SUY NGHĨ
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
TRONG
LỊCH SỬ CỔ ĐẠI
NƯỚC TA
NHỮNG B̀NH LUẬN CỦA CÁC SỬ GIA
VỀ HÀNH TRẠNG CỦA LÊ ĐẠI HÀNH
TRONG QUĂNG THỜI GIAN 980 – 1005
1
Lê Hoàn, người khởi đầu nhà Tiền Lê (981
– 1009), về sau thường được gọi là Lê Đại Hành. Lê Hoàn là một trong vài
nhân vật lịch sử khiến hậu thế không thể không nghĩ ngợi khi đọc lại
lịch sử nước ta. Các sử gia thời phong kiến cũng không phải hoàn toàn
nhất trí trong sự b́nh luận về ông, mặc dù họ nhận thức về hành trạng
của ông không khác nhau. Nói cách khác, lượng thông tin khách quan
về ông trong Toàn thư (1) và trong Cương mục (2) không
những về cơ bản, mà ngay cả những chi tiết thuộc các sự kiện lớn, hầu
như không khác nhau chút nào; nhưng đánh giá về ông cùng những nhân vật
quan trọng khác quanh đời ông, như Dương Vân Nga chẳng hạn, lắm khi
không thể đồng nhất, thậm chí phản bác nhau. Đó là chưa kể đến thái độ
của nhân dân hai châu Hoan – Ái thuở bấy giờ trước vai tṛ của ông, và
một luồng “b́nh luận” khác cực ḱ hệ trọng, đó là các truyền ngôn,
cách thờ phụng của nhân dân ở cố đô Hoa Lư (Ninh B́nh)… Ở đây,
c̣n có những thái độ khác nữa, cũng được hai bộ chính sử trên ghi chép:
thái độ của nhà Tống (Trung Hoa) và Chiêm Thành, hai lực lượng ngoại xâm,
lân bang bị ông đánh bại, nhưng cũng là hai thế lực thừa nhận vương
triều của ông là chính thống.
Trong thế kỉ XX vừa qua và những năm đầu
thế kỉ XXI này, các ư kiến về Lê Đại Hành (940 – 1005) trong việc tạo
lập triều Tiền Lê và quan hệ với thái hậu Dương Vân Nga của triều nhà
Đinh lại có phần trái nghịch nhau đến mức ngược chiều. Đó là sự thật
trên sách báo, hoàn toàn giấy trắng mực đen. Tuy vậy, không khí học
thuật vẫn rất b́nh thường một cách tốt lành (*).
Năm Kỉ hợi (939), Đất nước ta lại mở ra
kỉ nguyên độc lập, tự chủ sau ngót một ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ, kể từ
thảm kịch An Dương vương và Mỵ Châu – Trọng Thuỷ đến “vũ công cao cả,
vang dội đến ngh́n thu, há phải chỉ lừng lẫy một thời”, như lời tán
tụng của Ngô Th́ Sĩ (3), về chiến thắng chống xâm lược trên sông
Bạch Đằng do Ngô Quyền lănh đạo. Sau đó, lại xảy ra nội loạn: nội
chiến Mười hai sứ quân! Đinh Bộ Lĩnh đă thống nhất non sông đất nước
về một mối, đặt quốc hiệu đầy niềm tự hào với yếu tố thuần Việt: Đại
Cồ Việt.
Vụ ám sát hai cha con hoàng đế, thái tử
Đinh Tiên Hoàng, Đinh Liễn bởi tên cận thần Đỗ Chích, vào tháng 10 năm
Kỉ măo (979), đă đẩy triều đ́nh nhà Đinh và dân tộc ta vào một bước
ngoặt nghiêm trọng. Chắc hẳn chỉ v́ quư trọng nền độc lập, thống nhất và
hoà b́nh, nhân dân căm hận Đỗ Chích đến độ xem y là một con thú dữ
cần phải bị ăn thịt (một quan niệm trừng phạt thời trung cổ!) (4).
2
Phải chăng Lê Hoàn tư thông với thái hậu
Dương Vân Nga để cướp ngôi nhà Đinh? Việc Đinh Toàn, vị vua nối ngôi ở
tuổi nhi đồng, mới lên sáu, bị truất phế, và không những thế, từ đó nhà
Đinh hoàn toàn, vĩnh viễn bị mất vương quyền, cùng với việc Lê Hoàn khởi
đầu nhà Tiền Lê, là sự thật lịch sử. Đó là cách diễn đạt nhẹ nhàng. Sử
gia viết một cách rơ ràng, thẳng thừng hơn. Toàn thư chép:
“Phế đế tên huư là Toàn, con thứ của Tiên Hoàng, ở ngôi 8 tháng. Họ Lê
cướp ngôi, giáng phong là Vệ vương, thọ 18 tuổi [974 – 991]. Vua c̣n thơ
ấu phải nối nghiệp lớn gian nan, cường thần nhiếp chính, người trong
nước ĺa ḷng, nhà Đinh bèn mất” (5); Lê Hoàn, Dương Vân Nga “về
đạo vợ chồng có điều đáng thẹn” (6); “[Dương – ct.] hậu là
vợ của Tiên Hoàng, mẹ đẻ của Vệ vương Toàn. Khi vua lấy được nước, đem
vào cung, đến đây lập làm hoàng hậu” (7).
Vụ việc Lê Hoàn cướp ngôi, tư thông với
vợ tiên đế (là Dương Vân Nga) ấy đă dẫn đến phản ứng của các đại thần
Nguyễn Bặc, Đinh Điền và Phạm Hạp, nổ ra một cuộc nội chiến. Đó là một
cuộc chiến thực sự, mặc dù ngắn ngủi. Ba trung thần của nhà Đinh đều bị
tử tiết (chết tại mặt trận hoặc bị hành h́nh).
Lời b́nh luận của của sử gia Ngô Sĩ Liên:
“Chu công là người vương thất
rất thân, giúp vua nhỏ tuổi c̣n không tránh khỏi những lời gièm pha phao
truyền. Lê Hoàn là đại thần khác họ, nắm giữ binh quyền, làm công việc
như Chu công, thường t́nh c̣n ngờ vực, huống nữa là Nguyễn Bặc ở chức
thủ tướng và Đinh Điền là đại thần cùng họ hay sao? Bọn họ khởi binh
không phải làm loạn, mà là một ḷng phù tá nhà Đinh, v́ giết Hoàn
không được mà phải chết, ấy là chết đúng chỗ. Nay xem lời Đại Hành kể
tội Nguyễn Bặc tựa như vạch tội ḿnh. Khi Bặc chết, ắt phải có nói một
lời để bày tỏ chính nghĩa, nhưng không thấy sử chép, thế là bỏ sót” (8).
Về sự tử tiết của các trung thần nhà
Đinh, Lê Văn Hưu lại có nhận định khác với Ngô Sĩ Liên: “Lê Đại Hành
giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc, tóm Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ
con, như sai nô lệ, chưa đầy một vài năm mà bờ cơi định yên, công đánh
dẹp, chiến thắng dẫu là nhà Hán, nhà Đường cũng không hơn được…” (9).
Ngô Sĩ Liên phản bác: “Tam cương là
đạo thường của muôn đời, không thể một ngày rối loạn. Khi Đại Hành giữ
chức nhiếp chính, Vệ vương tuy nhỏ nhưng vẫn là vua, thế mà Đại Hành tự
xưng là phó vương, rắp tâm làm điều bất lợi. Đạo làm tôi không được rắp
tâm, rắp tâm th́ ắt phải giết. Đó là phép của sách Xuân Thu, người người
đều được nêu lên mà thi hành. Nguyễn Bặc, Đinh Điền sao có thể nhẫn tâm
điềm nhiên mà nh́n? Rồi lui vềâ dấy quân hỏi tội, mưu giữ xă tắc, thế là
bầy tôi trung nghĩa đấy. Việc không xong mà chết, thế là bầy tôi tử tiết
đấy. Lời bàn của Văn Hưu lại đánh đồng với hàng loạn tặc [:tướng Tàu],
khiến cho đạo nhân luân không được sáng tỏ với đời sau, gây mầm mống
tiếm đoạt, để cho những kẻ có quyền lực tranh nhau bắt chước, quét sạch
cương thường, v́ thế không thể không biện bác” (10).
Sử gia Ngô Sĩ Liên lại lên án gay gắt về
việc tư thông bất chính: “Đạo vợ chồng là đầu của nhân luân, đầâu mối
của vương hoá. Hạ kinh của Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là
để tỏ cái ư lấy đàn bà tất phải chính đáng. Đại Hành thông dâm với vợ
vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả ḷng biết hổ thẹn.
Đem cái thói ấy truyền cho đời sau, con ḿnh bắt chước mà dâm dật đến
nỗi mất nước, há chẳng phải mở đầu mối hoạ đó sao?” (11).
3
Tuy nhiên, đó là chỉ là một mặt. Thật
thiếu công bằng khi không nhận định thật toàn diện về con người Lê Đại
Hành.
Trước hết, phải thấy rằng, chính cái
chết của Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn, do bị Đỗ Thích ám sát, là đầu mối
của bước ngoặt lịch sử đen tối này. Biến động ở triều đ́nh nhà Đinh nước
ta liền được vua tôi nhà Tống (Trung Hoa) nắm bắt, xem như đó là một
thời cơ xâm lược tốt. Ngô Nhật Khánh, một thân vương của triều đ́nh Ngô
Quyền, trước đây là một trong mười hai sứ quân cát cứ, lâu nay t́m cách
mượn vây cánh ở Chiêm Thành để chiếm lại vương quyền đă mất, cũng không
thể không tranh thủ vận may hiếm có. Nhưng may thay, chỉ có nhà Tống là
đáng phải quan tâm hơn hết. Tri Ung châu Hầu Nhân Bảo, quan nhà Tống,
tâu với vua Tống: “An
Nam quận vương cùng với con là Liễn đều bị giết, nước ấy sắp mất, có thể
nhân lúc này đem một cánh quân sang lấy. Nếu bỏ lúc này không mưu tính,
sợ lỡ mất cơ hội…” (12).
Một quan nhà
Tống khác, Lư Đa Tốn, tâu: “An
Nam bên trong rối loạn, đó là lúc trời
làm mất, triều đ́nh nên bất ngờ đem quân sang đánh úp…” (12).
Quả thật, ư đồ xâm lược của nhà
Tống (Trung Hoa) là rất rơ, và
càng rơ hơn: “Khi ấy nhà Tống muốn trách hỏi vua [Lê Hoàn – ct.] về
việc xưng đế, đổi niên hiệu, lại có ư chiếm lấy nước Việt ta…” (13).
Vấn đề đ̣i hỏi phải được làm sáng tỏ: Có
phải tất cả nguyên nhân đưa đến t́nh huống đen tối này cho Đất nước ta
là chỉ bởi mỗi một Đỗ Thích hay không? Ngô Sĩ Liên b́nh luận: “Liễn lại
nhẫn tâm, đến nỗi giết em…” (14), giết để tranh ngôi thái tử!
Đúùng là ở Đinh Liễn, “… thiên luân mất hết, chuốc hoạ cho thiệt thân,
c̣n liên luỵ đến cả cha nữa, há chẳng rùng rợn lắm thay! Không thế th́
tội ác của Đỗ Thích do đâu nảy ra để hợp với lời sấm được?” (14).
Khi Đinh Tiên Hoàng, Đinh Liễn đă bị ám sát chết, nếu Lê Hoàn đích thực
là một đại thần trung nghĩa với nhà Đinh, không “tự xưng là phó vương”,
không mắc lỗi “đạo vợ chồng có nhiều điều đáng thẹn” (ấy là
“thông dâm” với Dương Vân Nga), không “rắp tâm” thoán đoạt
ngai vàng, th́ t́nh huống vốn đen tối liệu có sáng sủa lên không? Thật
là mỉa mai khi sử gia ví Lê Hoàn “làm công việc như
Chu công” (người hiền), nhưng
lại “tự xưng là phó vương” và lại đúng là “cường thần nhiếp
chính”!
Phải chăng bởi dục vọng t́nh ái, tham
vọng chiếm lấy ngai báu, và quả thực, có sự rắp tâm như thế ở Lê Hoàn,
mặc dù bước đầu Lê Hoàn chỉ tự xưng là phó vương, nên Nguyễn Bặc, Đinh
Điền, Phạm Hạp buộc ḷng phải khởi binh giành lại ngai vàng cho nhà Đinh?
Và bởi vậy, đất nước càng thêm rối loạn. T́nh huống đă tồi tệ hơn. Thử
hỏi, nếu Lê Hoàn và Dương Vân Nga không có dục vọng, tham vọng xấu xa,
chắc hẳn t́nh huống sẽ êm đẹp trở lại, sẽ không có cuộc khởi binh của
các trung thần Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp? Rơ ràng, việâc phụ chính
giúp ấu chúa và việc rắp tâm cướp ngôi là một trời một vực!
Phải chăng Lê Hoàn và Dương Vân Nga phải
chịu trách nhiệm về việc quân nhà Tống sang xâm lược nước ta, gây cảnh
binh đao cho dân tộc ta? Dương Vân Nga có phải là một người mẹ đức hạnh,
người vợ thuỷ chung, một thái hậu yêu nước và quyết giữ ǵn vương triều
nhà Đinh do chồng xây dựng? Lê Hoàn có phải là một kẻ phản bội nhà Đinh?
Toàn thư
đă trả lời điều đó bằng những thông tin
khách quan cũng như những lời b́nh luận của sử
gia.
Xin trích nguyên văn Toàn thư để
rộng đường b́nh luận: “Vua nối ngôi khi mới 6 tuổi. Lê Hoàn nhiếp
chính, làm công việc như Chu công, tự xưng là phó vương. Bọn Định quốc
công Nguyễn Bặc, ngoại giáp Đinh Điền, Phạm Hạp ngờ Hoàn sẽ làm điều bất
lợi cho vua nhỏ, bèn cùng nhau dấy binh, chia hai đường thuỷ bộ, muốn
tiến về kinh đô giết Hoàn, nhưng không đánh nổi, bị giết. Trước
đó, khi Điền và Bặc cất quân, Thái hậu nghe tin, lo sợ bảo Hoàn rằng:
‘Bọn Bặc dấy quân khởi loạn làm kinh động nước nhà ta. Vua c̣n nhỏ yếu
chưa kham nổi nhiều nạn, các ông nên liệu tính đi chớ để tai hoạ về sau’.
Hoàn nói: ‘Thần ở chức phó vương nhiếp chính, dù sống chết biến hoạ thế
nào, đều phải đảm đương trách nhiệm’” (15). Khi bắt được Định quốc
công Nguyễn Bặc, trước lúc chém đầu đem bêu, Lê Hoàn nói: “Tiên đế mắc
nạn, thần người đều căm thẹn. Ngươi là tôi con lại nhân lúc tang tóc
bối rối mà dấy quân bội nghĩa. Chức phận tôi con đâu có thế?” (15).
Chính Ngô Sĩ Liên đă vạch trần thực chất: “Nay xem lời Đại Hành kể
tội Nguyễn Bặc tựa như vạch tội ḿnh” (xem (8)).
Phải chăng người ta có thể nói: Lê Hoàn
đạo đức giả; và cũng có thể kết án Dương Vân Nga, yêu chuộng gian thần
đến mức vô đạo đức, mở mối cho gian thần đánh diệt các đại thần trung
nghĩa với nhà Đinh? Trong khi đó, tang chồng (Đinh Tiên Hoàng) c̣n quá
mới!
Về vụ việc sử gia viết ở câu tiêu đề là
“họ Lê cướp ngôi”, được diễn đạt một cách chi tiết như sau:
“Khi
[triều đ́nh – dịch giả ct.] đang bàn
kế hoạch xuất quân, Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi
thẳng vào Nội phủ, nói với mọi người rằng: “Thưởng người có công, giết
kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân. Nay chúa thượng c̣n trẻ
thơ, chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có
chút công lao, th́ có ai biết cho? Chi bằng trước hăy tôn lập ông Thập
đạo làm thiên tử, sau đó sẽ xuất quân th́ hơn’. Quân sĩ nghe vậy đều hô
‘vạn tuế’. Thái hậu thấy mọi người vui ḷng quy phục bèn sai lấy áo long
cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi hoàng đế. Từ đó Hoàn lên ngôi
hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiên Phúc năm đầu [980 – dịch giả (dg.)
ct.], giáng phong vua [đế Toàn – TXA. ct.] làm Vệ vương” (16).
Lí do Phạm Cự Lạng đưa ra trước ba quân
thực chất cũng rất tầm thường, mặc dù có thể biện minh là rất thực tế.
Dẫu sao, Lê Hoàn, Dương Vân Nga, Phạm Cự
Lạng đều không phải là những tấm gương xả thân v́ đại nghĩa một cách
hoàn toàn trong sáng.
Có điều, phải thấy rơ mặt tích cực của
họ.
Lê Hoàn đă biết gánh vác trách nhiệm, đă
lănh đạo ba quân chiến đấu chống sự xâm lược của quân binh nhà Tống đang
hùng hổ thừa cơ kéo sang cướp nước ta.
Mùa xuân năm Kỉ măo (979), Đinh Tiên
Hoàng bị ám sát; tháng 7 năm sau (980), Lê Hoàn lên ngôi, truất Đinh
Toàn; đầu năm Tân tị (981), Lê Hoàn kháng chiến và chiến thắng.
Toàn thư
viết: “Vua tự làm tướng đi chặn giặc,
sai quân sĩ đóng cọc ngăn sông. Quân Tống lui, lại đến sông Chi Lăng.
Vua sai quân sĩ trá hàng để dụ Nhân Bảo, nhân đó bắt được Nhân Bảo, đem
chém. Bọn Khâm Tộ nghe tin quân thuỷ thua trận, dẫn quân về. Vua đem các
tướng danh [chính xác là:
đánh – ct.], quân của Khâm Tộ thua to, chết đến quá nửa, thây chết
đầy đồng, bắt được tướng giặc là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân đem
về Hoa Lư. Từ đó trong nước rất yên. Bầy tôi dâng tôn hiệu…” (17).
Lê Hoàn đúng là một danh tướng, như Lê
Văn Hưu ngợi ca: “tóm Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như
sai nô lệ, chưa đầy một vài năm mà bờ cơi định yên, công đánh dẹp, chiến
thắng dẫu là nhà Hán, nhà Đường cũng không hơn được…” (9).
Ngoài công đánh Tống, Lê Hoàn c̣n đích
thân kéo quân sang Chiêm Thành để trừng phạt về tội bắt giữ sứ giả,
khiến cho hai mặt nam và bắc cùng yên. Ngô Sĩ Liên cũng hết lời ca ngợi:
“Vua đánh đâu được đấy, chém vua Chiêm Thành để rửa cái nhục phiên di
bắt giữ sứ thần, đánh lui quân Triệu Tống để bẻ cái mưu tất thắng của
vua tôi bọn họ, có thể gọi là bậc anh hùng nhất đời vậy” (18).
Cả Lê Văn Hưu lẫn Ngô Sĩ Liên đều so
sánh Lê Hoàn với Lư Công Uẩn (người khởi nghiệp cho nhà Lư khi nhà Tiền
Lê đă quá thối nát dưới triều Lê Long Đĩnh [Ngoạ Triều]) về sau:
Lê Văn Hưu: “Có người hỏi: Đại Hành
với Lư Thái Tổ ai hơn? Thưa rằng: Kể về mặt trừ dẹp gian trong giặc
ngoài, làm mạnh nước Việt ta, ra oai với người Tống th́ Lư Thái Tổ không
bằng Lê Đại Hành có công lao gian khổ hơn. Nhưng về mặt tỏ rơ ân uy,
ḷng người suy tôn, hưởng nước lâu dài, để phúc cho con cháu th́ Lê Đại
Hành không bằng Lư Thái Tổ lo tính lâu dài hơn. Thế th́ Lư Thái Tổ hơn
ư? Đáp: Hơn th́ không biết, chỉ thấy đức của họ Lư dày hơn họ Lê, v́ thế
nên nói [noi – ct. (**)] theo họ Lư” (19).
Ngô Sĩ Liên: “… [Lê Hoàn – TXA.
ct.] có thể gọi là bậc anh hùng nhất đời vậy. Song khi làm nhiếp
chính mà tự xưng phó vương, dẫn đến việc bọn Điền, Bặc phải khởi binh,
lên ngôi vua th́ phải nhờ bọn Cự Lạng đem binh đến uy hiếp, làm cung
điện th́ lấy vàng bạc mà trang sức. Phàm những việc như thế đều không
bằng Lư [Thái – dg. ct.] Tổ biết nghĩ xa hơn. Văn Hưu nói lấy đức
của nhà Lư mà soi đức của nhà Lê th́ [đức của Lư – dg. ct.] dày
hơn, há chẳng đúng sao!” (20).
Ngô Sĩ Liên phê phán cả thói xa hoa của
Lê Hoàn nữa!
Nhưng điều trước hết, về phương diện trừ
giặc ngoài của Lê Hoàn, chúng ta đă thấy rơ tài năng của ông. C̣n về mặt
“trừ dẹp gian trong”, Ngô Sĩ Liên đă phản bác b́nh luận của Lê
Văn Hưu để bênh vực Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp. Không thể Ngô Sĩ
Liên không chí lí. Nhưng “gian trong” c̣n có những bọn giặc khác,
trong đó có người Hà Động, Cử Long. Khi đích thân đi đánh dẹp ở Hà Động,
Cử Long, Đinh Toàn đă tử trận, khiến Lê Hoàn (bố dượng) phải “kêu
trời ba tiếng rồi thúc quân đánh, giặc tan vỡ” (21). “Gian trong”
c̣n là Dương Tiến Lộc cùng một bộ phận không ít nhân dân hai châu Hoan,
Ái (Nghệ – Tĩnh, Thanh Hoá). Đây lại là một việc không thể lướt qua được,
nếu liên hệ với thói xa hoa (cung điện giát vàng lợp bạc) kể trên!
Toàn thư
viết, vào mùa xuân năm Kỉ sửu (989):
“Dương Tiến Lộc lấy hai châu Hoan, Ái làm phản. Vua thân đi đánh, Tiến
Lộc bị giết. Bấy giờ vua sai viên quản giáp là Tiến Lộc đi thu thuế hai
châu Hoan và Ái, Tiến Lộc đem người hai châu ấy xin theo về với Chiêm
Thành. Chiêm Thành không nhận. Vua nghe tin, đem các quân đến đánh châu
Hoan, châu Ái, đuổi bắt được Tiến Lộc và giết người hai châu ấy không
biết bao nhiêu mà kể” (22).
V́ sưu thuế ở mức độ nặng nề, đến độ
viên quan quản giáp thu thuế cũng phải nổi dậy cùng nhân dân chống lại
triều đ́nh chăng? Sử sách không viết rơ hơn! Có điều, sao nhân dân lại
cùng Dương Tiến Lộc dựa vào ngoại bang bấy giờ là Chiêm Thành? Như thế
là theo ngoại quốc để phản quốc? Thật ra, tôi hiểu, đấy chỉ là t́m thêm
vây cánh nhưng vẫn giữ được sự tự chủ, chứ không phải dựa vào một cường
quốc để bị lệ thuộc, thậm chí bị nô dịch. Trung Hoa từ thời trước Tần đă
là cường quốc bành trướng, bá quyền, chứ từ khi Khu Liên lập quốc đến
lúc này, và măi đến những thế kỉ sau, kể cả thời Chế Bồng Nga lừng lẫy
nhất, Chiêm Thành chưa bao giờ là cường quốc so với nước Đại Cồ Việt (Việt
Nam) ta. Việc t́m thêm vây cánh nhưng vẫn giữ được sự tự chủ và việc
dựa vào một cường quốc để bị lệ thuộc, thậm chí bị nô dịch là hoàn toàn
khác nhau về chất.
Do đó, không thể gọi một số không ít
nhân dân hai châu Hoan, Ái bấy giờ là phản quốc được.
Ư kiến của hai sử gia Lê Văn Hưu (Đại
Việt sử kí, 1272, thời Trần), Ngô Sĩ Liên (Vũ Quỳnh, Phạm Công Trứ chỉnh
lí, 1479, thời Hậu Lê trung hưng) (23) có những điểm khiến chúng ta lưu
ư. Lê Văn Hưu không phê phán mạnh mẽ và gay gắt về quan hệ bất chính
giữa Lê Hoàn với Dương Vân Nga (“về đạo vợ chồng có điều đáng thẹn”;
“khi vua lấy được nước, đem vào cung, đến đây lập làm hoàng hậu”);
về tham vọng và sự thể “cường thần nhiếp chính”, “cướp ngôi”; và
Lê Văn Hưu c̣n không muốn phán xử cho công bằng về Nguyễn Bặc, Đinh Điền,
Phạm Hạp. Phải chăng Lê Văn Hưu bị hạn chế bởi thời đại (triều Trần)
(***)? Do đó, Ngô Sĩ Liên phê phán gay gắt việc “thông dâm”, “cướp
ngôi”. Cũng do đó, Lê Văn Hưu bị Ngô Sĩ Liên phản bác: “… dấy
quân hỏi tội, mưu giữ xă tắc, thế là bầy tôi trung nghĩa đấy. Việc không
xong mà chết, thế là bầy tôi tử tiết đấy. Lời bàn của Văn Hưu lại đánh
đồng với hàng loạn tặc…”. Nhưng cả hai đều ca ngợi Lê Hoàn là anh
hùng, hơn cả Hán, Đường trong việc đánh thắng ngoại xâm, khiến nhà Tống
phải nể sợ, khiến Chiêm Thành phải thần phục…
4
Các sử gia từ thời Trần cho đến thời Hậu
Lê trung hưng, qua hai trăm lẻ bảy năm (1272 – 1479), đă ghi chép, khảo
cứu và b́nh luận như thế về Lê Đại Hành – Dương Vân Nga trong Toàn thư.
Sử gia triều Nguyễn đă khảo cứu, b́nh luận như thế nào về hai nhân
vật lịch sử này?
Cương mục (24)
viết về vụ tư thông – cướp ngôi: “[Cương:
– ct.] Thập đạo tướng quân Lê Hoàn tự xưng là phó vương. Bọn Định
quốc công Nguyễn Bặc, ngoại giáp Đinh Điền và Phạm Hạp dấy quân đánh Lê
Hoàn, không được, đều tử tiết. [Mục: – ct.] Nhà vua nối ngôi, mới
lên sáu tuổi. Bọn Nguyễn Bặc đều là phụ chính đại thần; c̣n Lê Hoàn
trong tay giữ cả binh quyền, tự do ra vào nơi cung cấm. Thái hậu phải
ḷng Hoàn, rồi cùng nhau tư thông, cho Hoàn quyền tạm làm công việc của
Chu công khi trước. Lê Hoàn cậy
có thái hậu cưng yêu, không kiêng sợ chi cả. Bọn Nguyễn Bặc bàn với nhau:
“Lê Hoàn sẽ bất lợi cho nhụ tử; chúng ta chịu ơn dày của nước, nếu không
tính trước đi, giữ cho xă tắc được yên th́ c̣n mặt mũi nào trông thấy
tiên đế ở suối vàng nữa?”. Họ liền cùng nhau khởi binh, chia hai đường
thuỷ bộ cùng tiến, định kéo thẳng đến kinh đô để giết Lê Hoàn. Thái hậu
nghe tin, bảo Lê Hoàn: “Bọn Bặc nổi loạn, quan gia hăy c̣n thơ ấu, cáng
đáng sao nổi giữa lúc quốc gia lắm nạn này! Ông nên tính đi”. Lê Hoàn
thưa: “Tôi đây làm phó vương, quyền giữ việc nước, dù sống chết cũng xin
gánh lấy trách nhiệm”…” (25).
Ngoài ra, trong Cương mục c̣n có
một lời b́nh của Ngô Th́ Sĩ, tác giả Việt sử tiêu án, được trích
dẫn, bàn về việc phong mĩ hiệu cho Dương Vân Nga: “Đại Thắng Minh là
tên hiệu của Đinh Tiên Hoàng. Đại Hành lấy hiệu vua cũ đặt cho vợ ḿnh:
Thật là không c̣n kiêng nể chút ǵ cả! Sử sách ghi chép, để cười ngh́n
thu!” (26).
Nói chung là Cương mục không khác
với Toàn thư; về các vụ việc khác trong phần này cũng vậy. Chỉ
trích thêm một vài chi tiết ghi nhận những thắng lợi của Lê Hoàn (và cho
đến triều Lê Long Đĩnh) trên phương diện ngoại giao: “Khi đến Trường
Châu, nhà vua [Lê Đại Hành – ct.] ra đón sứ giả [nhà Tống –
ct.] ở phía ngoài đô thành, cùng nhau giong ngựa đi song song. Đến
cửa Minh Đức, nhà vua đón lấy bài chế văn nhưng không lạy, nói v́ năm
mới rồi, đi đánh giặc Mán, ngă ngựa đau chân. Bọn Tống Cảo tin là thực.
Ngày hôm sau, đặt tiệc đăi sứ, nhà vua bảo Tống Cảo rằng: “Đường sá xa
khơi, núi sông hiểm trở, sau này nếu có quốc thư, xin cứ giao nhận ở đầu
biên giới, khỏi phiền sứ giả đến đây”. Tống Cảo đem việc này về tâu, vua
Tống ưng thuận” (27). Ngoài ra, Cương mục c̣n đối chiếu với
sách Đông tây dương khảo (27) của Trương Nhiếp nhà Minh, về sự
việc này, và ghi nhận thêm, bấy giờ, Lê Hoàn khi đón sứ giả, có bày binh
bố trận để thị uy… Tất nhiên có cả việc Lê Hoàn nhận chiếu nhưng không
lạy. Không chỉ có thế, rất nhiều chi tiết khác, chứng tỏ mọi yêu cầu của
triều Tiền Lê đều được sự chấp thuận của vua Tống, v́ oai danh chiến
thắng của Lê Hoàn. Chỉ khác một điều, Cương mục không chép, nhưng
Toàn thư có ghi việc Lê Hoàn cho một vị sư họ Đỗ, hiệu là Pháp Thuận,
giả dạng làm người quản lí sông (giang lệnh), để xướng hoạ thơ chữ Hán
với Lư Giác, sứ nhà Tống (28), khiến Lư Giác rất nể trọng dân trí nước
ta! Đó là một thủ thuật giặc Tàu không ngờ đến, và chúng hết sức nể sợ
trong việc ngoại giao với nước ta. Thắng lợi về ngoại giao của một nước
nhỏ đối với nước rộng đất đông dân như Tàu sau ngót một ngàn năm bị
chúng đô hộ, áp bức, bóc lột, như thế cũng là đáng kể. Đó là nhờ chiến
thắng quân sự và sự góp công của các sư tăng về chữ nghĩa (bấy giờ, giới
trí thức nhất vẫn là tăng sĩ Phật giáo); tuy nhiên, uy lực quân sự là
chính (hùng mạnh về quân sự mới có thể thắng thế về ngoại giao). Chẳng
hạn, “v́ sờn nỗi Tôn Toàn Hưng bại trận, vua Tống cũng ưng thuận…”
(29) và ưng thuận…
Nếu so sánh với Toàn thư,
Cương mục đă đối chiếu, khảo chứng với rất nhiều sách khi biên soạn.
Sự việc và b́nh luận, về cơ bản, hai bộ sử không khác phần viết về Lê
Đại Hành – Dương Vân Nga và triều đại Tiền Lê.
5
Có một chi tiết không thể không lưu ư
trong Toàn thư: “Về sau, tục dân lập đền thờ, tô tượng hai vua
Tiên Hoàng và Đại Hành và tượng Dương hậu cùng ngồi; hồi quốc sơ [đầu
thời Lê – dg. ct.] vẫn c̣n như thế. Sau An phủ sứ Lê Thúc Hiển mới bỏ”
(30).
“Tục dân”!
Phong tục của nhân dân? Hay phải chăng
các sử gia Toàn thư đă hàm ư chê trách khi
xác định những người tô tượng ấy không phải là những người dân tốt lành
vốn được gọi là nhân dân, nghĩa dân? Họ chỉ là dân phàm tục, dung
tục? Và phải chăng Lê Thúc Hiển, Ngô Sĩ Liên cũng dựa vào nho giáo để
phê phán mối quan hệ bất chính vốn bị ngộ nhận là “đạo lí truyền
thống dân tộc”?
Thế nào là luân lí? Thiết tưởng vấn đề
đă rơ.
Việc “cướp ngôi”? Phê phán việc
cướp ngôi như thế là căn cứ vào giáo điều trung quân, phi dân chủ?
Thế nào là dân chủ?
Đất nước và nhân dân là của nhân dân,
đâu phải sở hữu của cá nhân nào, hoàng tộc nào. Cho nên, một cách hồn
nhiên, quân dân bấy giờ cho rằng ai làm được việc, người ấy làm vua;
không việc ǵ phải phù ấu chúa. Đó là chân lí dân chủ. Phải
chăng bấy giờ quân dân ta ư thức như thế? Nhưng thử hỏi, tại sao Lê
Hoàn lại truyền ngôi cho con ruột, thuộc huyết thống ḿnh, chứ không
chọn một vị tướng tài nào đó không thuộc huyết thống ḍng họ ḿnh để
giao lại ngai vàng (chưa nói là bầu cử dân chủ!)? Không nghi ngờ ǵ
nữa, Lê Hoàn vẫn như quân dân nước ta và các nước khác, tại thời điểm
bấy giờ, là đang ở trong giai đoạn tiến lên chủ nghĩa phong kiến quân
chủ (thậm chí ở nhiều nơi, c̣n đang khởi đầu nền phong kiến quân chủ sơ
khai). Làm sao vượt được thời gian! Do đó, không thể cưỡng bức lịch sử
cách đây cả ngàn năm theo tiêu chí dân chủ của vài thế kỉ gần đây.
Mọi sự việc đều phải được nhận định với
quan điểm lịch sử – cụ thể, tuỳ từng thời đại mà sự việc diễn ra;
xét tất cả khía cạnh, đạo đức lẫn chính trị, xă hội, theo các tiêu chí
cụ thể của mỗi thời đại nhất định.
Không thể nói khác hơn, Lê Hoàn và Dương
Vân Nga đă phản bội nhà Đinh, cướp ngai vàng nhà Đinh cho tộc họ nhà Lê!
Tuy vậy, ngoài Lư Công Uẩn mà Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên đă so sánh với Lê
Hoàn, chúng ta thử so sánh Lê Hoàn với những người cướp ngôi về sau,
Trần Thủ Độ (cho ḍng họ Trần), Hồ Quư Ly, Mạc Đăng Dung, kể cả Trịnh
Tùng (dù họ Trịnh chỉ giữ ngôi chúa, cạnh ngôi vua Hậu Lê, và áp chế vua).
Hẳn ai cũng thấy Lê Hoàn ít gian ác hơn trong việc tiêu diệt, áp bức cựu
thần, hoàng tộc triều đại cũ.
Dẫu có những điểm xấu xa về đạo đức, Lê
Hoàn vẫn là anh hùng đánh Tống, b́nh Chiêm, khiến oai danh của Đất nước
được tỏ rơ, cả về quân sự lẫn về ngoại giao (Tống, Chiêm
phải nể sợ), để nền độc lập của Tổ quốc Đại Cồ Việt được vững bền.
Có một điều không thể không băn khoăn:
Mặc dù Lê Hoàn chịu trách nhiệm về hậu quả do việc tư thông – cướp
ngôi, và ông có tài thao lược của một danh tướng lỗi lạc để lănh đạo
quân binh trấn áp thành công phản ứng của các vị trung nghĩa với nhà
Đinh, nhất là đánh bại Tống, Chiêm, đồng thời dập tắt những cuộc khởi
nghĩa, nổi loạn khác, nhưng sự thể sẽ không đổ xương máu, nếu Dương Vân
Nga và chính ông không có dục vọng t́nh ái, nhất là tham vọng quyền lực
cho cá nhân ông và ḍng họ Lê của ông. Mặt khác, phải thấy rằng, qua
việc giải quyết được hậu quả việc tư thông – cướp ngôi, vô h́nh
trung oai danh của Đất nước được tỏ rơ trong việc thắng Tống, b́nh Chiêm…
Oai danh ấy là rất cần thiết cho việc giữ vững nền độc lập, tự chủ của
Đại Cồ Việt sau một ngàn năm Hoa thuộc, có điều, cái giá xương máu quá
đắt, và vẫn bị hoen ố bởi dục vọng, tham vọng cá nhân của Lê Hoàn –
Dương Vân Nga (****).
Tp. HCM., khởi viết
lúc 15 giờ bốn mươi phút, ngày 21. 06. HB4
(04. 04. Giáp thân
HB4);
viết xong lúc mười
lăm giờ linh chín phút, ngày 22. 06. HB4
(tiết Đoan ngọ, 05.
05 G. thân HB4).
TRẦN XUÂN AN
Cước chú
của bài Những b́nh luận của các sử gia về Lê Đại hành (980 – 1005):
(1) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội
các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin,
2003.
(2) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là
Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo
Dục, 1998.
(*) Tuy không khí học thuật tốt lành là thế, nhưng có người
vẫn cho rằng, cái được gọi là tốt lành ấy đă ngầm chứa những bất đồng
quan điểm về lịch sử rất gay gắt trong xă hội, đến nỗi đă xảy ra vụ
trọng án sử học một cách oan uổng cho một nghệ sĩ sân khấu nổi tiếng,
khi đóng vai thái hậu Dương Vân Nga, vào cuối thập niên bảy mươi của thế
kỉ XX gần đây! Theo luồng dư luận đó, người ta rất bất b́nh về phương
diện luân thường đạo lí khi Dương Vân Nga được ca ngợi. Sự thật thế nào,
tôi (TXA.) không rơ. Dẫu sao, quả thật là có một luồng dư luận như vậy;
không ít người không xem đó là vụ án bắt cóc, tống tiền và giết người,
hoặc có tính chất thời sự – chính trị, trong thời điểm chống xâm lược ở
biên giới phía bắc và phía tây nam. Thông tin trên báo chí đến nay vẫn
không xem đó là vụ án sử học. Xem thêm: Hồng Hạc & Vơ Khối, Lật lại hồ
sơ những vụ án nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ, Báo Thanh Niên, từ số
156 (3086), 04. 5. 2004 đến số 165 (3095), 13. 6. 2004.
(3) Ngô Th́ Sĩ, Việt sử tiêu án, bản dịch của Hội Việt Nam
nghiên cứu – liên lạc văn hoá Á châu, Văn hoá Á châu xb., Sài G̣n, 1960,
tr. 80. Trích dẫn theo Cương mục, sđd., tập 1, tr. 222 (Tb. [tiền biên],
q. V, tờ 19).
(4) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 310 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
6a).
(5) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 312 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
7a). Những chỗ in đậm (iđ.) trong các đoạn trích nguyên văn, ở bài này,
là do người viết (TXA.) muốn nhấn mạnh.
(6) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 321 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
13a). (TXA. iđ.).
(7) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 324 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
15b). (TXA. iđ. & chua thêm [ct.]).
(8) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 313 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
8a). (TXA. iđ.).
(9) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 323 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
14a – 14b). (TXA. iđ.). Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân là tướng Tàu (Tống)
xâm lược.
(10) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 323 – 324 (BK. [bản kỉ], q.
I, tờ 14b – 15a). (TXA. iđ. & ct.).
(11) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 324 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
15b – 16a). (TXA. iđ.).
(12) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 314 – 315 (BK. [bản kỉ], q.
I, tờ 9a – 9b). (TXA. iđ.).
(13) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 320 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
12b). (TXA. iđ. & ct.).
(14) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 309 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
5b). (TXA. iđ.).
(15) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 312 – 313 (BK. [bản kỉ], q.
I, tờ 7a – 7b). (TXA. iđ.).
(16) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 315 – 316 (BK. [bản kỉ], q.
I, tờ 9b – 10a). (TXA. iđ. & ct.).
(17) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 322 – 323 (BK. [bản kỉ], q.
I, tờ 14a). (TXA. iđ. & ct.; đă đối chiếu; xem cước chú (**)).
(18) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 341 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
25a). (TXA. iđ.).
(**) Đối chiếu với bản dịch tập 1, cùng dịch giả, như sđd.,
nhưng do Nxb. KHXH. ấn hành, 1998, tr. 221: noi theo [noi không có dấu
sắc] chứ không phải nói theo [nói có dấu sắc].
(19) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 323 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
14b). (TXA. iđ.).
(20) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 341 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
25a – 25b). (TXA. iđ. & ct.).
(21) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 338 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
23b). (TXA. iđ.).
(22) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 332 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
19a – 19b). (TXA. iđ.). Các sử gia không phải đều b́nh luận đúng tất cả
mọi điều. Đào Duy Anh sau này cũng vậy. Có thể Đào Duy Anh sai lầm nhiều
chỗ, nhưng riêng chỗ này, hẳn ông có lí: “Xem việc Lê Hoàn giết hại vô
số nhân dân miền Ái Hoan trong cuộc nổi dậy của Dương Tiến Lộc và việc
Long Đĩnh đốt chết nhân dân trong cuộc đánh dẹp ở Hoan Châu, th́ đủ biết
cha con Lê Hoàn là người tàn ác thế nào” (Lịch sử Việt Nam, Nxb. VHTT.
tái bản, 2002, tr. 179).
(23) Toàn thư, tập 1, sđd., bài của GS. Phan Huy Lê, “ĐVSKTT.,
tác giả, văn bản, tác phẩm”, bảng đối chiếu, tr. 53.
(***) Xem: Toàn thư, sđd., tập 2 (Hoàng Văn Lâu dịch và hiệu
đính), tr. 7, 9, 10, 19 – 21, 30 – 32… (BK. [bản kỉ], [quyển] V, [tờ]
1a, 2b, 3a – 3b, 9b – 11a, 17a – 18a…). Triều Trần thường bị các sử gia
lên án về vụ việc Trần Thủ Độ bức tử Lư Huệ Tông, lấy Thiên Cực (vợ của
thượng hoàng này, cũng là chị họ của Độ) làm vợ, lại cướp đoạt vợ của
Trần Liễu (Yên Sinh vương) để áp đặt làm vợ Trần Cảnh (Trần Thái Tông),
bất chấp luân thường đạo lí (“chốn buồng the cũng có điều hổ thẹn” [sđd.,
tập 2, tr. 7 (tờ 1a)], y hệt câu phê phán Lê Đại Hành). Và dĩ nhiên, sử
sách đồng thời lên án “chủ trương” bảo vệ nội bộ bằng hôn nhân đồng
huyết (đồng tộc họ (+)) của nhà Trần. Ngô Sĩ Liên phê phán mạnh mẽ: “Hôn
nhân không lấy người khác họ mà lấy người cùng họ, th́ chỉ có nhà Trần
làm thế” (sđd., tập 2, tr. 32 [tờ 18a]). Quốc sử quán triều Nguyễn, qua
Cương mục (tập 1, sđd., từ tr. 439… [Chb., V, 41…]), cũng phê phán mạnh
mẽ. Như thế, rơ ràng dân tộc ta không có hủ tục đó và cũng không chấp
nhận thói tục hủ bại đó, “chủ trương bá đạo” ấy chỉ có trong nội bộ
hoàng tộc nhà Trần mà thôi (++).
Đây là một vấn đề cần phải nêu lên: Làm sao một triều đại ghê
tởm như thế lại đủ uy tín để lănh đạo nhân dân lập nên những chiến công
lừng lẫy thế giới (3 lần đánh bại đế quốc Nguyên – Mông)? Làm sao Trần
Hưng Đạo, một danh tướng anh hùng bậc nhất, nhưng đồng thời cũng là
người tôn thất nhà Trần, ở trong quỹ đạo của “chủ trương” hôn nhân đồng
tộc họ ấy [sđd., tập 2, tr. 30 – 32 (tờ 17a – 18a)], lại được nhân dân
tôn vinh là Người cha của dân tộc (“Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ [Liễu
Hạnh]”)?
Sự thật lịch sử là đế quốc Nguyên – Mông 3 lần chiến bại trên
đất nước ta, chính Lê Tắc (kẻ đầu hàng chúng, quăng đời lưu vong sống
nhờ vào chúng) cũng thừa nhận sự thật chiến bại đó, mặc dù chỉ dám “nhẹ
nhàng” thừa nhận. Nhưng Lê Tắc cũng không viết một chữ nào về “chủ
trương” bá đạo, ghê tởm của nhà Trần về hôn nhân đồng họ tộc nói trên.
Xin nêu vấn đề như thế.
(+) Xin hiểu đồng tộc họ là cùng một nhà thờ họ. Ở nước ta,
mỗi làng thôn đều có từ vài đến mươi tộc họ, mỗi tộc họ đều có một nhà
thờ họ; và câu tục ngữ thường được nhắc nhở là “mười đời chưa rời cẳng
tay” (bà con mười thế hệ vẫn là ruột thịt gần gũi). Nói chung là người
cùng tộc họ như thế, theo văn hiến Việt
Nam là không được kết
hôn.
(++) Xin mở một ngoặc đơn: Phải chăng “hôn nhân không lấy
người khác họ mà lấy người cùng họ” của triều Trần nước ta cũng gần
giống tục lệ hôn nhân đồng huyết (trừ trường hợp ba đời trực hệ) của
người Phương Tây (Âu Mỹ)? Ngay chính phong tục của Phương Tây cũng bị
nhân dân ta, nhất là sĩ phu, phê phán là Phương Tây mọi rợ, hủ bại, khi
thực dân Phương Tây truyền bá Thiên Chúa giáo (cái được gọi là “tả đạo”),
đồng thời tiến hành chiến tranh xâm lược, trong các thế kỉ gần đây.
(24) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt
là Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb.
Giáo Dục, 1998.
(25) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 244 (Chb. [chính biên], [quyển]
I, [tờ] 9 – 10). TXA. ct., đặc biệt là hai chữ: cương (đề, tiêu đề của
mỗi mục trong sách) và mục (thuyết, nội dung chi tiết của cương).
(26) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 253 (Chb., I, 18). Về hai
chữ lâu nay ta quen gọi, ngỡ như là vương hiệu của Lê Hoàn, sử gia Lê
Văn Hưu nhận xét: “Thiên tử và hoàng hậu khi mới băng, chưa chôn vào sơn
lăng, th́ gọi là đại hành hoàng đế, đại hành hoàng hậu. Đến khi lăng tẩm
đă yên th́ hợp bầy tôi xem đức hạnh hay dở để đặt thuỵ là mỗ [:trổng –
TXA. ct.] hoàng đế, mỗ hoàng hậu, không gọi là đại hành nữa. Lê Đại Hành
th́ lấy Đại Hành làm thuỵ hiệu mà truyền đến ngày nay là làm sao? V́
Ngoạ Triều là con bất tiếu [:không giống cha ông, tức là không phải
người hiền – dg. cước chú.], lại không có bề tôi nho học để giúp đỡ bàn
về phép đặt thuỵ cho nên thế” (sđd., tr. 340 – 341 [BK., q. I, tờ 24b –
25a]).
Về tôn hiệu, khi mới thành công trong việc đánh dẹp các sứ
quân, danh hiệu của Đinh Bộ Lĩnh là Vạn Thắng vương (Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 234 (Tb., V, 32)), khi lên ngôi xưng đế, tôn hiệu là Đại
Thắng Minh hoàng đế (Cương mục, sđd., tập 1, tr. 237 (Chb. [chính biên],
q. I, tờ 3)).
(27) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 258 (Chb., I, 24 – 25). TXA.
ct.. Về việc khảo chứng tư liệu, tôi thấy quan điểm của Quốc sử quán
triều Nguyễn là thoả đáng nhất. Xin trích một đoạn ở phần khác, thể hiện
quan điểm đó: “Lời cẩn án: Sử cũ [của ta – TXA. ct.] chép Nam Tấn vương
Xương Văn xin mệnh lệnh chúa Nam Hán; c̣n Ngũ đại sử [sách của Trung Hoa
– TXA. ct.] chép tên là Xương Tấn: việc hơi giống nhau, nhưng tên gọi
mỗi đằng một khác. Có lẽ bấy giờ Xương Văn đổi tên là Xương Tấn để giao
thiệp với nhà Nam Hán, mà người chép Ngũ đại sử ở đương thời không biết
được rành mạch tường tận nên mới trái ngược nhau như thế. Việc này thuộc
về nước ta, nên theo Sử cũ [của ta – TXA. ct.] là phải…”. Nói một cách
khái quát, khi tham khảo sách của nước đối phương, phải lấy tư liệu gốc
của ta làm chuẩn cứ để tiếp nhận những ǵ xem ra phù hợp.
(28) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 328 – 331 (BK. [bản kỉ], q.
I, tờ 18a – 18b).
(29) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 262 (Chb., I, 28 – 29).
(30) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 324 (BK. [bản kỉ], q. I, tờ
18 a – 18b). (TXA. iđ.). Mấy chữ của dịch giả Ngô Đức Thọ trong hai dấu
móc vuông, chính xác là: đầu đời Hậu Lê.
(****) Xem thêm: Lê Tắc, An Nam chí lược (thuộc Tứ khố toàn
thư, Trung Hoa), bản dịch của Uỷ ban Phiên dịch sử liệu Viện Đại học Huế
(GS. Trần Kinh Hoà cố vấn), Viện Đại học Huế xb., 1961; Nxb. Thuận Hoá,
TT. Văn hoá – Ngôn ngữ Đông Tây tái bản, 2002, tr. 228 – 231. Lê Tắc
viết rất kĩ về Lê Hoàn, Lê Long Đỉnh, nhưng hầu như không đề cập ǵ đến
Dương Vân Nga trong sự kiện thông dâm – cướp ngôi, cũng chẳng viết ǵ về
tội ác của Lê Long Đỉnh (Lê Ngoạ Triều); do đó, cũng không phê phán ǵ.
Xin lưu ư: Lê Tắc làm quan trong triều nhà Trần vào khoảng
thời gian từ 1275 – 1285. Đại Việt sử kí (tham khảo Việt chí của Trần
Tấn) được Lê Văn Hưu và Quốc sử viện triều Trần soạn xong vào năm Nhâm
thân (1272), niên hiệu Thiệu Long thứ 15. Suy ra, ít nhiều Lê Tắc cũng
biết nội dung Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu và Quốc sử viện triều Trần.
Vấn đề nêu lên như thế.
TXA.