ngày.
TRẦN XUÂN AN
Cước chú
của bài Ngô Quyền hay Đinh Bộ Lĩnh…:
(1) Khâm định Việt sử
thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là Cương mục), tiền biên và chính
biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo Dục, 1998.
(2) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 221 – 222 (Tb. [tiền biên], [quyển] V, [tờ] 18 – 19). TXA.
chua thêm (ct.).
(3) Đại Việt sử kí toàn
thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3
tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003.
(4) Toàn thư, sđd., tập
1, tr. 292 – 293 (NK. [ngoại kỉ], q. [quyển] V, [tờ] 19b – 20a). TXA.
ct..
(5) Kỉ phân tranh giữa
hai miền Quảng Châu [Bắc] – Giao Châu [Nam]; Quảng Châu vốn là đất cũ
của nước ta, Lưu Cung chiếm đóng, lập ra nước Nam Hán.
(6) Toàn thư, sđd., tập
1, tr. 294 (NK., q. V, tờ 21a). TXA. in đậm (iđ.) & ct..
(7) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 222 – 223 (Tb., V, 19 – 20). TXA. iđ. & ct.. Xem thêm: Quốc
sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, bản dịch: Nguyễn Trọng
Điềm, hiệu đính: Đào Duy Anh, tập 4, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 252: Vế
đối của vua nhà Minh – Hy Tông, và vế đáp của sứ thần nhà Lê nước ta –
Giang Văn Minh (người tỉnh Sơn Tây) về trụ đồng Mă Viện và các trận
chiến thắng quân Nam Hán, quân Nguyên – Mông của quân dân ta dưới sự chỉ
huy của Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn trên sông Bạch Đằng:
Đồng trụ chí kim đài
dĩ lục
Đằng giang tự cổ
huyết do hồng
(Trụ Mă đến nay rêu
đă lục
Sông Đằng từ cổ máu
c̣n hồng).
Vua Minh – Hy Tông tức
giận đến mức vi phạm luật lệ ngoại giao, ra lệnh bắt Giang Văn Minh và
mổ bụng ông. Giang Văn Minh là một sứ thần dũng cảm, không chịu để nhục
quốc thể.
(8) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 224 (Tb., V, 21).
(9) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 228 (Tb., V, 25). TXA. iđ. & ct..
(10) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 231 (Tb., V, 28 – 29). TXA. iđ. & ct..
(11) Toàn thư, sđd.,
tập 1, tr. 301 – 302 (NK., q. V, tờ 25b).
(12) Toàn thư, sđd.,
tập 1, tr. 298 (NK., q. V, tờ 23b – 24a). TXA. iđ. & ct..
(12) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 230 (Tb., V, 27). TXA. iđ. & ct..
(13) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 233 (Tb., V, 31 – 32). TXA. ct.. Cương mục ghi chép thêm thư
tịch cổ của Trung Hoa Ngũ đại sử và Thập quốc Xuân thu. “Theo sách Thập
quốc Xuân thu của Ngô Nhận Thần nhà Thanh, […]. Trước kia, Ngô Xương
Văn mất, tướng tá của Xương Văn là Lă Xử B́nh cùng với thứ sử Phong Châu
[nước ta] là Kiều Tri Hựu gây loạn, Bộ Lĩnh cùng với con là Đinh Liễn
đánh bại Xử B́nh, được dân chúng suy tôn lên làm vua” (sđd., tr. đă dẫn).
(14) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 237 (Cb. [chính biên], I, 2).
(15) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 237 (Cb. [chính biên], I, 2 – 3).
(16) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 238 (Cb. [chính biên], I, 3).
(17) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 239 (Cb. [chính biên], I, 4 – 5).
TXA.